Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Tiềm năng về du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là vùng đất có bề dày lịch sử hơn 300 năm, có truyền thống đấu tranh cách mạng anh dũng kiên cường. Nơi đây còn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với nhiều tiềm năng, thế mạnh về kinh tế Biển, rừng, đồi núi, đồng bằng, thủy sản và du lịch ở BR-VT đã nổi tiếng trong khu vực, cả nước và nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, từ khi thành lập tỉnh đến nay, trên các lĩnh vực Kinh tế – Chính trị – Văn hóa – Xã hội – An ninh quốc phòng đều đã có những bước phát triển vững mạnh và đạt được những thành tựu to lớn.

Với 305 km bờ biển, trong đó khoảng 156 km có nhiều bãi tắm đẹp, BR-VT là tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái và du lịch nhân văn. Bà Rịa – Vũng Tàu đã và đang là một địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

2.1.1. Vị trí địa lý

Tỉnh BR-VT thuộc vùng miền Đông Nam Bộ của Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp TP.Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía nam giáp Biển Đông.

Tỉnh BR-VT nằm trong vùng du lịch Nam Trung bộ và Nam bộ, bao gồm các tỉnh từ Kon Tum đến Cà Mau với Á vùng Nam Trung bộ và Nam bộ. Trung tâm của vùng là thành phố Hồ Chí Minh và các tam giác tăng trưởng kinh tế và du lịch là: Thành phố Hồ Chí Minh – Nha Trang – Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Hà Tiên – Phú Quốc và địa bàn trọng điểm tăng trưởng kinh tế và du lịch Thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bình Dương – Vũng Tàu.

Bảng 2.1: Khoảng cách địa lý của tỉnh BR-VT với các tỉnh Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

BR-VT – TP. HCM 125 km BR-VT – Phan Thiết 150 km
BR-VT – Đồng Nai 95 km BR-VT – Phan Rang 300 km
BR-VT – Tiền Giang 195 km BR-VT – Nha Trang 450 km
BR-VT – Cần Thơ 293 km BR-VT – Đà Lạt 387 km
BR-VT – Kiên Giang 373 km BR-VT – Huế 1.162 km

Vị trí địa lý của tỉnh BR-VT rất đặc biệt, là cửa ngõ hướng ra Biển đông, quanh năm nắng ấm, ít gió bão, hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế biển như: Công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng cảng và vận tải đường biển, du lịch tắm biển, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, khai thác và chế biến hải sản. Vị trí của tỉnh dễ trở thành đầu mối giao thông của khu vực, nơi trung chuyển hàng hóa đi các nơi trong nước và quốc tế bao gồm cả đường biển, đường sông, đường sắt và đường hàng không.

Nằm trong vùng năng động nhất Việt Nam về phát triển kinh tế, Bà Rịa – Vũng Tàu có điều kiện liên kết, trao đổi, giao lưu kinh tế, văn hóa, dịch vụ, công nghệ, lao động và vốn đầu tư để phát triển kinh tế với tốc độ cao.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch

2.1.2.1. Địa hình

Vùng núi chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh; còn lại là vùng đồng bằng, thềm cao nguyên Di Linh của vùng Ðông Nam Bộ. Độ cao trung bình là 400m so với mặt nước biển. Tổng chiều dài địa giới trên đất liền là 162km, trên bờ biển là 305km. Các đường giao thông quan trọng nằm trên địa bàn tỉnh như đường quốc lộ 51, đường giao thông tuyến ven biển Vũng Tàu – Bình Châu, đường biển dài 150 km (Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh; Vũng Tàu – Côn Ðảo; Vũng Tàu – Phú Quốc). Hệ thống sông ngòi chính gồm có sông Ray, sông Thị Vải, sông Dinh. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2.1.2.2. Khí hậu

BR-VT thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu Ðại Dương. Từ tháng 05 đến tháng 10, trên địa bàn tỉnh có gió mùa tây nam, thời gian này là mùa mưa, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng từ 930,9mm – 1.585,4mm, tháng 11 đến tháng 4 năm sau có gió mùa đông bắc, thời gian này là mùa khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27,60C, tháng cao nhất khoảng 29,60C (tháng 5), tháng thấp nhất khoảng 25,20C (tháng 01), Số giờ nắng hàng năm khá cao từ 2.344,0 giờ – 2.694,0 giờ, độ ẩm không khí trung bình khoảng 80%.

2.1.2.3. Tài nguyên đất

Tỉnh BR-VT có 197.515 ha diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 115.462 ha, chiếm 58%; diện tích đất lâm nghiệp là 34.593 ha, chiếm 18%; diện tích đất chuyên dùng là 23.295 ha, chiếm 12%; diện tích đất ở là 3.635 ha, chiếm 1,84% và diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 20.530 ha, chiếm 10,39%.

Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 43.002 ha, chiếm 37%, riêng đất trồng lúa có 20.691 ha, chiếm 48% diện tích đất nông nghiệp có thể gieo trồng 2 vụ; diện tích đất trồng cây lâu năm là 64.059 ha, chiếm 55,48%; đất có mặt nước nuôi thuỷ sản là 6.299 ha, chiếm 5,4%.

2.1.2.4. Tài nguyên rừng

Diện tích rừng của BR-VT không lớn, toàn tỉnh có 35.452 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 18,1%. Trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 16.026 ha, diện tích rừng trồng là 19.426 ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên rừng gồm có Bình Châu – Phước Bửu, vườn Quốc gia Côn Ðảo.

2.1.2.5. Tài nguyên biển

Toàn tỉnh có trên 300km bờ biển, trong đó có khoảng 70 km bãi cát thoai thoải, nước xanh có thể sử dụng bãi tắm quanh năm; Có Vịnh Giành Rái rộng 50 km2 có thể xây dựng một hệ thống chùm cảng hàng hải.

Tỉnh có thềm lục địa trên 100.000 km2 là vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và là tiềm năng to lớn về phát triển kinh tế biển. Trong thềm lục địa có tới 661 loài cá, 35 loài tôm, 23 loài mực, hàng ngàn loài tảo, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng hải sản có thể khai thác hàng năm từ 150.000 – 170.000 tấn.

2.1.2.6. Tài nguyên khoáng sản

Tỉnh BR-VT có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên và khoáng sản làm vật liệu xây dựng.

  • Dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên: Vùng biển của tỉnh có trữ lượng 400 triệu m3 dầu, chiếm 93,29% trữ lượng của cả nước; lượng khí có trên 100 tỷ m3, chiếm 16,2% trữ lượng khí cả nước.
  • Khoáng sản làm vật liệu xây dựng: Rất đa dạng, bao gồm đá xây dựng, đá ốp lát, phụ gia xi măng, cát thuỷ tinh, bentonit, đất sét, cao lanh, cát xây dựng, than bùn…

2.1.3. Tài nguyên nhân văn Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Dân số trung bình của tỉnh BR-VT theo kết quả điều tra ngày 01/4/2024 là 994.837 người, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tính từ năm 2011 đến năm 2024 giảm từ 20,65%o xuống còn 12,11%o, mật độ dân số 489 người/km2, số người trong độ tuổi lao động xã hội trong toàn tỉnh năm 2023 là 628.892 người, chiếm 63,23% dân số, trong đó dân số đang làm việc trong lĩnh vực du lịch là 23.538 người, chiếm 5,73% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế. Trên địa bàn tỉnh có trên 10 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ 97%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Hoa chiếm 1,45%; dân tộc Châu-ro chiếm 0,91%; dân tộc Khơ-me có chiếm 0,15%; dân tộc Tày, chiếm 0,09%.

