Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.1.1. Mô hình nghiên cứu
Dựa trên việc tổng hợp lý thuyết nền tảng liên quan đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại và các nghiên cứu liên quan, cùng với việc xác định các khoảng trống nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng mô hình nghiên cứu của Antony và Suresh (2023) làm cơ sở để triển khai áp dụng cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Nguyên nhân luận văn lựa chọn nghiên cứu này là vì tính cập nhật đến năm 2023, luận văn có thể kế thừa để cập nhật cho năm 2024. Đồng thời trong nghiên cứu này luận văn có thể kế thừa những nhân tố đó là tỷ suất sinh lời, quy mô ngân hàng, tỷ lệ chi phí hoạt động, loại hình sở hữu. Để hoàn thiện mô hình nghiên cứu luận văn sẽ bổ sung thêm các biến số như tăng trưởng tín dụng, tăng trưởng tín dụng bình phương, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát (theo Lê Hoàng Vinh và cộng sự, 2021); hệ số toàn vốn CAR (theo Naili và Lahrichi, 2020; Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự, 2023); và biến giả Covid-19 để kiểm tra tác động của đại dịch (theo Riani, 2021). Đồng thời, các nhân tố sẽ được luận giải về lý do lựa chọn như sau:
Quy mô của Ngân hàng thương mại không chỉ phản ánh sức mạnh tài chính và vị thế của nó trong hệ thống ngân hàng, mà còn đóng vai trò như một vùng đệm, giúp ngân hàng có khả năng chấp nhận mức độ Rủi ro tín dụng khác nhau. Nói cách khác, quy mô có thể tạo ra sự khác biệt trong cách mỗi Ngân hàng thương mại đối diện với Rủi ro tín dụng.
Tỷ suất sinh lời là một chỉ số đo lường hiệu quả HĐKD và khả năng tạo ra lợi nhuận của Ngân hàng thương mại. Sự gia tăng của tỷ suất này thường là dấu hiệu tích cực cho thấy HĐKD của ngân hàng đang phát triển tốt trên nhiều khía cạnh, bao gồm cả việc đảm bảo chất lượng tín dụng thông qua việc cấp vốn và thu hồi nợ gốc, lãi đúng thời hạn.
Tăng trưởng tín dụng, phản ánh sự gia tăng dư nợ theo thời gian của các Ngân hàng thương mại, có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Một mặt, nó có thể xuất phát từ mục tiêu gia tăng lợi nhuận hoặc mở rộng thị phần, dẫn đến việc nới lỏng các tiêu chuẩn tín dụng và làm gia tăng rủi Mặt khác, tăng trưởng tín dụng bền vững thường dựa trên việc lựa chọn khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, qua đó góp phần kiểm soát Rủi ro tín dụng. Điều này cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tăng trưởng tín dụng và Rủi ro tín dụng dưới dạng hình chữ U: khi tăng trưởng tín dụng tăng ở mức hợp lý, Rủi ro tín dụng có xu hướng giảm; tuy nhiên, nếu vượt quá một ngưỡng nhất định, rủi ro lại tăng trở lại. Mối quan hệ hình chữ U này phản ánh rõ kỳ vọng lý thuyết và thực tiễn về tác động hai chiều của tăng trưởng tín dụng đến Rủi ro tín dụng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Tỷ lệ chi phí hoạt động cho thấy mức độ hiệu quả trong quản lý chi phí vận hành của Ngân hàng thương mại. Tỷ lệ này phản ánh các hoạt động đầu tư chi phí để thu hút khách hàng mới, tăng trưởng dư nợ, mở rộng thị phần, cũng như các chi phí liên quan đến xử lý nợ quá hạn và nợ xấu, và do đó tác động đến Rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Hệ số an toàn vốn là một chỉ số liên quan đến tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà các Ngân hàng thương mại phải duy trì theo quy định của Ngân hàng nhà nước. Mục đích của tỷ lệ này là giảm thiểu và phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
Cấu trúc sở hữu của ngân hàng được phân loại thành hai nhóm thông qua biến giả: 1 cho các Ngân hàng thương mại có vốn nhà nước chi phối trên 51% (Agribank, Vietinbank, BIDV, Vietcombank) và 0 cho các ngân hàng còn lại. Sự phân biệt này dựa trên giả định rằng hai nhóm ngân hàng này có những chiến lược tăng trưởng tín dụng và mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát phản ánh sự ổn định của nền kinh tế và sức mua của người dân. Hai yếu tố này có ảnh hưởng đến HĐKD của khách hàng vay vốn, từ đó tác động đến khả năng trả nợ cho ngân hàng và do đó ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng.
