Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: du lịch đường sông Đồng Nai, hiện trạng và giải pháp dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, ngành du lịch được gọi là ngành công nghiệp không khói và là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều vùng lãnh thổ và nhiều địa phương, đồng thời được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.

Hiện nay, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng và lợi thế về phát triển du lịch, chưa tạo được sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị của các ngành dịch vụ.

Đối với Đồng Nai để khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng, có giá trị một cách hợp lý và có hiệu quả, rất cần thiết phải nghiên cứu lập quy hoạch phát triển ngành du lịch một cách cụ thể. Nhằm đánh giá đúng thực trạng về những mặt đạt được và chưa đạt trong việc khai thác tiềm năng tài nguyên thiên nhiên và văn hóa cho phát triển du lịch. Từ đó, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh phát triển ngành du lịch của tỉnh trong thời kỳ quy hoạch một cách hiệu quả và bền vững, đóng góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.

Đồng Nai được thiên nhiên ban tặng một tài nguyên vô cùng quý giá là sông Đồng Nai, là con sông nội sinh dài nhất Việt Nam, là hệ thống sông lớn thứ hai ở phía Nam và đứng thứ ba toàn quốc. Sông Đồng Nai bắt nguồn từ Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh.

Cửa sông Đồng Nai rộng và sâu, mực nước lên xuống theo chế độ bán nhật triều, giao thông đường thủy rất thuận tiện ở khúc hạ lưu, từ Trị An ra biển. Từ nguồn về tới biển Rạp Xoài, sông Đồng Nai có chiều dài khoảng 586 km (364 dặm), đoạn chảy qua Đồng Nai khoảng 220 km (tính từ ngã ba sông Lòng Tàu – Nhà Bè) và lưu vực 38.600 km2 (14.910 mi2).

Với lợi thế và tiềm năng sẵn có, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai – Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đồng Nai đã phối hợp cùng một số sở ban ngành quy hoạch tuyến du lịch đường sông Đồng Nai là một trong năm tuyến chính thuộc quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai đến năm 2030 và định hướng 2030. Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương phát triển du lịch, trong đó có du lịch đường sông một cách rõ ràng. Tiêu biểu phải kể đến chương trình hành động phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai (giai đoạn 2023 – 2030) và chỉ thị đẩy mạnh phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Chương trình hành động đã nêu rõ đối với phát triển du lịch đường sông: Đầu tư xây dựng các bến thủy nội địa phục vụ phát triển du lịch đường sông, như bến hồ Trị An, bến Bửu Long, bến đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh … Nâng cấp chất lượng điểm đến trên tuyến du lịch đường sông Đồng Nai và bổ sung một số dịch vụ tại điểm du lịch cù lao Ba Xê, làng bưởi Tân Triều … Liên kết ngành du lịch Tp. Hồ Chí Minh để xây dựng chương trình du lịch đường sông và khuyến khích các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài tỉnh đưa chương trình vào khai thác. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Dọc tuyến sông Đồng Nai có nhiều điểm du lịch thích hợp cho các hoạt động khám phá, trải nghiệm; tìm hiểu về lịch sử văn hóa … như “cù lao Phố, làng nghề gốm Tân Vạn, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Ông, làng cá bè Tân Mai, cù lao Ba Xê, làng bưởi Tân Triều, hồ Trị An …”

Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng vốn có của du lịch Đồng Nai đang bộc lộ nhiều bất cập như: khâu tổ chức còn khá sơ sài, sản phẩm du lịch chưa phong phú, chưa được đầu tư đúng mức, sự liên kết còn kém, phát triển chưa xứng với tiềm năng, … khiến sức hấp dẫn du khách giảm dần đi.

Xuất phát từ những lợi thế được trình bày ở nội dung trên, kèm theo suy nghĩ mong muốn phát triển mạnh du lịch tỉnh nhà, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “du lịch đường sông Đồng Nai, hiện trạng và giải pháp”, với hy vọng tìm hiểu và xây dựng những giải pháp thiết thực để có thể đóng góp một phần nhỏ của mình vào sự phát triển du lịch đường sông Đồng Nai nói riêng và du lịch tỉnh Đồng Nai nói chung trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1. Mục đích:

  • Dựa vào cơ sở lý luận và phương pháp luận về du lịch, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích tiềm năng và hiện trạng của du lịch đường sông Đồng Nai.
  • Qua đó đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch đường sông Đồng Nai theo hướng phát triển bền vững và có hiệu quả

2.2. Nhiệm vụ:

  • Dựa trên cơ sở lý luận phù hợp để vận dụng vào việc nghiên cứu tiềm năng du lịch đường sông Đồng Nai.
  • Phân tích tiềm năng và hiện trạng trong hoạt động kinh doanh du lịch đường sông Đồng Nai giai đoạn 2020 – 2025.
  • Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch đường sông Đồng Nai giai đoạn 2026 – 2030.

3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: du lịch đường sông Đồng Nai, hiện trạng và giải pháp.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

  • Về nội dung: đề tài tập trung phân tích, đánh giá tiềm năng, hiện trạng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch đường sông Đồng Nai. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
  • Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu du lịch đường sông Đồng Nai.

Tuy nhiên, du lịch có tính tổng hợp và liên vùng nên đề tài xem xét nghiên cứu du lịch đường sông Đồng Nai trong mối quan hệ với du lịch tỉnh Đồng Nai và các tỉnh trong tiểu vùng Đông Nam Bộ.

  • Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu du lịch đường sông Đồng Nai giai đoạn 2020 – 2025, giải pháp phát triển du lịch đường sông Đồng Nai giai đoạn 2025 – 2030.

5. QUAN ĐIỂM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1. Quan điểm tổng hợp

Các hiện tượng và sự vật địa lý là một hệ thống thuộc địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế – xã hội. Hệ thống kinh tế – xã hội của nước ta lại bao gồm các hệ thống kinh tế – xã hội nhỏ hơn ở cấp tỉnh, thành phố như Đồng Nai và hệ thống này còn tiếp tục được phân chia tới các cấp nhỏ hơn nữa như các ngành kinh tế, dân cư, xã hội …

Nghiên cứu vấn đề phát triển du lịch thì phải xem xét trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội trong phạm vi lãnh thổ của tỉnh và cả trong tổng thể nền kinh tế quốc dân nước ta.

Khi nghiên cứu du lịch đường sông Đồng Nai, tác giả đặt trong mối quan hệ với du lịch tỉnh Đồng Nai và tiểu vùng Đông Nam Bộ cũng như cả nước. Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào phân tích tình hình phát triển du lịch đường sông Đồng Nai trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội chung của tỉnh.

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Quan điểm tổng hợp cho phép nhận thức đầy đủ các mối quan hệ phụ thuộc và quy định lẫn nhau giữa các đối tượng, các phần tử, các quá trình diễn ra trong hoạt động du lịch trên một không gian và thời gian nhất định.

Mặt khác hiệu quả của ngành du lịch đưa lại cũng mang tính tổng hợp như hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường và sinh thái. Do đó, trong quá trình nghiên cứu du lịch đường sông Đồng Nai, tác giả triệt để áp dụng quan điểm này.

5.1.2. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Có thể nói Đồng Nai là vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Song hiện nay du lịch của tỉnh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có. Do đó, nghiên cứu lịch sử hình thành và thực trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh giúp chúng ta dễ dàng đưa ra những định hướng, giải pháp thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển lên tầm cao mới. Trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai từ những năm 2020 đến nay, từ đó đánh giá, đưa ra định hướng và giải pháp phát triển du lịch đường sông Đồng Nai đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2030.

Phát triển du lịch đã góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh: giải quyết việc làm cho người lao động, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, phát huy lợi thế so sánh của tỉnh … Song việc phát triển du lịch chưa có sự quản lý và quy hoạch chặt chẽ trong thời gian qua đã gây ra nhiều tác động tiêu cực tới các vấn đề môi trường như: làm ô nhiễm môi trường không khí, đất, nước … Chính vì vậy, cần phải xây dựng và thực hiện các phương án phát triển du lịch một cách hợp lý để dung hòa được giữa những tác động tích cực – tiêu cực trong vấn đề bảo vệ môi trường, tạo sự phát triển bền vững. Quan điểm này được tác giả vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài.

