Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2040 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão của nửa cuối thế kỷ XX, sự bùng nỗ trên các lĩnh vực kinh tế đặt ra cho các nước đang phát triển tìm kiếm, lựa chọn những con đường, những hướng đi cho phép khai thác có hiệu quả nguồn lực và lợi thế của mình.
Trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng cho tăng trưởng, phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế nước ta. Tuy còn non trẻ, song du lịch ngày nay trong xu thế giao lưu kinh tế được chính phủ đặt vào vị trí có tầm quan trọng đặc biệt. Hơn bao giờ hết, công nghiệp du lịch đang góp phần làm hùng mạnh nền kinh tế, làm tăng sự hiểu biết, thân thiện và quảng bá nền văn hoá giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quyết định thành lập ngày 12/8/1991, là một trong những địa phương trọng điểm du lịch của cả nước. Ngành Du lịch của Tỉnh được Tỉnh ủy, UBND Tỉnh quan tâm chỉ đạo. Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có nghị quyết số 17/NQ-TV ngày 05/12/2013 chỉ đạo phát triển du lịch cho năm 2014 và năm 2015, làm tiền đề cho việc định hướng phát triển du lịch những năm kế tiếp. Đến nay ngành Du lịch của Tỉnh đã đạt được những thành tựu nhất định, có hệ thống cơ sở vật chất tương đối hiện đại, điều kiện hạ tầng và giao thông thuận lợi để phát triển các khu vực trọng điểm du lịch, nhiều khu du lịch chất lượng cao đã hình thành và phát huy hiệu quả rõ rệt, làm tăng doanh thu và lượng khách, môi trường du lịch được cải thiện, các doanh nghiệp đã có định hướng đầu tư dài hạn để khai thác tiềm năng du lịch, có sáng tạo trong việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Đội ngũ lao động tham gia trong ngành du lịch ngày càng được chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Tuy nhiên, so với tiềm năng sẵn có về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, có thể nhận định ngành du lịch phát triển vẫn chưa tương xứng, thiếu khả năng cạnh tranh với các địa phương khác, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới của ngành Du lịch quốc gia. Điều đó đặt Tỉnh BR-VT trước yêu cầu phải đề ra những giải pháp phù hợp và quyết tâm cao để phát triển du lịch thành một trung tâm du lịch của cả nước.
Như vậy, trong chiến lược đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phấn đấu trở thành Tỉnh công nghiệp vào năm 2034 và là trung tâm du lịch của khu vực và cả nước, cần thiết phải nguyên cứu các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển ngành du lịch từ đó đề ra các nhóm giải pháp khả thi là một vấn đề bức thiết. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2040” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình, với mong muốn đóng góp một phần công sức trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế của tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thông qua phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tỉnh BR-VT trong những năm qua, từ đó rút ra những điểm hạn chế và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2040 tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh. Để đạt mục tiêu đề ra, đề tài cần trả lời được các câu hỏi chủ yếu sau:
- Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tỉnh BR-VT thời gian qua?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển du lịch BR-VT?
- Cần đề ra các giải pháp khả thi nào để đưa ngành du lịch BR-VT phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thị trường khách du lịch, sản phẩm du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch và nguồn lao động phục vụ trong ngành du lịch trên địa bàn tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh BR-VT.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích tổng hợp về mặt định tính và định lượng thông qua điều tra xã hội học, tổng hợp ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm công tác thực tế trong ngành du lịch.
Dữ liệu thứ cấp được sử dụng từ nguồn Niên giám thống kê; Các báo cáo về tình hình kinh doanh du lịch của tỉnh BR-VT từ năm thành lập tỉnh BR-VT đến thời điểm nghiên cứu của Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch; Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2040 đã được chính phủ phê duyệt. Phần mềm Eview 5.1 được sử dụng để xử lý dữ liệu, làm căn cứ đề ra giải pháp cụ thể.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được sử dụng trong quá trình phân tích là các số liệu điều tra thực tế của tác giả từ khách du lịch nội địa đến BR-VT và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch trên địa bàn tỉnh.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa lý luận sâu sắc sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về du lịch và kinh tế du lịch khi đã làm rõ khái niệm, vị trí, vai trò, các hình thức và xu hướng phát triển của du lịch trong cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay nói chung và tỉnh BR-VT nói riêng. Từ đó, đề tài là một tài liệu tham khảo có thể phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về du lịch và kinh tế du lịch trong các cơ sở đào tạo chuyên ngành về du lịch của tỉnh BR-VT hiện nay.
Ý nghĩa thực tiển của đề tài sẽ gợi mở ý tưởng đối với chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong quản lý và kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thế làm cơ sở cho các cơ quan chức năng ở địa phương trong quá trình hoạch định chính sách phát triển du lịch và kinh tế du lịch, nhằm đưa ngành kinh tế du lịch phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
6. Kết cấu luận văn Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch: Làm rõ các khái niệm về du lịch, khách du lịch, sản phẩm dịch vụ ngành du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch và nguồn nhân lực du lịch. Điểm qua xu hướng phát triển của du lịch thế giới, kết hợp phân tích vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, chỉ ra kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á và các tỉnh, thành trong vùng. Sơ lược thực trạng phát triển du lịch của Việt Nam trong thời gian qua và định hướng phát triển trong thời gian tới.
Chương 2. Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tỉnh BR-VT: Tập trung phân tích tiềm năng về du lịch (Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – tài nguyên du lịch và tài nguyên nhân văn) kết hợp số liệu ngành du lịch của các cơ quan quản lý Nhà nước và kết quả khảo sát thực tế, tác giả tập trung phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng lớn trong quá trình phát triển du lịch đó là: Thị trường khách du lịch, sản phẩm dịch vụ ngành du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch và nguồn nhân lực du lịch. Từ đó, rút ra các nguyên nhân cơ bản làm hạn chế phát triển du lịch BR-VT.