BR-VT còn có rất nhiều danh lam thắng cảnh và các di lích lịch sử, là nơi hấp dẫn các du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng. Thành phố Vũng Tàu có ngọn Hải Đăng, tượng Chúa Kitô, Niết Bàn Tịnh Xá trên núi Tao Phùng cao 170 thước (còn gọi là núi Nhỏ), Thích Ca Phật Đài trên núi Tương Kỳ cao 249 thước (còn gọi là núi Lớn), Nhà Lớn Long Sơn, Đình Thắng Tam,… Thị xã Bà Rịa có Địa đạo Long Phước, Nhà tròn lịch sử. Huyện Long Đất có khu căn cứ cách mạng Minh Đạm, đình cổ Long Phượng, chùa Long Bàn có từ đầu thế kỷ 19. Huyện Tân Thành có thắng cảnh Suối Tiên. Huyện Châu Đức có khu du lịch Bàu Sen. Huyện Xuyên Mộc có thắng cảnh Hồ Tràm, Hồ Cốc, có khu rừng nguyên sinh Bình Châu – Phước Bửu. Đặc biệt huyện Côn Đảo với 14 hòn đảo lớn nhỏ vừa là khu du lịch sinh thái biển, với Vườn quốc gia Côn Đảo rộng gần 6.000ha chưa kể vùng đệm dưới nước với nhiều loại cây và thú quý hiếm hấp dẫn du khách, đồng thời là nơi có di tích lịch sử lớn nhất cả nước với hệ thống nhà tù, trại giam do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để lại.

Các lễ hội của tỉnh BR-VT chủ yếu liên quan đến các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng như: Lễ hội Dinh Cô (Long Hải) diễn ra từ ngày 10 đến 12/2 Âm lịch hàng năm, lễ Trùng Cửu 9/9 Âm lịch (Long Sơn), lễ cầu Ngư (rước cá Ông) được tổ chức ở Lăng Cá Ông, đình Thắng Tam (Vũng Tàu) vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm lễ hội Miếu Bà diễn ra các ngày 16,17,18 tháng 10 âm lịch,… Ðây là những ngày hội thu hút rất nhiều du khách từ các tỉnh Miền Ðông Nam Bộ và các tỉnh lân cận như Tp.Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Thuận, Bình Dương, Bình Phước về dự hội lễ và kết hợp du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng.

Các Khu du lịch Biển Đông, Nghinh Phong, Kỳ Vân… là những khu du lịch với phong cách kiến trúc độc đáo, phong cảnh bố trí hài hòa, đầy đủ các loại hình dịch vụ phục vụ du khách như: Hồ bơi, khu vui chơi giải trí, thể thao biển cùng với các môn thể thao hấp dẫn như bi sắt, bơi lội, billard, golf, tennis, lướt sóng cùng canô,…

Khu du lịch suối nước nóng Bình Châu: thuộc địa phận huyện Xuyên Mộc, có diện tích trên 30 ha, gồm nhiều hồ nước nóng lớn nhỏ và hơn 70 điểm phun lộ thiên, thu hút đông đảo khách du lịch có nhu cầu nghỉ dưỡng. Khu du lịch Suối nước nóng Bình Châu được Tổ chức du lịch thế giới công nhận là một trong 65 khu du lịch sinh thái bền vững của thế giới.

2.2. Thực trạng hoạt động du lịch BR-VT Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2.2.1. Tổng quan hoạt động du lịch BR-VT trong các năm qua

  • Doanh thu và đóng góp của du lịch vào ngân sách

Hiện nay ở nước ta đang dùng đồng thời 2 chỉ tiêu: Doanh thu du lịch và thu nhập du lịch. Doanh thu du lịch bao gồm các khoản thu do các cơ sở dịch vụ của ngành du lịch thu được từ khách du lịch, còn thu nhập du lịch là tất cả các khoản thu mà do khách du lịch chi trả như: doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, mua sắm và các dịch vụ khác như: Bưu điện, Ngân hàng, Y tế, Bảo hiểm, dịch vụ vui chơi giải trí,… Như vậy thu nhập du lịch là tất cả những khoản thu mà cả xã hội thu được từ khách du lịch. Thông thường thu nhập du lịch lớn hơn nhiều so với doanh thu du lịch nhưng do công tác thống kê gặp nhiều hạn chế nên phần lớn các địa phương mới chỉ tính được doanh thu du lịch nên không phản ánh hết đóng góp của ngành du lịch cho kinh tế địa phương.

Doanh thu từ du lịch của tỉnh BR-VT liên tục tăng trong những năm qua, bình quân từ năm 2012 đến năm 2023 tăng 10,75%, riêng giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2023 doanh thu du lịch tăng 15,10% [phụ lục 15], điều này cho thấy nguồn lực đầu tư của tỉnh đối với toàn bộ hoạt động du lịch đã phát huy hiệu quả trong những năm gần đây.

Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ngành du lịch BR-VT từ năm 2015 đến năm 2023 đạt 11,99%. Nếu không tính Công nghiệp khai thác mỏ (dầu khí), tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch trên tổng GDP qua các năm 2021, 2022 và 2023 của BR-VT lần lượt là: 5,3%; 5,89% và 6,12% [phụ lục 20]. Nếu so với mục tiêu đề ra của cả nước, GDP du lịch đến năm 2025 chiếm 5,3%*, thì kết quả này là khả quan, nhưng đối với ngành kinh tế được xem là chủ lực của địa phương thì chỉ tiêu này vẫn còn thấp.

Ngoài ra, thu nhập của xã hội còn được gia tăng thông qua hoạt động du lịch, đó chính là doanh thu từ các lĩnh vực khác như: khai thác và đánh bắt hải sản, nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp (nguồn nguyên liệu tạo đầu vào cho lĩnh vực nhà hàng), hàng thủ công mỹ nghệ, dịch vụ ăn uống – giải khát, dịch vụ giải trí, vận chuyển,… góp phần nâng cao thu nhập xã hội và giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

  • Thị trường khách du lịch

Kết quả thống kê năm 2020 của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh BR-VT cho thấy, nguồn khách du lịch nước ngoài đến BR-VT phần lớn đến từ các nước Châu Á và Châu Âu, tỷ lệ du khách quay trở lại lần thứ hai trở lên chiếm 53,1%, đặc biệt nguồn khách đến từ Mỹ, Hàn Quốc và Singapore có xu hướng quay trở lại BR-VT chiếm tỷ lệ khá cao [phụ lục 10]. Về giới tính, tỷ lệ nam giới chiếm tỷ lệ khá cao (84,07%), trong khi đó, tỷ lệ này ở nữ là 15,93%. tỷ lệ khách du lịch quốc tế độ tuổi từ 25 đến 54 chiếm (58,41%), từ 55 đến 64 tuổi chiếm 33,63%.

Trong các năm qua, lượng khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa đến du lịch có lưu trú tại BR-VT tăng lên khá nhanh, tuy nhiên vẫn chưa ổn định. Căn cứ vào nguồn số liệu của Cục Thống kê tỉnh [phụ lục 12],

Lượng khách du lịch lưu trú biến động qua các năm, nhất là năm 2021-2022, tuy nhiên mức tăng bình quân vẫn đạt khá cao (bình quân giai đoạn 2015-2023 đạt 5,78%). Trong giai đoạn 2015-2023, lượng khách du lịch lưu trú tại BR-VT tăng (1,66 lần) từ 852.730 khách lên 1.413.500 khách, (trong đó: khách quốc tế tăng 2,56 lần, từ 70.258 khách lên 180.000 khách và khách nội địa tăng 1,58 lần, từ 782.112 khách lên 1.234.500 khách).

  • Sản phẩm du lịch

Sản phẩm, dịch vụ du lịch của một địa phương là điều mà du khách lựa chọn để quyết định sử dụng phục vụ cho chuyến đi. Sản phẩm du lịch càng phong phú, hấp dẫn và có chất lượng sẽ là yếu tố quan trọng thu hút, kéo dài thời gian và tăng chi tiêu của khách du lịch, mà chi tiêu của khách là yếu tố quyết định thu nhập từ du lịch, điều này gắn liền với thời gian lưu trú, mức độ thỏa mãn nhu cầu của du khách thông qua việc sử dụng các sản phẩm du lịch và thị hiếu mua sắm của khách. Theo kết quả điều tra của Sở Du lịch tỉnh, chi tiêu bình quân năm 2020 tại BR-VT của một lượt khách du lịch nội địa là 1.739.830 đồng, khách quốc tế là 445,43 USD chiếm 18,5% chi tiêu bình quân cả chuyến đi (2.409,93 USD).