5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

5.2.1. Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu, phân tích và tổng hợp

Trên cơ sở thu thập các số liệu, tài liệu về số lượng khách du lịch, doanh thu, tình hình phát triển của du lịch tỉnh trong giai đoạn 2020 – 2025 từ Cục Thống kê, Sở VHTT&DL (Sở VHTT&DL ), Trung tâm xúc tiến du lịch Đồng Nai và các ban ngành có liên quan trong tỉnh Đồng Nai, tác giả đã sử dụng phương pháp này trong việc xử lý và phân tích các cơ sở số liệu phục vụ cho đề tài.

Trong luận văn, tác giả đã trực quan hóa một số số liệu thành các biểu đồ, bản đồ để có thể thấy rõ hơn tình hình phát triển du lịch đường sông Đồng Nai. Đồng thời, bản đồ còn cho thấy rõ sự phân bố của các đối tượng, đặc biệt là tài nguyên du lịch. Đó chính là cơ sở để tác giả xây dựng các tuyến, cụm du lịch đường sông một cách hợp lý.

Trên cơ sở thống kê, phân loại tài liệu thu thập được, tác giả tiến hành sắp xếp, tổng hợp, phân tích các vấn đề về du lịch đường sông Đồng Nai. Trong đó có so sánh với du lịch đường sông với các tỉnh, thành khác và một số nước trên thế giới có du lịch đường sông phát triển để rút ra được những luận điểm sắc bén hơn.

5.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa

Để thấy được hiện trạng hoạt động và phát triển của du lịch đường sông Đồng Nai, tác giả đã tiến hành 3 đợt khảo sát trong tháng 11 (02 đợt), tháng 12 (01 đợt).

Trong chương trình khảo sát, tác giả tiến hành khảo sát 02 cụm:

  • Cụm 01 gồm các điểm tham quan: Khu du lịch (KDL) Bò Cạp Vàng, cù lao Ba Xê, cù lao Phố, KDL Bửu Long, làng bưởi Tân Triều và các KDL tại Quận 9, Tp. HCM;
  • Cụm 02 gồm các điểm tham quan: Vườn quốc gia Nam Cát Tiên, Chiến khu D, khu hồ thủy điện Trị An, đảo Ó – Đồng Trường … để có cơ sở đúng đắn trong việc đánh giá tiềm năng cũng như hiện trạng khai thác phát triển của từng điểm du lịch, từ đó có thể đề xuất các giải pháp mang tính khả thi hơn.

5.2.3. Phương pháp điều tra xã hội học SPSS và SWOT

Đây là phương pháp được sử dụng để lấy ý kiến từ thị trường nguồn và các bên tham gia để tìm ra những gợi ý cho hoạt động du lịch đường sông Đồng Nai. Các nhóm được điều tra gồm: du khách tiềm năng tại thị trường nguồn (Tp. HCM) và cư dân địa phương (Biên Hòa, Đồng Nai); đại diện các công ty lữ hành tại thị trường nguồn; các chuyên gia thuộc lĩnh vực kinh doanh lữ hành và du lịch đường sông.

Phương pháp SWOT: phương pháp này đánh giá các điểm mạnh; điểm yếu; cơ hội và thách thức của bản thân hoạt động du lịch đường sông Đồng Nai hiện nay. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Từ việc đánh giá, các bên liên quan có thể đưa ra quyết định hành động phù hợp.

Bảng hỏi được chuyển đến các đối tượng tham gia khảo sát qua phương thức: trực tiếp. Tác giả đã đến tại doanh nghiệp, khu dân cư và chuyên gia. Chi tiết bảng hỏi nằm trong phụ lục. Việc phát bảng hỏi điều tra được tiến hành với các kết quả dưới đây:

Loại bảng hỏi trực tiếp Số phát ra Số thu về Số hợp lệ
Dành cho du khách tiềm năng và dân cư 50 50 49
Dành cho công ty lữ hành 24 24 24
Dành cho chuyên gia 7 7 7
Tổng số 81 81 80

Sau khi thu thập, dữ liệu được chuyển vào xử lý bằng phần mềm Excel và SPSS.

5.2.4. Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình làm đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng vấn: bà Nguyễn Thị Khánh – Phó chủ tịch Hiệp hội du lịch Tp. HCM; ông Nguyễn Việt Anh – Trưởng phòng quản lý du lịch Tp. HCM; ông Nguyễn Văn Hậu – Phó trưởng phòng quản lý du lịch, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đồng Nai và Ông Ngô Văn Chương – Chủ tịch Hiệp hội du lịch Đồng Nai, Tổng Giám đốc công ty cổ phần du lịch Đồng Nai. Qua đó, tác giả có thêm nhiều tư liệu quý giá để tổng hợp và xử lý thông tin hiệu quả hơn, cũng như đưa ra các định hướng phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai và các giải pháp thực hiện phù hợp, có tính khả thi nhằm hoàn thiện đề tài của mình.

6. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

6.1. Lịch sử nghiên cứu du lịch Đồng Nai

Hiện nay du lịch tỉnh Đồng Nai có nhiều tác giả nghiên cứu về nhiều khía cạnh khách nhau, chẳng hạn:

Nguyễn Hoàng Hải (2000), Hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Đồng Nai, Luận văn tốt nghiệp năm 2000.

Nguyễn Thị Phượng Nga (2000), Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2000 – 2005, Luận văn tốt nghiệp năm 2000.

Nguyễn Đình Thọ (2022), Định hướng phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai, hiện trạng và giải pháp, Luận văn tốt nghiệp năm 2022.

Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Đồng Nai (2020), Du lịch Đồng Nai phát triển bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2025 và định hướng đến năm 2025.

Qua thời gian từ năm 2000 – 2025 cho thấy, đề tài viết về du lịch Đồng Nai đã có nhiều tác giả nghiên cứu, tuy nhiên chưa có tác giả nào viết về chủ đề du lịch đường sông Đồng Nai. Do đó tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “du lịch đường sông Đồng Nai, hiện trạng và giải pháp”, với hy vọng tìm hiểu và xây dựng những giải pháp thiết thực để có thể đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển du lịch đường sông Đồng Nai nói riêng và du lịch tỉnh Đồng Nai nói chung trong thời gian tới.

7. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI

Đề tài gồm 4 phần chính:

  • Phần mở đầu
  • Phần nội dung gồm 3 chương:
  • Chương 1: Cơ sở lý luận.
  • Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai
  • Chương 3: Giải pháp và kiến nghị phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM NỀN TẢNG

1.1.1. Du lịch

Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh khác nhau, cách tiếp cận khác nhau mà mỗi người có một cách hiểu khác nhau về du lịch.

Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có thêm hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động thực vật và nền văn hóa của những nơi khác. Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan trọng trong đời sống của con người. Đến nay, du lịch không còn là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay một nhóm người nào đó, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến, đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Sau đây là một số khái niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

  • Tiếp cận dưới giác độ nhu cầu: du lịch là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó (họ) phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được.
  • Tiếp cận dưới giác độ tổng hợp: Michael Coltman đã đưa ra khái niệm như sau:

Du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại, cộng đồng cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch.

Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi (Tour round the world – cuộc đi vòng quanh thế giới; to go for tour round the town – cuộc dạo quanh thành phố; tour of inspection – cuộc kinh lý kiểm tra, …). Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ Le Tour có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại, … Từ du lịch xuất hiện trong từ điển Oxford là “Tourism” xuất bản năm 1811 ở vương quốc Anh, có hai nghĩa là “đi xa” và “du lãm”. Ý là rời nhà đi xa rồi quay trở về, trong thời gian ấy thì tham quan du lãm ở 1 hoặc vài địa phương.

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) tại khoản 1, điều 4, chương I, có nêu: Du lịch là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch, họp tại Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.

Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, …

Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.