Chương 3. Các giải pháp phát triển du lịch BR-VT đến năm 2040: Trên cơ sở dự báo một số chỉ tiêu ngành du lịch BR-VT đến năm 2040 (Doanh thu, lượng khách, nhu cầu vốn đầu tư tăng thêm và nhu cầu lao động ngành du lịch), tác giả đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2040 (Giải pháp về thị trường và quảng bá sản phẩm du lịch; Giải pháp đa dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch; Giải pháp hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; Giải pháp đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH
1.1. Lý luận về du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1.1.1. Khái niệm “du lịch”
Khái niệm du lịch đã được tranh luận từ rất lâu, thoạt đầu du lịch được quan niệm là việc một cá nhân hoặc một nhóm người đi khỏi chỗ ở của mình trong một thời gian ngắn để đến nơi khác nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh hoặc giải trí. Hiện nay, mọi hoạt động di chuyển của con người khỏi nơi cư trú trong một thời gian ngắn để nhằm các mục đích khác nhau, ngoại trừ việc di trú nhằm mục đích chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều được hiểu là du lịch [3, tr.5].
Theo Hiệp hội quốc tế các tổ chức chính thức về du lịch (IUOTO): “Du lịch là hoạt động có tính thường xuyên hay bất thường của một cá nhân hay con người, tạm thời rời xứ sở đang cư trú bằng phương tiện ôn hòa để đến một vùng hoặc một quốc gia khác nhằm mục đích thăm viếng, giải trí, tìm hiểu, nghỉ ngơi… sẽ hồi cư sau một thời gian dự định”. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UN – WTO): “Du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch”. Đối với nước ta, Luật Du lịch đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Hoạt động du lịch ban đầu chỉ có ít người tham gia, dần dần, số người tham gia ngày càng nhiều, thời gian càng lâu, không gian càng xa và mục đích ngày càng đa dạng. Lúc này du lịch trở thành một ngành kinh tế quốc dân, thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Đó là kết quả của quá trình phát triển của phân công lao động xã hội của loài người.
1.1.2. Khái niệm “khách du lịch”
Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thứ XVIII tại Pháp, khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn “faire le grand tour” [3,tr.17].
Theo định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia (League of Nations): Khách du lịch là những người khởi hành để giải trí vì những nguyên nhân gia đình, sức khỏe; Những người khởi hành để gặp gở, trao đổi các mối quan hệ về khoa học, ngoại giao, tôn giáo, công vụ,…; Những người khởi hành vì các mục đích kinh doanh; Những người cặp bến từ các chuyến hành trình du ngoạn trên biển thậm chí cả khi họ dừng lại trong khoảng thời gian ít hơn 24 giờ.
Theo Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam ban hành năm 2014, khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Trong đó: Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; Khách du lịch quốc tế là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài định cư tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
1.1.3. Sản phẩm dịch vụ ngành du lịch Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Sản phẩm du lịch là các hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho du khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [3,tr.27].
Sản phẩm của ngành dịch vụ du lịch là một sản phẩm kinh tế đặc biệt, là kết qủa của quá trình lao động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch. Quá trình lao động dịch vụ du lịch cũng là quá trình kết hợp sức lao động, đối tượng lao động và công cụ lao động để tạo ra những sản phẩm du lịch. Sản phẩm của quá trình lao động này không phải là những nhà hàng, khách sạn, hồ bơi, khu nghỉ dưỡng,… những thứ có thể nhận biết qua tiếp xúc trực quan được mà sản phẩm của quá trình lao động này là vô hình, đó là sự bảo đảm nhu cầu hiểu biết, giải trí, phục hồi sức khỏe sau thời gian làm việc căng thẳng, đó chính là sự hài lòng của khách hàng đối với việc đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu trên.
Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm dịch vụ du lịch cũng trở thành hàng hoá, được trao đổi, mua bán trên thị trường. Là hàng hoá nên nó cũng có đầy đủ các thuộc tính: Giá trị và giá trị sử dụng như những hàng hoá khác. Giá trị của hàng hoá dịch vụ du lịch thể hiện ở chỗ chúng cũng là kết quả của quá trình lao động của người lao động, là sự kết tinh của lao động xã hội trong đó. Nhưng là lao động phi sản xuất vật chất, chúng có giá trị sử dụng bởi vì chúng cũng thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Những sản phẩm hàng hoá dịch vụ du lịch được mua bán trao đổi trên thị trường cũng tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị: cung, cầu, cạnh tranh,… giá cả của hàng hoá dịch vụ trên thị trường về bản chất cũng là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, người mua nó cũng trả một khoản tiền cho người bán khi muốn mua nó để phục vụ cho nhu cầu của mình. Chẳng hạn, khi muốn đi du lịch ở nơi nào đó, trong thời gian bao lâu, du khách cũng phải trả một giá cho sản phẩm du lịch mà mình được sử dụng cho Công ty lữ hành mà mình chọn.
Sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến với nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đặc điểm này của sản phẩm du lịch là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Như vậy, sản phẩm du lịch là hàng hóa và dịch vụ du lịch dựa trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch. Từ khái niệm này, cơ cấu của sản phẩm du lịch thể hiện qua 2 khía cạnh: Theo nghĩa tổng quát, sản phẩm du lịch bao gồm 3 bộ phận hợp thành (Thành phần tạo lực hấp dẫn; Cơ sở du lịch và dịch vụ du lịch); Theo nghĩa cụ thể, sản phẩm du lịch bao gồm 7 bộ phận hợp thành (Sản phẩm tham quan; sản phẩm vận chuyển; Sản phẩm lưu trú; Sản phẩm ăn uống; Sản phẩm vui chơi giải trí; Sản phẩm mua sắm và Sản phẩm thông tin du lịch). Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1.1.4. Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch
Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong các chuyến hành trình của họ [3, tr.168].
Theo nghĩa hẹp, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được hiểu là toàn bộ các phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ, hàng hóa cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Bao gồm hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển,…[3, tr.168].
Yêu cầu đối với cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là mức độ tiện nghi, thẩm mỹ, vệ sinh và an toàn.
1.1.5. Nguồn nhân lực du lịch
Ngành du lịch mặc dù có liên quan đến nhiều ngành và lĩnh vực khác nhau và mang tính chất khác nhau nhưng xét về bản chất, nó bao gồm một số lĩnh vực kinh doanh nhất định. Do đó, nếu xét trên mức độ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của ngành du lịch và của mỗi doanh nghiệp, lao động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch có thể phân thành 3 nhóm gồm: Nhóm lao động chức năng quản lý Nhà nước về du lịch; Nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch và Nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch. Trong đó, nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch có thể phân thành 4 bộ phận là: Bộ phận lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch; Bộ phận lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp du lịch; Bộ phận lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp du lịch và Bộ phận lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách trong doanh nghiệp du lịch. Việc nghiên cứu và phân tích đúng vai trò, đặc điểm của các nhóm lao động nói trên sẽ là cơ sở định ra phương hướng, giải pháp quản lý, phát triển và sử dụng hữu hiệu nhân lực du lịch.