Ảnh hưởng của Covid được phân thành hai nhóm giá trị 1 và 0. Trong đó giá trị 1 cho các năm Covid ảnh hưởng đến Việt Nam (2020 – 2023). Giá trị 0 cho các năm còn lại. Việc đưa yếu tố ảnh hưởng của đại dịch Covid vào đánh giá Rủi ro tín dụng là cần thiết bởi lẽ sự bùng phát và kéo dài của dịch bệnh đã gây ra những xáo trộn nghiêm trọng cho nền kinh tế, làm suy yếu khả năng trả nợ của nhiều cá nhân và doanh nghiệp do gián đoạn sản xuất, chuỗi cung ứng, và giảm sút nhu cầu tiêu dùng.
Dựa trên các nhân tố được đề xuất xây dựng mô hình nghiên cứu thì phương trình hồi quy biểu diễn cho sự ảnh hưởng của các nhân tố đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam đó là:
LLRi,t = 𝜶 + 𝜷𝟏∗SIZEi,t + 𝜷𝟐∗ROEi,t + 𝜷𝟑∗LGRi,t + 𝜷4∗LGR2i,t + 𝜷5∗MEi,t + 𝜷6∗CARi,t + 𝜷7∗STAi,t + 𝜷8*GDPt + 𝜷9∗CPIt + 𝜷10∗COVt + 𝜺
Trong đó các ký hiệu liên quan đến các biến số đã được chú thích tại bảng 1 Ngoài ra 𝜶 là tung độ gốc, các hệ số chặn βj biểu diễn cho chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, 𝜺 là sai số ngẫu nhiên của mẫu nghiên cứu, i và t biểu diễn cho Ngân hàng thương mại thứ i và năm thứ t trong giai đoạn nghiên cứu từ 2014 – 2024.
- Bảng 3.1: Các nhân tố được đề xuất để xây dựng mô hình nghiên cứu
3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Với 9 nhân tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam được đề xuất thì các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
3.1.2.1. Quy mô ngân hàng
Các nghiên cứu của Barra và Ruggiero (2022) cùng Nguyễn Quỳnh Hoa (2020) đều nhận định rằng các Ngân hàng thương mại thường hướng đến việc mở rộng quy mô, bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị và HĐKD, nhằm chiếm lĩnh thị phần lớn và củng cố vị thế trên thị trường. Theo đó, đầu tư vào tài sản được xem là một chiến lược quan trọng để thu hút khách hàng, thúc đẩy giao dịch và tăng trưởng lợi nhuận, với hoạt động tín dụng đóng vai trò then chốt. Đồng thời, quy mô lớn của ngân hàng được coi là một yếu tố bảo vệ, giúp đối phó hiệu quả hơn với các rủi ro kinh doanh, trong đó có Rủi ro tín dụng. Vì vậy, quy mô càng lớn có thể khiến các Ngân hàng thương mại tự tin hơn và chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn, tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ gia tăng Rủi ro tín dụng. Giả thuyết sau được đề xuất:
H1: Quy mô ngân hàng tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.2. Tỷ suất sinh lời
Antony và Suresh (2023) cùng Nguyễn Kim Quốc Trung (2019) giải thích rằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) thể hiện lợi nhuận còn lại cho các chủ sở hữu sau khi đã trừ đi toàn bộ chi phí và nghĩa vụ thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân. ROE cao thường cho thấy hiệu quả kinh doanh và hoạt động ổn định của Ngân hàng thương mại, và có thể góp phần hạn chế Rủi ro tín dụng do lợi nhuận tăng lên từ lãi vay và chi phí dự phòng giảm hoặc được kiểm soát. Điều này hàm ý rằng tỷ suất sinh lời và Rủi ro tín dụng có mối quan hệ nghịch chiều. Giả thuyết sau được đề xuất:
H2: Tỷ suất sinh lời tương quan âm đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.3. Tăng trưởng tín dụng Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Các nghiên cứu của Foos và cộng sự (2010), Thiagarajan và cộng sự (2011) và Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021) đều cho thấy tăng trưởng tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế, nhu cầu tín dụng gia tăng khiến các ngân hàng cạnh tranh bằng cách nới lỏng các điều kiện xét duyệt, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn có thể bộc lộ sau một độ trễ nhất định. Đặc biệt, nghiên cứu của Lê Hoàng Vinh và cộng sự tại Việt Nam giai đoạn 2009–2019 chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và Rủi ro tín dụng có dạng hình chữ U: tăng trưởng ở mức hợp lý giúp giảm rủi ro, nhưng khi vượt quá ngưỡng an toàn, rủi ro lại gia tăng. Giả thuyết sau được đề xuất:
H3: Có mối quan hệ phi tuyến dạng hình chữ U giữa tăng trưởng tín dụng và Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.4. Tỷ lệ chi phí hoạt động
Manz (2019) cho rằng bên cạnh các chi phí vận hành cốt lõi, các Ngân hàng thương mại còn phát sinh thêm chi phí cho các hoạt động như marketing, xử lý nợ, thẩm định và chăm sóc khách hàng nhằm gia tăng lợi nhuận tín dụng. Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí hoạt động cao có thể phản ánh khả năng quản trị kém hiệu quả, dẫn đến áp lực phải mở rộng tín dụng để bù đắp chi phí, từ đó làm gia tăng Rủi ro tín dụng trong tương lai. Berger và DeYoung (1997) cũng nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa chi phí hoạt động và nợ xấu thường là cùng chiều, khi quản trị yếu kém khiến chi phí tăng và chất lượng tín dụng suy giảm. Giả thuyết sau được đề xuất:
H4: Tỷ lệ chi phí hoạt động tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.5. Hệ số an toàn vốn Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Các nghiên cứu của Naili và Lahrichi (2020, 2022) cùng Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2023) chỉ ra rằng tỷ lệ an toàn vốn thể hiện khả năng vốn chủ sở hữu (VCSH) của Ngân hàng thương mại hấp thụ các tài sản có rủi ro. Tỷ lệ này càng cao, nguồn vốn huy động được tại ngân hàng càng đáng tin cậy, cho thấy nguồn vốn chủ yếu đến từ VCSH của các cổ đông. Điều này giúp giảm áp lực thanh toán các khoản tiền gửi tiết kiệm đến hạn, tạo điều kiện cho Ngân hàng thương mại thoải mái hơn trong hoạt động tín dụng và có thể chấp nhận khẩu vị rủi ro cao hơn để tăng trưởng dư nợ. Giả thuyết sau được đề xuất:
H5: Hệ số an toàn vốn tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.6. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Theo Naili và Lahrichi (2022), Nguyễn Kim Quốc Trung (2019), Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021), Phạm Hải Nam (2021), một nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh. Thu nhập của khách hàng trở nên ổn định hơn, hàng hóa lưu thông dễ dàng, giúp doanh nghiệp tăng trưởng sản xuất, giảm tồn kho và có khả năng trả nợ tốt hơn, đồng thời có thể mở rộng vốn lưu động. Nhờ đó, Ngân hàng thương mại cũng giảm thiểu được Rủi ro tín dụng và có cơ hội tăng trưởng dư nợ tín dụng. Giả thuyết sau được đề xuất:
H6: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương quan âm đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.7. Tỷ lệ lạm phát
Naili và Lahrichi (2020), Lê Hoàng Vinh và cộng sự (2021), Phạm Hải Nam (2021), Nguyễn Kim Quốc Trung (2022) nhận định rằng môi trường kinh tế với tỷ lệ lạm phát gia tăng không được kiểm soát sẽ gây trì trệ lưu thông hàng hóa do giá cả leo thang. Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp và khách hàng vay vốn trong việc tạo ra doanh thu và nguồn tiền trả nợ ngân hàng. Kinh doanh kém hiệu quả có thể dẫn đến việc các khoản nợ chuyển sang quá hạn và trở thành nợ xấu, buộc Ngân hàng thương mại phải tăng trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng. Giả thuyết sau được đề xuất:
H7: Tỷ lệ lạm phát tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam
3.1.2.8. Sở hữu Nhà nước Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Patra và Padhi (2022) cho thấy các ngân hàng thuộc khu vực công tại Ấn Độ dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán hơn trong các kịch bản khủng hoảng so với ngân hàng tư nhân và nước ngoài. Tương tự, Iannotta và cộng sự (2007) phát hiện các Ngân hàng nhà nước tại châu Âu có chất lượng tín dụng thấp hơn và rủi ro cao hơn. Antony và Suresh (2023) cũng ghi nhận loại hình sở hữu ảnh hưởng đáng kể đến Rủi ro tín dụng. Những kết quả này cho thấy các ngân hàng có vốn nhà nước chi phối có thể chịu tác động bởi các yếu tố phi thị trường, dẫn đến hiệu quả quản trị rủi ro kém hơn. Giả thuyết sau được đề xuất:
H8: Sở hữu Nhà nước tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.1.2.9. Ảnh hưởng Covid
Các nghiên cứu của Hao và cộng sự (2022) và Riani (2021) đều chỉ ra rằng đại dịch COVID-19 có mối tương quan dương với Rủi ro tín dụng. Cụ thể, Hao và cộng sự (2022) phân tích trên 40 quốc gia, cho thấy Rủi ro tín dụng quốc gia tăng đáng kể sau đại dịch, đặc biệt là rủi ro ngắn hạn, do lo ngại về suy giảm tiêu dùng. Riani (2021) tại Indonesia cũng kết luận COVID-19 ảnh hưởng đáng kể đến Rủi ro tín dụng của các ngân hàng thông thường, do làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng. Giả thuyết sau được đề xuất:
H9: COVID-19 tương quan dương đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Bảng 3.2: Công thức đo lường biến
3.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
3.2.1. Quy trình nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu về các yếu tố tác động đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, luận văn kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng, trong đó phương pháp định lượng giữ vai trò trung tâm. Quy trình nghiên cứu được thiết kế nhằm đảm bảo sự nhất quán giữa mục tiêu nghiên cứu, mô hình lý thuyết, dữ liệu và phương pháp phân tích, bao gồm các bước chính như sau:
- Bước 1: Xây dựng cơ sở lý thuyết và khung nghiên cứu
Luận văn tiến hành tổng hợp các khái niệm nền tảng liên quan đến Rủi ro tín dụng, các chỉ tiêu đo lường Rủi ro tín dụng và các lý thuyết kinh tế tài chính có liên quan. Trên cơ sở rà soát có hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, luận văn xác định các nhóm yếu tố thường được chứng minh là có ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng, đồng thời nhận diện những khoảng trống nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam. Kết quả của bước này là mô hình nghiên cứu và hệ thống giả thuyết được xây dựng phù hợp với đặc điểm hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Bước 2: Xác định phạm vi nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu định lượng
Dựa trên mục tiêu nghiên cứu và khả năng tiếp cận dữ liệu, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là các Ngân hàng thương mại Việt Nam, với phạm vi thời gian từ năm 2014 đến năm 2024. Nghiên cứu được thiết kế theo hướng nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu bảng, cho phép khai thác đồng thời sự biến động theo thời gian và sự khác biệt giữa các ngân hàng, qua đó nâng cao khả năng giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố và Rủi ro tín dụng.
- Bước 3: Lựa chọn phương pháp phân tích và mô hình ước lượng
Trên cơ sở đặc điểm dữ liệu và mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các mô hình hồi quy dữ liệu bảng để lượng hóa tác động của các yếu tố đến Rủi ro tín dụng. Các mô hình được xem xét bao gồm mô hình hồi quy gộp và các mô hình có xét đến sự khác biệt giữa các đơn vị quan sát. Việc lựa chọn mô hình phù hợp được thực hiện thông qua các kiểm định thống kê nhằm đảm bảo mô hình phản ánh đúng cấu trúc dữ liệu và mối quan hệ kinh tế cần nghiên cứu.