Như vậy, có khá nhiều khái niệm du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:

  • Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
  • Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
  • Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
  • Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.

Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch. Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế. Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh. Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tính đoàn kết, … Chính vì vậy, toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc một lĩnh vực văn hoá khác.

1.1.2. Du khách

Bản thân việc xây dựng khái niệm du khách là một vấn đề phức tạp. Mỗi nước có một khái niệm du khách khác nhau, theo những chuẩn mực khác nhau. Điều đó gây khó khăn cho công tác thống kê, tổng hợp số liệu, so sánh, phân tích. Hơn nữa, điều đó gây khó khăn trong việc áp dụng công ước quốc tế cũng như hệ thống luật pháp trong nước để bảo vệ quyền lợi của du khách.

Chính vì vậy, các tổ chức quốc tế không ngừng nỗ lực xây dựng một khái niệm thống nhất về du khách, ít ra là du khách quốc tế.

Nhìn chung, để xác định ai là khách du lịch? Phân biệt giữa khách du lịch và những người lữ hành khác phải dựa vào 3 tiêu thức:

  • Mục đích chuyến đi
  • Thời gian chuyến đi
  • Không gian chuyến đi

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) tại khoản 2, điều 4, chương I, có nêu:

“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới UNWTO (World Tourism Organization): “Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24h và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền”.

Để hiểu đầy đủ hơn bản chất của du lịch, cần lưu ý một số khái niệm khác:

  • Lữ hành (travel): Theo nghĩa chung nhất lữ hành là sự đi lại, di chuyển từ nơi này đến nơi khác của con người. Như vậy, trong hoạt động du lịch có bao gồm yếu tố lữ hành, nhưng không phải tất cả các hoạt động lữ hành đều là du lịch. Ở Việt Nam, quan niệm lữ hành là một lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch liên quan đến việc tổ chức các chuyến đi (các tour) cho du khách.
  • Lữ khách (Traveller): Lữ khách là những người thực hiện một chuyến đi từ nơi này đến nơi khác bằng bất cứ phương tiện gì, vì bất cứ lý do gì có hay không trở về nơi xuất phát ban đầu.
  • Khách thăm (Visitor): Khách thăm là những người thực hiện chuyến đi, lưu trú tạm thời ở một hoặc nhiều điểm đến, không cần xác định rõ lý do và thời gian của chuyến đi nhưng có sự quay trở về nơi xuất phát.
  • Khách tham quan (Excursionist/Same Day – Visitor): Là những người đi thăm viếng trong chốc lát, trong ngày, thời gian chuyến đi không đủ 24h.
  Khách du lịch Khách tham quan
Khoảng cách Rời khỏi nơi cư trú thường xuyên Rời khỏi nơi cư trú thường xuyên
Thời gian Trên 24h và không quá 1 năm Dưới 24h (không lưu lại qua đêm)
Mục đích Nghỉ ngơi, giải trí, … ngoại trừ kiếm tiền Nghỉ ngơi, giải trí, … ngoại trừ kiếm tiền

Bảng 1.1: Phân biệt khách du lịch và khách tham quan

1.1.3. Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia hay địa phương nào.

Tài nguyên du lịch là tất cả các yếu tố thiên nhiên, nhân văn, xã hội và sự kiện có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch, thu hút khách du lịch đến, được ngành du lịch khai thác để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia, địa phương.

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại khoản 4, điều 4, chương I, có nêu: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử – văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản hình thành các khu du lịch, điểm đến du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

Tài nguyên du lịch bao gồm nhiều yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, tài nguyên du lịch được phân loại thành tài nguyên du lịch tự nhiên và Tài nguyên du lịch nhân văn. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

1.1.3.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên:

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao là những yếu tố thuộc về tự nhiên được ngành du lịch đưa vào khai thác và phục vụ tham quan du lịch. Tài nguyên du lịch tự nhiên là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển loại hình du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, … Đây cũng là thành phần không thể thiếu trong điều kiện hình thành và phát triển du lịch. Giá trị hấp dẫn của tài nguyên được thể hiện thông qua các nội dung sau đây:

1.1.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn: 

Toàn bộ của cải vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra từ xưa đến nay có thể thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch được xem là Tài nguyên du lịch nhân văn: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

Theo cách hiểu này, chúng ta có thể xem tài nguyên nhân tạo chính là tài nguyên nhân văn. Nhu cầu của con người là muốn tìm hiểu về lịch sử, cội nguồn của chúng ta cũng như nghiên cứu những nét văn hóa khác nhau giữa những cộng đồng dân tộc trên thế giới. Chính vì vậy mà Tài nguyên du lịch nhân văn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thu hút những đối tượng khách du lịch thích tìm hiểu khám phá văn hóa, lịch sử.

1.1.4. Du lịch bền vững

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại khoản 18, điều 4, chương I, có nêu: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai”.

Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai.

Nói cụ thể hơn, du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hóa kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương (World Conservation Union, 1996).

1.1.5. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch

Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu một cách đơn giản là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả cao nhất (hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường).

Tổ chức lãnh thổ du lịch là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã hội nên nó cũng mang tính lịch sử. Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết là sức sản xuất, đó dần dần xuất hiện các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch. Ở Việt Nam hiện nay tồn tại một số hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch sau: Điểm du lịch, Trung tâm du lịch, Tiểu vùng du lịch, Á vùng du lịch và vùng du lịch.

1.1.6. Các loại hình du lịch Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Thường phân các loại hình du lịch theo các cách sau:

  • Phân loại tổng quát: có 2 loại là du lịch sinh thái và du lịch văn hóa.
  • Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao, du lịch khám phá, du lịch thăm viếng, du lịch quá cảnh.
  • Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch trong nước, du lịch quốc tế.
  • Theo vị trí địa lý của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch đồng quê.
  • Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
  • Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân.
  • Theo phương tiện sử dụng: du lịch ô tô, du lịch xe đạp, du lịch máy bay, du lịch tàu thủy …
  • Theo phương tiện lưu trú: du lịch ở khách sạn, du lịch ở nhà nghỉ, du lịch ở nhà trọ, du lịch cắm trại.
  • Theo thành phần của du khách: du khách thượng lưu, du khách bình dân.
  • Theo phương thức kí kết hợp đồng đi du lịch: du lịch trọn gói hoặc mua từng phần dịch vụ của tour du lịch (dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, …)

1.1.7. Sản phẩm du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), tại khoản 10, điều 4, chương 1, có nêu: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.

Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch.

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

1.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển du lịch

  • Vị trí địa lý:

Trong quá trình hình thành và phát triển du lịch, vị trí địa lý được coi là một nguồn lực quan trọng. Vị trí địa lý bao gồm: vị trí địa lý về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và tọa độ địa lý), vị trí về kinh tế – xã hội và chính trị. Đồng thời vị trí địa lý còn có ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu, trao đổi.

Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí địa lý là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ các điểm du lịch tới các nguồn gửi khách du lịch ngắn. Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế (nếu có).

  • Tài nguyên du lịch:

Là tiền đề trong việc hình thành và phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm hai nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và Tài nguyên du lịch nhân văn.

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên:
  • Địa hình: 

Ảnh hưởng quan trọng của địa hình đến du lịch là các đặc điểm hình thái của địa hình thái của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn du khách.

Về mặt hình thái của địa hình, với các dạng địa hình cơ bản là: đồng bằng, địa hình đồi và địa hình miền núi.

Địa hình đồng bằng do đơn điệu về hình thái, ít hấp dẫn khách du lịch. Nhưng đây lại là địa bàn kinh tế xã hội phát triển và lâu đời. Thông qua các hoạt động sản xuất, văn hóa xã hội của con người, miền địa hình này có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch.

Địa hình vùng đồi thường là nơi có không gian thoáng đãng thích hợp cho các hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan, nghỉ ngơi … Nơi đây cũng có truyền thống sản xuất lâu đời, dân cư tập trung đông đúc; thường là nơi có nhiều di tích khảo cổ, tài nguyên văn hóa lịch sử độc đáo, phát triển loại hình du lịch tham quan theo chuyên đề.

Miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Khu vực này thuận lợi cho nghỉ ngơi, an dưỡng, tổ chức hoạt động thể thao mùa đông. Miền núi còn là tập trung nhiều loài động thực vật, cùng với cảnh quan địa hình tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có giá trị cho phát triển du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Các dạng địa hình đặc biệt hấp dẫn du khách nhất là địa hình karstơ và địa hình ven biển.

  • Khí hậu:

Khí hậu cũng là một tài nguyên du lịch khá quan trọng. Trong đó hai yếu tố của khí hậu: nhiệt độ và độ ẩm không khí là quan trọng nhất. Ngoài ra gió, áp suất khí quyền, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt có tác động đến tổ chức du lịch.

Đặc biệt sự phân mùa của khí hậu làm cho du lịch có tính mùa rõ rệt. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu.

  • Mùa đông: là mùa du lịch trên núi, đặc biệt là loại hình du lịch thể thao.
  • Mùa hè: là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch biển, trên núi, các loại hình du lịch ngoài trời.
  • Mùa du lịch cả năm: thích hợp với du lịch núi, nước khoáng chữa bệnh. Các vùng khí hậu nhiệt đới và xích đạo mùa du lịch hầu như là cả năm.

Đối với tổ chức các dịch vụ du lịch, các tuyến du lịch cần chú ý đến các hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch như bão, gió mùa, gió phơn, lũ lụt, mùa mưa.

Thông thường du khách thường ưa thích những điểm du lịch không quá nóng, quá lạnh, quá ẩm, quá khô hay nhiều gió.

  • Nguồn nước:

Tài nguyên nước phục vụ du lịch gồm có nước trên bề mặt và nước dưới đất (nước khoáng).

Tài nguyên nước trên bề mặt bao gồm mạng lưới sông ngòi, ao, hồ nước ngọt và nước mặn. Nó có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp nước cho các khu du lịch, phát triển các loại hình du lịch đa dạng như: hồ, sông nước …

Trong tài nguyên nước cần phải nói đến nước khoáng với giá trị chủ yếu cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh.

Nước khoáng là nước thiên nhiên có một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ …) hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH …) có tác dụng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là để chữa bệnh, an dưỡng.

  • Sinh vật:  Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Tài nguyên sinh vật là là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch. Có những hệ sinh thái, sinh vật phục vụ cho tham quan du lịch như: các thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình (rừng nhiệt đới ẩm thừng xanh, rừng ngập mặn, …) có các loài động vật quý hiếm (chim, thú, …), các loài đặc sản phục vụ cho ẩm thực hoặc các loài phổ biến có thể săn bắn … Ngoài ra, sinh vật còn phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học như ở những khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia.  

Ngày nay, thị hiếu về du lịch ngày càng đa dạng, con người hướng về thiên nhiên nhiều hơn, thích du lịch sinh thái hơn. Do vậy tài nguyên du lịch sinh vật có ý nghĩa rất quan trọng.

  • Tài nguyên du lịch nhân văn:

Các di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc: 

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, nó thể hiện truyền thống tốt đẹp, tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị về văn hóa, nghệ thuật của mỗi quốc gia. Nói một cách khác, di tích lịch sử – văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, về văn hóa do con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại.

Các di tích lịch sử – văn hóa nói chung được phân chia thành:

Di tích khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳ lịch sử xa xưa, thường nằm dưới lòng đất.

Di tích lịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá trình phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích ghi dấu dự kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược, di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của các thế lực phản động.

Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với công trình kiến trúc, văn hóa xã hội của dân tộc.

Các danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình mang tính chất văn hóa – lịch sử.

  • Lễ hội:

Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ khát khao mà cuộc sống thực tại chưa giải quyêt được. Các lễ hội có giá trị to lớn đối với du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch văn hóa.

  • Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Mỗi dân tộc có một điều kiện sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng và có địa bàn cư trú nhất định. Khi khoảng cách về không gian địa lý được rút ngắn rất nhiều nhờ những thành tựu trong lĩnh vực giao thông, viễn thông và internet, trên Trái đất không còn những nơi bí ẩn, những nơi chưa được khám phá. Nhưng về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau. Đó chính là sức hút trong du lịch dân tộc học.

Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục lạ về cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc …

  • Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác:

Các đối tượng du lịch văn hóa – thể thao thường tập trung ở các thủ đô và các thành phố lớn, đó là trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các trung tâm thường xuyên diễn ra liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thể thao …

Đối tượng văn hóa – thể thao thu hút không chỉ khách tham quan nghiên cứu mà còn lôi cuốn nhiều khách du lịch với mục đích khác. Khách du lịch có trình độ văn hóa trung bình trờ lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến tham quan. Do vậy, tất cả các thành phố có các đối tượng văn hóa, hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa – thể thao đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa.

1.2.1.3. Cơ sở hạ tầng – Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

  • Cơ sở hạ tầng du lịch:

Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch. Cơ sở hạ tầng bao gồm:

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng hàng đầu: Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải. Mỗi đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn ko thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải. Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội. Nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện. Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch.

Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế. Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc.

Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên … Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại … du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường. Cho nên yếu tố điện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách. Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch.

  • Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (CSVCKTDL) bao gồm toàn bộ các phương tiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.

CCVCKTDL là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí, chữa bệnh, mua sắm.

CCVCKTDL bao gồm nhiều thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp; các cơ sở tểh thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác.

Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của CSVCKTDL đó là: đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách.

1.2.1.4. Các nhân tố kinh tế – xã hội và chính trị:

  • Dân cư và nguồn lao động:

Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội, cùng với hoạt động lao động dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch. Số lượng người lao động và học sinh tăng lên sẽ tham gia vào các hoạt động du lịch khác nhau. Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, cấu trúc sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch. Nhu cầu du lịch của con người phụ thuộc vào đặc điểm xã hội nhân khẩu của dân cư.

Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch vì đây là nhân tố thúc đẩy du lịch phát triển mạnh.

Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự tăng dân số, tăng mật độ, độ dài tuổi thọ, sự phát triển đô thị hóa … liên quan mật thiết đến phát triển du lịch.

  • Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch:

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống, lao động.

Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở ba mức độ: xã hội, nhóm người, cá nhân. Nhu cầu nghỉ ngơi – du lịch mang tính chất kinh tế – xã hội là sự phát triển của sản phẩm xã hội. Nó được hình thành dưới tác động khách quan thuộc môi trường bên ngoài, và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất.

Cụ thể hơn, đó là nhu cầu của con người về khắc phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống và phát triển. Nhu cầu này quyết định cấu trúc của ngành du lịch và được phản ánh qua các hình thức tổ chức lãnh thổ của nó.

  • Thời gian rỗi: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Thời gian rỗi là nhân tố quan trọng thúc đẩy các hoạt động du lịch. Thời gian rỗi là thời gian cần thiết cho con người để nâng cao học vấn, phát triển trí tuệ, hoàn thiện các chức năng xã hội, tiếp xúc với bạn bè, vui chơi giải trí. Thực chất nó là phần thời gian ngoài giờ làm việc dùng cho các hoạt động vui chơi giải trí nhằm phục hồi và phát triển thể lực, trí lực, tinh thần của con người.

Thời gian rỗi nhiều hay ít phục thuộc vào năng suất lao động, đặc điểm của quan hệ sản xuất và của dân cư. Để tăng thời gian rỗi thì cần giảm độ dài của tuần làm việc và giảm thời gian của công việc nội trợ. Ở nhiều nước trên thế giới đã thực hiện chế độ tuần làm việc 5 ngày. Bằng cách này người lao động có nhiều thời gian rỗi vào cuối tuần, đó là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

  • Mức sống:

Điều kiện sống của con người là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch. Các yếu tố phản ánh điều kiện sống là mức thu nhập, điều kiện sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng, y tế, giáo dục, văn hóa.

Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt đến trình độ nhất định, quan trọng nhất là mức thu nhập thực tế. Thường ở những nước kinh tế phát triển, dân cư có mức thu nhập cao thì hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ.