1.1.6. Vai trò của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Du lịch có một vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của con người và được thể hiện qua những điểm dưới đây:
Thứ nhất, du lịch có vai trò rất lớn trong việc tôn tạo chỉnh trang các di tích lịch sử, góp phần xây dựng và nâng cao đời sống vật chất cho người dân địa phương; Sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch giúp con người bảo vệ, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống. Qua thời gian lao động, làm việc căng thẳng, người ta đi du lịch, được nghĩ ngơi, giải trí, tĩnh dưỡng nơi thiên nhiên,… nhờ đó hạn chế được bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động của con người, đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động xã hội.
Thứ hai, du lịch có tác động tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái, kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì nó có tác động đến sức khoẻ và các hoạt động của con người.
Thứ ba, du lịch quốc tế có tác dụng cũng cố mối quan hệ hoà bình, thân thiện giữa các dân tộc, làm cho con người trên thế giới ngày càng hiểu biết nhau hơn.
Thứ tư, dưới góc độ là một ngành kinh tế quốc dân, kinh tế du lịch phát triển sẽ tác động đến cán cân thu chi của một quốc gia, một vùng, nhất là du lịch quốc tế góp phần làm gia tăng lượng ngoại tệ của quốc gia và vùng kinh tế.
Thứ năm, kinh tế du lịch phát triển có tác động làm tăng trưởng kinh tế, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, bởi vì một khi du lịch phát triển sẽ kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển như: Công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, thông tin, y tế, giáo dục,…
Thứ sáu, kinh tế du lịch phát triển góp phần nâng cao trình độ nguồn nhân lực, tạo thêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, từ đó làm gia tăng thu nhập quốc dân, đời sống người dân vùng du lịch được cải thiện có tác động cải thiện đời sống kinh tế – xã hội nói chung.
1.2. Sự phát triển của du lịch thế giới Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1.2.1. Xu hướng quốc tế hoá và liên kết khu vực trong hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và khu vực, không phân biệt hệ thống kinh tế – xã hội, trình độ phát triển khác nhau, sự xuất hiện của Tổ chức du lịch thế giới (UN-WTO) chứng tỏ các nước nhận thấy tầm quan trọng của sự liên kết trong phát triển nền kinh tế và kinh tế du lịch giữa các nước, đó cũng là yêu cầu tất yếu và kết quả của phát triển ngành này.
1.2.2. Du lịch thế giới và khả năng phát triển
Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO) cho biết, hoạt động du lịch toàn cầu đã liên tục giảm mạnh. Trong năm 2024, hoạt động du lịch toàn cầu đã giảm khoảng 8% so với năm 2023. Số khách du lịch tới châu Âu giảm 10%, tới châu Á – Thái Bình Dương giảm 6% và tới châu Mỹ giảm 5%, tuy nhiên số khách du lịch tới châu Phi lại tăng 3%, chủ yếu là tới các vùng ở Bắc Phi và vùng Địa Trung Hải.
Hiệp hội Du lịch Châu Á -Thái Bình Dương (PATA) cũng cho biết, lượng khách du lịch đến Châu Á trong năm 2024 giảm khoảng 4%. Các báo cáo gần đây cho thấy Thái Lan – nước có thế mạnh về du lịch và ngành này chiếm tới 6% GDP, cũng có thể chỉ đón được khoảng 12 triệu lượt khách trong năm 2024, so với 14 triệu lượt dự kiến ban đầu, lượng khách du lịch đến Hàn Quốc đã giảm 40%, hai nước Nhật Bản và Singapore cùng có mức giảm 30%
Tại hội nghị du lịch toàn cầu ở Brazil mới đây, các chuyên gia dự báo, ngành “công nghiệp không khói” thế giới có thể phải gánh chịu thiệt hại hơn 2 tỷ USD do dịch cúm A/H1N1 đến hết năm 2025.
Tổ chức du lịch thế giới nhận định, thị trường du lịch thế giới khó có thể phục hồi trước năm 2025. Trong năm 2023 tổng doanh thu của ngành du lịch thế giới đạt 944 tỷ USD, tăng 1,8% so với 857 tỷ USD năm 2022. Tuy nhiên, ngành du lịch quốc tế đã sụt giảm từ nửa cuối năm 2023 và sẽ tồi tệ hơn trong năm 2024.
Các chuyên gia phân tích du lịch cho rằng, lòng tin kinh doanh gia tăng và các thị trường du lịch tại Trung Quốc và Ấn Độ sẽ giúp phục hồi ngành công nghiệp không khói này tại Châu Á và sẽ tăng trưởng khoảng 4% vào năm 2025.
Theo thống kê của UN-WTO tính đến nay, mười quốc gia đứng đầu về lượt khách đến thăm là: Pháp, Mỹ, Tây Ban Nha, Ý, Hungary, Áo, Anh, Đức, Canada và Thụy Điển [phụ lục 5].
Sự phát triển của du lịch trên thế giới, được thể hiện thông qua tỷ trọng chi phí cho du lịch và đầu tư cho du lịch theo các khu vực: Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Bảng 1.1: Tỷ trọng chi cho du lịch và đầu tư
| Khu vực | Chi cho du lịch (%) | Đầu tư vốn (%) |
| Châu Âu | 46 | 58 |
| Châu Mỹ | 33 | 15 |
| Châu Á- TBD | 19 | 20 |
| Châu Phi- Trung Đông | 02 | 07 |
| Tổng cộng | 100 | 100 |
Nguồn: The Contribution of the World Travel and Tourism Industry to the Global Economy.
Nhà xuất bản: The Wefa prepape for American Express Travel Related Services Company Inc.
Qua bảng trên chúng ta thấy Châu Âu chi cho du lịch nhiều nhất và đầu tư cho du lịch cũng nhiều nhất. Châu Mỹ chi cho du lịch nhiều nhưng đầu tư ít hơn. Châu Á và Châu Phi đầu tư nhiều chủ yếu là cơ sở vật chất cho du lịch.