Giai đoạn 2010-2020, thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế (từ 1,2–1,6 ngày), ngắn hơn so với khách nội địa (từ 1,46 đến 2,25 ngày) và có xu hướng giảm xuống. Kết hợp số liệu ở phụ lục 12 và 13 cho thấy, thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch nói chung trong giai đoạn 2015 – 2023 là 1,9 ngày. Trong giai đoạn này sức hấp dẫn của du lịch BR-VT đối với du khách còn nhiều hạn chế, do các khu vui chơi giải trí chỉ tập trung ở Thành phố Vũng Tàu, còn các tuyến du lịch ở các huyện chưa được quy hoạch và đầu tư đúng mức nên du khách chỉ dừng chân vào tham quan nhưng không muốn lưu trú qua đêm. Từ năm 2020 đến nay, độ dài thời gian lưu trú của khách quốc tế tăng lên rõ rệt vì trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện nhiều khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với nhiều loại hình phong phú.

Một số sản phẩm dịch vụ đang được khai thác sử dụng và thu hút phần lớn du khách của BR-VT phải kể đến đó là: Du lịch theo loại hình hội thảo, hội nghị, tắm biển, leo núi kết hợp thể thao giải trí, mua quà lưu niệm và các sản phẩm từ biển tại thành phố Vũng Tàu, Long Hải; Du lịch sinh thái, tham quan rừng nguyên sinh, nghỉ dưỡng; Du lịch tham quan, tìm hiểu di tích lịch sử tại Côn Đảo,… Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

  • Cơ sở hạ tầng du lịch

Theo số liệu của Sở Văn hoá, thể thao và du lịch tỉnh BR-VT, tính đến cuối quý II/2024 toàn tỉnh có 145 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, hệ thống cơ sở vật chất gồm 145 khách sạn và resort với 5.965 phòng, trong đó có: 111 khách sạn, resort được xếp hạng từ đạt tiêu chuẩn tối thiểu đến cao cấp với 4.748 phòng, 01 căn hộ cao cấp 69 phòng, 6 khách sạn, resort đạt 4 sao với 764 phòng, 09 khách sạn, resort đạt 3 sao với 726 phòng, 27 khách sạn, resort đạt 2 sao với 1.381 phòng, 22 khách sạn, resort đạt 1 sao với 626 phòng, 46 khách sạn, resort đạt chuẩn với 1.182 phòng. Ngoài ra, còn có khoảng 350 hộ kinh doanh kinh doanh cá thể kinh doanh phòng trọ với khoảng 1.730 phòng.

Số lượng các cơ sở kinh doanh là Doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ (chiếm 17,2%), nhưng giữ vai trò quan trọng trong kinh doanh du lịch. Đó là những công ty giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 120 cơ sở kinh doanh du lịch và lưu trú có khả năng đáp ứng nhu cầu của số đông du khách không đòi hỏi cao về chất lượng của nhà nghỉ, khách sạn. Các doanh nghiệp liên doanh có số lượng nhỏ (chiếm 3,4%), điều này cho thấy BR-VT chưa phát triển các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Bảng 2.2: Thống kê công suất sử dụng buồng, phòng

Ngành du lịch tỉnh BR-VT đã có một hệ thống khách sạn và cơ sở lưu trú đủ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch hiện tại. Tuy nhiên quy mô khách sạn chủ yếu là nhỏ, chất lượng chưa cao, mật độ phân bố chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở Thành phố Vũng Tàu, vì vậy hiệu quả kinh doanh du lịch còn thấp. Công suất sử dụng buồng, phòng đối với loại hình khách sạn trung bình trong các năm qua đạt khá (58,2%) so với mức trung bình mà WTO đưa ra là 60%, trung bình của thành phố Hồ Chí Minh là trên 50%, Bình Thuận là 56,1%, song công suất sử dụng buồng, phòng đối với loại hình nhà nghỉ vẫn còn thấp. Kết quả trên cho thấy việc đầu tư thiếu hiệu quả, chưa quan tâm đến quy mô khách sạn và chất lượng dịch vụ ăn nghỉ của du khách.

  • Về cơ sở vật chất – kỹ thuật: Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Mạng lưới đường bộ hiện có đã nối liền tỉnh BR-VT với các tỉnh và cả nước bằng ba đường quốc lộ 51, 56, 55 qua ba hướng: Thành phố Hồ Chí Minh, Long Thành, Long Khánh (Đồng Nai) và Hàm Tân (Bình Thuận). Đặc biệt đường Quốc lộ 51 được nâng cấp từ hai làn xe lên bốn làn xe đi lại rất thuận tiện, nhanh chóng. Từ Vũng Tàu đi Thành phố Hồ Chí Minh chỉ mất khoảng 2 – 2,5 giờ xe ôtô. Ở trong Tỉnh đã có đường giao thông tráng nhựa đi đến tất cả các xã, hầu hết các tuyến đường liên huyện và các đường trục trong đô thị đã được bê tông nhựa hóa. Tổng chiều dài hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh khoảng 1.660km, trong đó quốc lộ 131,6km, tỉnh lộ 146,4km, đường huyện thị 1382km. Nếu phân loại theo kết cấu mặt đường có: 494km đường nhựa (chiếm 29,8%), 663km đường đá (chiếm 33,9%), 503,4km đường đất (chiếm 30,3%).

Mạng lưới đường thủy với hơn 20 sông rạch với tổng chiều dài khoảng 200km trong đó có 17 sông rạch với chiều dài 167km có thể khai thác vận tải thủy, có một số con sông và một số vùng bờ biển của Tỉnh rất thích hợp cho việc phát triển cảng sông, cảng biển như: Sông Thị Vải, sông Dinh, vùng biển Sao Mai – Bến Đình, Phước Tỉnh, Lộc An, Bến Đầm Côn Đảo, Long Sơn. Nếu phát huy hết tiềm năng, công suất thông qua các cảng trên địa bàn Tỉnh có thể đạt đến 70 – 80 triệu tấn/năm. Hiện nay tỉnh đã thu hút đầu tư và đưa vào khai thác sử dụng gần 20 công trình cảng với chiều dài gần 4.000m trong đó có một số cảng lớn như: Cảng liên doanh dầu khí Vietsovpetro dài 1.387m và cảng PTSC dài 370m, tàu 10.000 tấn cập cảng được, cảng xăng dầu K2 dài 330m và cảng Thương mại dài 250m tàu 5.000 tấn cập bến được, các cảng cá: Cát Lở dài 110m, Phước Tỉnh dài 50m, Bến đầm Côn Đảo dài 336m, đón các tàu cá có trọng tải từ 1.000-2.000 tấn đến neo đậu. Đặc biệt trên sông Thị Vải có cảng nước sâu Bà Rịa – Serece dài 300m, tàu có trọng tải 60.000 tấn cập bến được và cảng dùng cho các nhà máy điện Phú Mỹ dài 175m có thể đón nhận được tàu 10.000 tấn. Đường biển của Tỉnh có thể đi đến khắp các nơi trong nước và quốc tế. Trong đó, có hai tuyến chở khách quan trọng là tuyến Vũng Tàu đi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tàu Cánh Ngầm và tuyến Vũng Tàu đi Côn Đảo. Về đường sông có các tuyến từ Vũng Tàu đi các Tỉnh Miền Tây Nam Bộ và Vũng Tàu đi Long Sơn. Tóm lại giao thông đường thủy của Tỉnh BR-VT hết sức thuận lợi, có tiềm năng lớn để phát triển.