  • Sự phát triển của các nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế:

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực. Không thể nói tới nhu cầu hay hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất xã hội ở trong tình trạng thấp kém.

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội đề ra nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch. Nếu sản xuất xã hội càng phát triển, nhu cầu du lịch của nhân dân càng lớn, chất lượng càng cao. Như vậy, sự phát triển của nền sản xuất xã hội sẽ thúc đẩy du lịch phát triển với tốc độ nhanh. Giữa nhu cầu và hiện thực tồn tại một khoảng cách nhất định, khoảng cách này phục thuộc nhiều vào trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội: trình độ phát triển càng cao khoảng cách càng rút ngắn.

Các ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ và kết cấu hạ tầng ảnh hưởng quan trọng đến phát triển du lịch. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, chat lượng của du lịch.

  • Cách mạng khoa học kỹ thuật:

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch. Trong điều kiện cánh mạng khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất của con người được thay đổi tận gốc. Lao động chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh chóng, cường độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên với tốc độ tương ứng. Điều đó đòi hỏi phải được phục hồi sức lực sau những ngày làm việc căn thẳng thông qua con đường du lịch nghỉ ngơi. Công nghiệp du lịch chắc chắn không phát triển mạnh được nếu thiếu sự hỗ trợ của cách mạng khoa học kỹ thuật và quá trình công nghiệp hóa. Cuộc cách mạng này đã khuấy động mọi ngành sản xuất, đem lại năng suất lao động và hiệu quả cao. Đó là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả năng thực tế tham gia hoạt động nghỉ ngơi du lịch, hoàn thiện cơ cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước phát triển mới vững chắc hơn. Các nhà kinh tế đã thống kê rằng nếu thu nhập tăng thêm 1% thì chi phí của nhân dân dành cho nhu cầu du lịch tăng lên 1,5%.

  • Đô thị hóa: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đô thị hóa như nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch. Đô thị hóa tạo nên một lối sống đặc biệt – lối sống thành thị, đồng thời hình thành các thành phố lớn và các cụm thành phố.

Sự bùng nổ các thành phố lớn kéo theo đó là tỷ lệ dân số thành thị tăng nhanh đã góp phần to lớn trong việc cải thiện điều kiện sống cho nhân dân về phương diện vật chất và văn hóa, thay đổi tâm lí và hành vi của con người.

Mặt khác đô thị hóa cũng bộc lộ những mặt trái của nó. Hàng loạt các yếu tố như mật độ dân cư dày đặc, thông tin phong phú, tần số tiếp xúc cao, tiếng ồn quá lớn, … trờ thành nguyên nhân của cái gọi là “Stress (căng thẳng thần kinh) xã hội”.

Từ những mặt trái nêu trên, nghỉ ngơi giải trí trở thành một trong những nhu cầu không thể thiếu được của người dân thành phố.

  • Nhân tố chính trị:

Hòa bình và sự ổn định về chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế. Ở những quốc gia có chiến tranh, mất an ninh, đi lại khó khăn, công trình du lịch bị phá hoại … thì hoạt động du lịch bị hạn chế.

Hòa bình là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động du lịch. Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình. Thông qua du lịch quốc tế các mối quan hệ hữu nghị, hòa bình giữa các quốc gia, các dân tộc trên thế giới được củng cố.

Ngoài ra còn có một số nhân tố khác như:

  • Khủng hoảng kinh tế, tài chính khu vực và quốc tế.
  • Dịch bệnh: SARC, dịch cúm gia cầm … là những vấn đề rất nhạy cảm với hoạt động du lịch (nhất là du lịch quốc tế).
  • Khủng bố, đe dọa, bắt cóc du khách do chính trị …
  • Thiên tai: sóng thần, động dất, núi lửa, lũ lụt …
  • Các yếu tố trên có tác dụng xấu đối với du lịch. Đặc biệt chúng xuất hiện ngoài dự tính của con người và gây cho ngành du lịch không ít khó khăn.

1.2.2. Các nguyên tắc phát triển du lịch Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

1.2.2.1. Nguyên tắc quy hoạch điểm du lịch:

Quy hoạch điểm du lịch là kế hoạch bố trí lâu dài, toàn diện sự phát triển du lịch của điểm du lịch.

  • Nguyên tắc thị trường:

Ngành du lịch có mức độ thị trường hóa rất cao, quy hoạch khai thác đối với điểm du lịch phải tiến hành theo quy luật thị trường.

Quy hoạch du lịch phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường nguồn khách (hiện tại và tiềm năng). Trước khi quy hoạch cần tiến hành điều tra thị trường một cách tỉ mỉ, tìm hiểu đầy đủ các nội dung, quy mô, kết cấu, sở thích, xu hướng phát triển của thị trường nguồn khách, tìm thị trường mục tiêu để định vị điểm du lịch, xác định phương hướng chủ yếu, thứ tự phát triển và nội dung du lịch của công tác quy hoạch du lịch.

  • Nguyên tắc hiệu quả và lợi ích:

Trong quy hoạch du lịch phải chú ý hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường sinh thái.

  • Nguyên tắc sắc thái đặc biệt:

Sắc thái đặc biệt là linh hồn của khu du lịch, quy hoạch du lịch phải làm nổi bật sắc thái đặc biệt, chủ đề rõ rang.

  • Nguyên tắc bảo vệ:

Đại đa số tài nguyên du lịch đều có thuôc tính “di sản”. Vì vậy, khi quy hoạch phải kiên trì nguyên tắc bảo vệ (HST của tài nguyên thiên nhiên) và (hình thái hiện hữu) của di tích văn hóa.

Tôn trọng lịch sử, ra sức bảo tồn hình thái vốn có (tránh văn vật giả).

  • Nguyên tắc toàn cục:

Quy hoạch điểm du lịch phải quán triệt nguyên tắc toàn cục, trước hết phải phục tùng và phục vụ quy hoạch đất đai khu vực.

Yêu cầu cụ thể là:

  • Quy hoạch khai thác điểm du lịch phải thích ứng với chiến lược phát triển du lịch của toàn khu vực.
  • Điều hòa nhịp nhàng giữa quy hoạch điểm du lịch với mạng lưới giao thông vận tải.
  • Phối hợp ăn khớp giữa xây dựng điểm du lịch với xây dựng hệ thống thành phố, thị xã, thị trấn của khu vực (nơi tập trung đông khách). Mức độ đô thị hóa tỷ lệ thuận với phát triển du lịch.
  • Quy hoạch du lịch phải kết hợp với phòng chống thiên tai của khu vực.

1.2.2.2. Nguyên tắc quy hoạch tuyến du lịch:

  • Cân đối giữa thời gian di chuyển và thời gian tham quan:

Thời gian di chuyển không vượt quá 50% thời gian của tuyến du lịch trong ngày.

Xu hướng là ngày càng hiện đại hóa phương tiện vận chuyển để làm giảm thời gian đi lại, tăng thời gian tham quan giải trí.

  • Nội dung của tuyến, điểm DL phải phong phú, đa dạng, mang tính đặc thù:

Tránh lặp lại cùng một tuyến đường cho cả lượt đi và lượt về.

Tránh trường hợp khách phải tham quan lại những gì đã tham quan ở một địa phương khác, do vậy mỗi tuyến du lịch phải có nét độc đáo riêng.

  • Giá cả phải phù hợp với chất lượng dịch vụ:

Việc xác định giá cả của tour du lịch phải tương xứng với chất lượng dịch vụ, đây là yếu tố có ý nghĩa to lớn để kích cầu.

  • Đảm bảo cho du khách có thời gian để phục hồi sức khỏe:

Bố trí các điểm tham quan với mật độ phù hợp, kết hợp với các trạm dừng nghỉ chân, nghỉ ngơi kết hợp với mua sắm để đảm bảo sức khỏe cho du khách. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

  • Tuyến tham quan phải kết hợp mua sắm

Thỏa mãn nhu cầu mua sắm quà lưu niệm và hàng tiêu dùng của du khách.