Nền kinh tế thế giới có những chuyển biến tích cực với các yếu tố tổng quát: Tăng trưởng kinh tế, việc làm và thu nhập của người dân, tỷ giá hối đoái, sức mua của dân cư, sự chi tiêu từ thu nhập của từng hộ gia đình,…
Yếu tố đóng vai trò quyết định đến sự tiến triển của cầu du lịch thế giới ở các quốc gia công nghiệp phát triển là: Sự thay đổi cấu trúc nhân khẩu và sự tiến bộ xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến cầu du lịch. Đối với những người có độ tuổi 35-45, họ có thu nhập cao và có chiều hướng tăng, họ có vai trò quyết định cho sự tăng trưởng của ngành du lịch còn những người trên 65 tuổi có thời gian rãnh, tuy nhiên họ không thích đi xa. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Sự chi tiêu cho du lịch có chiều hướng tăng nhanh và đi du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với mọi người. Người dân có tâm lý đánh giá sự sang trọng của một con người nếu họ đi du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới và đi nhiều lần trong một năm. Những quốc gia chi cho du lịch ở nước ngoài trên một tỷ USD trong một năm có 25 nước, trong đó có 13 quốc gia ở Châu Âu (Tây Âu), ba quốc gia ở Bắc Mỹ, sáu quốc gia ở Đông Á- Thái Bình Dương.
Tổng chi tiêu của ba nước: Hoa kỳ, Đức và Nhật Bản chiếm 40% tổng chi tiêu của toàn thế giới, nếu tính cả Anh, Pháp, Canada thì tỷ trọng lên đến 54%. Châu Á, đăc biệt là vùng Đông Nam Á, dòng khách du lịch có tốc độ tăng trưởng
1.2.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước Đông Nam Á
Sự tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia Đông Nam Á là tiền đề cho sự phát triển của thị trường du lịch châu Á. Du lịch càng phát triển thì cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn, ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược kinh doanh của từng quốc gia.
Trong kinh doanh du lịch, thu hút được khách hàng là quan trọng, nhưng giữ chân được họ còn quan trọng hơn. Malaysia là một thí dụ điển hình, họ không chỉ thu hút đông du khách, mà còn biết giữ chân khách, với tỷ lệ khách quay lại chiếm tới 40%. Một trong những điểm tạo nên sự khác biệt đó có lẽ nằm ở khâu quảng cáo về du lịch.
Không chỉ quảng cáo trên truyền hình, ngành du lịch Malaysia đã biết tận dụng sức mạnh tối đa của các phương tiện truyền thông. Tại sân bay, những nhân viên với dòng chữ: “Tôi có thể giúp bạn được không?” (May I help you?) sẵn sàng đưa ra những thông tin thực sự cần thiết và bổ ích khiến du khách không hề thấy bỡ ngỡ khi đặt chân đến một vùng đất mới. Ngoài ra còn có cả một hệ thống bản đồ, sách báo, tranh ảnh, bản đồ giới thiệu đầy đủ, chi tiết về tất cả 13 bang của Malaysia ở các quầy thông tin du lịch. Mọi thắc mắc của du khách đều được trả lời và giúp đỡ tận tình và hoàn toàn miễn phí. Chính phủ Malaysia chịu trách nhiệm quảng bá thông qua văn phòng xúc tiến du lịch được mở ở nhiều quốc gia trên thế giới, quảng cáo trên các đài truyền hình quốc tế lớn. Hàng năm, Chính phủ đứng ra mời các nhà báo ở nhiều quốc gia, các công ty du lịch đến thăm để viết bài và kết nối với các công ty trong nước. Nhờ có nghệ thuật và biết tạo thành những chiến dịch quảng bá đến du khách nên ngành du lịch của Malaysia đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước 26 triệu dân này.
Nếu Singapore hay Thái Lan làm cho du khách choáng ngợp trước các siêu thị tràn ngập các loại hàng hóa, thì Malaysia là siêu thị khổng lồ của khu vực Đông Nam Á. 13 bang của đất nước này đều có vô vàn siêu thị lớn nhỏ. Nhiều nhất là ở thủ đô Kuala Lumpur có tới vài chục siêu thị dành cho đủ các loại khách hàng từ cao cấp đến bình dân. Trong siêu thị có các cửa hàng ăn uống, vui chơi, phòng chiếu phim hay các phòng chơi game. Nhưng cái hay của các siêu thị tại Malaysia là cùng một sản phẩm thì ở bất cứ siêu thị nào trong 13 bang cũng chỉ có một giá. Cái hay khác chính là khách hàng bao giờ cũng mua được hàng thật vì Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hàng nhái hàng giả. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Du lịch sinh thái cũng được khai thác tối đa. Ở bang Ma-le-ka có Resoft Afamosa rộng tới 520 héc ta với hệ thống khách sạn, biệt thự có thể đáp ứng cùng một lúc tới vài nghìn khách lưu trú. Afamosa có nhiều khu vui chơi, giải trí với các trò chơi cổ truyền và hiện đại vô cùng hấp dẫn. Đặc biệt du khách có thể đi ô tô xem sư tử, hổ thả tự do, được xem chim, khỉ, hay nhiều loài vật khác biểu diễn những tiết mục vô cùng độc đáo làm cho khách du lịch khó tính nhất cũng phải thán phục. Ngoài ra du lịch biển, du lịch văn hóa cũng phát triển mạnh đáp ứng nhu cầu cho các loại khách. Với người dân, họ ý thức được rằng du khách nước ngoài không chỉ mang lại nguồn thu cho đất nước mà còn mang lại chính việc làm và thu nhập tương đối cao cho họ. Nhờ sự phối hợp tốt giữa Chính phủ, doanh nghiệp và người dân nên du lịch Malaysia trở thành hiện tượng thần kỳ của du lịch Châu Á, vượt qua cả Trung Quốc, Ấn Độ, 2 quốc gia có rất nhiều công trình văn hóa nổi tiếng thế giới.
Tại khu vực ASEAN còn có Thái Lan, đất nước có nguồn thu từ du lịch khá cao. Nguồn thu từ du lịch chiếm 6% tổng sản phẩm quốc nội của Thái Lan (thu 7 tỷ USD mỗi năm), từng là chỗ dựa cứu nguy thời khủng hoảng tài chính Châu Á năm 2012 – 2013. Các địa danh như Bangkok, Patayat, Chiang Mai, Phuket,… ngày nay đã trở nên hết sức quen thuộc với du khách toàn cầu, kể cả những du khách phương Tây kỹ tính.