- Bước 4: Đánh giá độ tin cậy của mô hình và điều chỉnh phương pháp ước lượng
Sau khi xác định mô hình hồi quy phù hợp, luận văn tiến hành đánh giá mức độ đáp ứng các giả định của mô hình kinh tế lượng. Trong trường hợp xuất hiện các khuyết tật phổ biến của dữ liệu bảng như phương sai sai số thay đổi hoặc tự tương quan, phương pháp ước lượng phù hợp sẽ được áp dụng nhằm nâng cao tính nhất quán và hiệu quả của các ước lượng, đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Bước 5: Phân tích kết quả và đề xuất hàm ý
Trên cơ sở các kết quả ước lượng cuối cùng, luận văn tiến hành phân tích và thảo luận tác động của từng yếu tố đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, so sánh với các nghiên cứu trước đây và lý thuyết nền tảng. Từ đó, luận văn đưa ra các kết luận chính và đề xuất hàm ý quản trị và điều hành có giá trị thực tiễn đối với các Ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý.
3.2.2. Thu thập và xử lý số liệu Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
3.2.2.1. Mẫu nghiên cứu
Theo Tabachnick và Fidell (2001), một nguyên tắc thường được áp dụng trong nghiên cứu định lượng để xác định cỡ mẫu tối thiểu là n ≥ 50 + 8m, trong đó n là số lượng quan sát cần thiết và m là tổng số biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình. Trong nghiên cứu này, mô hình bao gồm 10 biến độc lập, do đó số lượng quan sát tối thiểu được khuyến nghị là 130 quan sát. Trên cơ sở đó, tác giả đã thu thập dữ liệu từ 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014–2024, tương ứng với 11 năm quan sát, đạt tổng cộng 286 quan sát, qua đó hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về cỡ mẫu cho phân tích định lượng.
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và báo cáo thường niên do các Ngân hàng thương mại công bố chính thức trên trang thông tin điện tử của từng ngân hàng và từ trang www.vietstock. trong giai đoạn nghiên cứu. Trong tổng số các ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam, nghiên cứu này loại trừ các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài hoặc có trụ sở chính ở nước ngoài, đồng thời tập trung vào nhóm Ngân hàng thương mại Việt Nam, do nhóm này chiếm trên 75% tổng số ngân hàng trong hệ thống, phản ánh rõ nét nhất các đặc điểm và xu hướng chung của ngành ngân hàng Việt Nam. Trên cơ sở các tiêu chí lựa chọn về tính liên tục của dữ liệu, mức độ công bố thông tin và thời gian hoạt động, 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam được đưa vào mẫu nghiên cứu, danh sách chi tiết được trình bày tại Phụ lục 01.
Bên cạnh tiêu chí về quy mô mẫu, việc lựa chọn 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam còn xét đến đặc điểm cấu trúc sở hữu của hệ thống ngân hàng Việt Nam, bao gồm ngân hàng có vốn nhà nước chi phối và Ngân hàng thương mại cổ phần. Mặc dù mỗi loại hình sở hữu gắn liền với những đặc điểm khác nhau về cơ cấu quản trị, mục tiêu hoạt động và mức độ chấp nhận rủi ro, nghiên cứu này không tách riêng mẫu theo từng loại hình sở hữu mà gộp chung toàn bộ các ngân hàng trong một mẫu nghiên cứu thống nhất. Cách tiếp cận này nhằm đảm bảo đủ độ lớn mẫu cho phân tích định lượng, tránh làm suy giảm độ tin cậy thống kê khi quy mô từng nhóm sở hữu còn hạn chế, đồng thời phản ánh thực tế rằng trong giai đoạn 2014–2024, các Ngân hàng thương mại Việt Nam, bất kể hình thức sở hữu, đều hoạt động trong cùng một khung pháp lý và chịu sự điều hành thống nhất của Ngân hàng nhà nước. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Để kiểm soát và đánh giá tác động của yếu tố sở hữu mà không làm mờ đi sự khác biệt trong cấu trúc quản trị, luận văn đưa biến sở hữu nhà nước vào mô hình nghiên cứu như một biến giải thích độc lập, cho phép kiểm định trực tiếp mối quan hệ giữa sở hữu và Rủi ro tín dụng trong cùng một khung phân tích. Do đó, việc gộp chung mẫu nghiên cứu không những không làm sai lệch mục tiêu nghiên cứu, mà còn giúp phản ánh bức tranh tổng thể của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chịu tác động đồng thời từ các yếu tố nội tại và vĩ mô. Việc chưa tách riêng mẫu theo từng loại hình sở hữu được xem là một hạn chế và hướng nghiên cứu mở cho các nghiên cứu tiếp theo khi điều kiện dữ liệu cho phép.
Đối với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hàng năm như tốc độ tăng trưởng kinh tế và chỉ số giá tiêu dùng, dữ liệu được thu thập từ các nguồn uy tín như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Our World in Data và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), sau đó được tổ chức dưới dạng dữ liệu bảng, kết hợp cả chiều dữ liệu chéo (các ngân hàng) và chiều dữ liệu thời gian (các năm).
Việc lựa chọn giai đoạn nghiên cứu kéo dài 11 năm (2014–2024) được thực hiện có chủ đích nhằm bao quát các biến động lớn của môi trường kinh tế trong và ngoài nước, bao gồm ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung, đại dịch Covid-19, xu hướng lạm phát gia tăng trong giai đoạn 2022–2024 và xung đột Nga – Ukraina. Những yếu tố này được kỳ vọng có tác động đáng kể đến hoạt động kinh doanh và Rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, qua đó làm cho giai đoạn nghiên cứu trở thành bối cảnh phù hợp để đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến Rủi ro tín dụng.
3.2.2.2. Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ các báo cáo tài chính hợp nhất đã được kiểm toán và báo cáo thường niên của 26 Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2014 – 2024. Dữ liệu được tổng hợp vào cuối mỗi năm, tạo thành một bộ dữ liệu bảng gồm 286 quan sát. Cấu trúc dữ liệu được tổ chức theo từng ngân hàng, với các biến số tương ứng cho mỗi năm trong giai đoạn nghiên cứu, và được trình bày chi tiết tại Phụ lục 1.
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm thống kê STATA 17.0, theo quy trình chi tiết tại Phụ lục 2 và tuân theo các bước sau: Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Bước 1: Thống kê mô tả được thực hiện để làm rõ các đặc trưng cơ bản của các biến số trong mô hình, bao gồm giá trị tối thiểu, tối đa, trung bình và độ lệch chuẩn. Bước này giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về dữ liệu, đánh giá sự phân tán và phát hiện các bất thường tiềm ẩn ban đầu.
Bước 2: Phân tích tương quan giữa các biến số độc lập được tiến hành nhằm xác định mối quan hệ tuyến tính giữa từng cặp biến. Mục đích chính của phân tích này là phát hiện nguy cơ đa cộng tuyến nghiêm trọng trong mô hình. Nếu hệ số tương quan giữa bất kỳ cặp biến nào vượt quá 0,8, mô hình có thể đang gặp phải vấn đề đa cộng tuyến.
Bước 3: Phân tích hồi quy được thực hiện thông qua việc ước lượng ba mô hình: Pooled OLS, FEM và REM. Mô hình Pooled OLS, mặc dù đơn giản và dễ thực hiện, bỏ qua các đặc điểm riêng theo không gian và thời gian của dữ liệu. Điều này có thể dẫn đến các vấn đề như sai lệch trong thống kê Durbin-Watson và giả định không thực tế về tính đồng nhất giữa các đơn vị chéo. Để khắc phục những hạn chế này, các mô hình FEM và REM được sử dụng để xem xét sự khác biệt giữa các đơn vị quan sát. Mô hình FEM giả định rằng các đơn vị chéo có các hiệu ứng cố định khác nhau, cho phép các biến độc lập giải thích biến phụ thuộc có tính đến các đặc điểm riêng của từng đơn vị. Ngược lại, mô hình REM cho rằng sự khác biệt giữa các đơn vị nằm ở thành phần sai số ngẫu nhiên. Trong khi FEM xem xét sự khác biệt giữa các đơn vị có tương quan với các biến độc lập là cố định, REM coi đó là ngẫu nhiên. Do mỗi mô hình có những ưu nhược điểm riêng, luận văn ước lượng cả ba mô hình để so sánh tính nhất quán của kết quả. Tuy nhiên, chỉ một mô hình phù hợp nhất sẽ được lựa chọn cuối cùng. Việc lựa chọn giữa FEM và REM được thực hiện thông qua kiểm định Hausman. Kiểm định F-test được sử dụng để so sánh FEM với Pooled OLS, và kiểm định Breusch-Pagan được sử dụng để so sánh REM với Pooled OLS. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
Bước 4: Sau khi chọn được mô hình phù hợp, các kiểm định về các khuyết tật tiềm ẩn của mô hình được tiến hành. Thứ nhất, kiểm định phương sai sai số thay đổi được thực hiện để đảm bảo phương sai của các phần dư là hằng số và tuân theo phân phối chuẩn ngẫu nhiên. Hiện tượng này có thể do sai sót trong quá trình xử lý dữ liệu. Nếu xảy ra, các ước lượng hồi quy vẫn không thiên lệch nhưng kém hiệu quả và kết quả không đáng tin cậy. Thứ hai, kiểm định tự tương quan được thực hiện để xác định xem có mối tương quan giữa các phần dư của các quan sát khác nhau trong dữ liệu bảng hay không. Nguyên nhân có thể là do sai sót trong đặc tả mô hình hoặc thu thập dữ liệu. Tự tương quan có thể làm cho phương sai và độ lệch chuẩn của các hệ số ước lượng quá nhỏ, dẫn đến các kiểm định thống kê không còn đáng tin cậy. Thứ ba, kiểm định đa cộng tuyến được thực hiện để phát hiện mối quan hệ tuyến tính cao giữa hai hoặc nhiều biến số độc lập trong mô hình. Nguyên nhân thường do dữ liệu không đầy đủ, các biến số có bản chất tương tự hoặc ít biến động. Đa cộng tuyến có thể làm cho các thống kê trở nên không có ý nghĩa, sai số chuẩn của các hệ số lớn và không ổn định, ảnh hưởng đến ý nghĩa của các biến số khác trong mô hình. Ma trận tương quan giữa các cặp biến số thường được sử dụng để kiểm tra hiện tượng này.
Bước 5: Sau khi nhận diện các khuyết tật của mô hình, luận văn sẽ sử dụng ước lượng FGLS để khắc phục. Phương pháp này có nhiều điểm tương đồng với OLS, nhưng tập trung vào việc điều chỉnh các phương sai, độ lệch chuẩn và sự biến thiên của dữ liệu. Mục đích là để các kết quả đạt được thỏa mãn các giả định của bình phương nhỏ nhất thông thường. Sau khi có kết quả ước lượng, giá trị P-value sẽ được so sánh với mức 5% để đưa ra kết luận về sự phù hợp của mô hình.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 của luận văn tập trung vào việc xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết liên quan đến các yếu tố có khả năng tác động đến Rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Mô hình nghiên cứu đề xuất bao gồm các biến số độc lập sau: Quy mô ngân hàng, Tỷ suất sinh lời, Tăng trưởng tín dụng, Tỷ lệ chi phí hoạt động, Hệ số an toàn vốn, Sở hữu Nhà nước, Tỷ lệ lạm phát, Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Ảnh hưởng của Covid-19. Bên cạnh việc giới thiệu mô hình và các giả thuyết, chương này cũng trình bày chi tiết các bước tiến hành nghiên cứu, phương pháp xác định cỡ mẫu, quy trình xử lý dữ liệu, và ý nghĩa của các hệ số kiểm định thống kê sẽ được sử dụng. Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: KQNC ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở ngân hàng