Kích thích sự phát triển kinh tế địa phương.

1.2.2.3. Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững:

Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyen du lịch.

  • Sử dụng nguồn lực một cách bền vững:

Việc bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân văn là tối cần thiết, nó đảm bảo cho hoạt động kinh doanh du lịch phát triển lâu dài.

Phát triển bền vững với chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai một tài nguyên du lịch không kém hơn so với cái mà thế hệ trước đã được hưởng.

Việc sử dụng bền vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực phát triển du lịch được xem là vấn đề sống còn đối với việc quản lý mang tính chất toàn cầu và quốc gia.

  • Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải:

Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và làm tăng chất lượng của du lịch.

Mọi người có nhận thức rằng sự tiêu thụ quá mức sẽ dẫn tới sự hủy hoại môi trường trên toàn cầu và đi ngược lại sự phát triển bền vững.

Các dự án được triển khai không có đánh giá tác động môi trường hoặc không thực thi những kiến nghị về đánh giá tác động của môi trường đã dẫn đến sự tiêu dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyên khác một cách lãng phí và không cần thiết. Đây là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hóa xã hội.

Các chất thải từ các công trình không được quan tâm xử lý đúng mức, dẫn đến sự xuống cấp về môi trường một cách lâu dài.

Một số dự án không được lập kế hoạch một cách nghiêm túc gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng dẫn đến tốn kém trong việc phục hồi tổn thất. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

  • Duy trì tính đa dạng:

Việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa xã hội là hết sức quan trọng cho du lịch bền vững và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch.

Sự đa dạng của môi trường tự nhiên, văn hóa xã hội là một thế mạnh mang lại khả năng phục hồi cho những đột biến và áp lực và đồng thời tránh việc quá phụ thuộc vào một hay một vài nguồn hỗ trợ sinh tồn.

Môi trường thiên nhiên được đặc trưng bởi tính đa dạng, nhưng việc phát triển kinh tế và du lịch đã phá hủy môi trường sinh thái trên diện rộng.

Có tính toán cho rằng 50 năm tới có khoảng 25% các loài động vật sẽ bị tuyệt chủng. Ngày nay ở nhiều vùng đất ngập nước có 80% các rạn san hô và 50% các rừng nguyên sinh trên hành tinh sẽ bị mất đi.

Phát triển du lịch bền vững phải để lại cho các thế hệ tương lai một gia tài đa dạng về thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì được thừa hưởng của thế hệ trước.

Đa dạng văn hóa là một trong những tài sản hàng đầu của ngành du lịch, do vậy nó cần được giữ gìn, bảo vệ. Sự đa dạng về văn hóa bản địa sẽ bị mất đi khi nó bị xuống cấp, bởi cư dân biến nó thành món hàng hóa đem bán cho du khách.

  • Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch:

Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch.

Việc phát triển hợp nhất dựa trên hai quy tắc sau:

Du lịch và hoạch định chiến lược phát triển

Du lịch và đánh giá tác động môi trường

  • Hỗ trợ kinh tế địa phương:

Ngành du lịch hỗ trợ tích cực các hoạt động kinh tế địa phương và có tính đến các giá trị và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được các nền kinh tế địa phương.

  • Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động lịch:

Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch sẽ không chỉ mang lợi ích cho họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng du lịch. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Khi cộng đồng địa phương được tham gia vào phát triển du lịch thì họ trở thành đối tác tích cực, có vị trí đặc biệt trong khu vực và vùng. Khả năng phát triển bền vững của du lịch phụ thuộc rất lớn vào sự ủng hộ và tham gia của cộng đồng địa phương.

  • Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan:

Việc tư vấn giữa công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan khác nhau là rất cần thiết nếu như những tổ chức này cùng nhau làm việc và cùng giải tỏa các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi.

Tham khảo ý kiến giữa chính phủ, ngành du lịch và cư dân địa phương là hết sức cần thiết để đánh giá các dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực và tối đa hóa sự đóng góp tích cực của họ. Đồng thời các tổ chức du lịch thông báo cho cư dân địa phương về những thay đổi trong kinh tế do sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành du lịch và những rủi ro liên quan của ngành đưa lại.

  • Đào tạo nhân viên:

Việc đào tạo nhân viên trong đó có lồng nghép nội dung du lịch bền vững và thực tiễn công việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng sản phẩm du lịch.

Một lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng thành thạo không những đem lại lợi ích kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch, tính hiệu quả của tất cả các cấp và lòng tin tưởng, tự tin và tự nguyện công tác của nhân viên.

Sự phát triển bền vững nhấn mạnh đến nhu cầu tăng cường giáo dục nhằm mục đích nâng cao sợ phồn vinh về kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo nhận thức về quản lý môi trường là then chốt cho sự phát triển tổng hợp bền vững.

  • Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm:

Việc cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội của nơi tham quan, đồng thời làm tăng thêm sự thỏa mãn của du khách.

1.3. CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐƯỜNG SÔNG ĐỒNG NAI Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

  • Vị trí địa lý, lãnh thổ

Tỉnh Đồng Nai là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên là 5.907,24 km2, có 11 đơn vị hành chính gồm: Tp. Biên Hòa, Thị xã Long Khánh và 8 huyện (Vĩnh Cửu, Long Thành, Nhơn Trạch, Thống Nhất, Trảng Bom, Xuân Lộc, Cẩm Mỹ, Định Quán, Tân Phú).

  • Khái quát về tự nhiên
  • Địa hình:

Đồng Nai thuộc dạng địa hình trung du, là nơi chuyển tiếp từ vùng cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng Nam Bộ, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc không cao, (8% đất có độ dốc lớn hơn 150 đến 82,09% đất có độ dốc nhỏ hơn 80). Độ cao trung bình không quá 100m so với mặt biển, có hướng ngiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Trong tỉnh có một số dạng địa hình tiêu biểu: cao nguyên núi lửa, đồng bằng núi lửa, sườn các nón núi lửa, các bề mặt san bằng, thềm xâm thực – tích tụ, bãi bồi và đồng bằng tích tụ sông – đầm lầy.

  • Khí hậu:

Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, chịu sự ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam và chịu sự chi phối của khối khí chí tuyến Thái Bình Dương từ tháng 4 đến tháng 10, nên có rõ rệt “mùa khô và mùa mưa”. Mùa khô kéo dài 5 đến 6 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau), mùa mưa kéo dài 6 hoặc 7 tháng (từ tháng 4 hoặc tháng 5 đến tháng 11).

Bản đồ 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai

Thời gian có nắng trung bình ở Đồng Nai chiếm khoảng 45 – 65% độ dài ban ngày (từ 4 – 9,5 giờ/ngày). Ngày có giờ nắng cao nhất cũng không vượt quá 11,5giờ (trong mùa khô). Ngược lại trong mùa mưa có thể nhiều ngày hoàn toàn không có nắng. Tổng giờ nắng hàng năm đạt từ 2500 – 2860 giờ. Thời gian có nắng tương đối ít chênh lệch trong mùa vụ sản xuất, nhưng khá chênh lệch giữa hai mùa khí hậu: mùa mưa và mùa khô (xem bảng 1.2).

Bảng 1.2: Số giờ nắng trung bình mùa theo mùa khí hậu và thời vụ

Địa điểm Theo mùa khí hậu Theo thời vụ sản xuất
Mùa khô Mùa mưa Đông – Xuân Hè – Thu Vụ mùa
Biên Hòa 1476 1229 1016 846 743
Long Khánh 1443 1109 997 829 726
Trị An 1409 1456 962 964 941
La Ngà 1436 1125 985 845 731

1.3.2.3. Nguồn nước: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Đồng Nai có 16.666 ha sông suối chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên, là một tỉnh có mạng lưới sông suối khá dày đặc. Hàng năm các con sông ở đây cung cấp một khôi lượng nước khổng lồ 30,2 x 109 m3. Lượng nước này, đủ cung cấp cho sản xuất, sinh hoạt và làm ra điện với công suất lý thuyết hơn 500 nghìn kw/h.