Có được điều đó là nhờ người Thái có cả một ngành công nghiệp du lịch với chiến lược mạch lạc, với những hoạt động quảng bá mang tính chuyên nghiệp rất cao và họ hiểu rõ phương châm “muốn thu hoạch phải đầu tư”.
Thực vậy, Thái Lan không ngừng áp dụng nhiều biện pháp: cải tiến thủ tục, giảm lệ phí visa, gia tăng các loại hình dịch vụ đặc sắc, xây dựng mạng lưới shopping đa dạng, mở nhiều điểm tham quan mới bên cạnh việc trùng tu những thắng cảnh truyền thống và đáng ghi nhận là những chương trình tiếp thị tận gốc của Chính phủ. Chẳng hạn, Chính phủ Thái đang hỗ trợ phát triển những nhà hàng Thái với nhiều quy mô khác nhau ở khắp thế giới, với khoảng 7.000 nhà hàng. Một chiến dịch như vậy đã mang hương vị Thái đến tận những người ít quan tâm tới đất nước này nhất, buộc họ phải chú ý và chọn Thái Lan làm điểm đến.
Chưa hết, các quan chức Thái luôn đặt mục tiêu tìm kiếm khách hàng thường xuyên cho ngành du lịch nước nhà. Chẳng hạn, năm 2019, chính Phó Thủ tướng Thái Lan là Somkid Jatusripitak đã dẫn một phái đoàn thương mại đến Nhật để khai thác thị trường du lịch của nước này. Điều đặc biệt là phái đoàn thương mại không ký kết một văn bản nào với Chính phủ Nhật mà lại ký bản ghi nhớ với 19 công ty lớn của Nhật để cam kết thực hiện việc đưa các nhân viên của các công ty này đến du lịch tại Thái Lan. Tương tự như vậy, các phái đoàn các cấp của Chính phủ Thái còn thường xuyên tiếp xúc với các công ty nước ngoài để thảo luận các cơ hội kinh doanh về du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngành du lịch Thái Lan bộc lộ một số tiêu cực, cụ thể: Chi phí du lịch gia tăng đã làm cho lượng khách vào Thái Lan giảm đáng kể; Trước kia phong cách phục vụ của người Thái Lan được xem là “Đất nước của những nụ cười” thì ngày nay người dân Thái ít thân thiện hơn; Nạn ô nhiễm môi trường và thiếu tính hệ thống trong quy hoạch xây dựng cũng đã ảnh hưởng xấu đến ngành du lịch. Đặc biệt nghiêm trọng nhất là môi trường du lịch đã tạo ra một đội quân đông đảo về mại dâm, ảnh hưởng sâu sắc đến bản sắc văn hoá dân tộc và là một nguy cơ lây lan căn bệnh đáng sợ của thế kỷ – AIDS, điều mà du khách nước ngoài đến Thái Lan có cảm giác bất an và dĩ nhiên là ngành du lịch Thái Lan đã phải trả giá.
1.2.4. Kinh nghiệm của Việt Nam và một số địa phương trong nước
Việt Nam có rất nhiều cảnh đẹp, được thiên nhiên ưu đãi hơn nhiều nước, có phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hoá của các vùng miền khác nhau, vì thế có nhiều điều kiện để phát triển du lịch. Nhưng Việt Nam vẫn chưa thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan. Theo các chuyên gia về du lịch thì có đến 70% khách quốc tế đến Việt Nam không trở lại. Việt Nam không chỉ yếu và thiếu trong việc quảng bá sản phẩm du lịch trên các kênh truyền hình quốc tế mà ngay việc tiếp thị trên Internet cũng không bằng các nước trong khu vực. Điển hình như: Phần lớn người Hàn Quốc tìm hiểu thông tin du lịch qua mạng Internet, Việt Nam đang là điểm đến thứ 3 trong khu vực ASEAN của khách du lịch Hàn Quốc, chỉ sau Thái Lan và Philipines nhưng vẫn chưa có một trang web quảng bá du lịch nào ở Việt Nam giới thiệu bằng tiếng Hàn, trong khi các nước trong khu vực ASEAN đều đã sử dụng. Ngay cả Hãng Hàng không quốc gia Hàn Quốc, muốn giới thiệu chuyến bay đến Việt Nam, họ phải “tự chọn” hình ảnh Vịnh Hạ Long của Việt Nam để quảng bá [15].
Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích hơn 2.000 km2, dân số thường trú trên 6 triệu người, trong đó có trên 5 triệu người ở nội thành; ngoài ra còn trên 2 triệu người tạm trú và vãng lai, là thành phố có số dân đông nhất nước ta. Thành phố Hồ Chí Minh đã được đô thị hóa từ lâu và hiện nay quá trình đô thị hoá cũng đang diễn ra mạnh mẽ. Thành phố Hồ Chí Minh hấp dẫn du khách không chỉ vì có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, công trình kiến trúc cổ mà còn thu hút du khách bởi văn hoá ẩm thực mang đậm nét Nam bộ. Là cửa ngõ của Đất phương Nam, kể từ năm 1990, doanh thu du lịch của thành phố luôn chiếm từ 28% – 35% doanh thu du lịch của cả nước, tỷ lệ khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh chiếm từ 50%-70%* lượng khách quốc tế vào Việt Nam. Sự tăng trưởng nhanh của khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và vào thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của chính sách mở cửa và hội nhập thế giới, sự cải tạo và nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du khách, sự khuyến khích đầu tư nước ngoài mà thành phố Hồ Chí Minh luôn là địa phương đi đầu trong cả nước trong sự nghiệp đổi mới trong lĩnh vực đời sống xã hội. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuy nhiên, thực tiễn của sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố trong những năm gần đây đã tạo áp lực rất lớn đối với công tác quản lý đô thị. Trước đây, do nhận thức chưa đầy đủ của chính quyền địa phương về nhiệm vụ quản lý đô thị nên đã nãy sinh nhiều vấn đề bất cập trong các công tác (quản lý đất đai, quy hoạch, bảo vệ môi trường, các vụ án, vụ cháy, ùn tắc giao thông, ngập nước, xử lý rác …). Và cũng chính điều bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ và chất lượng phát triển của Thành phố cả về tăng trưởng kinh tế, cải thiện dân sinh, bảo vệ môi trường, phát triển văn hoá… Những yếu kém, hạn chế trong phát triển kinh tế và sự yếu kém của quản lý đô thị đã gây nên tâm lý bất an trong xã hội, thậm chí làm giảm niềm tin của dân chúng.