BR-VT có hai sân bay dùng cho máy bay trực thăng lên xuống phục vụ cho việc thăm dò, khai thác dầu khí, vận chuyển hành khách từ Vũng Tàu đi Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Singapore. Trong đó sân bay Vũng Tàu có đường băng dài 1.800m, sân bay Cỏ Ống Côn Đảo có đường băng dài 1.200m, tuy nhiên các đường băng này đã xuống cấp, không đảm bảo cho các máy bay cánh quạt cất hạ cánh được, cần phải được đầu tư cải tạo.

  • Nguồn nhân lực ngành du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Sự phát triển của ngành du lịch làm cho lực lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch tăng lên đáng kể những năm qua. Tuy nhiên, trên thực tế lực lượng này vẫn chiếm tỷ trọng khá thấp (năm 2023 là 5,73%) [phụ lục 18] so với lực lượng lao động thực tế trên toàn tỉnh, tỷ lệ tăng bình quân còn thấp (2,65%) so với mức bình quân của cả nước (8,5%)*. Lao động làm việc trong ngành du lịch thuộc khối Doanh nghiệp Nhà nước chiếm 12,8% (năm 2019), 12,36% (năm 2020), 12,41% (năm 2021). Lao động nữ tham gia trong ngành du lịch đang có xu hướng giảm xuống qua các năm (năm 2019: 1.441 người; năm 2023: 1.399 người) [phụ lục 18].

2.2.2. Phân tích hoạt động du lịch BR-VT thông qua mẫu khảo sát

Từ kết quả phân tích trên và để có cái nhìn cận cảnh về du lịch BR-VT từ phía các Doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng như du khách, tác giả đã tiến hành nghiên cứu thông qua phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp hoạt động du lịch và khách du lịch nội địa nhằm phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng du lịch BR-VT và đề ra các giải pháp phát triển du lịch trong những năm tới.

2.2.2.1. Phương pháp lấy mẫu

Với cách lấy mẫu thuận tiện, tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế tại 3 cụm du lịch: Thành phố Vũng Tàu, khu du lịch Long Hải và khu du lịch biển Hồ Cốc – Suối nước khoáng nóng Bình Châu. Thời gian phỏng vấn đối với du khách vào các ngày thứ ba, tư và ngày nghỉ cuối tuần của tháng 10,11/2024. Đối tượng của mẫu khảo sát gồm các doanh nghiệp hoạt động du lịch, khách du lịch nội địa và được thực hiện qua 2 bước:

  • Bước 1: Sau khi xây dựng bảng câu hỏi, tác giả trực tiếp tiến hành phỏng vấn thử 10 mẫu là khách du lịch đi theo tour, 05 mẫu khách du lịch tự túc và 02 mẫu đối với doanh nghiệp tại khu du lịch Hồ Cốc và Bình Châu nhằm phát hiện những sai sót để điều chỉnh theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
  • Bước 2: Sau khi bảng câu hỏi được chỉnh sửa từ mẫu điều tra sơ bộ, mẫu điều tra chính thức thu được từ 2.459 phiếu hợp lệ của khách du lịch nội địa (trong số 2.800 phiếu phát ra) và 94 phiếu hợp lệ của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch (trong số 102 phát ra). Phần mềm Excel được sử dụng trong việc xử lý và tổng hợp số liệu.

2.2.2.2. Đặc điểm mẫu điều tra Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Mẫu điều tra được xây dựng theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, nội dung khảo sát chủ yếu tập trung vào các yếu tố chủ yếu như: Thị trường khách du lịch, sản phẩm du lịch của BR-VT, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ trực tiếp ngành du lịch và tình hình lao động đang tham gia trực tiếp tại các doanh nghiệp hoạt động du lịch. Cụ thể:

  • Đối với doanh nghiệp hoạt động du lịch, nội dung bảng câu hỏi tập trung khảo sát các thông tin của khách du lịch có lưu trú; thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch; thực trạng thu hút, sử dụng lao động và khả năng đáp ứng nhu cầu công việc của người lao động. Số lượng mẫu khảo sát đối với doanh nghiệp chiếm tỷ lệ 64,83% so với tổng số doanh nghiệp du lịch hiện có.
  • Đối với khách du lịch, nội dung bảng câu hỏi chủ yếu tập trung khảo sát các yếu tố như: nơi cư trú, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thị hiếu, khả năng chi tiêu, mục đích của chuyến đi, đánh giá của du khách về sản phẩm, dịch vụ du lịch,…

2.2.2.3. Phân tích kết quả khảo sát

  • Thị trường khách du lịch

Tổng hợp kết quả điều tra từ 92 doanh nghiệp trong số 145 doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch cho thấy, nguồn khách du lịch do doanh nghiệp tự khai thác chiếm tỷ lệ khá thấp (22,70%), phần lớn còn lại là thông qua các công ty lữ hành chiếm 38,10% và khách tự tìm kiếm thông tin chiếm 39,20%. Tỷ lệ khách du lịch nước ngoài đến BR-VT có lưu trú chiếm 3,2% trong tổng số khách [phụ lục 3]. Tuy kết quả này chỉ mang tính đại diện của tổng thể nhưng có thể nhận định tỷ lệ này khá cao so với Việt Nam (1,52%) và Thành phố Hồ Chí Minh (2,38%) [16].

Kết quả khảo sát thông tin của 2.459 khách du lịch nội địa tại các điểm du lịch: Thành phố Vũng Tàu, Long Hải và Xuyên Mộc cho thấy, nguồn khách du lịch nội địa đến BR-VT phần lớn từ các tỉnh miền Đông nam bộ (84,6%), trong đó: 38,5% du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, 21,3% đến từ Đồng Nai và 24,8% đến từ các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Mục đích chính của khách du lịch là tham quan, nghỉ dưỡng chiếm 58,68%, tham gia hội nghị, học tập ngắn ngày và thương mại chiếm 23,5%. Nguồn thông tin để du khách lựa chọn BR-VT làm điểm đến du lịch phần lớn vẫn là thông qua phương tiện thông tin đại chúng (chiếm tỷ lệ 42,13%), số còn lại tìm kiếm thông tin qua các công ty lữ hành (chiếm 35,01%) và bạn bè, người thân (chiếm 22,81%). Tổng hợp số liệu về số lần đến du lịch tại BR-VT của nhóm du khách được khảo sát cho kết quả khả quan, có tới 60,88% du khách đến BR-VT từ hai lần trở lên, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ khá lớn (chiếm 39,12%) du khách đến du lịch lần đầu [phụ lục 4]. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về giới tính [phụ lục 4], tỷ lệ khách nam (62,38%) cao hơn khách nữ (37,62%). Tuy số liệu của mẫu điều tra còn nhỏ so với lượng khách thực tế tại thời điểm khảo sát, nhưng có thể nhận định rằng, nam giới thường có nhu cầu đi du lịch nhiều hơn nữ giới. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu mua sắm trong chuyến đi vì các dịch vụ ăn uống, thể thao, giải trí thường được khách nam chi tiêu nhiều hơn, nhưng nhu cầu mua sắm hàng lưu niệm và nghỉ ngơi lại thấp hơn so với nữ giới. Tỷ lệ khách du lịch nội địa dưới 25 tuổi chiếm 14,35% chủ yếu là học sinh, sinh viên, có nhu cầu đi du lịch vào cuối tuần và các dịp nghỉ hè, nghỉ lễ, chi tiêu cho du lịch của nhóm này không lớn, tập trung chủ yếu là du lịch tắm biển, tham quan và nghiên cứu. Đối với khách trong độ tuổi từ 25 đến 54 (chiếm 52,14%), họ là những người đang tạo ra thu nhập chính cho gia đình và trực tiếp tài trợ cho các chuyến du lịch nên có sức chi tiêu nhiều hơn, họ thường quyết định cho giá trị các chuyến du lịch. Khách du lịch có độ tuổi từ 55 trở lên chiếm 33,51%, nhóm khách này thường có nhu cầu nghỉ dưỡng, mặc dù chi tiêu của họ có phần hạn chế, nhưng thay vào đó thời gian lưu trú tại các khu du lịch kéo dài trung bình từ 3 đến 4 ngày. Nguồn khách nội địa đa số là trí thức, viên chức, học sinh chiếm 42,74%, Công nhân, nông dân chiếm 18,63%, giới kinh doanh chiếm 10,13%. Việc nghiên cứu về giới tính, độ tuổi và nghề nghiệp của khách du lịch là một trong những cơ sở quan trọng giúp các doanh nghiệp du lịch định hướng về loại hình và chất lượng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách.

  • Sản phẩm du lịch

BR-VT có lợi thế hơn so với các tỉnh thuộc khu vực Đông nam bộ về các loại hình du lịch biển, du lịch sinh thái (nổi bật nhất vẫn là khu du lịch suối khoáng nóng Bình Châu). Trong số 2.459 du khách được khảo sát, tỷ lệ khách lựa chọn loại hình du lịch biển, thể thao và các trò chơi giải trí dưới biển chiếm khá cao (46,53%), tiếp đến là du lịch sinh thái (19,43%), du lịch thiên nhiên, tham quan rừng nguyên sinh chiếm 9,49%. Mặc dù trên địa bàn tỉnh có nhiều điểm du lịch, nhưng theo đánh giá của du khách thì những địa danh được họ yêu thích chủ yếu là Thành phố Vũng Tàu (chiếm 36,57%), cụm du lịch Hồ Tràm – Hồ Cốc – Suối nước khoáng nóng Bình Châu (chiếm 29,82%) và Côn Đảo (chiếm 20,63%). Mục đích chuyến đi của số du khách được khảo sát chủ yếu là để nghỉ ngơi, giải trí (chiếm 58,68%), phần còn lại nhằm mục đích hội nghị, học tập ngắn ngày (chiếm 13,70%).

Ngoài nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí thì các món ăn và thức uống phục vụ cho khách du lịch trong suốt chuyến đi cũng góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ. Hiện nay, ngoài các loại thức ăn được chế biến từ hải sản được 45,54% du khách lựa chọn, BR-VT vẫn chưa khai thác được các loại đặc sản khác như sản phẩm nuôi trồng trong nông nghiệp. Cho nên, nếu so với các tỉnh, thành trong khu vực thì BR-VT có lợi thế về hải sản, nhưng đối với các tỉnh phía nam nói chung như Bình Thuận, Ninh Thuận và Nha Trang thì các món ăn từ hải sản của BR-VT chưa phong phú. Bên cạnh đó, ngành thủ công mỹ nghệ cũng góp phần đáng kể làm tăng chi tiêu của khách du lịch, hàng hóa được du khách mua làm quà lưu niệm tại BR-VT chủ yếu làm từ vỏ sò, ốc. Vậy cần phát huy lợi thế này để tăng nguồn thu và tạo hình ảnh khác biệt trong quảng bá sản phẩm của du lịch địa phương. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tổng hợp về chi tiêu của du khách trong một chuyến đi cho thấy, trung bình mỗi người khách có thể chi tiêu đến 2 triệu đồng chiếm tỷ lệ 61,36%, mức chi tiêu từ 2 đến 4 triệu đồng chiếm tỷ lệ 31,84%. Trong đó: 42,13% số tiền được dùng cho chi phí thuê phòng, 20,41% được dùng cho chi tiêu ăn uống, 37,46% được dùng cho chi tiêu mua sắm và các hoạt động khác. Phần lớn du khách cho rằng, giá cả dịch vụ hiện nay tại BR-VT phù hợp với ở mức trung bình so với mặt bằng chung trong vùng nên không ảnh hưởng lớn đến quyết định chi tiêu của du khách [phụ lục 4].

Theo kết quả đánh giá của du khách về lợi thế của du lịch BR-VT, 39,94% du khách cho rằng, BR-VT có hệ thống giao thông thuận lợi, gần các tỉnh, thành phố và các khu công nghiệp hơn so với các địa phương có sản phẩm du lịch biển; 41,77% du khách quan tâm đến khí hậu ấm áp của BR-VT; 28,38% du khách đánh giá cao về sự đa dạng, phong phú của các loại hình du lịch (biển, núi, hải đảo, rừng nguyên sinh, nguồn nước khoáng, di tích lịch sử,…). Bên cạnh đó, có thể đưa ra nhận định khả quan về vấn đề trật tự an toàn xã hội tại các khu du lịch trên địa bàn tỉnh BR-VT, 94,27% khách du lịch đánh giá cao về tình hình trật tư tại đây. Những số liệu trên sẽ giúp cho các nhà làm du lịch nghiên cứu, khai thác tốt nguồn khách hiện tại cũng như du khách tiềm năng trong vùng, có giải pháp tích cực làm giảm áp lực về tính thời vụ của ngành và làm hạn chế sự nhàm chán đối với những du khách quay trở lại nhiều lần.

Nguồn khách nội địa đến với BR-VT đang có xu hướng rút ngắn thời gian lưu trú, nguyên nhân là do khách du lịch kết hợp các chuyến du lịch đường dài để tham quan được nhiều địa điểm hơn. Ngoài ra, đa số nguồn khách nội địa đến từ các tỉnh lân cận như TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương và các tỉnh miền tây nhằm mục đích giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần nên họ thường đi và về trong ngày hoặc chỉ lưu trú từ 1- 2 đêm. Kết quả khảo sát thực tế, số khách du lịch nội địa đến và trở về trong ngày chiếm 26,92%; khách du lịch lưu trú từ 1–2 ngày chiếm 50,75%; số khách lưu trú từ 3 ngày trở lên chiếm 15,54% [phụ lục 4]. Thời gian lưu trú tác động trực tiếp đến chi tiêu của khách du lịch, do họ phải chi tiêu nhiều hơn về các khoản như thuê phòng, ăn uống và các dịch vụ giải trí.

Tuy nhiên, theo các nhà làm du lịch, nguồn khách đến BR-VT theo mục đích hội nghị, hội thảo (MICE) đang có chiều hướng tăng lên trong các năm gần đây, việc tập trung đầu tư vào sản phẩm du lịch này đang phát huy hiệu quả do có lợi thế về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng và tài nguyên du lịch so với các tỉnh thuộc khu vực Đông nam bộ.

  • Cơ sở hạ tầng du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nếu sử dụng công thức tính số phòng theo các chỉ tiêu về lượng khách, số ngày lưu trú trung bình, công suất sử dụng phòng và hệ số sử dụng chung phòng có thể ước tính số phòng cần có hiện nay là:

Như vậy, với 7.695 phòng như hiện nay thì có thể đáp ứng nhu cầu lưu trú hiện tại của du khách. Tuy nhiên vào những ngày cao điểm, lượng khách có nhu cầu lưu trú rất lớn nên sẽ xảy ra tình trạng quá tải, nhưng các trường hợp này thường không nhiều.

Một điều đáng quan tâm đó là có 51,89% du khách cho rằng mức độ tiện nghi của hệ thống nhà hàng, khách sạn vẫn đang ở mức trung bình, chỉ có khoảng 15,34% hài lòng về mức độ tiện nghi, hiện đại của hệ thống này. Tỷ lệ du khách lưu trú có nhu cầu sử dụng khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 2 sao trở lên còn thấp (chiếm khoảng 10,21%), trong khi tỷ lệ này đối với loại hình nhà nghỉ thì khá cao (chiếm khoảng 38,88%) [phụ lục 4], điều này cho thấy ngành du lịch BR-VT chưa có sức thu hút lượng du khách có khả năng chi trả cao.

Các dự án du lịch đầu tư vào BR-VT thời gian gần đây đã được mở rộng và hướng đến đối tượng khách có khả năng chi trả cao. Các dự án du lịch mới đầu tư vào tỉnh đã có “tầm nhìn” xa. Trong các hạng mục của dự án, các chủ đầu tư đã dành phần nhiều cho nhu cầu chăm sóc và phục hồi sức khỏe bằng các dịch vụ spa, massage thư giãn, hay các hoạt động thể thao giải trí trên biển như du thuyền, lặn biển khám phá đại dương,… có thể nói đến các dự án lớn như: Khu nghỉ mát giải trí đa năng Sài Gòn Atlantis Resort của Công ty Winvest Investment (Hoa Kỳ) tại khu vực Chí Linh – Cửa Lấp, công viên Wonderful và thủy cung Aquarium tại khu vực Bàu Trũng của Công ty Good Choice Import – Export Investment Inc, dự án du lịch cao cấp Hotel Resort Regency Hyatt tại huyện Côn Đảo của Tập đoàn MH Golden Sands, khu du lịch sinh thái Đèo Nước ngọt – Hoa Anh đào tại huyện Đất Đỏ,… Đặc biệt, có những dự án lớn đã được khởi công xây dựng, đầu tiên phải kể đến Dự án Khu biệt thự – Resort Rừng Dương – Laguna Beach tại xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền. Dự án du lịch Laguna Beach có tổng vốn đầu tư 45 triệu USD, diện tích 7,5 ha, quy mô đạt chuẩn 5 sao gồm các hạng mục: Khu Villas 37 căn, khách sạn 7 tầng với 100 phòng ngủ và khu spa, khu vui chơi giải trí, tập luyện thể thao được thiết kế dựa trên ý tưởng kết hợp giữa kiến trúc văn hoá dân gian Việt Nam với kiến trúc hiện đại để tạo một phong cách kiến trúc riêng vừa hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước, vừa tôn vinh nét đẹp văn hoá Việt Nam. Dự án du lịch thứ hai vừa được khởi công và cũng là dự án du lịch lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay cả về vốn đầu tư và quy mô, đó là dự án Khu du lịch Hồ Tràm Strip của Tập đoàn Asian Coast Development Ltd, Canada với diện tích gần 160ha, tổng vốn đầu tư 4,2 tỷ USD gồm các hạng mục khách sạn và khu vui chơi giải trí, mua sắm, nghỉ dưỡng với hệ thống khách sạn lên đến 9.000 phòng, dự kiến năm 2014 sẽ khai trương đi vào hoạt động.

Tỉnh BR-VT có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống giao thông vận tải, cung cấp điện, nước sạch và hợp vệ sinh, thông tin liên lạc,…) khá tốt, đáp ứng được nhu cầu đi lại của khách du lịch, phục vụ tốt cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân. Hệ thống này vẫn đang được tiếp tục đầu tư theo hướng mở rộng, hiện đại và đồng bộ hơn. Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 40,6% du khách đánh giá cao về hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như hệ thống bưu chính viễn (phủ sóng mạng điện thoại, Internet, truyền hình,…) và 59,78% du khách hài lòng về các phương tiện giao thông đến các tuyến, điểm du lịch, nhưng vẫn còn một số tuyến du lịch còn thiếu phương tiện giao thông công cộng (tuyến đường ven biển từ Long Hải đến Bình Châu).

Nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã đánh giá rất tốt môi trường đầu tư của tỉnh BR-VT (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của BR – VT trong những năm qua đạt khá: năm 2022: xếp hạng thứ 8, năm 2023: 12 và năm 2024 xếp hạng thứ 8, đứng thứ 2 trong khu vực, chỉ sau Bình Dương). Trong thời gian tới, các dự án lớn như: Cụm Cảng biển số 5, Đường sắt Biên Hòa – Vũng Tàu, Đường cao tốc Long Thành – Vũng Tàu, Hồ Sông Ray, Cảng Thương mại dịch vụ Bến Đầm – Côn Đảo,… sẽ là những địa chỉ hấp dẫn các Nhà đầu tư nước ngoài. Theo đánh giá của các nhà làm du lịch, các dự án du lịch ngày càng đa dạng về quy mô và loại hình, hướng tới nhu cầu chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí và nghỉ dưỡng cho du khách, một mặt góp phần giải quyết việc làm cho nguồn lao động tại địa phương, mặt khác làm đa dạng các sản phẩm du lịch và thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động du lịch, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam trong tiến trình hội nhập.

  • Nguồn nhân lực du lịch Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kết quả khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch trên địa bàn cho thấy, người lao động có độ tuổi từ 20 đến dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao (72,04%), tỷ lệ lao động qua đào tạo tham gia làm việc trong ngành du lịch chiếm khoảng 84,4% (trong đó: tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 20,83%; trung cấp chiếm khoảng 42,58% và sơ cấp khoảng 20,99%, các tỷ lệ tương ứng của Việt Nam trong năm 2025 là 13,95%: 14,69%: 7,36%). Tuy cơ cấu về trình độ nguồn nhân lực của du lịch BR-VT so với cả nước là khá tốt, nhưng đối với định hướng của ngành thì tỷ lệ lao động chỉ được đào tạo sơ cấp và chưa qua đào tạo vẫn còn khá cao (chiếm 36,59%).

Qua thời gian công tác thực tế tại Công ty Cổ phần du lịch Sài Gòn – Bình Châu (từ năm 2022-2023), tác giả nhận thấy khả năng thương lượng, ký kết hợp đồng, tiếp đón và phục vụ khách du lịch nước ngoài của nhân viên còn nhiều hạn chế, nguyên nhân chủ yếu là do trình độ ngoại ngữ còn yếu (tổng số lao động của công ty là 260 nhân viên, nhưng số nhân viên có thể sử dụng tiếng Anh chỉ có 4 người, chiếm tỷ lệ 1,54%). Điều quan trọng trước mắt cũng như về lâu dài, ngành du lịch cần tập trung cho công tác đào tạo, bồi dưỡng về vốn ngoại ngữ và khả năng ứng xử của nhân viên làm du lịch.

Phần lớn cán bộ quản lý và nhân viên lao động trực tiếp tại các doanh nghiệp chưa được đào tạo chuyên nghiệp, chỉ tham gia những khóa tập huấn nghiệp vụ ngắn hạn, thiếu chuyên môn nghiệp vụ của ngành du lịch nên còn thụ động trong giải quyết vấn đề và chưa chủ động khai thác thị trường khách du lịch. Tỷ lệ lao động đáp ứng nhu cầu công việc chiếm tỷ lệ khá thấp (26,6%), tỷ lệ lao động đáp ứng nhu cầu tạm thời của doanh nghiệp cần được đào tạo thêm chiếm tỷ lệ khá cao (63,83%). Theo đánh giá của du khách, 57,02% nhân viên phục vụ bàn, buồng chưa chuyên nghiệp và còn yếu về kỹ năng nghiệp vụ.

Khoảng 25,53% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng, có thuận lợi trong việc tuyển dụng lao động, số còn lại (74,47%) doanh nghiệp gặp những khó khăn nhất định như: các doanh nghiệp mới hình thành, nằm cách xa trung tâm du lịch, tiền lương của người lao động nhìn chung là còn thấp so với các ngành khác,… Ngoài ra, ngành du lịch địa phương đang gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng và sử dụng lao động bởi một số nguyên nhân sau đây:

  • Một là, ngành du lịch là ngành kinh tế có tính đặc thù, đòi hỏi người lao động phải có ngoại hình và kiến thức tổng hợp tương đối khá cao so với một số ngành khác, nhưng đa số người xin việc không có chuyên môn nghiệp vụ phù hợp.
  • Hai là, đối với con em của những gia đình lao động nghèo thì họ cần có nghề nhanh chóng, dễ kiếm tiền để giúp gia đình nên thường có xu hướng trở thành công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp.
  • Ba là, ngành du lịch đòi hỏi người lao động tối thiểu phải qua đào tạo cơ bản về nghề phục vụ như buồng, bàn, bar và bếp, nhưng các cơ sở đào tạo trên địa bàn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Ngoài ra, khó khăn đối với người học ngành Hướng dẫn viên Du lịch hệ Trung cấp, theo quy định thì không được cấp chứng chỉ hành nghề hướng dẫn viên du lịch.

2.3. Đánh giá về hoạt động du lịch của tỉnh BR-VT Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

2.3.1. Điểm mạnh

BR-VT có vị trí thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, nguồn khách du lịch dồi dào ở các tỉnh, thành có tốc độ tăng trưởng cao như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương,…

Nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng qui mô, hiện đại được hình thành. Môi trường du lịch, trật tự trị an, đảm bảo an toàn cho khách du lịch tại các tuyến, điểm du lịch được cải thiện rõ nét và được du khách đánh giá cao (chiếm trên 94,27%).

Nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và tiềm năng nhân văn khá phong phú (31 di tích lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia) để phát triển du lịch. BR-VT có bờ biển dài, khí hậu ôn hòa, ấp áp quanh năm, có nhiều di tích tôn giáo và di tích lịch sử, rừng nguyên sinh và vườn quốc gia với nhiều loài động, thực vật đặc hữu, có hải đảo và nhất là có nguồn suối nước khoáng nóng đặc trưng.

BR-VT được đánh giá là một trong những điểm du lịch trọng tâm của đất nước với lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng được quy hoạch và xây dựng khá đồng bộ thuận lợi cho phát triển kinh tế và du lịch.

Ngành du lịch duy trì mức tăng trưởng đều đặn hàng năm. Những yếu tố đó cho thấy ngành Du lịch không những không tụt hậu mà đã có bước phát triển khá vững chắc.

2.3.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nội dung, các lễ hội còn thiếu tầm vóc, kém phong phú để tạo sức hấp dẫn khách du lịch. Việc trùng tu tôn tạo di tích, còn thiếu chú trọng khai thác di tích theo hướng kết hợp phục vụ phát triển du lịch.

Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, thiếu tính tiêu biểu, đặc trưng, chưa có những loại hình vui chơi giải trí đa dạng, đặc sắc để thu hút và kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Các dự án du lịch đang được khai thác thuộc loại hình qui mô nhỏ, nghèo nàn, thiếu các khu du lịch nghỉ dưỡng lớn và khách sạn 4-5 sao để thu hút khách quốc tế cao cấp.

Vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm và giá cả dịch vụ chưa được kiểm soát tốt, vẫn còn xảy ra tình trạng tăng giá tùy tiện trong kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, nhất là vào các dịp Lễ, Tết.

Du lịch BR-VT chưa được đầu tư và phát triển tương xứng, chưa có những bước đột phá để tạo ra sản phẩm du lịch có sức hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh với các địa phương khác.

Chất lượng phục vụ của nhân viên chưa tạo được ấn tượng đối với du khách. Vấn đề đào tạo cho đội ngũ lao động còn tự phát, các cơ sở và trung tâm đào tạo nghề chưa được định hướng rõ ràng, chất lượng đào tạo của các cơ sở còn thấp, việc sử dụng lao động có chuyên môn chưa được chú trọng. Đặc biệt, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch chưa có chính sách tuyển dụng và đào tạo đội ngũ lao động theo xu thế phát triển của ngành.

2.3.3. Cơ hội

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% năm 2010 lên trên 8% năm 2020, thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần*. Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP.

Loại hình và sản phẩm của du lịch Việt Nam đã được xác định rõ và đã được xúc tiến đầu tư, phát triển, bước đầu bắt nhịp và đáp ứng nhu cầu của du khách.

Đã có sự đồng thuận, hợp tác giữa các địa phương trong tỉnh, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư đa dạng sản phẩm du lịch.

Tỉnh BR-VT đã đạt được những kết quả nhất định về du lịch. Quy hoạch chi tiết các khu du lịch trọng điểm được đưa vào thực hiện đã bước đầu định hình được tính chất, vai trò và chức năng của từng cụm du lịch trên bản đồ tổng thể phát triển du lịch Tỉnh.

2.3.4. Thách thức Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trên thực tế, việc khai thác các tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch còn có những khó khăn nhất định, như bờ biển sóng lớn, khó tổ chức các hoạt động thể thao biển, nhiều ao xoáy, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm do chất thải công nghiệp dầu khí, hải sản, cảng biển; Đất núi, suối, thác thường bị thiếu nước và cây xanh, đá núi bị khai thác quá mức; Tài nguyên rừng còn chưa thu hút được các dự án đầu tư lớn do chưa chuyển đổi được sang đất xây dựng các công trình du lịch; Hải đảo quá xa đất liền, sóng to gió lớn, đường giao thông ra đảo còn khó khăn; Các di tích lịch sử tuy số lượng nhiều nhưng cự ly cách xa nhau, không tập trung thành những quần thể, rất khó tổ chức kinh doanh lữ hành vì thời gian du khách phải đi nhiều, vất vả mà hưởng thụ văn hóa được ít;

Một bộ phận dân cư còn thiếu lòng mến khách, thiếu sự tôn trọng đối với du khách,… Những yếu tố đó đặt tỉnh BR-VT trước một thách thức tất yếu là: Để phát triển du lịch bền vững, tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn và đa dạng, phải có chiến lược hợp lý, phải chủ động và tập trung rất nhiều nguồn lực đầu tư mà không trông chờ vào việc khai thác tiềm năng sẵn có.

Tốc độ phát triển nhanh về du lịch của các tỉnh lân cận đặt ngành Du lịch BR-VT trước sự lựa chọn trong những năm tới là phải tìm ra các giải pháp để thu hút thành phần khách cao cấp, tăng mức chi tiêu, tăng độ dài ngày lưu trú hơn là đơn thuần tăng số lượng khách du lịch nội địa.

2.3.5. Những nguyên nhân cơ bản làm hạn chế phát triển du lịch BR-VT

2.3.5.1. Nguyên nhân khách quan

Những năm qua, dòng khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, do sản phẩm du lịch chưa đặc sắc.

Thị trường khách du lịch nội địa của BR-VT chủ yếu là các tỉnh lân cận như: Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Miền đông Nam bộ và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, chưa thu hút được nguồn khách du lịch từ các tỉnh Miền Trung và Miền Bắc. Mặt khác, thu nhập của dân cư còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn dẫn đến chi tiêu cho các loại hình giải trí, du lịch, nghỉ dưỡng thấp, họ thường kết hợp du lịch với thăm viếng người thân, bạn bè và đi công nên tác thời gian đi du lịch ngắn, chi tiêu hạn chế và ít sử dụng dịch vụ như một chuyến du lịch chính thức.

2.3.5.2. Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

  • Về công tác quản lý nhà nước

Công tác đầu tư hạ tầng còn chậm và thiếu đồng bộ, nhiều cụm du lịch trọng điểm chưa được đầu tư hạ tầng để làm tiền đề cho việc thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế. Thủ tục hành chính còn kéo dài ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị đầu tư và tiến độ của các dự án.

Chưa có chính sách cụ thể để thu hút các nhà đầu tư vào các dự án lớn. Chiến lược đầu tư về du lịch chưa được nhận thức đúng và đầy đủ, nhận thức về du lịch và vai trò của ngành du lịch trong xã hội chưa được định hướng đúng, một bộ phận dân cư và chính quyền địa phương cấp cơ sở còn có tư tưởng cục bộ, đôi khi có nhận thức sai lệch về các dự án du lịch.

Do giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 Tỉnh chưa đầu tư mạnh về cơ sở hạ tầng và chưa có cơ chế chính sách phù hợp để làm đòn bẩy phát triển du lịch nên trong giai đoạn 2016-2020 ít có những dự án qui mô lớn, đủ sức thu hút khách quốc tế, khách du lịch cao cấp. Cơ sở hạ tầng trực tiếp cho ngành du lịch còn ít, tiến độ đầu tư các công trình bằng nguồn vốn ngân sách còn chậm. Điển hình là công trình đầu tư nâng cấp bãi tắm Thùy Vân kéo dài nhiều năm, gây ảnh hưởng đến việc đảm bảo trật tự, an toàn và mỹ quan trên bãi tắm.

Ngoài những nhà đầu tư có tâm huyết, quyết tâm thực hiện dự án vẫn còn một số nhà đầu tư có tư tưởng giữ đất do khả năng tài chính có hạn. Việc chọn lựa các nhà đầu tư thực sự có năng lực để thực hiện dự án rất khó khăn vì pháp luật chưa có những chế tài cứng rắn.

Đa số các dự án đầu tư đều tập trung khai thác bãi biển để đầu tư loại hình du lịch nghỉ dưỡng, trong khi đó, phần lớn đất bờ biển trước đây đều là đất được giao để trồng rừng theo Chương trình 327, nay muốn lập dự án đầu tư phải chuyển mục đích sử dụng. Chi phí đền bù thu hồi đất đối với các hộ dân được giao đất trồng rừng chiếm tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư, gây khó khăn cho nhà đầu tư, dẫn đến tiến độ đầu tư chậm.

Quy hoạch sử dụng đất của Tỉnh đến năm 2025 mới được lập và được Chính phủ phê duyệt vào năm 2016, do đó chưa thể điều chỉnh kịp thời theo hướng đưa một phần diện tích đất lâm nghiệp sang đất chuyên dùng, làm hạn chế việc thu hút nguồn lực đầu tư và chậm tiến độ một số dự án ven biển.

  • Về phát triển các loại hình du lịch

Loại hình du lịch cuối tuần là loại hình truyền thống và chủ yếu nhưng địa phương chưa có giải pháp chủ động hỗ trợ doanh nghiệp khai thác khách cho loại hình này. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa ngành Du lịch với các ngành liên quan như: Thương mại, Văn hóa Thông tin, Thể dục Thể thao,… nhằm nghiên cứu đầu tư, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phát triển các nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, tôn tạo các di tích, danh thắng, tôn vinh phong cách ẩm thực, phát triển các loại đặc sản của địa phương, nâng cấp các lễ hội văn hóa, tổ chức các giải thể thao có tính liên vùng với các tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế phục vụ cho mục tiêu thu hút khách du lịch. Do đó chưa có các tour, tuyến du lịch đặc trưng về văn hóa, thể thao.

Tỉnh còn thiếu các trung tâm hội nghị, hội chợ, triển lãm, hội thảo có quy mô lớn, các đơn vị kinh doanh du lịch chưa đầu tư vào phòng họp, hội trường nên chưa có tiền đề để khai thác và bỏ qua thị trường tiềm năng của loại hình du lịch MICE (hội nghị, hội thảo của các ngành, hội nghị khách hàng) trong và ngoài nước.

  • Về môi trường tự nhiên và xã hội

Nhiều địa phương chưa làm tốt công tác quản lý đô thị, để xảy ra tình trạng di dân và cư trú bất hợp pháp, ảnh hưởng nặng nề đến môi trường du lịch (điển hình như khu dân cư tự phát sau di tích Thích Ca Phật đài, khu dân cư tại bãi biển Long Hải, khu Festival Bãi Sau và các địa phương có ngư dân đánh bắt thủy, hải sản). Do chưa có sự phối hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa các ban, ngành, các địa phương, chưa có các pháp chế đủ mạnh để chấm dứt triệt để tình trạng chèo kéo, đeo bám khách du lịch trên các bãi tắm, trước các khách sạn và các điểm tham quan.

Địa phương chưa có các giải pháp tích cực nhằm hạn chế các tác nhân gây ô nhiễm môi trường trên các bãi tắm và trong đô thị.

  • Về phía doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp chưa chủ động trong công tác tuyên truyền quảng bá, tiếp thị, tham gia các hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm, liên hoan du lịch, … được Tổng cục Du lịch và các địa phương tổ chức hàng năm.

Các doanh nghiệp du lịch đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ, phương thức kinh doanh còn theo nếp cũ, thiếu chủ động, chậm đổi mới, chậm nâng cấp cơ sở vật chất để tạo ra những sản phẩm mới. Vốn đưa vào đầu tư thiếu định hướng, mang tính dàn trải, chưa tập trung, từ đó năng lực cạnh tranh kém.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Thị trường khách du lịch quốc tế của BR-VT phần lớn là nguồn khách đến từ các nước: Mỹ, Hàn Quốc và Singapore và họ có có xu hướng quay trở lại BR-VT chiếm tỷ lệ khá cao. Nguồn khách du lịch nội địa đa số là trí thức, viên chức, học sinh đến từ các tỉnh lân cận thuộc khu vực Đông nam bộ.

Phần lớn du khách đến BR-VT là nhằm mục đích tham quan, nghỉ dưỡng. Nguồn khách du lịch nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn nữ giới và độ tuổi từ 25 – 54 chiếm trên 50%. Vì vậy, khi khu vực kinh tế năng động TP.HCM – Đồng Nai – Bình Dương cùng phát triển, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng trưởng cao, người dân có thu nhập tăng, nhu cầu đi du lịch tăng lên thì BR-VT chính là điểm đến hấp dẫn và đầy tiềm năng đối với nguồn khách du lịch này.

BR-VT đã được khẳng định là một trung tâm du lịch không thể thiếu của Đông Nam Bộ và của cả nước, bổ sung, hoàn chỉnh và làm phong phú thêm đặc trưng của du lịch Việt Nam trên bình diện quốc tế. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch của BR-VT còn đơn điệu, thiếu nét đặc trưng. Du khách biết đến BR-VT chỉ là những loại hình thể thao, giải trí gắn với biển, nghỉ dưỡng tại khu du lịch Sài Gòn – Bình Châu và tham quan Côn Đảo.

Các điểm du lịch trên địa bàn vẫn còn nhiều và rất có ý nghĩa văn hóa, lịch sử nhưng chưa được khai thác như: Địa Đạo Long Phước, khu du lịch Long Hải, khu căn cứ Minh Đạm, khu du lịch rừng nguyên sinh Bình Châu – Phước Bửu,… nên đã làm hạn chế trong việc đáp ứng nhu cầu của du khách cũng như công tác quảng bá hình ảnh của một BR-VT đầy tiềm năng trong nước và quốc tế.

Hệ thống khách sạn, nhà hàng đạt tiêu chuẩn khá, nhưng tập trung chủ yếu tại thành phố Vũng Tàu, các địa phương còn lại vẫn còn thiếu, chưa hấp dẫn đối với khách lưu trú và khách có nhu cầu ẩm thực cao cấp, từ đó đã làm hạn chế về số ngày lưu trú của khách và ảnh hưởng đến doanh thu của ngành.

Dự án đầu tư vào du lịch tại BR-VT ngày một nhiều và mặc dù khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài của BR-VT khá tốt, nhưng tiến độ thực hiện còn chậm, công tác giao đất, thủ tục kiểm tra đền bù còn bất cập.

Mặc dù có hệ thống giao thông được du khách đánh giá cao, nhưng phương tiện giao thông phục vụ du khách trên các tuyến còn thiếu, từ đó làm hạn chế nhu cầu phát sinh của du khách trong suốt chuyến hành trình của họ.

Sự phát triển của du lịch BR-VT góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, khơi dậy sự cạnh tranh trong công tác đào tạo cho đội ngũ làm du lịch, tác động tích cực đến sự hình thành các ngành đào tạo liên quan ở các cấp đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo và khả năng thu hút nguồn nhân lực phục vụ cho ngành du lịch BR-VT vẫn còn nhiều khó khăn và hạn chế. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537