Hệ thống sông Đồng Nai với sông chính dài 610 km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 220 km (tính đến ngã ba sông Lòng Tàu – Nhà Bè). Lưu vực sông rộng 42.600 km2, có hơn 253 sông suối lớn nhỏ là phụ lưu. Đây là con sông lớn thứ hai của Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên về đến cửa biển Xoài Rạp. Nhìn chung, về mặt hình thái lưu vực, sông Đồng Nai là một sông lớn, lưu vực gần như nằm trọn trên lãnh thổ nước ta, sông có nguồn nước phong phú và nhiều tiềm năng về thủy điện.

Sông Đồng Nai là con sông dồi dào về nguồn nước và phong phú về cảnh đẹp, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) chảy ngang qua Tp. Biên Hòa đã tạo nên nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều điểm du lịch hấp dẫn, với những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê, trĩu quả với nhiều đặc sản địa phương của miền nhiêt đới, như: chôm chôm, sầu riêng, bưởi, xoài, ổi, măng cụt, dâu, mít tố nữ, … Có thể nói, từ xa xưa dôc theo dòng sông lịch sử này đã hình thành nên các khu phố cổ rất sầm uất như: cù lao Phố, làng cổ Bến Gỗ, các làng nghề truyền thống như: làng gốm Tân Vạn, Hóa An và gắn với dòng sông lịch sử này chính là các làng cá bè Tân Mai, La Ngà, cùng với các khu trọ trên sông đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc, với nếp sinh hoạt và buôn bán tấp nập trên bến dưới thuyền. Có địa thế là trung tâm Tp. Biên Hòa, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh khoảng 30 km, được bao quanh bởi sông Đồng Nai, là điểm sáng để xây dựng, làm tour sinh thái, văn hóa. Với phong cảnh hữu tình, thanh bình, êm ả, nhưng tràn đầy sức sống. Gắn với đặc sắc trung tâm thành phố bên sông thì địa danh này còn có nhiều di tích lịch sử và lễ hội truyền thống.

1.3.2.4. Sinh vật:

Đến năm 2025, diện tích rừng của tỉnh Đồng Nai là 177.939 ha, độ che phủ 30,1%. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 119.950 ha và diện tích rừng trồng là 57.989 ha. Rừng của tỉnh Đồng Nai trước đây là rừng nguyên sinh được hình thành dưới ảnh hưởng tương tác và tổng hợp của những điều kiện tự nhiên trong vùng như đặc điểm về vị trí địa lý, sự đa dạng trong cấu tạo địa hình và tính chất thổ nhưỡng kết hợp với chế độ khí hậu ẩm nhiệt đới góp phần hình thành và phát triển hệ thực vật và động vật phong phú, mang lại lợi thế và tiềm năng phát triển các sản phẩm du lịch, như sau:

Vườn Quốc gia Cát Tiên: Có nhiều loại gỗ quý như cẩm lai, trắc, gõ đỏ, trai, giáng hương; nhiều loại thú quý hiếm như bò tót, voi, công xanh, trĩ, sao, tê giác, cá sấu … không chỉ có giá trị kinh tế, tài nguyên rừng còn đem lại nguồn dược liệu quý hiếm, khoảng 240 cây lá thuốc và hàng trăm động vật.

Các khu rừng cảnh quan gắn với di tích lịch sử: Rừng ven hồ Trị An, rừng Thác Mai – Hồ nước nóng ở lâm trường Tân Phú, rừng Sác ở Nhơn Trạch, Long Thành … có nhiều tiềm năng du lịch. Tài nguyên rừng tỉnh Đồng Nai gắn liền với các di tích lịch sử của nhiều căn cứ địa cách mạng, giữ vị trí chiến lược quan trọng về mặt quốc phòng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Tiêu biểu cho di tích này là Căn cứ Khu ủy Miền Đông, huyện Vĩnh Cửu và Chiến khu rừng Sác huyện Long Thành và Nhơn Trạch.

Cảnh quan rừng và hệ sinh thái rừng: Tài nguyên rừng Đồng Nai là một món quà vô giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng. Tính đa dạng sinh học đã mang lại nhiều lợi ích cho đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những hậu quả của việc khai thác rừng quá mức để thu lợi ích kinh tế trước mắt sẽ gây ra những tác động lớn đến vấn đề suy giảm môi trường, làm thay đổi tính đa dạng sinh học của rừng, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của con người.

1.3.3. Khái quát về kinh tế – xã hội Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

1.3.3.1. Tình hình phát triển kinh tế:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Nai (GRDP) bình quân hàng năm đạt 13,2%/năm trong giai đoạn 2001 – 2020, cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của vùng Đông Nam bộ là 12,6%/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Nai (GRDP) bình quân hàng năm đạt 11,7%/năm trong giai đoạn 2020 – 2025. Tăng trưởng kinh tế của tỉnh chuyển từ dựa chủ yếu vào nông nghiệp và một số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sang phát triển kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực.

Thu nhập (GRDP) bình quân đầu người tăng từ 467 USD/người năm 2005, lên 1.514,8 USD/người năm 2020, bằng 67,3% mức bình quân chung của vùng Đông Nam bộ (2.251 USD/người) và cao hơn gấp 1,3 lần bình quân cả nước (1.168 USD/người). Năm 2022, GRDP bình quân đầu người đạt 43,2 triệu đồng (2.067 USD) và năm 2025 đạt 59,5 triệu đồng (2.800 USD).

Kết quả thống kê về phát triển kinh tế xã hội Đồng Nai trong những năm qua cho thấy tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) của tỉnh Đồng Nai tăng trưởng với tốc độ khá nhanh với sự tập trung đầu tư về hạ tầng từ ngân sách nhà nước cũng như sự tăng nhanh của các dự án đầu tư phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và một số lĩnh vực có liên quan khác.

Bảng 1.3: Tổng giá trị gia tăng tỉnh Đồng Nai (GRDP)  theo giá cố định năm 2025

Đơn vị tính: Tỷ đồng

STT  Hạng mục Năm

2021

Năm

2022

Năm

2023

Năm

2024

Năm

2025

Tốc độ tăng bình quân gđ 2021 – 2025 (%)
  Tổng giá trị gia tăng 76.025 85.608  95.502 106.074  118.326 11,7
1 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6.537 6.784 6.979 7.197 7.435 3,3
2 Công nghiệp và xây dựng 43.487 48.865 54.536 60.501 67.580 11,7
3 Dịch vụ 26.000 29.959 33.986 38.377 43.673 13,8
3.1 Thương mại 23.642 27.527 31.566 35.863 41.062 14,8
3.2 Thuế nhập khẩu 2.358 2.431 2.421 2.514 2.611 2,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2025.

Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng các ngành trong Tổng giá trị sản phẩm năm 2005 thay đổi từ ngành nông nghiệp là 22,2%; ngành công nghiệp – xây dựng là 52,2% và ngành dịch vụ là 25,6%; Năm 2021, chuyển sang ngành nông nghiệp là 8,6%; ngành công nghiệp – xây dựng là 57,2%; ngành dịch vụ là 34,2%. Năm 2025, cơ cấu các ngành trong nền kinh tế trên địa bàn tỉnh là: công nghiệp và xây dựng là 56,9%; ngành dịch vụ là 37,1% và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản là 6,0%.

Bảng 1.4: Tổng giá trị sản phẩm (GRDP) và cơ cấu  kinh tế theo giá thực tế tỉnh Đồng Nai

Đơn vị tính: Tỷ đồng Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

STT HẠNG MỤC Năm

2021

Năm

2022

Năm

2023

Năm

2024

Năm

2025

I Tổng giá trị gia tăng 76.025 98.759 117.414 140.092 156.273
1 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 6.537 7.409 7.984 8.826 9.376
2 Công nghiệp và xây dựng 43.488 56.590 66.926 79.712 88.919
3 Dịch vụ 25.999 34.760 42.504 51.554 57.977
3.1 Thương mại và dịch vụ 23.641 31.911 39.604 48.301 54.330
3.2 Thuế nhập khẩu 2.358 2.849 2.900 3.252 3.647
II Tỷ trọng (%) 100,00 100,00 100,00 100,00 100
1 Nông, lâm nghiệp và thủy sản 8,60 7,50 6,80 6,30 6,0
2 Công nghiệp và xây dựng 57,20 57,30 57,00 56,90 56,9
3 Dịch vụ 34,20 35,20 36,20 36,80 37,1
3.1 Thương mại và dịch vụ 31,10 32,31 33,73 34,48 34,77
3.2 Thuế nhập khẩu 3,10 2,88 2,47 2,32 2,33

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2025

Tình hình phát triển kinh tế duy trì đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp. Các ngành dịch vụ đóng góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm trong tỉnh và tạo tiền đề cho các ngành và lĩnh vực khác phát triển; xuất khẩu tăng mạnh; thu ngân sách đạt khá; các nguồn lực đầu tư phát triển được huy động tốt hơn, khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung đầu tư có trọng điểm, đúng hướng, hạ tầng kinh tế và xã hội được cải thiện.

Dân số và lao động: Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

  • Dân số:

Cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là 37 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 93%, còn lại là các dân tộc thiểu số chiếm 7%. Bản sắc văn hoá đa dạng với nhiều tôn giáo, trong đó chủ yếu là phật giáo và thiên chúa giáo.

Tính đến ngày 01/4/2025 dân số Dân số tỉnh Đồng Nai là: 2.900.000 người (đứng thứ 5 trong cả nước, sau thủ đô Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Thanh Hoá và Nghệ An), trong đó dân số đô thị có 946,61 nghìn người chiếm 34,19%. Mật độ dân cư bình quân là 468,69 người/km2, trong đó Tp. Biên Hoà, thị xã Long Khánh và các huyện Thống Nhất và Trảng Bom dân cư tập trung đông có mật độ đông từ 644,69 – 3.357,62 người/km2. Các huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu và Định Quán có mật độ dân cư thưa từ 128,27 – 216,2 người/km2. Tháp tuổi dân số của tỉnh Đồng Nai khá trẻ cộng với quá trình phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp trên địa bàn tạo sức hút tăng dân số cơ học, làm dân số của tỉnh tăng nhanh, tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm trong giai đoạn từ năm 2020 – 2025 là 2,4%/năm.

Lĩnh vực văn hóa xã hội có chuyển biến tích cực, nhất là xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, đời sống nhân dân được nâng lên. Đối với quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, giữ vững ổn định, chính trị xã hội.

  • Lao động:

Năm 2025, số dân trong tuổi lao động là 1.763 nghìn người chiếm xấp xỉ 61% tổng dân số. Lực lượng lao động là 1.763 nghìn người năm 2025 tăng 329 nghìn người so với năm 2020, tốc độ tăng bình quân 5,2%/năm. Cơ cấu lao động đến 31/12/2025 bao gồm tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp chiếm 30,7%; tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 39,3%; tỷ lệ lao động trong các ngành dịch vụ chiếm 30%. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao là 62%, trong đó tỷ lệ đào tạo nghề ngắn hạn là 40%.

Ngành giáo dục đào tạo được tập trung đầu tư cơ sở vật chất và nâng chất lượng giáo dục. Toàn tỉnh đã không còn phòng học tạm, tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 37,3% năm 2005 lên 67% năm 2025. Tỷ lệ xã, phường có trường tiểu học, trường mầm non đạt 100%, có trường trung học cơ sở đạt 95%.

Hệ thống cơ sở giáo dục chuyên nghiệp có 06 trường đại học là: Đại học Lạc Hồng, Đại học Đồng Nai, Đại học Nguyễn Huệ, Đại học Kỹ thuật và Công nghệ Đồng Nai, Đại học Lâm nghiệp và Phân hiệu Đại học Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh; 04 trường cao đẳng và 06 trường trung cấp chuyên nghiệp. Giáo dục chuyên nghiệp ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu đào tạo đội ngũ nhân lực ngành du lịch trong tỉnh.

  • Hệ thống y tế:

Năm 2025, mạng lưới các cơ sở y tế phát triển mạnh, số cơ sở y tế công lập là 240 cơ sở bao gồm 9 bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến khu vực, 8 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 10 trung tâm chuyên khoa tuyến tỉnh, 11 trung tâm y tế, 11 phòng y tế, 11 trung tâm dân số – kế hoạch hóa gia đình tuyến huyện và 171 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, tỉnh còn có gần 3.000 phòng khám, cơ sở hành nghề y, dược tư nhân ở các đô thị và vùng nông thôn.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I. Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Sông Đồng Nai là một dòng sông đẹp, có dòng chảy lớn với hệ thống sông chính dài 610 km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 220 km (tính đến ngã ba sông Lòng Tàu – Nhà Bè). Lưu vực sông rộng 42.600 km2, có hơn 253 sông suối lớn nhỏ là phụ lưu. Đây là con sông lớn thứ hai của Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên về đến cửa biển Xoài Rạp. Nhìn chung, về mặt hình thái lưu vực, sông Đồng Nai là một sông lớn, lưu vực gần như nằm trọn trên lãnh thổ nước ta, sông có nguồn nước phong phú và nhiều tiềm năng về thủy điện.

Sông Đồng Nai là con sông dồi dào về nguồn nước và phong phú về cảnh đẹp, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) chảy ngang qua Tp. Biên Hòa đã tạo nên nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều điểm du lịch hấp dẫn, với những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê, trĩu quả với nhiều đặc sản địa phương của miền nhiêt đới, như: chôm chôm, sầu riêng, bưởi, xoài, ổi, măng cụt, dâu, mít tố nữ, … Có thể nói, từ xa xưa dôc theo dòng sông lịch sử này đã hình thành nên các khu phố cổ rất sầm uất như: cù lao Phố, làng cổ Bến Gỗ, các làng nghề truyền thống như: làng gốm Tân Vạn, Hóa An và gắn với dòng sông lịch sử này chính là các làng cá bè Tân Mai, La Ngà, cùng với các khu trọ trên sông đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc, với nếp sinh hoạt và buôn bán tấp nập trên bến dưới thuyền. Có địa thế là trung tâm Tp. Biên Hòa, cách trung tâm Tp. Hồ Chí Minh khoảng 30 km, được bao quanh bởi sông Đồng Nai, là điểm sáng để xây dựng, làm tour sinh thái, văn hóa. Với phong cảnh hữu tình, thanh bình, êm ả, nhưng tràn đầy sức sống. Gắn với đặc sắc trung tâm thành phố bên sông thì địa danh này còn có nhiều di tích lịch sử và lễ hội truyền thống.

Với lợi thế và tiềm năng sẵn có, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai – Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đồng Nai đã phối hợp cùng một số sở ban ngành quy hoạch tuyến du lịch đường sông Đồng Nai là một trong năm tuyến chính thuộc quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai đến năm 2030 và định hướng 2030. Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương phát triển du lịch, trong đó có du lịch đường sông một cách rõ ràng. Tiêu biểu phải kể đến chương trình hành động phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai (giai đoạn 2023 – 2030) và chỉ thị đẩy mạnh phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Dọc tuyến sông Đồng Nai có nhiều điểm du lịch thích hợp cho các hoạt động khám phá, trải nghiệm; tìm hiểu về lịch sử văn hóa … như “cù lao Phố, làng nghề gốm Tân Vạn, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Ông, làng cá bè Tân Mai, cù lao Ba Xê, làng bưởi Tân Triều, hồ Trị An …” Luận văn: Phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.

Thông qua quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu thứ cấp, trong nội dung chương 1 tác giả tập trung làm rõ một số các khái niệm, quan niệm và các thuật ngữ. Ngoài ra, tác giả cũng nhấn mạnh một số các cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến du lịch Đồng Nai như: vị trí địa lý – giới hạn, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội. Những cơ sở lý luận và thực tiễn được trình bày ở chương 1 cũng là cơ sở và tiền đề để đi sâu vào khai thác hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai ở chương 2.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537