Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Tình hình thu nhập lãi cận biên và các yếu tố khác của NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024

4.1.1. Thực trạng thu nhập lãi cận biên và các nhân tố khác của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024

Dựa trên việc thu thập số liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024 thì NIM và các yếu tố có sự thay đổi thông qua các biểu đồ như sau:

Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn cho NIM của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024

NIM trong giai đoạn từ năm 2013 – 2017 có xu hướng giảm từ 9,15% xuống 6,19%. Nguyên nhân đến từ việc trong giai đoạn này thì NHNN có xu hướng siết quy định về tín dụng của các NHTM vì nợ xấu và nợ quá hạn qua các năm này có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên từ năm 2018 trở đi thì xu hướng NIM tăng mạnh qua các năm và cao nhất vào năm 2023 là 15%, mặc dù chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid – 19 nhưng các NHTM vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định với hoạt động tín dụng, ngoài ra còn tạo thêm nhiều thu nhập từ các hoạt động đa dạng hóa thu nhập khác.

Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn cho quy mô của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024

Dựa trên biểu đồ 4.2 thấy quy mô NHTM dựa trên giá trị Logarit (Tổng tài sản) thì từ năm 2013 – 2024 thì giá trị này gia tăng liên tục từ 32,07 đến 33,8. Điều này chứng tỏ các NHTM Việt Nam không ngừng mở rộng quy mô ngân hàng qua các năm, nhằm chiếm lĩnh thị phần và thể hiện năng lực tài chính của mình.

Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện các yếu tố nội tại của NHTM Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024

Dựa trên kết quả hình 4.3 thấy các yếu tố như tính thanh khoản có xu hướng giảm thông qua tỷ lệ thanh khoản có xu hướng tăng lên từ năm 2013 – 2024. Trong đó, giai đoạn từ 2013 – 2016 thì tỷ lệ này có xu hướng giảm sâu từ 35,2% xuống 29,11%, do trong giai đoạn trước đó các khoản vay tạo ra nợ xấu nhiều nên các NHTM buộc giảm tỷ lệ cho vay trên tiền gửi huy động được. Sau đó từ năm 2017 – 2024 thì tỷ lệ này được gia tăng đến 37,85%.

Đối với đòn bẩy tài chính thì dựa trên biểu đồ ta có thể thấy đa phần các NHTM Việt Nam vẫn duy trì tỷ lệ của vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản dưới 10%, hay nói cách khác các NHTM Việt Nam vẫn ưu tiên sử dụng các khoản nợ từ huy động hay phát hành các loại trái phiếu. Mặt khác, tỷ lệ đòn bẩy tài chính được các NHTM duy trì với mức giao động từ 7% – 8,5% qua các năm từ 2013 – 2024. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Đối với tỷ lệ nợ xấu vẫn được các NHTM Việt Nam cố gắng duy trì tại mức dưới 3,5% và từ 2013 – 2024 thì tỷ lệ này vẫn có xu hướng được các NHTM kiểm soát để giảm đều qua các năm. Mặc dù giai đoạn 2022 – 2023 có xuất hiện đại dịch Covid 19 thì khó khăn trong nền kinh tế thì các NHTM vẫn cố gắng duy trì nợ xấu chủ yếu là các khoản nợ quá quá hạn loại 1 và hạn chế nhảy nhóm nợ. Do đó, nợ xấu vẫn được kiểm soát.

Đối với tỷ lệ chi phí hoạt động thì tỷ lệ này vẫn được duy trì đều đặn dưới 2% qua các năm từ 2013 – 2024. Điều này cho thấy, nhìn chung các NHTM Việt Nam vẫn có công tác quản lý tốt với chi phí hoạt động.

4.1.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Sau quá trình thu thập và xử lý số liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024 thì các nhân tố thuộc nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế được thống kê mô tả dưới bảng sau:

Bảng 4.1: Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

Tên biến Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
NIM 10,16% 8,69% -82,00% 26,82%
SIZE 32,7717 1,2428 30,3178 35,5263
LEV 8,91% 3,90% 2,69% 23,84%
NPL 2,25% 1,37% 0,36% 9,24%
LIQ 33,68% 6,69% 13,94% 55,75%
ME 1,70% 0,53% 0,42% 5,20%
GDP 5,85% 1,57% 2,58% 8,02%
INF 4,98% 4,64% 0,63% 18,68%
COVID 0,1667 3,7333 0 1

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA

TNLCB (NIM) có “giá trị trung bình là 10,16% với độ lệch chuẩn 8,69% đối với độ lệch chuẩn này thì giá trị giao động của NIM là không có thay đổi nhiều qua các năm tại giai đoạn này. Giá trị nhỏ nhất là -82% (TPB năm 2013), giá trị lớn nhất là 26,82% (Ngân hàng ACB năm 2013). Theo kết quả thu thập được thì giá trị NIM qua các năm của ngân hàng không có giá trị đột biến do đây là tỷ lệ mà các ngân hàng luôn cố gắng giữ ở mức độ” ổn định và thấp nhất có thể.

Quy mô ngân hàng (SIZE) theo giá trị Log (Tổng tài sản) có giá trị trung bình là 32,7717 với độ lệch chuẩn 1,2428 đối với độ “lệch chuẩn này thì quy mô ngân hàng có mức độ biến động lớn qua các năm tại mỗi ngân hàng và khoảng cách quy mô của các ngân hàng ngày càng được nới rộng.” Giá trị nhỏ nhất là 30,3178 (SGB năm 2015), giá trị lớn nhất là 35,5263 (BID năm 2024). “Vào thời điểm những năm gần đây các hàng ra sức gia tăng quy mô của mình để tạo được thương hiệu và dành lại thị phần cho mình trong hệ thống ngân hàng.” Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV) có giá trị trung bình là 8,91%, “độ lệch chuẩn là 3,9% với mức độ lệch chuẩn này ta có thể thấy các ngân hàng có sự thay đổi không nhiều về tỷ lệ đòn bẩy tài chính qua các năm quá nhiều vì đây là tỷ lệ mà các ngân hàng luôn muốn duy trì ở mức” cao nhất có thể. Giá trị nhỏ nhất là 2,70% (SCB năm 2022), giá trị lớn nhất là 23,84% (SGB năm 2015).

Tỷ lệ nợ xấu (NPL) có giá trị trung bình 2,25% với độ lệch chuẩn 1,37%. Trong đó giá trị nhỏ nhất là xấp xỉ 0,35% của SCB năm 2017, giá trị lớn nhất là 9,25% của SHB năm 2014.

Tính thanh khoản (LIQ) có giá trị trung bình 33,68% với độ lệch chuẩn 6,69%. Trong đó giá trị nhỏ nhất là 13,95% của MSB năm 2016, giá trị lớn nhất là 55,75% của VPB năm 2014.

Tỷ lệ chi phí hoạt động (ME) có giá trị trung bình 1,7% với độ lệch chuẩn 0,53%. Trong đó giá trị nhỏ nhất là 0,4% của SCB năm 2013, giá trị lớn nhất là 5,2% của TPB năm 2013.

GDP có giá trị trung bình là 5,85%, “độ lệch chuẩn là 1,57% giá trị nhỏ nhất là 2,58% vào năm 2023 đối sánh với tình hình thực tế Việt Nam đây là năm xảy ra đại dịch Covid 19 làm cho tình hình kinh tế cả nước tuột dốc, sản xuất và tiêu thu hàng hóa đình trệ làm cho GDP năm nay thấp nhất lịch sử trong giai đoạn 10 năm gần đây và giá trị lớn nhất” là 8,02% vào năm 2024.

INF có giá trị trung bình là 4,98%, độ lệch chuẩn là 4,64% đối với tỷ lệ lạm phát độ lệch chuẩn thấp vì chính phủ “luôn cố gắng duy trì làm phát ổn định để ổn định tình hình tiêu thụ và giá sản phẩm lưu thông. Giá trị nhỏ nhất là 0,6% vào năm 2017 và giá trị lớn nhất là 18,68% vào năm 2013. Trong giai đoạn này thì năm 2023 với tác động của đại dịch Covid 19 đã tác động rất nhiều đến tình hình kinh doanh trong nước đã làm cho” tỷ lệ lạm phát tăng rất nhanh, tình hình hàng hóa không được sản xuất ổ ạt, tiêu thu chậm nên giá cả hàng hóa leo thang.”

4.2. Sự tương quan của các biến độc lập Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Theo bảng 4.2 (xem phụ lục 03) “Ma trận tương quan nhằm xác định sự tác động cũng như mức độ tác động của các biến độc lập theo từng cặp. Điều này giúp ta thấy được các cặp biến độc lập nào có tương quan với nhau, tức là tác động đến nhau trong mô hình hệ số tương quan giữa các biến có giá trị không cao, cao nhất theo trị tuyệt đối là 0,7876 chuẩn” so sánh theo Farrar và Glauber (1967) là 0,8 vì vậy không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập trong mô hình

4.3. Kết quả mô hình hồi quy

4.3.1. Kết quả kiểm định hệ số hồi quy của các mô hình

Tác giả đã tiến hành hồi quy dữ liệu bảng được thu thập với ba “phương pháp ước lượng đó là Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để xác định mức độ” tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc thông qua các hệ số ước lượng. Kết quả chi tiết của việc phân tích hồi được trình bày trong Phụ lục 2. Kết quả hồi quy được tác giả tổng hợp vào bảng 4.3 cụ thể như sau:

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và REM

Các nhân tố Mô hình Pooled OLS Mô hình FEM Mô hình REM
SIZE 0,0301*** 0,0596*** 0,0310***
LEV 0,479** 0,345* 0,429**
NPL -0,817* -0,583 -0,623
LIQ 0,364*** 0,464*** 0,453***
ME -2,293* -8,299*** -6,236***
GDP 0,332 -1,839 -0,163
INF 0,0996 0,162 0,0813
COVID 0,0248 -0,0832* -0,0014
Constant -1,021*** -1,770*** -0,980***
R-Squared 32,71% 47,14% 44,91%
***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA

Kết quả hồi quy của ba mô hình thì mức độ phù hợp của ba mô hình đều trên 30%, nhìn chung các biến SIZE, LEV, LIQ tương quan dương với tỷ lệ TNLCB với mức ý nghĩa lần lượt là 1% và 5%. Tuy nhiên biến NPL “có ý nghĩa thống kê tác động ngược chiều với mức ý nghĩa 10% và 1% tại mô hình Pooled OLS và REM nhưng lại không có ý nghĩa với mô hình FEM. Với biến ME có ý nghĩa thống kê tác động nghịch chiều với” mức ý nghĩa 10% và 5% tại mô hình Pooled OLS, FEM nhưng lại “không có ý nghĩa với mô hình REM. COVID có ý nghĩa với mô hình FEM nhưng không có ý nghĩa với Pooled OLS và REM. Đặc biệt GDP, INF không có ý nghĩa thống kê với ba mô hình Pooled OLS, FEM, RE. Vì vậy tiến hành kiểm định mô hình phù hợp cuối cùng để” có kết quả nghiên cứu chính thức.

4.3.2. So sánh sự phù hợp giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Để “lựa chọn mô hình thích hợp để nghiên cứu hơn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả sử dụng kiểm định Hausman.” Giả thuyết kiểm định:

Giả thuyết H0: Không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư (mô hình REM phù hợp)

Giả thuyết H1: Có tương quan giữa các biến các biến độc lập và phần dư (mô hình FEM phù hợp)

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình FEM và REM

Theo kết quả kiểm định Hausman, “giá trị P-value = 0,0000 thấp hơn 0,05 vì vậy chấp nhận giả thuyết giả thuyết H0, bác bỏ giả thuyết H1 đồng nghĩa sẽ là mô hình tác động” cố định FEM là mô hình phù hợp nghiên cứu hơn.

Trong hai mô “hình kiểm định Pooled OLS và mô hình tác động cố định FEM thì mô hình FEM là mô hình có tính vững nhất. Vì vậy, kết quả kiểm định Hausman ủng hộ cho việc chọn mô hình FEM là mô hình phù hợp nhất để phân tích các kết quả tiếp theo của” nghiên cứu.

4.3.3. Kiểm định các khuyết tật mô hình tác động cố định FEM

4.3.3.1. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình tác động cố định FEM

H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i
chi2 (22) =   1382,45
Prob>chi2 = 0,0000

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA

Giả thuyết của kiểm định:

  • H0: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình FEM
  • H1: có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình FEM

Kết quả của kiểm định Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05 vì vậy ta bác bỏ H0 chấp nhận H1 hay đã có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

4.3.3.2.Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Giả thuyết của kiểm định:

  • H0: Không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM
  • H1: có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan

Wooldridge test for autocorrelation in panel data
H0: no first order autocorrelation

F(1,          21) =  87,935

Prob > F =   0,0000

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA

Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan cho thấy hệ số Prob > F = 0,0000 cao hơn 0,05 vì vậy bác bỏ giả thuyết H1, chấp nhận giả thuyết H0 nên không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM.

4.3.3.3. Khắc phục các khuyết tật trong mô hình tác động cố định FEM

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS

Biến độc lập Biến phụ thuộc NIM
Hệ số hồi quy Sai số chuẩn Giá trị P-value
SIZE 0,0353*** 0,0062 0,000
LEV 0,384* 0,1648 0,020
NPL -0,765*** 0,2151 0,000
LIQ 0,216** 0,0683 0,002
ME 0,067 0,8975 0,941
GDP -0,0422 0,4772 0,930
INF 0,312*** 0,0713 0,000
COVID 0,0049 0,0232 0,833
Constant -1,1650*** 0,0666 0,000
Số quan sát 288
Wald chi2(8) 92,95
Prob > chi2 0,0000

***,** và * lần lượt chỉ ý nghĩa thống kê ở mức 1%, 5% và 10%

Nguồn: Kết quả chạy từ phần mềm STATA

Với biến phụ thuộc là NIM “sau khi sử dụng FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, mô hình có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 1% (do Prob =0.0000) nên mô hình hồi quy” được xây dựng là phù hợp.

4.3.3.4. Kiểm định giả thuyết thống kê Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Biến độc lập NIM
Giả thuyết Kết quả nghiên cứu
Kỳ vọng dấu Kỳ vọng dấu P-value Mức ý nghĩa
SIZE + + 0,000 Có ý nghĩa thống kê
LEV + + 0,020 Có ý nghĩa thống kê
NPL 0,000 Có ý nghĩa thống kê
LIQ + + 0,002 Có ý nghĩa thống kê
ME + 0,941 Không có ý nghĩa thống kê
GDP + 0,930 Không có ý nghĩa thống kê
INF + 0,000 Có ý nghĩa thống kê
COVID + 0,833 Không có ý nghĩa thống kê
R2 0,4714

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Kết quả hồi quy và kiểm định cho thấy cả ba phương pháp ước lượng thông thường cho dữ liệu bảng bao gồm: Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM đều không phù hợp đối với mô hình nghiên cứu của khóa luận do vi phạm giả thuyết “hồi quy phương sai sai số thay đổi. Để khắc phục các vi phạm này tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS, kết quả của mô hình hồi FGLS sẽ được sử dụng” để thảo luận và phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ TNLCB tại NHTM Việt Nam: NIMi,t = -1,165 + 0,0353*SIZEit + 0,3841*LEVit – 0,7654*NPLit + 0,2163*LIQit + 0,3122*INFt

  • Hệ số R-Square là 0,4714 “có nghĩa là các biến độc lập của mô hình giải thích được 47,14% sự biến thiên của” biến phụ thuộc NIM.
  • Các biến SIZE; LEV; NPL; LIQ; CPI “có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5% và 1%. Biến ME, GDP, COVID – 19 không có ý nghĩa thống kê” do Pvalue > 5%.
  • Sau đây là những phân tích về kết quả các yếu tố có tác động đến TNLCB của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013-2024.
  • Đối với biến SIZE trong mô hình, p-value là 0,000 và hệ số beta là cho thấy quy mô ngân hàng tác động cùng chiều đến NIM ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này tương đồng với giả thuyết H1 ban đầu. Hệ số be ta của quy mô ngân hàng (SIZE) là 0,0353 điều này có nghĩa là SIZE có tương quan dương với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Nếu quy mô ngân hàng tăng 1 đơn vị thì TNLCB tại các NHTM Việt Nam tăng 0,0353 đơn vị.

Đối với biến LEV trong mô hình, p-value là 0,020 và hệ số beta là cho thấy đòn bẩy tài chính tác động cùng chiều đến NIM ở mức ý nghĩa 10% Kết quả này tương đồng với giả thuyết H2 ban đầu. Hệ số be ta của đoàn bẩy tài chính (LEV) là 0,384 điều này có nghĩa là LEV có tương quan dương với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Nếu đòn bẩy tài chính tăng 1 đơn vị thì TNLCB tại các NHTM Việt Nam tăng 0,384 đơn vị. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Đối với biến NPL trong mô hình, p-value là 0,000 và hệ số beta là cho thấy quy mô ngân hàng tác động ngược chiều đến NIM ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này tương đồng với giả thuyết H3 ban đầu. Hệ số be ta của tỷ lệ nợ xấu (NPL) là 0,765 điều này có nghĩa là NPL có tương quan âm với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Nếu tỷ lệ nợ xấu tăng 1 đơn vị thì TNLCB tại các NHTM Việt Nam giảm 0,765 đơn vị.

Đối với biến LIQ trong mô hình, p-value là 0,002 và hệ số beta là cho thấy tính thanh khoản tác động ngược chiều đến NIM ở mức ý nghĩa 5% Kết quả này tương đồng với giả thuyết H4 ban đầu. Hệ số be ta của tính thanh khoản (LIQ) là 0,216 điều này có nghĩa là LIQ có tương quan dương với TNLCB tại các NHTM Việt Nam, đồng nghĩa tính thanh khoản tác động ngược chiều đến NIM vì LIQ được đo bằng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi của khách hàng (LIQ tăng nghĩa là tính thanh khoản giảm). Nếu tỷ lệ cho vay so với tiền gửi của khách hàng tăng 1 đơn vị thì TNLCB tại các NHTM Việt Nam tăng 0,216 đơn vị.

Đối với biến ME trong mô hình, p-value lớn hơn 5%, điều này có nghĩa là tỷ lệ chi phí hoạt động “không có ý nghĩa thống kê hay không tương quan với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này không tương đồng với giả thuyết H5 ban đầu. Do đó, chưa tìm thấy bằng chứng về sự tác động của” tỷ lệ chi phí hoạt động đến NIM.

Đối với biến GDP trong mô hình, p-value lớn hơn 5%, điều này có nghĩa là tốc độ tăng trưởng kinh tế không có ý nghĩa thống kê hay không tương quan với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này không tương đồng với giả thuyết H6 ban đầu. Do đó, chưa tìm thấy bằng chứng về sự tác động của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến NIM.

Đối với biến INF trong mô hình, p-value là 0,000 và hệ số beta là cho thấy tỷ lệ phạm phát tác động cùng chiều đến NIM ở mức ý nghĩa 1% Kết quả này không tương đồng với giả thuyết H7 ban đầu. Hệ số be ta của tỷ lệ lạm phát là 0,312 điều này có nghĩa là CPI có tương quan dương với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Nếu tỷ lệ lạm phát tăng 1 đơn vị thì TNLCB tại các NHTM Việt Nam tăng 0,312 đơn vị.

Đối với biến COIVD trong mô hình, p-value lớn hơn 5%, điều này có nghĩa là dịch covid “không có ý nghĩa thống kê hay không tương quan với TNLCB tại các NHTM Việt Nam. Kết quả này không tương đồng với giả thuyết H8 ban đầu. Do đó, chưa tìm thấy bằng chứng về sự tác động của” COVID đến NIM.

4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Hệ số tương quan của biến số quy mô ngân hàng với tỷ lệ TNLCB là 0,0353 cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố. Điều này luận giải cho việc các NHTM Việt Nam khi có quy mô ngân hàng càng lớn thì khả năng chiếm lĩnh thị phần càng dễ dàng hơn. Hay nói cách khác khi quy mô càng lớn thì giúp cho khách hàng tin tưởng và tiếp cận với ngân hàng tốt hơn, từ đó các hoạt động giao dịch từ huy động đến tín dụng hay đa dạng hóa càng thuận lợi hơn. Dựa trên thực tế của các NHTM Việt Nam từ 6/2021 – 6/2022 vào thời điểm cuối năm 2021 thì tổng tài sản của các NHTM Việt Nam tăng 12,5% so với năm 2020 và tăng trưởng tín dụng là 17,09% so với năm 2020. Tương tự 6/2022 theo thống kê thì quy mô các NHTM Việt Nam tăng 13,05% so với cùng kỳ năm 2023 và tốc độ tăng trưởng tín dụng có phần chậm hơn 2021 nhưng vẫn ở mức 8,5% (Vũ Phong, 2024) Xem kết quả thực trạng của NH ở 4.1.1 thì thấy quy mô NH tăng và tỷ lệ TNLCB tăng, chứng tỏ kết quả nghiên cứu phù hợp thực tế. Kết quả này tương đồng với kết quả của nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017); San và cộng sự (2015); Were và Wambua (2016); Rahman và cộng sự (2017); Islam và Nishiyama (2018); Homaidi và cộng sự (2020).

Hệ số tương quan của biến số đòn bẩy tài chính với tỷ lệ TNLCB là 0,3841 cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố. Điều này luận giải cho việc các NHTM Việt Nam vẫn cố găng trong việc gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu, vì đây là nguồn vốn dài hạn và giúp cho NHTM không đối mặt với áp lực thanh toán hàng kỳ tạo điều kiện cho NHTM có thể thực hiện các hoạt động đầu tư lớn trong NHTM và tiến hành mở rộng các hoạt động kinh doanh khác ngoài cho vay như đầu tư, bảo hiểm,..để tìm “kiếm được lợi nhuận nhiều hơn, từ đó sẽ gia tăng tỷ lệ TNLCB trong ngân hàng. Kết quả này tương đồng với nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017); San và cộng sự (2015); Rahman và cộng sự (2017); Islam và Nishiyama (2018); Homaidi và cộng sự (2020).”

Hệ số tương quan của biến số tỷ lệ nợ xấu với tỷ lệ TNLCB là -0,7654 cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố. Điều này luận giải cho việc khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao thì các NHTM Việt Nam sẽ tiến đến rủi ro cao nếu không thu hồi được. Điều này buộc các NHTM hoặc là chấp nhận mất một khoản thu hay phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Đồng thời, làm giảm đi lợi nhuận của ngân hàng hay suy giảm tỷ lệ TNLCB của NHTM. Kết quả này tương đồng với nhóm tác giả Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh (2016); Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017); San và cộng sự (2015); Rahman và cộng sự (2017). Năm 2018, tỷ lệ nợ xấu cho vay khách hàng của các NHTM là 2,15%, chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản. Tỷ lệ nợ xấu cho vay khách hàng có chiều hướng giảm dần từ năm 2018 đến 2024 ở mức 1,72%. Đây là mức thấp nhất trong giai đoạn nghiên cứu, do Ngân hàng Nhà nước ban hành nhiều văn bản về xử lý nợ xấu, các giải pháp mang tính cấp thiết và hiệu quả như sự ra đời của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Nghị quyết 42/2019/QH14 ngày 21/6/2019 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, ngoài ra các NHTM cũng quyết liệt trong việc xử lý nợ nên tình hình nợ xấu đã giảm theo chiều hướng rất tích cực. Đối sánh với NIM thì từ 2018 – 2024 thì tỷ lệ này cũng gia tăng từ 7,16% đến 15,17%.

Hệ số tương quan của biến số tính thanh khoản hay tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi với tỷ lệ TNLCB là 0,2163 cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố. Điều này luận giải việc tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi càng gia tăng thì hoạt động vay cũng được các NHTM Việt Nam gia tăng. Hay nói cách khác, để gia tăng tỷ lệ này thì các NHTM sẽ tiến hành mở rộng hoạt động cho vay và tiến hành giảm tính thanh khoản để tìm kiếm được nhiều lợi nhuận hơn và nâng cao NIM. Kết quả này tương đồng với nhóm tác giả San và cộng sự (2015); Were và Wambua (2016); Islam và Nishiyama (2018).

Hệ số tương quan của biến số tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ TNLCB là 0,312 “cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa hai yếu tố. Điều này luận giải việc khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì lãi suất cho vay của các NHTM có xu hướng gia tăng do đó tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM có thể tìm kiếm” được lợi nhuận cao hơn và sẽ làm cho NIM tăng cao hơn. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2018).

Đối với biến số đại dịch Covid 19 không ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB vì đại dịch này chỉ xuất hiện trong hai năm 2022 – 2023, nên sức ảnh hưởng chưa đủ lớn để ảnh hưởng cho cả một giai đoạn dài từ năm 2013 – 2024. Mặt khác, trong giai đoạn này thì các NHTM vẫn có chiến lược kiểm soát các khoản nợ của khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro và duy trì lợi nhuận ổn định.

TÓM TẮT CHƯƠNG 4

Trong chương này tác giả đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được của 24 NHTM Việt Nam đại diện cho 31 NHTM Việt Nam từ năm 2013 – 2024. Thông qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, tác giả nắm được tình hình chung của mẫu và xem xét hiện tượng tương quan của các biến độc lập. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Tiếp đó, “tác giả tiến hành chạy hồi quy mô hình POOLED OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM. Tác giả đã tiến hành đo lường sự phù hợp của 3 mô hình này thì mô hình tác động FEM là phù hợp nhất vì vậy tác giả tiến hành kiểm định các” khuyết tật và khắc khục các khuyết tật này để ra được kết quả mô hình cuối cùng. Từ kết quả này tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận giả thuyết thống kê đồng thời định hướng các hàm ý chính sách và giải pháp cho chương 5. Mặt khác, “kết quả nghiên cứu cũng đã cho thấy quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng cùng chiều với NIM. Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu” có ảnh hưởng nghịch chiều với NIM. Các biến số, tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tình hình đại dịch Covid 19 không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến NIM.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Kết luận

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB của NHTM Việt Nam. “Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho tỷ lệ TNLCB của các NHTM Việt Nam đó là NIM, các biến độc lập được sử dụng bao gồm các yếu tố bên trong ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2013 đến năm” 2024 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê.

Luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đề ra trong chương 1 là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB của NHTM Việt Nam và dựa vào đó đề xuất các hàm ý chính sách tại chương này. “Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB của NHTM đã làm rõ các biến có ý nghĩa thống kê trong giai đoạn 2013 – 2021 và 2013 – 2024. Cụ thể quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng” cùng chiều đến TNLCN nghĩa là:

Quy mô ngân hàng càng lớn thì NHTMCP có khả năng mở rộng các HĐKD do đó tạo điều kiện thuận cho sự gia tăng tỷ lệ TNLCB.

Tỷ lệ VCSH trên tài sản lớn phản ánh các NHTMCP có nguồn VCSH dồi dào hay nguồn vốn dài hạn để phát triển các HĐKD do đó tạo điều kiện thuận cho sự gia tăng tỷ lệ TNLCB.

Tỷ lệ thanh khoản được duy trì ở mức thấp tạo điều kiện cho hoạt động cho vay tăng trưởng làm cho các NHTMCP kiếm được nhiều lợi nhuận hơn do đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự gia tăng tỷ lệ TNLCB.

Tỷ lệ lạm pháp tăng lên tạo điều kiện cho lãi suất cho vay tại các NHTMCP cũng tăng lên theo, do đó sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn tạo điều kiện cho sự gia tăng tỷ lệ TNLCB.

Ngược lại, tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng ngược chiều đến NIM tại các NHTM Việt Nam có nghĩa là nợ xấu càng tăng thì NIM sẽ giảm.

Mặt khác, tỷ lệ chi phí hoạt động, GDP và đại dịch Covid 19 không “ảnh hưởng đến NIM tại các NHTM Việt Nam do không có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng theo kết quả của mô hình hồi quy sau” khi sử dụng phương pháp khắc phục FGLS.

5.2. Hàm ý chính sách Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

5.2.1. Mở rộng quy mô ngân hàng

Theo như kết quả nghiên cứu, quy mô ngân hàng ảnh hưởng cùng chiều và thể hiện tích cực đến tỷ lệ TNLCB của các NHTM Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc quy mô ngân hàng càng được mở rộng thì tỷ lệ TNLCB càng tăng. Một số kiến nghị của tác giả được đưa ra như sau:

Các NHTM có thể mở rộng quy mô bằng việc mở rộng mạng lưới hoạt động như tăng số lượng chi nhánh ngân hàng hay các phòng giao dịch ở các vị trí đắc địa như khu dân cư có mật độ dân số cao hay các khu công nghiệp tập trung để thu hút và tiếp cận đến khách hàng. Tuy nhiên để có thể thành lập chi nhánh ngân hàng thì các ngân hàng cần đáp ứng những yêu cầu liên quan đến việc các NHTM phải được kiểm toán, kiểm soát theo yêu cầu, đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, phân loại nợ trích lập dự phòng theo quy định và tỷ lệ nợ xấu dưới 3% (21/2015/TT-NHNN) Bên cạnh đó, số lượng các chi nhánh tập trung đa số ở các thành phố phát triển, tuy nhiên ở các tỉnh và thành phố nhỏ lẻ chỉ có ít các NH tập trung. Vì vậy, cần có những chính sách để mở rộng quy mô một cách tối ưu vì nhu cầu của người dân khắp cả nước ngày một tăng cao.

Quy mô càng lớn “thì càng giúp các NHTM hoạt động kinh doanh tốt hơn nhưng đi đôi với đó là rủi ro về nguồn vốn và năng lực để duy trì hoạt động của các NHTM. Các chi phí hoạt động phát sinh trong quá trình ngân hàng mở rộng quy mô như chi phí mặt bằng, nhân lực, v.v. ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Vì vậy, các NHTM cần nâng cao năng lực quản lý,” đẩy mạnh phát triển công nghệ và dựa vào nguồn vốn của từng ngân hàng để tăng quy mô một cách hợp lý.

Các NHTM có thể tăng tổng tài sản NH bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, tích hợp nhiều tiện ích của các sản phẩm để khách hàng có thể lựa chọn sử dụng. Ngoài ra, các NHTMCP cần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của mình để tạo thêm nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng Từ đó, số lượng khách hàng đến với NH cũng ngày một tăng, kéo theo doanh thu của NH của dần được ổn định.

5.2.2. Mở rộng vốn chủ sở hữu

Theo như kết quả nghiên cứu thì đòn bẩy tài chính ảnh hưởng tích cực đến NIM, hay quy mô vốn chủ sở hữu của NHTM càng tăng thì TNLCB của ngân hàng càng tăng, tiềm lực tài chính của ngân hàng càng mạnh. Trong đó phải kể đến việc phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đối với các NHTM đã lên sàn giao dịch. Điều này vừa giúp cho các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô các sản phẩm của ngân hàng, tạo uy tín và sự tin tưởng của khách hàng,

Nâng cao chất lượng quản trị để giảm chi phí hoạt động nhằm tăng lợi nhuận. Vì chính vệc tăng lợi nhuận sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông khi được hưởng cổ tức nhiều hơn. Từ đó tạo ra niềm tin với họ và sẽ muốn duy trì số cổ phần trong ngân hàng hay mua thêm cổ phiếu của các NHTM.

5.2.3. Duy trì tỷ lệ thanh khoản ổn định Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Khi tỷ lệ dư nợ cho vay so với tiền gửi của khách hàng càng cao thì NIM càng cao. Tuy nhiên trong trường hợp này thì tính thanh khoản thấp, do đó khi tăng dư nợ thì đồng thời các ngân hàng cần thực hiện tốt việc dự báo dòng tiền ra/ vào để quản lý tốt rủi ro thanh khoản. Như vậy, ngân hàng cần tăng dư nợ cho vay nhưng vẫn đảm bảo tỷ lệ dư nợ so với tiền gửi trong giới hạn cho phép của NHNN là dưới 85%. Các ngân hàng cần tập trung duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi tại NHNN và các tài sản có “tính lỏng” cao khác) bảo đảm duy trì dự trữ bắt buộc của NHNN và để đối phó với các dòng tiền đi ra. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền, rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra, đẩy mạnh việc phát triển thị trường các sản phẩm tiền tệ phái sinh để hạn chế rủi ro khi thị trường tiền tệ biến động. Các ngân hàng cần thiết lập ngay chiến lược quản trị thanh khoản thông qua việc hoạch định và dự đoán những thay đổi về lưu lượng tiền gửi và cho vay, cũng như những thay đổi về lợi nhuận. Tiếp đó, nâng cao chất lượng “hoạt động kinh doanh, vì đây là một biện pháp khá căn bản để có thể quản lý thanh khoản trong cả công tác phòng ngừa và xử lý các khó khăn về thanh khoản.”

5.2.4. Kiểm soát tỷ lệ nợ xấu

Theo như “kết quả nghiên cứu, tỷ lệ nợ xấu có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ TNLCB của các NHTM.” Nợ xấu là vấn đề khó giải quyết trong hoạt động kinh doanh của NHTM, cần phải có những biện pháp để giảm thiểu rủi ro này. Một số hàm ý của tác giả đưa ra như sau.

Thứ nhất, các NHTM để xử lý nợ xấu dứt điểm và có hiệu quả trên cơ sở gắn liền trách nhiệm của cá nhân liên quan đến cho vay, ngân hàng cho vay cần tiến hành kiểm tra, đánh giá các khoản vay để xác định rõ nguyên nhân. Kiểm tra, sắp xếp lại các khoản nợ bằng cách phân tích thực trạng các món nợ quá hạn, nợ tiềm ẩn rủi ro và các khoản nợ đã được xử lý rủi ro để đánh giá khả năng thu hồi nợ. Việc sắp xếp lại các khoản nợ phải dựa trên tính khả thi các dự án, phương án kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức. Đối với các dự án có tính khả thi cao, ngân hàng có thể giãn nợ, gia hạn nợ cho doanh nghiệp, tổ chức. Ngân hàng cần phải kiểm tra thường xuyên thực trạng tài sản đảm bảo và tài sản thế chấp để có phương án xử lý và thu hồi nợ. Hoặc có thể bán nợ xấu cho công ty quản lý tài sản (VAMC), xử lý triệt để nợ xấu, giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Đối với những món nợ xấu cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay kinh doanh bất động sản có tài sản thế chấp, các ngân hàng cần có biện pháp xử lý kiên quyết bằng nguồn lực nội tại; bao gồm chế tài đối với các cá nhân có liên quan.

Thứ hai, các NHTM nên có tăng cường kiểm soát nội bộ, đảm bảo thực hiện đúng quy trình; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, tăng cường công tác giám sát đối với quản trị rủi ro. Gắn kết trách nhiệm vật chất đối với các cá nhân có quyền phê duyệt các quyết định có rủi ro. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

Thứ ba, nâng cao chất lượng nhân sự. Để hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng. Cùng với việc không ngừng nâng cao trình độ và chất lượng nhân sự, NHTM cần có những chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao và giữ chân được đội ngũ nhân sự giỏi đang có. Đặc biệt xây dựng và quán triệt đạo đức nghề nghiệp làm đầu với mọi đối tượng, đồng thời gắn kết quả thưởng cho nhân viên với chất lượng tín dụng để nâng cao trách nhiệm.

5.2.5. Kiểm soát tốt các nhân tố vĩ mô nền kinh tế

Theo như kết quả nghiên cứu, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ TNLCB của các NHTM. Do vậy, lạm phát phải được xem là yếu tố giúp các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động thông qua việc kích thích huy động vốn.

Ổn định lạm phát, lãi suất và tỷ giá tiền tệ ở mức là một trong những việc làm cấp thiết trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là ở các quốc gia mới nổi như Việt Nam, nhằm đảm bảo ổn định tài chính tiền tệ quốc gia.

5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1. Hạn chế nghiên cứu

Thứ nhất, do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn nên tác giả chỉ có thể thu thập được số liệu của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024.

Thứ hai, ngoài các biến số được phân tích bên trên thì tác giả vẫn chưa xem xét các biến số khác có thể ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam ví dụ hệ số an toàn vốn, đa dạng hóa thu nhập, lãi suất,.

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Thứ nhất, các nghiên cứu tiếp theo tác giả sẽ đầu tư và mở rộng thu thập số liệu nghiên cứu dài hơn hoặc tất cả các NHTM Việt Nam.

Thứ hai, bổ sung thêm các biến khác để làm biến độc lập đại diện cho các nhân tố ảnh hưởng đến NIM của NHTM ví dụ hệ số an toàn vốn, đa dạng hóa thu nhập, lãi suất,…

TÓM TẮT CHƯƠNG 5

Trong chương 5 tác giả đã tiến hành kết luận chung “kết quả của nghiên cứu này. Đồng thời đưa ra nhận định về chiều ảnh hưởng của các nhân tố đến NIM tại các NHTM. Từ cơ sở kết quả nghiên cứu đó thì tác giả đã đề xuất các hàm ý chính sách” liên quan như mở rộng quy mô ngân hàng, nâng cao đòn bẩy tài chính bằng cách gia tăng vốn chủ sở hữu, duy trì tỷ lệ thanh khoản tại mức cao và điều chỉnh mức tỷ lệ lạm phát tăng phù hợp để tạo cơ sở cho NIM của các NHTM Việt Nam gia tăng trong thời gian tiếp theo. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

KẾT LUẬN

Luận văn đã trình bày được lý do chọn đề tài và đã đề ra các mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến NIM tại các NHTM Việt Nam.Thông qua việc tổng hợp khung lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan, tác giả xác định được các nhân tố” có ảnh hưởng đến NIM tại các NHTM và tạo cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh NHTM Việt Nam đó là “quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ nợ xấu, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát. Sau đó, tác giả thu thập và xử lý số liệu của 24 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024 để cho ra các kết quả nghiên cứu và tiến hành kiểm định cũng như thảo luận kết quả này. Kết quả cuối cùng cho thấy quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng cùng chiều đến NIM của các NHTM Việt Nam. Ngược lại tỷ lệ nợ xấu thì có ảnh hưởng ngược chiều đến NIM. Từ các chiều hướng ảnh hưởng của các nhân tố” đó tác giả làm “cơ sở để đề ra các hàm ý chính sách tương ứng như gia tăng quy mô ngân hàng, tăng tỷ lệ đòn bẩy tài chính thông qua tăng VCSH, tăng tính thanh khoản thông qua tăng dự trữ quỹ tiền trong ngân hàng, giảm tỷ lệ nợ xấu” của ngân hàng và điều tiết tỷ lệ lạm phát tăng hợp lý. Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Phương pháp nghiên cứu đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537