Công tác qui hoạch đầu tư, phát triển sản phẩm, hợp tác phát triển du lịch và đào tạo nguồn nhân lực của thành phố Hồ Chí Minh đã thể hiện được tính liên ngành, liên vùng, phát huy được nội lực sẵn có của các doanh nghiệp cùng với sự định hướng, hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch về tổng thể vẫn còn nghèo nàn, đặc biệt là những sản phẩm du lịch thu hút du khách vui chơi giải trí về đêm nhằm kéo dài thời gian lưu trú và nâng mức chi tiêu khách du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh.
Du lịch Bình Thuận được biết đến kể từ sự kiện nhật thực toàn phần năm 2010 với địa danh Mũi Né – Phan Thiết. Sau gần 15 năm hình thành và phát triển, du lịch Bình Thuận đã từng bước khẳng định thương hiệu và vị thế của mình trên bản đồ du lịch Việt Nam và thế giới. Bình Thuận có vị trí địa lý thuận lợi cùng với địa hình đa dạng, gồm đồng bằng, núi, đồi, ao hồ, biển đảo cùng rất nhiều di tích văn hóa – lịch sử, tạo điều kiện lý tưởng để có thể cùng lúc phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau như du lịch trên biển, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao – giải trí, du lịch dã ngoại, du lịch cộng đồng,…
Trong những năm đầu, trước một tiềm năng mới được đánh thức, với tinh thần “vừa học, vừa làm”, Bình Thuận đã từng bước xây dựng và hoàn thiện dần quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết các vùng, các khu du lịch trên địa bàn; từng bước định hướng rõ dần các loại sản phẩm du lịch; ban hành các chính sách, các quy định, không ngừng cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh xúc tiến kêu gọi, khuyến khích mọi tổ chức và cá nhân, các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển, mở rộng liên kết với các vùng, các tỉnh lân cận, chăm lo đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tăng cường các biện pháp bảo đảm môi trường,… Tiềm năng du lịch của Bình Thuận theo đó, dần dần được khai thác ngày càng tốt hơn.
Năm 2018, bình quân mỗi người dân Bình Thuận đón 0,73 du khách, đến nay là 1,6; với thời gian lưu trú của du khách trong nước là 1,55 ngày/khách, du khách nước ngoài là 3,2 ngày/khách, tăng 1,12 ngày so với trước. Lượng du khách tăng bình quân mỗi năm là 30%; trong đó du khách quốc tế chiếm 10%; kéo theo doanh thu du lịch tăng bình quân 32% – 35%/năm. Ngay cả những tháng đầu năm 2024, mặc dù bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng lượng du khách cả trong và ngoài nước đến Bình Thuận vẫn tiếp tục tăng gần 12%. Công suất sử dụng buồng, phòng thường xuyên đạt từ 55% – 58%; vào các dịp lễ, tết, các kỳ nghỉ hè,… tỷ lệ đó thường đạt trên 90%*. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuy nhiên, tiềm năng và những lợi thế so sánh của du lịch Bình Thuận vẫn chưa được khai thác. Du lịch Bình Thuận vẫn đang đứng trước những thách thức và áp lực không nhỏ. Về khách quan, đó là sự cạnh tranh gay gắt từ những trung tâm du lịch nổi tiếng trong nước, khu vực và quốc tế. Về chủ quan, kết cấu hạ tầng du lịch chưa được đầu tư đồng bộ, yếu kém, thiếu toàn diện, số dự án chưa tác động vẫn còn nhiều. Việc thuê đất, đền bù, giao đất, lập hồ sơ thủ tục để xây dựng chưa được giải quyết triệt để,… dẫn đến tâm lý ngại đầu tư. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ môi trường sinh thái chưa được quan tâm đúng mức; sản phẩm du lịch còn đơn điệu, trong đó nhiều sản phẩm có giá trị văn hóa đặc trưng của tỉnh chưa được khai thác và phát huy đúng mức; chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thấp. Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch tuy có cố gắng song chưa thực sự hấp dẫn du khách. Công tác quản lý nhà nước về du lịch còn lúng túng, thiếu tính chuyên nghiệp.
1.3. Thực trạng và định hướng phát triển du lịch Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
1.3.1. Thực trạng du lịch Việt Nam trong những năm qua
Nằm ở vị trí địa lý giữa hai trục văn hoá Đông Tây, Nam Bắc là cửa ngõ ra vào Đông Dương và Đông Nam Á lục địa, có nhiều di tích lịch sử, nhiều thắng cảnh và thành phố nổi tiếng. Việt Nam là khu vực hấp dẫn cho du khách quốc tế.
Hơn 20 năm sau chiến tranh, do những điều kiện đặc biệt, việc mở mang quan hệ với nước ngoài hạn chế, giờ đây du khách nước ngoài hăm hở đến với một vùng du lịch mới tươi trẻ và tiềm tàng. Hàng ngàn doanh nhân theo đuổi các cơ hội làm ăn, hàng vạn cựu binh Mỹ và các nước đang trở lại chiến trường xưa là những nguồn khách đem lại nguồn lợi kinh tế không nhỏ cho ngành du lịch Việt Nam. Tốc độ gia tăng của khách du lịch Việt Nam chủ yếu do nhiều nguyên nhân như: sự trăng trưởng kinh tế thế giới nói chung, thu nhập người dân nói riêng và ngành du lịch đã có nhiều chính sách khuy ến khích du lịch quốc tế và nội địa
Giai đoạn 1990-2015 có thể khẳng định là giai đoạn đột phá trong tăng trưởng nguồn du khách và thu nhập. Theo số liệu của Tổng cục du lịch Việt Nam, trong giai đoạn này, khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 220 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,14 triệu lượt (năm 2015); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11,2 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng. 5 năm gần đây (20162020), tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số. Khách quốc tế năm 2016 đạt 2,33 triệu lượt, năm 2020 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa năm 2016 đạt 11,7 triệu lượt; năm 2020 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm 2020 khoảng 900 nghìn lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo cách tính của UN-WTO thì con số này khoảng 10%). Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm. Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo UN-WTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới. Năm 2019, du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước và là quốc gia được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Là một trong những ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao, ngành du lịch Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá trong thời gian qua, kể cả trong điều kiện khó khăn như: khủng hoảng kinh tế tại Châu Á, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh xung đột cục bộ và khủng bố ở nhiều nơi trên thế giới trong những năm gần đây. Từ khi thực hiện nền kinh tế mở, cùng các chính sách thân thiện, hợp tác đa phương, Việt Nam là nước có sự thu hút mạnh mẽ du khách nước ngoài vào thăm viếng, tìm cơ hội đầu tư, nghiên cứu, hội thảo, hội nghị… Những số liệu về số du khách quốc tế và nội địa tăng qua các năm đã chứng minh cho luận điểm trên.
