Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần An Bình – Chi Nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

  1. Tiêu đề:Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần An Bình – Chi Nhánh Thành Phố Hồ Chí Minh
  2. Nội dung:

Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đầu tàu, trung tâm phát triển kinh tế hàng đầu của cả nước, bên cạnh tiềm năng thị trường vô cùng lớn, có nhiều cơ hội các ngân hàng thực hiện mục tiêu mở rộng quy mô tín dụng, với mục tiêu trọng tâm là tín dụng cá nhân, bán lẻ, vì thế nên áp lực cạnh tranh là vô cùng lớn. Đặc biệt khi đất nước vừa trải dịch bệnh Covid – 19 với nhiều thiệt hại về kinh tế lẫn tinh thần của người dân cả nước, điều kiện kinh doanh thay đổi đột ngột, khiến các ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng có quy mô nhỏ như Ngân hàng TMCP An Bình, cụ thể là tại chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, một mặt vừa phải duy trì hoạt động, mặt khác vừa phải cố gắng hoàn thành tốt chỉ tiêu nhiệm vụ được giao. Mục tiêu của nghiên cứu là làm đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân của ABBank – CN TP HCM trước, trong và sau dịch bệnh để có những đề xuất cải thiện, mở rộng và phát triển tín dụng cá nhân cho ABBank cũng như là Chi nhánh TPHCM.

  1. Từ khóa: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân, phát triển tín dụng bán lẻ.

THESIS SUMMARY

  1. Title: “Developing credit for individual customers at An Binh Commercial Joint Stock Bank – Ho Chi Minh City Branch”
  2. Contents: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Ho Chi Minh City is the leading locality, the leading economic development center of the country, besides the huge market potential, there are many opportunities for banks to realize the goal of expanding credit scale. , with the main target of personal credit, retail, so the competitive pressure is extremely great. Especially when the country has just experienced the Covid-19 epidemic with a lot of economic and mental damage to the people of the country, business conditions changed suddenly, making banks, especially banks A small scale like An Binh Commercial Joint Stock Bank, particularly in the Ho Chi Minh City branch, has to maintain operations on the one hand, and on the other hand, must try to fulfill the assigned targets and tasks. The objective of the study is to assess the current situation of personal credit activities of ABBank – Ho Chi Minh City Branch before, during and after the epidemic to make recommendations to improve, expand and develop personal credit for ABBank as well as as Ho Chi Minh City Branch

  1. Keywords: Personal customer credit development, retail credit development

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI:

Trong năm 2022, Việt Nam đã thành công tham gia ba hiệp định thương mại tự do lớn, gồm: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EVFTA), Hiệp định đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định thương mại tư do Việt Nam – Vương Quốc Anh (UKVFTA), nâng tổng số hiệp định tự do thương mại mà Việt Nam tham gia lên thành 15. Qua đó tạo bước đệm vững chải cho việc xuất khẩu hàng hóa Việt Nam đi các nước thành viên, các doanh nghiệp dễ dàng tham gia chuỗi cung ứng mới; bên cạnh đó, áp lực phải đáp ứng tiêu chuẩn đầu vào thị trường các nước thành viên buộc các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng cải tiến một mặt để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, một mặt phải cạnh tranh với các hàng hóa nhập ngoại tại chính thị trường trong nước.

Hiện nay trên thị trường tín dụng trong nước đang hết sức sôi nổi khi có sự gia nhập nước ngoài như: Standard Chartered (Anh), Shinhanbank (Hàn Quốc), Ngân hàng HSBC (Anh), Citibank (Mỹ)…tạo ra sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt lên đè nặng lên vai các tổ chức trong nước. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Bên cạnh sự áp lực và khó khăn của thị trường nội địa thì đất nước ta cũng tương tự các nước trên toàn cầu đang đối mặt với đại dịch Covid-19, gây ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống xã hội. Mặc dù, nước ta đã thành công bước đầu trong công tác kiểm soát dịch bệnh nhưng dịch bệnh vẫn đang tác động không nhỏ đến tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, làm gián đoạn chuỗi cung ứng hàng hóa; xuất nhập khẩu; hàng không; du lịch; giáo dục; nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc thu hẹp quy mô;….

Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ là đô thị thông minh, thành phố dịch vụ – công nghiệp theo hướng hiện đại, giữ vai trò là “đầu tàu” kinh tế và là động lực phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm phía nam và cả nước. Định hướng đến năm 2040 thành phố sẽ là trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại và khoa học – công nghệ, văn hóa Khu vực Đông Nam Á. Để hiện thực hóa mục tiêu trên, thì rất cần sự liên kết, chung tay của các tổ chức tín dụng, trong hoạt động đáp ứng đầy đủ và kịp thời nguồn tài lực cho thành phố. Bên cạnh nhưng thuận lợi về thị trường thì dịch bệnh và sự cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đòi hỏi các tổ chức tín dụng nói chung và Ngân hàng An Bình nói riêng bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, còn cần bảo an toàn vốn, giảm nợ xấu, nâng cao sự hài lòng của khách hàng, tạo ra sự phát triển bền vững hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam.

Thị trường ngân hàng hiện nay đang tập trung đẩy mạnh khai phá dư địa của thị trường bán lẻ, quy mô nhỏ để phân tán rủi ro, đa dạng hóa danh mục cho vay; trong đó mảng khách hàng cá nhân được tập trung phát triển khá mạnh. Mặt khác, thị trường tín dụng bán lẻ tại TP HCM có quy mô rất lớn, tuy nhiên thị phần của ABBank còn khá khiêm tốn và cả nước vừa phải trải qua đợt dịch bệnh Covid – 19 với những ảnh hưởng vô cùng lớn đến mọi mặt đời sống, cũng như là hoạt động của các ngân hàng. Do đó để có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển bền vững thì ABBank – CN TPHCM cần có những bước đi cải tiến cả về chất lẫn về lượng, nên tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An  Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh”

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU:

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài:

Buchbinder Tunick & Company (2019), “How to limit risks on personal guarantee business loans”. Theo tác giả thì rất khó để quản lý rủi ro phát sinh trong những bảo lãnh cá nhân của các khoản vay, nhưng có áp dụng cá biện pháp như: cấu trúc khi đảm bảo cá nhân có hiệu lực, bảo hiểm khoản vay cá nhân, hạn chế bảo lãnh, cố gắng loại bỏ một số tài sản nhất định, cố gắng loại bỏ một số tài sản nhất định….giảm thiểu tác động của rủi ro.

Shuai Lia, Yang Yanga & Zhou Zongfanga (2016), “Research on Impact of Moral Hazard on Individual Credit Risk”, nghiên cứu đã đi sâu làm rõ ảnh hưởng của rủi ro đạo đức trong kiểm soát rủi ro tín dụng cá nhân. Cụ thể, tác giả có những kết luận quan trọng như: khi tồn tại rủi ro đạo đức trong cho vay tiêu dùng, lãi suất vay và xác suất xảy ra rủi ro đạo đức thay đổi cùng chiều, xác suất vỡ nợ tín dụng tiêu dùng và xác suất xảy ra rủi ro đạo đức có mối quan hệ phi tuyến tính…

Syafrizal , Nabsiah Abdul Wahid & Ishak Ismail (2014), “Retail Banking and Customer Relationship Quality Issues in Indonesia”. Một số các kết luận được đưa ra: thu nhập từ bán lẻ chiếm khá lớn trong cơ cấu lợi nhuận và tăng trưởng của các tổ chức tín dụng Indonesia; mức độ thân thiết giữa ngân hàng và khách hàng có thể khắc phục được các vấn đề như: sự khiếu nại của khách hàng, ý định chuyển đổi ngân hàng, giảm tiền gửi…; khi ngân hàng nhận được sự hài lòng của khách hàng thì họ có thể dễ dàng bỏ qua những lỗi về sản phẩm, cũng như giảm các khiếu nại. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Bogdan Florin Filip (2017), “The Quality of Bank Loans within the Framework of Globalization”, nghiên cứu đưa ra đánh giá về chất lượng khoản vay của ngân hàng trong khuôn khổ toàn cầu hóa tại Romania và EU trong giai đoạn 2000-2014, trong đó đã đưa ra phân tích về khái niệm chất lượng khoản vay và nợ xấu (NPLs), phân tích mối tương quan nghịch biến giữa chất lượng khoản vay và nợ xấu, tác giả đã chỉ ra rằng nợ xấu ngày càng gia tăng tại Romania từ 3.1% năm 2000 lên mức 14,33% vào năm 2013, tương ứng tại EU lần lượt là 3,8% và 6%. Đồng thời tác giả minh chứng được sự tương tác của nợ xấu với tổng thu nhập quốc dân, lạm phát, thất nghiệp, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản trị khoản vay.

EftychiaNikolaidou & SofoklisVogiazas (2019), “Credit risk determinants in Sub-Saharan banking systems: Evidence fromfive countries and lessons learnt from Central East and South East Europeancountries”, tác giả nghiên cứu các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng cận Sahara, với bằng chứng và thực tiễn từ các quốc gia Trung Đông và các quốc gia ở Đông Nam Châu Âu. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy: việc đa dạng hóa tài sản cơ sở được khuyến khích, khi kinh tế, sản xuất đang hưng thịnh có thể giúp các ngân hàng vượt qua khó khăn thông qua việc giảm khối lượng nợ tiềm ẩn rủi ro….

2.2 Các nghiên cứu trong nước:

Lê Hoàng Bá Huyền (2021), “Nâng cao chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Agribank Ngọc Lặc – Thanh Hóa”, Tác giả đã nhận xét chất lượng các khoản vay cá nhân tại Agribank Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, thông qua các thực trạng về: Tổng dư nợ và kết cấu dư nợ; Tỷ lệ nợ xấu; Nợ xấu trong cho vay cá nhân; Hệ số khả năng bù đắp rủi ro; Lợi nhuận hoạt động tín dụng cá nhân… Từ việc đưa ra những số liệu chi tiết, những hệ số mang tính chất so sánh tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ.

Nguyễn Thị Thu Đông (2014), “Nâng cao Chất lượng tín dụng tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ngoại Thương Việt Nam trong quá trình hội nhập”. Luận án đã tìm hiểu cách thức nâng cao chất lượng tín dụng theo hướng tiếp cận từ khách hàng vay thông qua hệ thống xếp hạng nội bộ sau đó đưa ra phê duyệt khoản vay, đây là xu hướng một cách làm tất yếu tuân thủ thông lệ quốc tế, nhằm giảm thiểu một phần rủi ro phát sinh. Qua việc khai phá dữ liệu qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ đối với danh mục khách hàng đang vay tại Ngân hàng Ngoại Thương, tác giả đã đề xuất những phương pháp phát triển chất lượng tín dụng như sau: hoạt động cho vay phải chấp hành nghiêm quy trình, hệ thống quản lý rủi ro, tiêu chí cho vay…

Nguyễn Thị Kim Oanh và Đỗ Thị Thanh Vinh (2016), “Phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi Nhánh Nha Trang”, Bài báo khoa học của nhóm nghiên cứu đã cho thấy tình hình hoạt động của Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang trong từ năm 2011 đến năm 2013 và thông qua nghiên cứu cho thấy sự hài lòng của khách hàng bị tác động mạnh nhất bởi các yếu tố phương tiện hữu hình, kế đến là năng lực phục vụ và cuối cùng là sự tín cậy; qua đó có những đề xuất về phát triển kênh phân phối, cải tiên quy trình và chính sách tín dụng, … nhằm hiện thực hóa mục tiêu mở rộng cho vay tại Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang.

Nguyễn Đức Thắng (2020), “Phát triển hoạt động tín dụng bán lẻ tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu từ và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Gia Lai”, tác gỉả đã làm sáng tỏ những lý thuyết phát triển, mở rộng cho vay cá nhân, các tiêu chí đo lường mức độ phát triển của cho vay cá nhân. Từ đó, tác giả đánh giá thực trạng hoạt động của chi nhánh để đề ra phương hướng giải quyết về nhân sự, mở rộng bán lẻ, sản phẩm, lãi suất… tương thích với nhu cầu thị trường để góp phần tăng trưởng tín dụng bán lẻ tại Ngân hàng Đầu tư – Chi nhánh Gia Lai. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Nguyễn Thị Kim Ngân (2021), “Phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam khu vực Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn đã cho thấy những đóng góp ngày càng to lớn của tín dụng bán lẻ trong cơ cấu lợi nhuận của các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên hiện nay hoạt động này vẫn chịu chi phối rất nhiều từ các chính sách chủ trương điều hành, môi trường kinh tế, sự linh hoạt, thống nhất trong điều hành ở các đơn vị kinh doanh tại ngân hàng,….Thông qua những yếu tố trên kết hợp với hoạt động thực tiễn của các đơn vị tác giả đã đóng những sáng kiến tích cực phục vụ phát triển mảng cho vay cá nhân.

Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu cho luận văn: Hiện nay, các nghiên cứu về ABBank, đặc biệt là những đề tài liên quan đến phát triển tín dụng, đã cũ và chưa có nghiên cứu nào đề cập về thực trạng phát triển tín dụng cá nhân trước và sau dịch Covid – 19 để đánh giá kịp thời được những tác động tiêu cực lên hoạt động kinh doanh bán lẻ của ngân hàng và cụ thể là tại chi nhánh TPHCM. Do đó căn cứ vào thực tiễn trên nên tác giả đã tiến hành phân tích tình hình kinh doanh của chi nhánh trước và sau dịch bệnh để từ đó đề xuất, kiến nghị một số giải pháp phù hợp, sát với thực tế để phục vụ cho hoạt động phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBANK – CN TPHCM.

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:

Luận văn đánh giá tình hình hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của ABBank –  CN TPHCM trước và sau dịch Covid – 19 và từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với thực tiễn để phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM.

3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Thứ nhất, tổng hợp và khái quát hóa những lý thuyết liên quan tín dụng ngân hàng, tín dụng cá nhân.
  • Thứ hai, phân tích thực trạng hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh TPHCM để rút ra thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục.
  • Thứ ba, căn cứ vào thực trạng hoạt động tác giả đề xuất các giải pháp phát triển tín dụng cá nhân cho ABBank – CN TPHCM.

4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

  • Câu hỏi 1: Các tiêu chí nào được sử dụng để đo lường sự phát triển hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh?
  • Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh? Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2018 – 2024.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất những giải pháp phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP An Bình – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.

6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • Để phù hợp với mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài, phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định tính.
  • Phương pháp thu thập dữ diệu: tác giả thu thập các dữ liệu thứ cấp như: doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dư nợ, nợ xấu, … của hoạt động tín dụng cá nhân được bóc tách từ báo cáo tài chính, kết quả kinh doanh, cẩm nang sản phẩm nội bộ của ABBank và Chi nhánh TPHCM, trang wed của các ngân hàng, Ngân hàng Nhà Nước…
  • Phương pháp phân tích dữ liệu: tác giả sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để xử lý các dữ liệu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dư nợ, nợ xấu… sau khi tổng hợp, tiếp theo tác giả sẽ dùng phương pháp so sánh để so sánh dữ liệu qua các năm (từ năm 2018 – 2024). Ngoài ra, tác giả còn kế thừa kết quả của những nghiên cứu trước có liên quan kết hợp với phương pháp suy luận, logic và quy nạp dữ liệu để làm rõ những thành tựu đạt được và hạn chế tồn đọng trong hoạt động tín dụng cá nhân, để từ đó đề xuất những giải pháp phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM.

7. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA NGHIÊN CỨU

7.1 Về mặt lý luận:

Tác giả đã học hỏi, đúc kết những kinh nghiệm phát triển tín dụng cá nhân và các vấn đề liên quan tại các nước trên thế giới để vận dụng tại Việt Nam.

Tác giả thông qua quá trình phân tích thực trạng kết hợp với phân tích dữ liệu khảo sát các nhân tố tác động đến hoạt động phát triển tín dụng cá nhân làm căn cứ đề xuất các giải pháp áp dụng tại ABBank – CN TPHCM.

7.2 Về mặt thực tiễn:

Luận văn đã phân tích, đánh giá một cách khách quan những thành tựu đạt được và những hạn chế trong tình hình hoạt động tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM từ năm 2018 – 2024, giai đoạn này chứa đựng rất nhiều biến động do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid – 19 và gồm cả sự phục hồi của chi nhánh sau đại dịch. Từ kết quả trên bên cạnh những thành tích nổi bật, tác giả đã nêu ra những hạn chế và nguyên nhân phát sinh những tồn đọng trong quá trình hoạt động của ABBank. Qua đó, làm căn cứ để đưa ra những phương hướng, hành động phù hợp nhằm phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM.

8. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

  • Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi Nhánh TP HCM
  • Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân Hàng TMCP An Bình – Chi Nhánh TP HCM.   

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại:

1.1.1 Tín dụng ngân hàng:

Khái niệm “tín dụng” mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy theo từng điều kiện và hoàn cảnh khác nhau nó sẽ mang những hàm ý riêng:

Nghiên cứu “tín dụng” từ phía các quan hệ kinh tế ở phạm vi vi mô thì “tín dụng là sự vay mượn giữa người đi vay và người cho vay, trên cơ sở thỏa thuận về thời gian, mức lãi cụ thể” [Luật các TCTD, 2012].

Ngân hàng thương mại trong thực tế là một trung gian vừa tiến hành thu gom nguồn vốn nhàn rỗi từ nền kinh tế và vừa phân phối lại cho các chủ thể đang thiếu hụt vốn. Trong quá trình trên nếu ở góc độ huy động vốn thì ngân hàng chính là người đi vay nhưng ở góc độ cho vay thì ngân hàng lại chính là bên cho vay, do đó nên nó phải tính toán sao cho có mức giá cả huy động vốn phù hợp đủ hấp dẫn để thu hút vốn trong nền kinh tế và giá cả bán vốn sao cho vừa đủ bù đắp các chi phí huy động vốn, chi phí vận hành và một phần lợi nhuận phù hợp để đảm bảo giá thành không quá cao phù hợp với diễn biến đời sống xã hội. Quá trình điều tiết vốn trên diễn ra liên tục giúp cho dòng tiền dịch chuyển liên tục đáp ứng cung cầu tiền tệ, thỏa mãn yêu cầu vận hành liên tục nền kinh tế.

  • Khi các ngân hàng thực hiện vai trò trung gian tín dụng, phải thỏa đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, thu hồi đầy đủ số vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền đã huy động từ KH và đồng thời bảo đảm nguồn vốn tự có của ngân hàng;

Thứ hai, phải có một lượng tiền dự trữ tối thiểu để phục vụ khi khách hàng đến rút tiền đột xuất.

  • Đứng trên phương diện NHTM là bên cho vay: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Ngân hàng là chủ thể điều hòa vốn cho toàn xã hội, bản chất của hoạt động trên là các ngân hàng thương mại đang thực hiện vay mượn của những chủ thể thừa vốn với giá cả (lãi suất huy động), kỳ hạn (không kỳ hạn, 1 tuần, 1 tháng, 1 năm,…) và phương thức hoàn trả nhất định (gốc cuối kỳ, lãi hàng tháng, gốc và lãi cuối kỳ,….) đã thỏa thuận vào lúc chuyển nhượng vốn sang cho ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay. Sau khi tiếp nhận nguồn vốn vay ngân hàng tiến hành kinh doanh, cho các chủ thể đang có nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế với mức giá cả, thời gian vay và cách thức trả nợ (trả gốc cuối kỳ – lãi hàng tháng, gốc – lãi trả hàng tháng,…) phù hợp với phương án vay, hoạch định tài chính của khách hàng.

Theo Luật các TCTD năm 2012, định nghĩa “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [Luật các TCTD, 2012].

Căn cứ Theo thông tư 39 của Ngân hàng Nhà nước năm 2018, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [Thông tư 39, năm 2018].

Trên thực tiễn trong lĩnh vực các ngân hàng thì khi nhắc đến “cụm từ” tín dụng ngân hàng thì phần lớn mọi người sẽ nghĩ đến đây là hoạt động cho vay. Theo đó ngân hàng như một doanh nghiệp kinh doanh tiền, huy động tiền từ các nguồn nhàn rồi hình thành nên các quỹ cho vay và phân phối lại các đối tượng, chủ thể cần sử dụng tiền để sản xuất, tiêu dùng. Trong quá trình phân phối lại quỹ cho vay thì ngân hàng phải luôn đảm bảo nguyên tắc có hoàn trả là cốt lõi của hoạt động vì ngân hàng cũng là chủ thể đi vay và phải hoàn trả chi phí huy động tiền gửi cho người dân.

  • Nghiên cứu trên phương diện toàn thể bao quát thì “tín dụng là sự vận động vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu” [Sử Đình Thành, năm 2010].

Theo định nghĩa trên, nếu xét trên thị trường chỉ gồm có các ngân hàng thì mỗi NHTM ở đó vừa là người đi vay vừa là người cho vay nhằm mục đích điều hòa vốn giữa thành viên.

Nếu xem xét kỹ bản chất của các tổ chức tín dụng, thì đây cũng chính là các doanh nghiệp trung gian thu gom tiền gửi và chuyển giao lại có chênh lệch (lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, để đảm bảo lợi nhuận kỳ vọng cho nhà đầu tư) do đó sẽ có những thời điểm nhu cầu vay, nhu cầu thanh toán vượt quá nguồn lực hiện có, dự trữ tiền mặt tại quỹ nên sẽ nảy sinh nhu cầu vay mượn bù đắp quỹ tiền mặt đột xuất giữa các ngân hàng.

1.1.2 Tín dụng cá nhân: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Căn cứ vào lý thuyết “Tín dụng ngân hàng” ta có thể mở rộng tín dụng cá nhân là việc các ngân hàng cấp tín dụng chuyển giao cho các cá nhân và hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng để tiêu dùng các mục đích như: mua nhà, mua xe, học hành, kinh doanh… theo những điều kiện nhất định, thời hạn xác định và đảm bảo nguyên tắc có hoàn trả.

Trên thế giới, hoạt động tín dụng đã tồn tại và phát triển từ đầu thập niên 80 thế kỷ trước. So với thời kỳ ban đầu chỉ chú trọng phát triển bán buôn dần dần nhận ra thế mạnh của việc phân tán rủi ro, thị trường rộng lớn nên các ngân hàng bắt đầu quan tâm khai thác dư địa mảng kinh doanh bán lẻ. Ở Việt Nam, vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX tín dụng cá nhân mới bắt đầu xuất hiện, các sản phẩm khá ít, đơn giản. Dần dần lượng sản phẩm tăng, tiện ích dần chỉnh chu để tương thích với mong muốn của trường gần 100 triệu dân, với mức sống, thu nhập cải thiện liên tục, lối sống hiện đại, thói quen phóng khoáng, đây chính là mảnh đất vô cùng tiềm năng để các tổ chức tín dụng chạy đua để khai thác.

Ngày nay, ở Việt Nam thu nhập bình quân đầu người liên tục cải thiện tất yếu đẩy tâm lý chi tiêu cũng phát triển tương ứng, đặc biệt là ở khu vực thành thị. Do đó, đối tượng khách hàng cá nhân rất nhanh chóng trở thành trọng điểm quan tâm hàng đầu của các ngân hàng.

  • Các sản phẩm tín dụng cá nhân:

Căn cứ theo tính chất đảm bảo/mức độ tín nhiệm của người vay thì tín dụng ngân hàng gồm: tín dụng có đảm bảotín dụng không có đảm bảo. Đây là cách phân loại phổ biến của các ngân hàng.

Các sản phẩm cho vay cá nhân:

  • Cho vay mua nhà, sửa chửa nhà: cho vay mua bất động sản (nhà, đất) đã có giấy chứng nhận, vay mua nhà hoặc đất dự án; cho vay xây nhà, sửa chữa nhà.
  • Cho vay tiêu dùng: vay món tiêu dùng có tài sản bảo đảm, vay món tiêu dùng tín chấp (không có tài sản bảo đảm), vay thấu chi tín chấp/có tài sản, vay cầm cố sản phẩm huy động vốn.
  • Cho vay sản xuất kinh doanh: cho vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn, cho vay sản xuất kinh doanh trả góp….
  • Cho vay mua ô tô: Mua xe Ô tô mới/xe ô tô đã qua sử dụng.
  • Cho vay du học/du lịch: thanh toán học phí, sinh hoạt phí….

Sản phẩm thẻ tín dụng:

“Thẻ tín dụng (Credit card) là loại thẻ được phát hành sau khi ngân hàng cung cấp dịch vụ tín dụng duyệt chấp thuận tài khoản thẻ với một hạn mức nhất định cho chủ thẻ. Thẻ tín dụng có đầy đủ các tính năng/công dụng như thẻ ghi nợ/ký quỹ. Chủ thẻ có thể dùng thẻ để mua sắm tại các điểm bán hàng, nơi chấp nhận thẻ, hoặc để rút tiền mặt các máy ATM. Điểm lưu ý của thẻ tín dụng là tất cả các giao dịch, kể cả rút tiền của khách hàng chỉ được sử dụng trong hạn mức đã thỏa thuận. Số dư giao dịch hàng tháng sẽ được ngân hàng thông báo vào một ngày nhất định (đã được thỏa thuận khi phát hành thẻ). Khách hàng có thể được thanh toán chậm trong vòng 45 ngày (gồm 30 ngày chu kỳ thanh toán và 15 ngày gia hạn thanh toán). Trường hợp khách hàng thanh toán đầy đủ số dư nợ và đúng hạn thì xem như không phải chịu lãi cho số tiền thực tế đã sử dụng. Nếu khách hàng chỉ nộp tiền vào tài khoản bằng mức tối thiểu ngân hàng quy định, thì phần dư nợ còn lại sẽ được chuyển sang kỳ sau và chịu lãi. Nhưng nếu khách hàng không thanh toán bất kỳ một khoản tiền nào theo thông báo thì sẽ phải chịu phạt quá hạn cho số tiền bằng mức tối thiểu quy định và chịu lãi cho phần dư nợ còn lại”. [Bùi Diệu Anh, năm 2015].

Căn cứ đối tượng, phân khúc và mục đích sử dụng ngân hàng đã phân nhóm thẻ thành: thẻ chuẩn (Standard), thẻ vàng (Gold), thẻ bạch kim (Platinum), thẻ đặc quyền khách hàng cao cấp… Chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng có phân hạng càng cao thì được hưởng càng nhiều ưu đãi và dịch vụ đặc biệt.

Các loại thẻ quốc tế được chập nhận thanh toán tại Việt Nam gồm: Visa, MasterCard, JCB, American Express…[Bùi Diệu Anh, năm 2015] [www.abbank.vn, năm 2023].

1.2 Phát triển tín dụng cá nhân tại các Ngân hàng thương mại: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

1.2.1 Khái niệm phát triển tín dụng cá nhân:

Theo triết học Mác – Lênin thì phát triển được hiểu như sau: “Phát triển không chỉ đơn thuần là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng mà còn có sự biến đổi về chất của một sự vật, hiện tượng. Phát triển là khuynh hướng vận động tiến lên từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về vật chất gây ra, và hướng theo xu thế phủ định của phủ định”.

Triết học Mác – Lênin đã nhận định bất cứ một sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng, hai mặt thống nhất hữu cơ với nhau. Theo đó, “lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó. Lượng là cái khách quan, cái vốn có của sự vật. Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm… Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác”. [Hoàng Thị Ngọc Huệ, năm 2020]

Như vậy, nếu xét về lượng thì phát triển tín dụng cá nhân là sự mở rộng, phát triển quy mô cho vay cá nhân.

Nếu xét về mặt chất thì phát triển tín dụng được hiểu là hoạt động nâng cao chất lượng dịch vụ, nhận diện thương hiệu, nâng cao trải nghiệm khách hàng, bằng cách: xây dựng và duy trì sợi dây gắn kết với khách hàng, ngân hàng từ một đối tác trở thành một người bạn sẵn sàng hỗ trợ, tương trợ người vay vượt qua khủng hoảng bằng những phương án tài chính thích hợp và kịp thời. Tín dụng được phát triển thông qua những hoạt động sau:

Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ công nghệ vào hoạt động ngân hàng, phát triển sản phẩm dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như: máy giao dịch nộp rút tiền tự động, các thiết bị chấp nhận thẻ thanh toán (POS/mPOS), Internet Banking, Mobile Banking, liên kết ví điện tử, Fintech …

Mở rộng hình thức, đối tượng, quy mô, kỳ hạn cho vay, điều kiện cho vay. Mặt khác, tinh gọn quy trình vận hành, tăng năng suất giải quyết công việc.

Phát triển các hoạt động chăm sóc khách hàng tiềm năng và quan trọng thông qua các hoạt động: tặng quà sinh nhật, quà tết, quà trung thu, ưu đãi lãi suất vay, …. Thông qua đó tạo điều kiện khuyến khích khách hàng sử dụng thêm dịch vụ, bán kèm: bảo hiểm khoản vay, bảo hiểm cháy nổ chung cư, bảo hiểm nhân thọ, thanh toán quốc tế, ….

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tín dụng cá nhân: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

1.2.2.1 Dư nợ tín dụng cá nhân:

Quy mô cho vay phản ánh dư nợ thực tế và thị phần tín dụng của ngân hàng. Nếu tốc độ tăng trưởng dư nợ của một ngân hàng ổn định hơn các đối thủ trên cùng một địa bàn thì khẳng định năng lực cạnh tranh của ngân hàng đó cao hơn các ngân hàng còn lại. Do đó tốc độ đăng tưởng dư nợ cá nhân phản ánh là tiêu chí cơ bản đánh giá sự tăng trưởng tín dụng cá nhân.

1.2.2.2 Thị phần tín dụng cá nhân của một ngân hàng:

  • Thị phần phản ánh kết quả của hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng, đo lường mức độ bao phủ của tổ chức đó,
  • Thị phần là công cụ đo lường hiệu quả của chiến lược kinh doanh đang vận hành.

Thị  phần càng lớn cho thấy các đường lối chiến đang phát triển đúng hướng, phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

Thị phần tín dụng cá nhân = Dư nợ tín dụng cá nhân của một ngân hàng/Tổng dư nợ tín dụng cá nhân của toàn bộ hệ thống ngân hàng 

1.2.2.3 Hệ thống kênh phân phối:

Sự bao phủ, phát triển mạng lưới phân phối là một trong những thước đo phản ánh mức độ phát triển của một ngân hàng.

Kênh phân phối truyền thống: là kênh phân phối sản phẩm dịch vụ ngân hàng qua các điểm giao dịch trực tiếp (bao gồm: chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, điểm thu chi hộ,…). Do số lượng khách hàng cá nhân là rất lớn, phân bổ dàn trải trên toàn quốc, do đó để đảm bảo tính cạnh tranh, tính tiện lợi thì các ngân hàng cần tính toán về độ bao phủ của các địa điểm kinh doanh phù hợp với đặc điểm từng vùng miền và điều kiện kinh tế của từng địa phương

Kênh phân phối hiện đại: là kênh phân phối sản phẩm ngân hàng thông qua các ứng dụng tài chính trên điện thoại và máy tính. Thông qua các ứng dụng tài chính khách hàng có thể thực hiện tại nhà các giao dịch chuyển tiền, thanh toán hàng hóa, điện nước…. giúp giảm thiểu thời gian, công sức của bên vay lẫn ngân hàng. Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng cần chú trọng nghiên cứu phát triển ứng dụng liên tục và hệ thống hạ tầng kỹ thuật phù hợp để vận hành thông suốt tăng tính cạnh tranh của chính mình.

  • Xu hướng phát triển của các ngân hàng trong kỷ nguyên số:

Ngành Ngân hàng đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng nhờ vào những tiến bộ về khoa học kỹ thuật như cơ sở hạ tầng cho hoạt động thanh toán ngay lập tức, xác nhận trên điện thoại di động, công nghệ chuỗi khối (Block chain), và Internet kết nối vạn vật (Internet of Things). Hệ quả là, khách hàng ngày càng có nhu cầu cao hơn về những trải nghiệm ngân hàng liền mạch, cá nhân hoá liên tục mọi lúc mọi nơi. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Cùng với sự phát triển của hoa học kỹ thuật và việc sử dụng ngày càng nhiều điện thoại thông minh và máy tính bảng, xu hướng hợp kênh (omni-channel) đã dần trở nên quan trọng đối với các tập hợp dịch vụ ngân hàng đa dạng. Hoạt động ngân hàng hợp kênh (omni-channel banking) cung cấp đường dẫn đến các dịch vụ tài chính ngân hàng thông qua nhiều kênh khác nhau (như chi nhánh ngân hàng, ATM, tổng đài điện thoại, ngân hàng điện tử/ngân hàng internet và ngân hàng qua điện thoại di động) một cách hợp nhất dựa trên ý tưởng “mọi thứ đều có thể được làm trên mọi kênh”. Để làm được điều này, cần có ba nguyên tắc cơ bản của hợp kênh là sự liền mạch, tối ưu hoá và gắn kết chặt chẽ (hợp kênh được hiểu một cách tổng quát là một định hướng cung cấp một trải nghiệm đơn lẻ, liền mạch, thống nhất cho khách hàng giữa tất cả các kênh). [Tạp chí Ngân hàng, năm 2022]

1.2.2.4 Tỷ lệ nợ xấu:

Tỷ lệ nợ xấu là thước đo được áp dụng rộng rãi đo lường mức độ lành mạnh của tín dụng ở một NHTM. Các NH rất quan tâm đến tỷ lệ nợ xấu vì khi tồn tại nợ xấu chứng tỏ ngân hàng đã có thiếu sót trong khâu thẩm định, phê duyệt, giám sát sau vay, vì thế rủi ro có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tiêu chí này nói lên chất lượng tín dụng, đồng thời thể hiện quy mô và tỷ lệ vốn khó thu hồi trong tổng dư nợ cho vay.

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế, “một khoản nợ được xem là nợ xấu khi đã quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày trở lên; các khoản lãi đã quá hạn 90 ngày trở lên đã được cơ cấu lại; các khoản thanh toán đã đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu chắc chắn về việc người đi vay không thể hoàn trả đầy đủ” [IMF, năm 2002].

“Một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu thỏa mãn một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau: (i) Người đi vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày trở lên; (ii) Ngân hàng nhận thấy người đi vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện các hành động nhằm thu hồi vốn”. [Basel, năm 2008]

Tại Việt Nam, theo khoản 8 và 9 Điều 3, Thông tư 11/2023/TT-NHNN ngày 20/07/2023 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

“Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Nhìn chung, đó là những khoản nợ đã quá hạn thanh toán gốc và/hoặc lãi trên 90 ngày và người đi vay có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ mặc dù đã được gia hạn và cơ cấu lại nợ”.

  • “Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng các khoản nợ từ nhóm 1 đến 5”.
  • Tỷ lệ nợ xấu (Non-Performing Loans) được đo lường như sau:
  • Theo Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận được là dưới 5% và tốt nhất là ở mức 1-3% [Trần Thị Thanh Diệu, năm 2023].

1.2.2.5 Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cá nhân:

Lợi nhuận của tín dụng cá nhân là chỉ tiêu quan trọng để đo lường kết quả kinh doanh của mảng cá nhân tại từng đơn vị kinh doanh hoặc toàn hàng. Dựa vào lợi nhuận của mảng bán lẻ, mỗi đơn vị sẽ có căn cứ điều tiết sử dụng nguồn lực phù hợp để phát triển tín dụng cá nhân. Thu nhập từ tín dụng cá nhân là chênh lệch giữa chi phí đầu vào và các chi phí khác cho hoạt động tín dụng với thu lãi đầu ra. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Thu nhập tín dụng cá nhân = Thu từ tín dụng cá nhân – Chi phí cho tín dụng cá nhân.

1.2.2.6 Mức độ đa dạng hóa về sản phẩm tín dụng cá nhân:

Mức độ đa dạng sản phẩm tín dụng cá nhân được đánh giá là phù hợp khi nó phải phù hợp với năng lực của ngân hàng, thì đa dạng hóa mới thúc đẩy phát triển năng lực cạnh tranh, độ phủ sản phẩm, hình ảnh, thu nhập từ mảng cá nhân của. Ngân hàng cần đánh giá định kỳ, thường xuyên mức độ, tuần suất sử dụng các dịch vụ cá nhân để có phương hướng đầu tư phù hợp, tránh đầu tư dàn trải, tốn kém.

Thông qua quy mô từng sản phẩm trong danh mục các tổ chức tín dụng sẽ có phương hướng phát triển tín dụng phù hợp, đa dạng hóa danh mục cho vay, giảm rủi ro tập trung.

Hiện nay các ngân hàng nên xây dựng sản phẩm theo hướng tập trung vào trải nghiệm, nhằm đáp ứng tốt mong đợi của người dùng, tăng sự gắn kết, lan tỏa cho các khách hàng khác, tránh việc chạy theo hình thức, dàn trải, các sản phẩm tạo ra không thiết thực.

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển tín dụng cá nhân: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

1.2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc môi trường vĩ mô:

Môi trường kinh tế trong nước:

  • “Hoạt động tín dụng của các ngân hàng có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, tín dụng ngân hàng luôn được đánh giá là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Do vậy, hoạt động tín dụng của ngân hàng chịu sự chi phối rất lớn của môi trường kinh tế tại địa phương nơi ngân hàng hoạt động. Để đạt tính mục đích và hiệu quả đâu tư, các ngân hàng không thể quay lưng lại với các hoạt động kinh tế của địa phương, vì vậy danh mục tín dụng của ngân hàng phải hướng tới những ngành kinh tế chủ lực, mũi nhọn, những ngành kinh tế được Chính phủ/chính quyền địa phương ưu tiên tập trung phát triển trong từng thời kỳ nhất định. Một danh mục tín dụng phù hợp với môi trường kinh tế sẽ đảm bảo hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra và tạo điều kiện để duy trì lợi nhuận một cách bền vững cho ngân hàng. Trong một địa phương có môi trường kinh tế đa dạng phong phú, ngân hàng tại địa phương đó có thể xây dựng một danh mục tín dụng có tính đa dạng hóa cao, điều này sẽ giúp cho rủi ro danh mục được phân tán và giảm thiểu. Thử tưởng tượng rằng, ngân hàng thiếu sự phân tích chặt chẽ về môi trường kinh tế nên xây dựng một danh mục tín dụng “thoát ly”/tách rời với môi trường kinh tế và cộng đồng chung quanh, chắc chắn sẽ không có gì đảm bảo về tính khả thi và hiệu quả của danh mục tín dụng đó, bởi doanh số có thể không đạt được do nó không được cộng đồng kinh tế ủng hộ, vì vậy không thể mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Mặt khác, môi trường kinh tế luôn biến động, nhưng vẫn đòi hỏi ngân hàng phải đảm bảo gắn kết chặt chẽ giữa danh mục tín dụng và môi trường kinh tế” [Bùi Diệu Anh, năm 2015]. Hệ thống ngân hàng có thể ví như bộ phận cấu thành, mạch máu của nền kinh tế, do đó hoạt động của nó và nền kinh tế vĩ mô có tương tác qua lại với nhau. Khi những tổ chức tín dụng tăng trưởng sẽ hình thành nên lực đẩy mạnh mẽ giúp dòng vốn được chu chuyển nhanh với giá cả hợp lý, ngoài ra khi mỗi tế bào, mỗi ngân hàng phát triển sẽ thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển; khi kinh tế cải thiện giúp cho hoạt động sản xuất mở rộng, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập của dân cư, vực dậy lực cầu chi tiêu và thúc đẩy tín dụng cá nhân tăng trưởng. Ngược lại khi tín dụng trì trệ sẽ kéo theo nền kinh tế trì trệ do dòng vốn bị ách tắc không thể luân chuyển nhanh; khi kinh tế ì ạch, sản xuất thu hẹp, thu nhập giảm, người dân sẽ thắt chặt tiêu dùng kéo hoạt động tín dụng sẽ chững lại

“Khi đề cập đến ảnh hưởng của môi trường kinh tế, ngoài nhân tố chu kỳ phát triển kinh tế và đặc điểm kinh tế tại địa phương ngân hàng hoạt động, còn phải nhấn mạnh tới vai trò của thị trường tài chính, thị trường liên ngân hàng trong việc hỗ trợ cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Thực tế cho thấy, sự phát triển năng động của thị trường tài chính luôn tác động vào họat động tín dụng nói chung và danh mục tín dụng của ngân hàng nói riêng, khiến cho các khỏan tín dụng của ngân hàng có thể linh hoạt và uyển chuyển hơn, “động” hơn, thông qua các hoạt động trao đổi, mua bán các khoản cho vay trên thị trường” [Bùi Diệu Anh, năm 2015]. Hiện nay hệ thống ngân hàng trong nước cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi môi trường kinh tế thế giới, cụ thể như: khi cục dữ trữ liên bang Mỹ điều chỉnh lãi suất đồng USD ảnh hưởng mạnh đến hoạt động xuất nhập của các doanh nghiệp trong nước từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến ngành ngân hàng; khi xảy ra chiến tranh tại một đất nước sẽ kéo theo giảm lượng cung ứng hàng hóa của quốc gia đó, giá cả hàng hóa tăng lên, mặt khác sẽ làm phát sinh các lệnh trừng phạt kinh tế, làm cho hoạt động kinh tế quốc tế ách tắc từ đó ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp, việc làm trong nước và ngành ngân hàng…. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

“Bên cạnh môi trường kinh tế, hoạt động tín dụng luôn luôn và bao giờ cũng phải đặt trong khuôn khổ luật pháp của một quốc gia nhất định, vì vậy nó chịu sự chi phối của môi trường pháp lý với các bộ luật, các quy định của Chính phủ, của ngân hàng Trung ương, các bộ ngành … có liên quan. Môi trường pháp lý, xã hội nhiều biến động, bất ổn có thể khiến cho việc xây dựng kế hoạch danh mục tín dụng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn từ khi dự kiến kế hoạch cho đến khi thực thi. Khi thiết kế danh mục, xây dựng các kế họach tín dụng phải tuân thủ các giới hạn quy định của Nhà nước, chẳng hạn như quy định về tốc độ tăng trưởng tín dụng hàng năm, tỷ trọng phân bổ tín dụng cho các khu vực kinh tế, cho các ngành/ lĩnh vực nhạy cảm” [Bùi Diệu Anh, năm 2015]. Thực tế cho thấy hoạt động của ngân hàng chịu rất rất nhiều tác động của những đơn vị hành chính sự nghiệp cụ thể như: bộ máy hành chính ở các địa phương tinh gọn, vận hành hệ thống thủ tục hành chính một cửa sẽ tạo thuận lợi đẩy nhanh các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng như: đăng ký giao dịch bảo đảm, sang tên chuyển nhượng tài sản, kiểm tra quy hoạch,….quy trình phối hợp giữa những đơn vị thực thi pháp luật được nhanh chóng sẽ thúc đẩy thu hồi nhanh các khoảng nợ xấu, thu hồi vốn kinh doanh để tạo điều kiện cho hoạt động ngân hàng phát triển;….Thông qua đường lối, chỉ đạo kinh tế của chính phủ thì ngân hàng trung ương sẽ có phản ứng điều hành phù hợp như tăng giảm lượng dữ trữ ngoại hối, dự trữ bắt buộc, phát hành/mua lại tín phiếu kho bạc, phát triển các ngành kinh tế trọng điểm, hỗ trợ người lao động mua nhà ở xã hội, hoặc tăng cường cung tiền để vực dậy nền kinh tế … để tăng giảm lượng cung tiền ra nền kinh tế hoặc tăng cường cho vay một số lĩnh vực từ đó tác động đến chính sách, phương án kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

  • Môi trường văn hóa – xã hội.

Điều kiện xã hội, cơ cấu và mật độ dân cư ở mỗi vùng miền quyết định tập quán tiết kiệm, chi tiêu ở vùng miền đó. Người dân ở các vùng đô thị sẽ có mức sống cao, dân số trẻ chiến đa số dễ dàng tiếp nhận văn hóa, cái mới, …. do đó người dân ở đây có nhu cầu chi tiêu, vay vốn, tiết kiệm, sử dụng các dịch vụ tài chính của ngân hàng cao hơn các vùng miền khác. Tuy nhiên, đây chính là thuận lợi nhưng đồng thời là áp lực của mỗi ngân hàng vì ở các vùng đô thị trọng điểm như Hồ Chí Minh và Hà Nội hội tụ hầu hết các ngân hàng trong nước và không ít các tổ chức nước ngoài thế nên quá trình cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt. Mặt khác, dân trí của người dân cao, rất am hiểu kiến thức tài chính – ngân hàng, thế nên khách hàng rất dễ mặc cả và rời bỏ ngân hàng ngày sang ngân hàng nếu sự phục vụ và giá cả dịch vụ không cạnh tranh.

Mặt khác ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số người dân quen tiền mặt để mua bán trao đổi, rất lo ngại khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng do lo sợ rủi ro, mạng internet chưa phát triển mạnh, thói quen mua vàng cất trữ tại nhà,… do đó việc tiếp cận và thay đổi thói quen giao dịch, sử dụng dịch vụ ngân hàng ở đây rất khó khăn cần có sự chung tay cùng làm của các cơ quan địa phương hỗ trợ tuyên truyền và vận động người dân. Tuy nhiên khi được sự tin dùng của người dân ở đây tính lan truyền rất cao, nên khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng có tính trung thành cao, khó rời bỏ.

  • Môi trường khoa học và công nghệ: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Môi trường khoa học và công nghệ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng, đặc biệt trong giai đoạn cách mạng công nghiệp 4.0 khi mà công nghệ thông tin đang hiện diện, chi phối mọi mặt của đời sống con người. Do đó các tổ chức tín dụng phải chú trọng cải tiến công nghệ phù hợp với giai đoạn hiện nay nếu không muốn bị tuột lại phía sau trong cuộc đua mở rộng quy mô khách hàng. Cụ thể hơn trong bài nghiên cứu “Hoạt động khoa học và công nghệ ngành Ngân hàng thời gian qua và định hướng những năm tới” đăng trên Tạp chí ngân hàng của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hòa (2025), nhận định rằng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào hoạt động là một trong những nhân tốt then chốt rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam và thế giới, rộng hơn đây nhân tố các ngân hàng phải quan tâm và phát triển đúng mức để gia tăng nguồn nội lực của chính mình.

Tùy theo năng lực hoạt động, nhận thức tầm quan trọng của công nghệ trong quá trình hoạt động mà mỗi tổ chức tín dụng sẽ có bước đi đón đầu, phát triển công nghệ tiên phong, giúp tiếp nhận và ứng dụng sáng tạo công nghệ mới rất nhanh. Qua đó có được lòng tin và mở rộng nhanh quy mô khách hàng.

Tính tới thời điểm hiện tại thì các ứng dụng ngân hàng trên điện thoại và máy tính đã có thể xử lý hầu hết các nhu cầu tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. Tuy nhiên không phải khách hàng nào cũng có thể hiểu hết và biết cách sử dụng thành thạo các chức năng của phần mềm do đó các đội ngũ cán bộ ngân hàng cần chịu khó kiên nhẫn tận tâm tư vấn hỗ trợ khách hàng và liên tục học hỏi cập nhật những tính năng mới nhằm hỗ trợ khách hàng tốt hơn và tăng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức mình công tác…. Mặt khác mỗi tổ chức cần thường xuyên và kịp thời nâng cấp cập những công nghệ tiên tiến cho hệ thống máy chủ, phần mềm lõi, đường truyền, thiết kế giao diện ứng dụng trên điện thoại phải trực quan dễ sử dụng…

1.2.3.2 Đối thủ cạnh tranh:

Đối thủ cạnh cạnh là nhân tố tác động rất mạnh đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng. Yếu tố này một mặt là động lực thúc đẩy các ngân hàng phải không ngừng học hỏi, tiếp thu, cải tiến để giữ vững vị thế, tăng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh; ngược lại đây cũng là tác nhân tiêu cực tương tác trực diện làm giảm quy mô, hiệu quả hoạt động của các đơn vị.

Để thích ứng và tăng trưởng vững chãi các ngân hàng cần phân phối nguồn lực nghiên cứu thị trường, nghiên cứu sản phẩm quy trình để xây dựng các sản phẩm tín dụng, lãi suất, cơ chế vận hành cạnh tranh, quy trình tinh gọn… đáp ứng đúng mong muốn, thói quen của người tiêu dùng, đảm bảo tính cạnh tranh tốt, đủ hấp dẫn khách hàng.

1.2.3.3 Năng lực cạnh tranh của NHTM:

Ngân hàng thương mại cũng như một thực thể sống, nó chỉ hoạt động khỏe mạnh khi nó có khối óc, con tim và các bộ phận còn lại khỏe mạnh thống nhất. Do đó nhân tố chi phối sự thành công của ngân hàng phải xuất phát từ các yếu tố bên trong, tiềm lực của chính nó. Các điều kiện nội lực gồm có: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

  • Mục tiêu và chiến lược kinh doanh trọng tâm:

Đây là yếu tố đầu tiên chi phối hoạt động tín dụng của một ngân hàng. Mục tiêu kinh doanh chỉ rõ cái đích mà ngân hàng phải đạt được trong một thời kỳ nhất định. Mục tiêu xây dựng phải phù hợp với tiềm năng, thực lực hiện có của từng ngân hàng và sứ mạng của ngân hàng trong tương lai. Mục tiêu kinh doanh được biểu hiện cụ thể thông qua các con số xác định về lợi nhuận kỳ vọng, về thị phần, về mức độ rủi ro có thể chấp nhận. các ngân hàng khác nhau sẽ có những mục tiêu khác nhau và trong một ngân hàng, ở những giai đoạn phát triển khác nhau các mục tiêu cũng sẽ được nhấn mạnh với mức độ khác nhau”.

Trong hoạt động tín dụng, mục tiêu và chiến lược kinh doanh của ngân hàng đã có ảnh hưởng chi phối rất lớn ngay từ khi ngân hàng thiết kế danh mục tín dụng. Nếu mục tiêu hàng đầu của một ngân hàng thương mại là lợi nhuận trong hoạt động tín dụng và chiến lược đề ra là tập trung vào các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ và công nghiệp nhẹ, thì danh mục tín dụng của ngân hàng đó sẽ khác biệt với danh mục tín dụng của một ngân hàng nhỏ mới đi vào hoạt động có mục tiêu hàng đầu không phải là lợi nhuận mà là mở rộng thị phần trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng và cho vay buôn bán nhỏ. Cơ cấu danh mục tín dụng của hai ngân hàng đó sẽ không giống nhau. Cụ thể tại ngân hàng thứ nhất, dư nợ sẽ tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ. còn ở ngân hàng thứ hai, chủ yếu dư nợ sẽ thuộc về cá nhân/ hộ gia đình/hộ tiểu thương… với quy mô từng khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay thì nhiều, do lực lượng khách hàng vay rất đông đảo. Cũng tương tự như thế, một ngân hàng thương mại hoạt động lâu năm, có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận, nhưng chiến lược đạt lợi nhuận của ngân hàng là từ các hoạt động dịch vụ phi lãi/ thu phí, thì trong danh mục tài sản của ngân hàng đó, danh mục tín dụng chỉ có một quy mô khiêm tốn, tỷ trọng so với tổng giá trị của danh mục tài sản không thể cao bằng một ngân hàng có mục tiêu lợi nhuận chủ yếu từ lãi trong hoạt động tín dụng. Vì vậy, có thể thấy hoạt động tín dụng của một ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn và phản ánh rõ mục tiêu cũng như đường lối kinh doanh của ngân hàng đó” [Bùi Diệu Anh, năm 2015].

Trong điều kiện của nền kinh tế trong nước và thị trường các ngân hàng hiện nay thì “bán lẻ” đang là ưu tiên số một của các tổ chức này, do ưu điểm về tiềm năng, quy mô thị trường là rất lớn, rủi ro được phân tán. Nhìn nhận được vai trò của kinh doanh bán lẻ và tín dụng cá nhân nên các ngân hàng đã đưa bán lẻ vào chương trình phát triển trọng tâm từ rất sớm. Do đó, các sản phẩm dịch vụ cá nhân, nguồn nhân lực kinh doanh các đơn vị, chi nhánh ngân hàng đều được hoàn thiện và chuyên môn hóa rất cao, nhằm mục tiêu nâng cao trải nghiệm dịch vụ, mở rộng quy mô kinh doanh tạo động lực thôi thúc năng lực cạnh tranh của mỗi đơn vị cũng được nâng cao. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

  • Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên:

Các yếu tố nội lực như trình độ của đội ngũ nhân viên, năng lực của nhà quản trị, cơ sở vật chất… cũng có những ảnh hưởng rất lớn đến quy mô cũng như hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đội ngũ nhân viên tín dụng am hiểu nhiều ngành nghể có thể cho phép ngân hàng dấn thân vào đầu tư đa dạng các ngành kinh tế, cũng như mạng lưới chi nhánh ngân hàng phủ khắp nhiều địa phương, với khả năng kiểm soát rộng cũng có thể thúc đẩy sự đa dạng hóa về khu vực địa lý trên danh mục tín dụng. Đây là những yếu tố mà ngân hàng phải cân nhắc một cách thận trọng ngay từ khi xây dựng mục tiêu, thiết lập chính sách cũng như thiết kế danh mục tín dụng của ngân hàng” [Bùi Diệu Anh, năm 2015]

Bộ phận các giao dịch khách hàng và cán bộ tín dụng được xem như tuyến phòng thủ đầu tiên, cũng là quan trọng nhất của các tổ chức tín dụng, chịu trách nhiệm vừa kinh doanh, vận hành và sàn lọc nhận diện rủi ro đầu tiên. Bộ phận giao dịch viên sẽ chịu trách nhiệm kiểm tra chứng từ, tiền mặt, chữ ký, nội dung … trước khi hạch toán trên hệ thống. Bộ phận tín dụng sẽ thực hiện tư vấn, thu thập, thẩm định và lập báo cáo đề xuất do đó mà bộ phận này nên thực hiện thực sự thận trọng, đảm bảo là tuyến phòng thủ đầu tiên phát hiện và ngăn chặn các mối nguy hại cho ngân hàng.

Để thực hiện đúng vai trò chức năng và nhiệm vụ của chính mình thì các cán bộ ngân hàng nên liên tục trao dồi, nâng cao chuyên môn và đặc biệt là rèn luyện tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp. Vì hiện nay không ít rủi ro phát sinh do trình độ nghiệp của nhân viên còn chưa cao chưa đủ để nhận diện các rủi ro phát sinh như: chứng từ giả, hóa đơn khống, báo cáo tài chính không trung thực, khách hàng làm giả sao kê, hợp đồng lao động, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,….; bên cạnh đó thì không ít cán bộ vì lợi ích trước mắt mà không ngần ngại tiếp tay cho khách hàng, hoặc lợi dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của khách hàng và ngân hàng, từ đó giảm uy tín và hình ảnh của ngân hàng. Do đó ngân hàng duy trì thường xuyên hoạt động đào tạo, kiểm tra chéo, lãnh đạo phòng phải là người chốt chặn, giám sát phát giác kịp thời các gian lận của nhân viên mình quản lý hoặc đề xuất tham gia các chương trình nâng cao nghiệp vụ cho người lao động từ đó tạo hình ảnh chuyên nghiệp, nâng cao năng suất làm việc, sự tín nhiệm của khách hàng, từ đó phát triển cải thiện lợi nhuận ở mỗi đơn vị.

Theo Phan Thị Út Châu, Trần Kiều Nga, Nguyễn Đức Thanh, Nguyễn Huỳnh Thanh và Nguyễn Năng Phúc (2022), các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn của khách hàng gồm có: Thủ tục vay vốn, Chất lượng dịch vụ, Lãi suất, phí vay vốn.

Quy trình thủ tục cấp tín dụng: Thủ tục vay vốn là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến quyết định vay vốn của khách hàng. Quy trình thủ tục vay vốn là những quy định, nguyên tắc mà người vay phải tuân thủ để được phê duyệt cấp tín dụng, nó bao gồm: những hồ sơ khách hàng phải cung cấp, những bước mà cán bộ khách hàng, các bộ phận liên quan phải tuân thủ để đảm bảo an toàn hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng…. Hiện nay quy trình và thủ tục vay vốn vừa là một phương tiện đảm bảo an toàn hoạt động cho ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng là rào cản khiến khách hàng có thể tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Vì thế nên các ngân hàng cần nghiên cứu đảm bảo sao cho quy trình thủ tục một mặt vừa là công cụ ngăn ngừa rủi ro nhưng một mặt phải đảm bảo tính tinh gọn, dễ dàng tiếp cận để hỗ trợ tốt hơn cho các bộ phận bán hàng, khách hàng, người vay vốn, tăng tính cạnh tranh cho mỗi tổ chức tín dụng. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Chất lượng dịch vụ tín dụng: Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến đến quyết định vay vốn của khách hàng, sự phát triển tín dụng khách hàng cá nhân. Chất lượng dịch vụ tín dụng thể hiện qua quá trình giao tiếp, thái độ phục vụ của nhân viên ngân hàng, tốc độ xử lý công việc, kỹ năng xử lý vấn đề, … tất cả những yếu tố trên sẽ tạo nên những ấn tượng, trải nghiệm tốt đẹp trong lòng khách hàng, giúp xây dựng cũng cố mối quan hệ hợp tác giữa khách hàng và ngân hàng, từ đó cán bộ ngân hàng sẽ dễ dàng bán thêm sản phẩm dịch vụ, có thêm nhiều khách hàng từ việc giới thiệu của khách hàng hiện hữu.

  • Lãi suất, chi phí vay:

Là phương châm, định hướng kinh doanh tín dụng, cho vay tại một ngân hàng. Tùy thuộc vào tiềm lực tài chính, cơ cấu, quy mô tiền gửi, giá vốn, môi trường vĩ mô mà các tổ chức sẽ cho ra các ưu đãi, chương trình vay, lãi suất ưu việt, tối ưu nhấtđể cung ứng ra thị trường.

Là cơ sở quan trọng để điều phối các thực trạng phát sinh trong quá trình kinh doanh như: phê duyệt hồ sơ, hạn mức vay, mức lãi suất vượt áp dụng nhóm khách hàng quan trọng, quy mô lớn,…

1.3 Kinh nghiệm về phát triển tín dụng cá nhân của một số ngân hàng trên thế giới và bài học rút ra đối với NHTM Việt Nam:

1.3.1 Kinh nghiệm về phát triển tín dụng cá nhân của một số ngân hàng trên thế giới:

  • Kinh nghiệm từ Thái Lan:

Thái Lan là quốc gia có nền tài chính phát triển mạnh trong khu vực Đông Nam Á, sau suy thoái tài chính khu vực năm 1997, hệ thống các tổ chức tín dụng ở Thái Lan đã tái cơ cấu và xây dựng lại.

Trong quy trình vay có sự tách bạch rõ ràng giữa các khâu để tránh rủi ro, mỗi bộ phận khác nhau sẽ thực hiện các công việc khác nhau mang tính độc lập, được thể hiện trong quy trình vận hành của các ngân hàng tại Thái Lan như; Bangkok Bank, Siam Comercial Bank (SCB), Kasikom Bank.

Trong quy trình vay phải tuân thủ tuyệt đối các bước trong quy trình. Trước đây phần lớn các ngân hàng tại Thái Lan chỉ chú trọng chất lượng tài sản đảm bảo mà bỏ qua không thẩm định nguồn thu nhập trả nợ của khách hàng vay dẫn đến hậu quả là nợ xấu ngày một tăng khi thanh lý tài sản, giá trị giảm dẫn tới chất lượng thu hồi vốn thấp, cao điểm nhất là thời kỳ khủng hoảng tài chính diễn ra trong khu vực Chấu Á (19971998) có thời điểm tỷ lệ nợ xấu lên tới 40%. Vấn đề nợ xấu xảy ra do khủng hoảng tài chính khu vực, tuy nhiên cũng do chính các tổ chức tín dụng chạy theo số lượng, quy mô tăng trưởng ồ ạt, không tuân thủ chặt chẽ những ràng buộc giới hạn an toàn. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Ở Siamcomercial Bank (SCB), mức điểm tín dụng là căn cứ, lập luận quan trọng để ra quyết định cho vay, lãi suất và các chương trình ưu đãi áp dụng cho khách hàng (bao gồm cả khách hàng tổ chức lẫn cá nhân). Tùy thuộc vào nhân thân, nguồn thu nhập, lịch sử tín dụng và chất lượng tài sản mà hệ thống cho ra xếp hạng khách hàng từ AAA đến thấp nhất là D theo mức độ rủi ro tăng dần. Việc áp dụng hệ thông xếp hạng tín dụng vào hoạt động cho vay đã tạo điều kiện cho việc phê duyệt và áp dụng lãi suất giữa các khách hàng là khách quan, cạnh tranh. Tương tự Kasikom bank cũng ứng dụng việc xếp hạng tự động để phân loại khách hàng đặc biệt trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, phát hành thẻ tín dụng, việc chấm điểm trên được vận hành dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau như: Lịch sử thanh toán của khách hàng, thu nhập, giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm công tác, khả năng tài chính thể hiện qua giao dịch tiền tại ngân hàng, số tiền gửi tiết kiệm….

Cần phải phân chia cụ thể thẩm quyền phán quyết tín dụng, tùy theo số tiền vay, đánh giá rủi ro mà có cấp phê duyệt tương ứng với điều kiện của từng khoản vay thấp nhất là cấp độ phòng ban đến cao nhất là Hội đồng quản trị để chắc chắn rằng việc xử lý hồ sơ là nhanh nhất và tính khách quan tránh lợi ích nhóm trong quá trình phê duyệt hồ sơ. Tại ngân hàng Siam City, thẩm quyền cho vay của Hội đồng quản trị là không giới hạn (không vượt quá quy định mức cho vay tối đa của một cá nhân và nhóm liên quan, phải căn cứ vào nguồn vốn của ngân hàng), tiếp đến là Chủ tịch Hội đồng Quản trị và Hội đồng tín dụng được phép phê duyệt tối đa 200 triệu Baht,……

  • Kinh nghiệm từ Citibank
  • Kinh nghiệm kiểm soát rủi ro:

Ngân hàng Citi là một định chế tài chính lâu đời với hơn 200 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, có hệ thống kênh phân phối rộng khắp với sự hiện diện trên 160 quốc gia, do đó hoạt động điều hành và quản trị là rất khó khăn đòi hỏi phải có một hệ thống quản trị tương xứng đảm đương việc điều hành, giám sát quá trình vận hành công việc và đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng thì hệ thống quản trị rủi ro phải được đầu tư đặc biệt tương xứng, vận hành đồng bộ trên tất cả các điểm đại diện của ngân hàng.

Hiện nay CitiBank đã kết hợp với Standard&Poor’s (viết tắt là S&P, là một trong ba công ty xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới) xây dựng hoàn thithành công hệ thống chấm điểm tín dụng, vận hành rất ưu việt, đây là nền tảng quan trọng, khách quan để phê duyệt khoản vay và mức lãi suất áp dụng đối với khách hàng.

Bảng 1.1: Xếp hạng khách hàng của Citibank Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Hạng của Citibank Hạng củaS&P Định nghĩa Đặc điểm
1 AAA Rủi ro thấp nhất – Năng lực tài chính, quản trị: rất tốt.

–  Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: rất tốt.

–  Chất lượng tài sản: rất tốt.

–  Cơ hội phát triển: rất tốt.

2 AA Rủi thấp tối thiểu –  Năng lực tài chính, quản trị: tốt.

–  Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: tốt.

–  Chất lượng tài sản: rất tốt.

–  Cơ hội phát triển: tốt.

3 A Ít rủi ro – Năng lực tài chính, quản trị: tương đối tốt.

– Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: tương đối tốt.

–  Cơ hội phát triển: tương đối tốt.

4 BBB Rủi ro trung bình thấp –  Năng lực tài chính, quản trị: tồn tại một số hạn chế.

– Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: tốt hơn các doanh nghiệp cùng ngành/địa bàn.

–  Cơ hội phát triển: có triển vọng.

5 BB Rủi ro trung bình –  Năng lực tài chính, quản trị: trung bình.

–  Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: có thiện chí.

–  Cơ hội phát triển: có triển vọng trong điều kiện kinh tế không thuận lợi kéo dài (do tiềm lực tài chính không cao)

6  

B

 

Rủi ro trung bình cao

–  Năng lực tài chính, quản trị: thấp, dễ bị tác động.

– Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: có thiện chí.

–  Cơ hội phát triển: thấp, dễ bị tác động, do tiềm lực tài chính thấp.

7 CCC Rủi ro cao – Năng lực tài chính, quản trị: thấp, năng lực quản trị kém, có lịch sử nợ quá hạn.

–  Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: có thiện chí kém.

–  Cơ hội phát triển: thấp.

–  Rủi ro: có nguy cơ vỡ nơ.

8 CC Rủi ro rất cao –  Năng lực tài chính, quản trị: yếu kém.

–  Thiện chí trả nợ, lịch sử giao dịch: có thiện chí yếu kém.

– Cơ hội phát triển: yếu kém.

–  Rủi ro: có nguy cơ vỡ nợ, mất vốn cao, cần giám sát đặc biệt.

Nguồn: Credit risk management workbook of Citibank Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Căn cứ vào mô hình xếp hạng thông thường các cá nhân sẽ được chấp nhận cho vay với xếp hạng từ A trở lên và đánh giá tăng lãi suất hoặc có cách thức ứng xử tương xứng đối với các lần chấm điểm định kỳ hoặc cân nhắc ngưng tái cấp các khoản vay có điểm tín dụng dưới mức BBB.

Citibank sử dụng mô hình quản lý rủi ro tập trung, phê duyệt tập trung tại hội sở chính với ba bộ phận hoạt động khách quan, độc lập: Bộ phận tiếp nhận: tiếp nhận hồ sơ khách hàng, Bộ phận xử lý: phê duyệt khoản vay, Bộ phận quản lý khoản vay: rà soát tình hình thanh toán gốc lãi, tái định giá định kỳ,… để kịp thời xử lý tình huống khi rủi ro phát sinh.

Hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro của Ngân hàng Citibank, chịu sự giám sát của Chính phủ Mỹ, đại diện là Cục Dự trữ Liên Bang; Tổ chức Xếp hạng tín dụng Standard&Poor’s,…. [Vũ Anh Quân, năm 2019]

  • Kinh nghiệm phát triển kinh doanh:

Citibank có thâm niên hơn 200 năm trong lĩnh vực phân phối các sản phẩm bán lẻ và bán buôn có thể đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của khách hàng gồm có: tư vấn tài chính, quản lý quỹ, phân phối bảo hiểm, tiền gửi, tín dụng, phát hành thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ quốc tế,…

Hiện nay Citibank có mạng lưới địa điểm kinh doanh trên toàn thế giới vô cùng rộng lớn, hiện diện tại hơn 1000 thành phố tại 160 quốc gia trên toàn cầu. Tại Việt Nam Citibank đã cung cấp dịch vụ đa dạng đến các khách hàng định chế tài chính, khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng bán lẻ. Đặc biệt ở lĩnh vực bản lẻ, với lợi thế là tổ chức tín dụng quốc tế quy mô lớn mạnh nên giỏ hàng hóa sản rất phong phú và đa dạng gồm: cho vay tiêu dùng tín chấp và thế chấp, mua xe ô tô, thẻ tín dụng… rất cạnh tranh và ưu đãi so với mặt bằng chung các tổ chức tín dụng trong nước.

Cách mà ngân hàng Citi tiếp xúc, bán sản phẩm và chăm sóc khách hàng rất chuyên nghiệp, thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin vào bán hàng, thiết kế các sản phẩm rất tinh tế sáng tạo và tập trung lấy khách hàng trung tâm, luôn có những chương trình và phương án vay rất đa dạng, mức lãi suất ưu đãi thích hợp với nhiều đối tượng khách hàng. Điểm đặc biệt ở Citibank là sử dụng ứng dụng tài chính trên điện thoại và tổng đài làm kênh chăm sóc khách hàng và giải quyết đa phần các vấn đề phát sinh khách hàng do đo đã giúp xóa bỏ khoảng cách về địa lý, tạo sự thuận lợi và an toàn cho khách hàng, giảm chi phí hoạt động và tăng hiệu quả kinh doanh.

  • Kinh nghiệm từ Ngân hàng Shinhan  Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Triển khai kế hoạch kinh doanh hiệu quả: “Cùng Ngân hàng Shinhan làm chủ cuộc sống khát khao” – (Shinhan Bank – Manage your life, your way) là thông điệp nổi bật của Ngân hàng Shinhan trong năm 2022. Với thông điệp ý nghĩa này, Ngân hàng Shinhan đã lan tỏa và truyền động lực mạnh mẽ đến với người trẻ hiện đại về khát khao chinh phục đam mê và làm chủ cuộc sống mơ ước.

Song hành với thông điệp “Cùng Ngân hàng Shinhan làm chủ cuộc sống khát khao” là những chiến lược kinh doanh thiết thực, nhằm mang đến những giải pháp tài chính tối ưu cho tất cả khách hàng, đồng hành cùng khách hàng làm chủ cuộc sống một cách hiệu quả. Cụ thể, Shinhan Bank đã cho ra mắt các dòng sản phẩm thẻ tiện ích với các tính năng tích điểm hoàn tiền hấp dẫn, đồng thời mang đến khách hàng những ưu đãi giá trị từ các đối tác liên kết trong nhiều lĩnh vực. Tháng 12/2022, Ngân hàng Shinhan vừa cho ra mắt dòng sản phẩm thẻ tín dụng Visa Signature với nhiều đặc quyền cao cấp về ẩm thực, dịch vụ golf, nghỉ dưỡng, dịch vụ phòng chờ sân bay toàn cầu và ưu đãi phí giao dịch nước ngoài.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Shinhan cũng chủ động triển khai đa dạng các chính sách tài chính linh hoạt và thiết thực nhằm hỗ trợ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn tài chính bởi đại dịch Covid-19. Từ đầu năm 2022 đến nay, Ngân hàng Shinhan đã thực hiện nhiều đợt giảm lãi suất trên toàn bộ khung lãi suất chung, chưa kể các lần giảm trên các gói vay cho các cá nhân đặc biệt VIP và VVIP . Vì thế nên, Shinhan Bank đang nằm trong danh sách các tổ chức tín dụng có lãi suất vay hấp dẫn nhất trên thị trường.

Trong năm 2022, Ngân hàng Shinhan cũng đẩy mạnh mở rộng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch, nhằm tiếp cận và phục vụ tốt hơn cho khách hàng trên diện rộng. Vào tháng 9 và tháng 10/2022, Ngân hàng Shinhan đã liên tiếp khai trương hai chi nhánh mới ở Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và TP. Cần Thơ. Cùng với đó, trong tháng 12/2022, Ngân hàng Shinhan tiếp tục khai trương ba phòng giao dịch mới, bao gồm: Phòng Giao dịch Starlake tại quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội; Phòng Giao dịch quận 9 và Phòng Giao dịch Thủ Thiêm tại TP.HCM.

  • Tăng tốc quá trình số hóa ngân hàng

Trong năm 2022 Ngân hàng Shinhan đặc biệt thúc đẩy phát triển ngân hàng số, nhằm mang đến khách hàng sự tiện lợi và bảo mật tối ưu trong quá trình giao dịch tài chính.

Tháng 12/2022, Ngân hàng Shinhan tiến hành quá trình áp dụng và thử nghiệm dịch vụ Định danh khách hàng (eKYC – electronic Know Your Customer) trên nền tảng Mobile Banking SOL, nhằm hỗ trợ khách hàng tiết kiệm thời gian và đơn giản hóa thủ tục mở tài khoản so với cách truyền thống. Với lợi thế trong việc ứng dụng thực tiễn dịch vụ eKYC tại Ngân hàng Shinhan Hàn Quốc và tại Ngân hàng Shinhan Indonesia, Ngân hàng Shinhan Việt Nam sẽ có kinh nghiệm trong việc triển khai và vận hành hiệu quả dịch vụ eKYC trong tháng 3/2023 sắp tới.

Cùng với đó, Ngân hàng Shinhan cũng đã triển khai nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số, tích hợp trí tuệ nhân tạo, điển hình như: sản phẩm rút tiền không cần dùng thẻ (Smart Withdraw), tài khoản thanh toán tiện lợi S-Payroll…

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về phát triển tín dụng cá nhân đối với ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay: Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

Tập trung, chú trọng công tác chăm sóc khách hàng, quan tâm đồng hành với khách hàng, qua đó hiểu được tâm lý, thói quen, nguyện vọng của từng cá nhân, tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh thực tế, từ đó xây dựng gói dịch vụ tài chính, phương án cấp vốn, trả nợ vừa vặn với từng khách hàng.

Vận dụng sáng tạo, công nghệ vào bộ máy vận hành, bám sát mục tiêu hiện đại hóa ngân hàng số, nhằm mang đến khách hàng sự tiện lợi và bảo mật tối ưu trong khi thực hiện giao dịch tài chính.

Xây dựng cơ chế giám sát ý thức tuân thủ trong quy trình cho vay, thẩm định khách hàng, việc cắt giảm lược bỏ các quy trình cho vay sẽ phát sinh hậu quả gây ra nợ xấu. Quá trình cho vay cần phải khách quan, đúng thực trạng, việc đánh giá khách hàng phải toàn diện từ thực tế đến hồ sơ, chứng từ, tài sản,…. để ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay.

Xây dựng mức lãi suất cho vay phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và điều kiện tiềm lực tài chính, giá cả huy động vốn của mỗi ngân hàng.

Việc cho vay đối với khách hàng phải là kết quả sau cùng sau khi suy xét mọi khía cạnh, tiêu chuẩn, không được chỉ căn cứ vào tài sản thế chấp, qua cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Châu á (1997-2010), hay khủng hoảng cấp tín dụng tài sản thế chấp tại Mỹ năm 2010 cho thấy các ngân hàng đã cấp cho vay vượt kiểm soát, mà chỉ dựa trên tài sản thế chấp đặc biệt là các khoản vay tiêu dùng mua nhà, đến khi bong bóng bất động sản nổ ra khiến cho giá trị bất động sản giảm mạnh, thu nhập của khách hàng gặp khó khăn đẩy nợ xấu tăng cao và các ngân hàng không thể chống đỡ nổi dẫn đến phá sản, có thể kể đến một ngân hàng lớn có truyền thống hàng trăm năm của Mỹ phải phá sản năm 2010 là Lehman Brothers, ngân hàng này đã tích cực cho vay các dự án nhà ở thứ cấp tại Mỹ, khi cuộc khủng hoảng tín dụng về cho vay nhà ở tại Mỹ xảy ra năm 2010 khiến ngân hàng này thua lỗ tổng nợ lên tới 613 tỷ đô la Mỹ, đây cũng là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa kỳ.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận văn tập trung nghiên cứu về hoạt động tín dụng ngân hàng, tín dụng cá nhân và phát triển tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại. Với những lý luận chung, những thực tiễn phát sinh rút ra từ hoạt động và kết hợp với bài học kinh nghiệm trong nước và các ngân hàng nước ngoài đúc kết lại. Từ đó giúp tác giả có đủ cơ sở lý luận và có cái nhìn khái quát về các nội dung liên quan đến nội dung nghiên cứu để làm cơ sở cho phân tích thực trạng tín dụng cá nhân tại ABBank – CN TPHCM. Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại ABBank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Phát triển tín dụng khách hàng cá nhân tại ABBank […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537