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%) [phụ lục 6], thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% năm 2010 lên trên 8% năm 2020, Doanh thu ngành du lịch tăng lên nhiều lần. Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành m ột trong những ng ành có đóng góp l ớn v ào GDP.
Hiệu quả chiều sâu về nhiều mặt của du lịch ngày càng rõ nét. Ở đâu du lịch phát triển, ở đó diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoạt động du lịch đã thúc đẩy các ngành khác phát triển, tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hoá và dịch vụ; Mỗi năm, hàng chục lễ hội truyền thống được khôi phục, tổ chức dần đi vào nền nếp và lành mạnh, phát huy được thuần phong mỹ tục. Nhiều làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát triển, tạo thêm các điểm tham quan du lịch, sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ nghệ bán cho khách, nhân dân có thêm việc làm và thu nhập, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và nhiều hộ dân ở không ít địa phương đã giàu lên nhờ làm du lịch. Du lịch phát triển đã tạo thêm nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích và nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư giữ gìn, phát triển di sản văn hoá. Tuyên truyền, quảng bá du lịch ở nước ngoài và trong nước đã truyền tải được giá trị văn hoá dân tộc đến bạn bè quốc tế, khách du lịch và nhân dân trong nước.
Điều quan trọng hơn cả là du lịch đã góp phần phát triển yếu tố con người trong công cuộc đổi mới. Hoạt động du lịch đã tạo ra trên 80 vạn việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phần nâng cao dân trí, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và với nước ngoài; Du lịch đã thực hiện tốt vai trò ngoại giao nhân dân với chức năng “sứ giả” của hoà bình, góp phần hình thành, củng cố môi trường cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.3.2. Định hướng phát triển du lịch Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nghị quyết 45/CP của Chính phủ đã khẳng định “ Du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”, để du lịch là một ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển, nội dung Nghị quyết đề ra một số nội dung cơ bản sau đây:
1.3.2.1. Xác định thị trường du lịch và phát hiện thị trường du lịch mới
Thị trường du lịch của chúng ta có hơn 2 triệu Việt Kiều sinh sống ở các nước trên thế giới nhiều nhất là Mỹ, Pháp và Úc. Đa số Việt Kiều về nước thăm thân nhân, giúp đỡ tài chính cho thân nhân, một số tìm cơ hội làm ăn, 90% Việt Kiều về nước ngụ tại gia đình có nhu cầu tiêu dùng cao.
Khoảng nửa triệu cựu chiến binh trong hai thời kỳ chống Pháp và Mỹ, họ đang mắc phải chứng bệnh “Hội chứng khủng hoảng sau chiến tranh” (PTSD), có nhu cầu vào Việt Nam thăm lại chiến trường xưa.
Tầng lớp thanh niên trong đó có cả sinh viên hình thành một thị trường mới, họ tìm kiếm nơi mà chuyến du lịch phù hợp với túi tiền của họ. Những nơi mà theo họ là những vùng đất mới, nhiều điều cần khám phá, họ cũng sẵn sàng bỏ qua những điều kiện du lịch còn nghèo nàn lạc hậu.
Những người lớn tuổi đang có xu hướng đi du lịch nghỉ dưỡng là một thị trường hấp dẫn cho du lịch vào những năm 2020 – 2025, dự kiến vào năm 2025 sẽ có gần 60 triệu người già ở Châu Âu đi du lịch.
1.3.2.2. Sản phẩm du lịch
Du lịch Việt Nam phải tạo dựng một số sản phẩm đặc sắc của Việt Nam có tính cạnh tranh cao và hấp dẫn khách du lịch, tăng mức chi tiêu, tăng thời gian lưu trú của khách trên cơ sở nâng cấp và đầu tư xây dựng các khu du lịch mới và khai thác tiềm năng to lớn của du lịch Việt Nam. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Để thu hút khách vào Việt Nam, du lịch Việt Nam phải có những sản phẩm hoà nhập với vùng, vừa phải có những sản phẩm đặc thù riêng. Thiên nhiên Việt Nam còn giữ được nét nguyên thủy, tự nhiên với nhiều địa danh nổi tiếng: Hạ Long, Yên Tử, Cúc Phương, Phong Nha, Nha Trang, Đà Lạt, Vũng Tàu,… cùng những sông rạch và cây trái Nam Bộ. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nhiều loại hình du lịch đa dạng: du lịch biển, du lịch leo núi, hang động, câu cá, bơi lội,…với truyền thống hiếu khách, thân thiện, vẻ đẹp tự nhiên của con người Việt Nam sẽ tạo ra sức hấp dẫn đối với du khách.
Song song với việc tạo dựng những sản phẩm du lịch, Ngành du lịch Việt Nam cũng phải tìm cách ngăn chặn những xu hướng bất lợi, những hậu quả khó tránh của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá có nguy cơ phá vỡ sự cân bằng hệ sinh thái, phá vỡ nhiều kiến trúc cổ cũng như những giá trị văn hoá tinh thần ngàn năm của ông cha ta. Những tài nguyên vô hình đó phải được tôn tạo, bồi đắp, gìn giữ như một sự sáng tạo của quá trình lịch sử.
1.3.2.3. Hoà nhập vào hoạt động du lịch thế giới
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam đã vươn lên, tham gia chủ động dần trong hội nhập du lịch quốc tế; thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và thế giới; ký 29 Hiệp định hợp tác du lịch song phương với những nước là thị trường du lịch trọng điểm và đầu mối giao lưu quốc tế và Hợp tác du lịch đa phương với các nước trong khu vực; đã có quan hệ bạn hàng với trên 1.000 hãng, trong đó có nhiều hãng lớn, của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ. Du lịch nước ta là thành viên của Tổ chức Du lịch thế giới, của Hiệp hội Du lịch Châu Á – Thái Bình Dương, của Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á và phát huy được vai trò, khai thác tốt quyền lợi hội viên. Tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và thế giới. Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách để phát triển, chủ động gắn kết với du lịch khu vực và thế giới. Tính chủ động hội nhập cũng được thể hiện rõ trong việc thực hiện chủ trương dựa vào lợi thế so sánh (văn hoá, ẩm thực, nguyên liệu, lao động rẻ,…) đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là kinh doanh ăn uống ở các nước láng giềng: Nhật Bản, Đức và Hoa Kỳ.
Trước thách thức của thị trường khu vực và thế giới, du lịch Việt Nam không thể không hoà nhập vào hoạt động du lịch thế giới mà phải nắm bắt cơ hội ngàn vàng này, chuẩn bị cơ sở vật chất, trình độ quản lý, hoàn thiện hệ thống Luật, cải thiện môi trường du lịch và các lĩnh vực có liên quan.
1.3.2.4. Phát triển kinh tế trong nước bằng ngoại tệ thu được
Du lịch là ngành có hiệu quả kinh tế, tỷ lệ lãi tính trên vốn đầu tư so với các ngành khác cao hơn từ 2 đến 4 lần, thời gian thu hồi vốn nhanh. Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho một lực lượng lao động xã hội, hoàn thiện, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.
Du lịch góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, giữ cân bằng sinh thái, chống ô nhiễm và hủy hoại môi trường.
Du lịch góp phần tôn tạo, giữ vững một số ngành nghề truyền thống, thông qua xuất khẩu tại chỗ các sản phẩm dân tộc và là hình thức quảng bá văn hoá dân tộc.
1.4. Dự báo ngành du lịch Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tổ chức du lịch thế giới dự báo sự bùng nổ du lịch thế giới của thế kỷ XXI với những xu hướng phát triển do nhiều nguyên nhân:
- Cơ cấu dân số thay đổi, giảm thiểu tỷ suất sinh đẻ, phí tổn nuôi con giảm, tiêu dùng cho du lịch tăng lên.
- Lợi tức của cá nhân và gia đình có xu hướng tăng, thu nhập của phụ nữ tăng lên như nam giới. Lợi tức tiêu dùng cho du lịch trong thu nhập các gia đình đều đặn tăng lên.
- Phí tổn du lịch giảm dần do du lịch quốc tế có những cải thiện rõ rệt về phương tiện vận tải, dịch vụ du lịch.
- Thay đổi lối sống: trong đời sống hiện đại, các quan niệm về gia đình, xã hội có sự thay đổi cơ bản. Người ta có thể chưa lập gia đình, hoặc mua sắm một tiện nghi xét thấy chưa cần thiết bằng một chuyến du lịch bổ ích và thú vị sau một kỳ lao động căng thẳng.
- Sự phát triển của sản xuất kinh doanh: du lịch vì mục đích kinh doanh luôn là phần quan trọng góp phần thúc đẩy công nghiệp du lịch phát triển. Các cuộc hội thảo, hội nghị, các cuộc thương thảo trong kinh doanh là đối tượng phục vụ của ngành du lịch. Một khi bắt kịp những yêu cầu đó, nhiều quốc gia thiết lập hệ thống hoàn thiện phục vụ khách du lịch là doanh nhân.
Từ khuynh hướng phát triển trên, UN-WTO dự báo mức tăng trưởng du lịch các khu vực, đặc biệt Đông Âu là 106%; Nam Á – Trung Quốc 141% và Châu Á Thái Bình Dương 145%.
Việt Nam với những thế mạnh về du lịch, trong xu thế dòng khách du lịch quốc tế đổ về Châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam là điểm dừng chân lý tưởng của khách du lịch.
Bảng 1.2: Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch đến năm 2040 của Việt Nam
| Thời kỳ | Khách du lịch | Thu nhập du lịch (Tỷ USD) | Tổng sản phẩm GDP du lịch (Tỷ USD) | Phòng khách sạn (ngàn phòng) | Lao động (ngàn người) | |
| Quốc tế (triệu khách) | Nội địa (triệu lượt khách) | |||||
| 2020 | 3,2 | 16,0 | 2,1 | 1,5 | 108,4 | 220/720 |
| 2025 | 6,0 | 25,0 | 4,6 | 3,0 | 212,0 | 350/1.150 |
| 2040 | 10,5 | 35,0 | 9,9 | 5,5 | 350,0 | 600/1.900 |
Nguồn: Viện nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR)
Kết luận chương 1 Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Du lịch là một nhu cầu đặc biệt, là một nhu cầu nghỉ ngơi tích cực, có tính mở mang văn hóa, cách biệt với lối sống hàng ngày ở nơi sinh sống cố định của con người. Xã hội loài người phát triển càng cao thì nhu cầu du lịch càng lớn.
Du lịch giúp con người thoát khỏi sự căng thẳng, mệt mỏi sau thời gian làm việc với nhịp độ cao. Đồng thời, trực tiếp cảm nhận nguồn thông tin nhiều mặt của sinh hoạt vật chất, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Ngày nay, xu thế của nền kinh tế thế giới tạo cơ hội cho ngành du lịch Việt Nam hội nhập phát triển theo kịp với tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới.
Để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần thiết phải có sự gắn kết liên vùng, miền và quốc tế về vốn đầu tư, thị trường du khách, sản phẩm dịch vụ và nguồn nhân lực ngành du lịch,… Từ việc phân tích, chọn lọc một số kinh nghiệm của một số quốc gia và các địa phương trong hoạt động du lịch, tác giả xây dựng khung phân tích của luận văn tập trung vào 4 nhân tố chính đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển ngành du lịch, đó là:
- Phát hiện và khai thác triệt để thị trường khách du lịch nội địa và quốc tế;
- Tìm kiếm, xác định và phát triển sản phẩm, dịch vụ du lịch mang đậm nét đặc trưng của địa phương;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch phải tính đến khả năng, nhu cầu và tiềm năng của du khách;
- Nét đặc trưng về văn hóa, con người và nguồn nhân lực du lịch là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự thành công của ngành du lịch địa phương. Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu […]