Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐƯỜNG SÔNG ĐỒNG NAI
2.1.1. Tài nguyên du lịch đường sông Đồng Nai
2.1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Lược đồ 2.1: Lược đồ sông Đồng Nai (đoạn chảy qua Tp. Biên Hòa).
Tài nguyên du lịch sinh thái gắn với sông Đồng Nai, hồ Trị An, vườn quốc gia Cát Tiên và nhiều điểm thắng cảnh thiên nhiên rừng, núi, hồ và thác, gồm: thác Mai, thác Hòa Bình, suối Mơ, núi Chứa Chan, hồ Đa Tôn, hồ Sông Mây có thể khai thác phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, thể thao, du lịch nghiên cứu khoa học có sức hấp dẫn đối với khách trong nước và quốc tế. Tại Khu bảo tồn Thiên nhiên và Văn hóa Đồng Nai có các di tích lịch sử như căn cứ địa cách mạng Chiến khu D, Căn cứ trung ương cục miền Nam, Khu ủy miền Đông, Thác Ràng … thuận lợi để khai thác du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa.
Tài nguyên du lịch sinh thái gắn với sông Đồng Nai, hồ Trị An, vườn quốc gia Cát Tiên và nhiều thắng cảnh thiên nhiên rừng, núi, hồ và thác, gồm: thác Mai, thác Hòa Bình, suối Mơ, núi Chứa Chan, hồ Đa Tôn, hồ Sông Mây có thể khai thác phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, thể thao, du lịch nghiên cứu khoa học có sức hấp dẫn đối với khách trong nước và quốc tế. Tại Khu bảo tồn Thiên nhiên và Văn hóa Đồng Nai có các di tích lịch sử như căn cứ địa cách mạng Chiến khu D, Căn cứ Trung ương cục miền Nam, Khu ủy miền Đông, Thác Ràng … thuận lợi để khai thác du lịch sinh thái kết hợp du lịch văn hóa.
Sự đa dạng, phong phú về địa hình tạo cho tỉnh Đồng Nai có những tiềm năng rất tốt để trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng tạo ra các sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch. Tổng số các điểm du lịch theo địa hình là 51 điểm, như sau: rừng 3 điểm; đồi, núi là 7 điểm; hồ là 8 điểm; thác là 9 điểm; suối là 4 điểm; sông, cù lao, đảo là 8 điểm và công viên, vườn là 12 điểm.
2.1.1.2. Tài nguyên văn hóa nhân văn: Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Các tài nguyên nhân văn tập trung dày đặc ở khu vực Tp. Biên Hòa, cù lao Phố. Nổi bật phải kể đến chùa Ông, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, làng gốm Tân Vạn, nhà cổ Trần Ngọc Du, Khu dịch vụ Ngọc Phát Riverside. Trong đó, nghề làm gốm tại làng gốm Tân Vạn là tài nguyên phi vật thể được đánh giá cao với nét đặc sắc trong nghệ thuật làm gốm không bàn xoay.
Bản đồ 2.1: Bản đồ lưu vực sông Đồng Nai.
Điểm nổi bật của các tài nguyên nhân văn chính là các giá trị độc đáo về lịch sử phát triển (chùa Ông) cũng như công nghệ sản xuất (làng gốm Tân Vạn). Các tài nguyên nhân văn nhìn chung được bảo vệ, vệ sinh môi trường sạch sẽ. Tuy vậy, điểm hạn chế nổi bật là sự thiếu an toàn khi tiếp cận các tài nguyên này từ hướng sông Đồng Nai do thiếu bến bãi phục vụ du lịch. Du khách hiện không thể lên bờ một cách dễ dàng và an toàn tại bất kỳ điểm nào trừ tại Khu dịch vụ Ngọc Phát Riverside và Khu du lịch cù lao Ba Xê.
Với sự đa dạng của tài nguyên và vị trí nằm gần nhau, các tài nguyên có thể chia làm hai cụm: cụm trung tâm Tp. Biên Hòa và phụ cận; cụm tài nguyên hồ Trị An và phụ cận.
Cụm tài nguyên trung tâm Tp. Biên Hòa và phụ cận (sau đây gọi tắt là cụm trung tâm) gồm:
- Cù lao Phố với chùa Ông, đền thờ và lăng Nguyễn Hữu Cảnh
- Làng gốm Tân Vạn
- Nhà cổ Trần Ngọc Du
- Làng cá bè Tân Mai
- Khu dịch vụ Ngọc Phát Riverside
- Cù lao Ba Xê
- Làng bưởi Tân Triều
- Chùa Châu Đốc (Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh).
Cụm tài nguyên này phù hợp để khai thác các chương trình du lịch văn hóa kết hợp với thiên nhiên, các chương trình du lịch làng nghề, chương trình du lịch tham quan cuối tuần. Đối tượng du khách phù hợp khá đa dạng về độ tuổi và ngành nghề như cán bộ hưu trí, công nhân viên chức, học sinh sinh viên.
Cụm tài nguyên hồ Trị An và vùng phụ cận (sau đây gọi tắt là cụm Trị An) gồm:
- Hồ Trị An
- Đảo Đồng Trường – Đảo Ó
- Khu vực thượng du và Chiến Khu D.
Cụm tài nguyên này có thế mạnh lớn để khai thác các chương trình du lịch xây dựng đội nhóm (team building), chương trình du lịch thể thao mạo hiểm, chương trình du lịch dã ngoại. Với các chương trình loại này, đối tượng du khách phù hợp nhất là học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng, yêu thích sự trẻ trung, năng động, ưa hoạt động ngoài trời. Tuy vậy việc khai thác phải lưu ý đến yếu tố an toàn và các quy định về bảo tồn thiên nhiên, lòng hồ …
Về độ nổi tiếng của các danh thắng trong các cụm tài nguyên này, các số liệu dưới đây sẽ phản ánh phần nào thực trạng.
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ du khách tiềm năng biết đến các danh thắng
Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ doanh nghiệp biết đến các
Lược đồ 2.2: Lược đồ tuyến du lịch đường sông Đồng Nai.
Từ số liệu khảo sát và phân tích SPSS có thể thấy, tỉ lệ khách biết đến tất cả các danh thắng là 18% (với doanh nghiệp là 50%), con số này là một con số thấp, tuy nhiên có phù hợp với thực trạng bước đầu phát triển. Hai điểm danh thắng được nhiều người biết đến nhất là hồ Trị An 73%, Làng bưởi Tân Triều 71% (con số tương ứng đối với doanh nghiệp là 54% và 50%). Riêng đối với nhóm doanh nghiệp thì danh thắng Chiến khu D được biết đến nhiều nhất với 63% ý kiến có. Đây có thể xem là gợi ý cho việc quảng bá hình ảnh của du lịch Đồng Nai. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Bản đồ 2.2: Bản đồ quy hoạch các tuyến hấp dẫn
Tuy vậy, có một mâu thuẫn khá lớn, đó chính là mặc dù có 73% người biết đến hồ Trị An nhưng chỉ có 22% biết đến Đồng Trường và Đảo Ó vốn là hai hòn đảo nằm trong hồ Trị An. Sự nổi tiếng của Trị An có thể là nhờ vào công trình thủy điện nổi tiếng từ lâu chứ không hẳn là vì đây là một điểm đến du lịch.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Về cơ sở hạ tầng
Đối với du lịch nói chung, du lịch đường sông nói riêng, cơ sở hạ tầng là yếu tố then chốt quyết định sự thành công. Đối với du lịch đường sông Đồng Nai, cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp gồm có mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy.
2.1.2.1. Đường bộ:
Hệ thống giao thông đường bộ từng bước được đầu tư xây dựng phục vụ đắc lực lưu thông hàng hóa và các hoạt động kinh tế, dân sinh ngày càng tăng. Đến cuối năm 2025, hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh được phát triển có tổng chiều dài khoảng 6.876,5 km, bao gồm:
- Quốc lộ: 05 tuyến quốc lộ đi qua (QL1A, QL1K, QL51, QL56, QL20) có tổng chiều dài 244,5 km, nhựa hóa 100%, đây là các tuyến đường trục Bắc – Nam và Đông – Tây kết nối các khu vực trong và ngoài tỉnh.
- Đường tỉnh: 20 tuyến đường với tổng chiều dài 511 km, tỷ lệ nhựa hóa tăng từ 64,4% lên 100% (Đạt mục tiêu kế hoạch đề ra), trong năm 2020 còn nâng cấp một số tuyến đường huyện thành đường tỉnh quản lý với tỷ lệ nhựa hóa 90%.
- Đường đô thị, đường huyện: có gần 300 tuyến với tổng chiều dài 1.491 km, hoàn thành nhựa hóa 60% so với 39,6% năm 2005, còn lại một số đường huyện là đường bê tông, đường cấp phối, rải đá, đường đất.
Hệ thống bến xe hiện đang khai thác 15 bến xe khách và 12 trạm xe buýt có tổng diện tích 116.798m2, trong đó có 3 bến xe khách liên tỉnh ở Biên Hòa và 12 bến xe khách ở các huyện, thị xã, Tp. trong tỉnh.
2.1.2.2. Đường sắt:
Tuyến đường sắt Thống Nhất trên địa bàn tỉnh do Trung ương quản lý, đoạn qua tỉnh có chiều dài 87,5 km gồm có 8 ga trong đó ga Biên Hoà là ga chính trang bị hệ thống thông tin tín hiệu chạy tàu bán tự động. Tuyến đường sắt Thống Nhất là kênh lưu thông vận chuyển hành khách quan trọng giữa tỉnh với khu vực Duyên hải miền Trung và phía Bắc.
2.1.2.3. Hạ tầng giao thông đường thủy: Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Toàn tỉnh có 24 tuyến đường sông đang hoạt động, tổng chiều dài 431 km, trong đó có 6 tuyến tổng chiều dài 169 km do Trung ương quản lý và 18 tuyến tổng chiều dài 262 km do tỉnh quản lý. Ngoài ra, còn 61 tuyến kênh rạch tổng chiều dài 101 km do đơn vị cơ sở khai thác, quản lý. Các tuyến đường sông quan trọng lưu thông tàu ra biển gồm có 03 tuyến theo các sông Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Nhà Bè – Lòng Tàu, trên các tuyến đường sông này đều có các bến cảng tiếp nhận được tàu 5000 DWT trở lên.
Hình 2.1: Bến tàu Khu du lịch Ngọc Phát Riverside
Điểm nổi bật của đường thủy chính là việc thiếu các điểm dừng đậu, bến bãi dành cho phương tiện đường thủy phục vụ khách du lịch. Khu vực bến tàu Nguyễn Văn Trị tại trung tâm Tp. Biên Hòa hiện là bến chung của nhiều loại hình phương tiện và dịch vụ khác nhau vì vậy không đảm bảo vệ sinh và hình ảnh chuyên nghiệp cho việc khai thác du lịch.
Trên toàn tuyến có một số điểm đậu phương tiện cho khách tham quan được đầu tư tốt như tại Khu dịch vụ Ngọc Phát Riverside, Khu du lịch Ba Xê, Đảo Đồng Trường. Tuy vậy điểm Ngọc Phát Riverside là một điểm dừng chân nhỏ, bến đăng ký hiện nay là bến tàu gia đình. Ngoài các bến hiện được đầu tư tạm thời, không đảm bảo an toàn khi khai thác lâu dài như tại cù lao Ba Xê, các điểm dừng quan trọng còn lại như chùa Ông, làng gốm Tân Vạn đều không có bến an toàn cho du khách và phương tiện neo đậu.
Để cải thiện tình trạng này và hướng đến một tuyến du lịch đường sông đi vào hoạt động ổn dịnh và hiệu quả, Sở VHTT&DL và Sở GTVT Đồng Nai đang phối hợp để rà soát và trình UBND tỉnh xem xét hồ sơ bổ sung thêm bến đỗ thuyền du lịch vào quy hoạch. Theo dự kiến, những bến này phải được xây dựng đúng tiêu chuẩn làm du lịch, đó là phải đẹp, an toàn và phải có người đứng trạm tiếp đón có đủ trình độ chuyên môn để giới thiệu khách tham quan và chỉ sử dụng vào mục đích du lịch không xen vào các hoạt động khác.
Ngoài vấn đề nổi bật là bến đậu cho phương tiện và đón khách, độ tĩnh không các cây cầu như cầu Hiệp Hòa, cầu Hóa An cũ trong khu vực trung tâm quá thấp không đủ để tàu du lịch cỡ vừa và lớn có thể phục vụ dọc tuyến. Nếu nước xuống tàu lớn không di chuyển được, ngược lại nếu thủy triều lên cao thì lại bị vướng cầu. Vì thế chỉ có thể tổ chức tour với quy mô nhóm nhỏ hoặc đi bằng canô, tàu nhỏ dưới 25 khách/chuyến.
2.1.3. Về hoạt động khai thác
Hiện nay hoạt động khai thác du lịch tại cụm trung tâm gần như không có. Vào dịp lễ, tết chỉ có vài chục đoàn khách nội tỉnh sử dụng phương tiện vận chuyển là thuyền để đi tham quan, chủ yếu là vãn cảnh chùa. Một số chương trình đã được các doanh nghiệp địa phương chào bán, như chương trình “tắm sông câu cá”, “Viếng 10 cảnh chùa trên sông Đồng Nai”, nhưng lượng khách sử dụng không nhiều và không liên tục. Các công ty lữ hành của địa phương và từ thị trường nguồn chưa có tour khai thác trên tuyến này. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Các dịch vụ vui chơi giải trí gắn với sông nước tại cụm này chưa được khai thác. Các cơ sở lưu trú bao gồm khách sạn từ 4 sao trở xuống nằm trong phạm vi Tp. Biên Hòa. Hoạt động khai thác tại cụm Trị An, chủ yếu tại Đảo Ó – Đồng Trường chủ yếu có sôi động hơn, hàng tuần đều có vài chục đến vài trăm khách, chủ yếu là học sinh/ sinh viên đếm tham quan dã ngoại, cắm trại. Trong đó có một số rất ít khách nước ngoài. Tỷ lệ không đến 1% so với khách trong nước. Hoạt động du lịch của du khách ở khu vực này chủ yếu là tự túc, ít qua công ty lữ hành hay các đơn vị tổ chức hoạt động chuyên nghiệp.
Cơ sở vật chất cho vui chơi giải trí ở khu vực này còn rất nghèo nàn, gần như không có gì. Cơ sở lưu trú chỉ có 4 phòng nghỉ với dịch vụ hạn chế tại đảo Ó.
Theo thống kê không đầy đủ, số đơn vị kinh doanh vận chuyển là 5 đơn vị với khoảng 15 phương tiện vận chuyển khách có thể phục vụ khách du lịch với sức chứa 20 khách/phương tiện, chưa tính các phương tiện có sức chứa nhỏ hơn. Tại Đồng Trường có 1 tàu vận chuyển có sức chứa 30 khách. Công ty Tín Nghĩa trước đây đã đầu tư một du thuyền lên đến 70 khách nhưng hiện không khai thác.
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chỉ đáp ứng nhu cầu vận chuyển giữa hai điểm mà chưa đáp ứng được nhu cầu thư giãn, ngắm cảnh của du khách. Các phương tiện hiện có không được chăm chút về nội, ngoại thất, tiện nghi thiếu thốn, tiếng ồn lớn, rung lắc, không có khu vệ sinh sạch sẽ, không phục vụ ăn nhẹ, nước uống trên phương tiện. Vì không gian mở và tiếng ồn lớn nên hệ thống âm thanh không đủ phục vụ hoạt động thuyết minh, tham quan, có thể làm giảm giá trị điểm tham quan và ảnh hưởng đến việc theo dõi lịch trình của khách.
Đối với cụm trung tâm, cần có thêm các công trình mang tính điểm nhấn và xây dựng cảnh quan đặc trưng.
Đối với cụm Trị An, việc khai thác nên tập trung vào các sản phẩm là các tour du lịch xây dựng đội nhóm, các tour du lịch thể thao mạo hiểm trên sông.
Bên cạnh đó, việc đầu tư phương tiện hiện đại, phù hợp với thẩm mỹ và thị hiếu du khách cũng cần được quan tâm một cách nghiêm túc vì đối với du lịch đường sông, bản thân phương tiện cũng là một điểm tham quan, một điểm trải nghiệm mới mẻ đối với du khách.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hoạt động khai thác còn hạn chế, trong đó nổi bật lên một số nguyên nhân:
Nguyên nhân thứ nhất: Là việc xây dựng bến bãi theo quy định rất tốn kém, nằm ngoài khả năng của các doanh nghiệp nhỏ. Việc xây dựng một bến tàu hợp chuẩn theo quy định hiện hành sẽ tốn khoảng 2 tỷ đồng. Đây là một con số rất lớn đối với các doanh nghiệp địa phương. Vấn đề tiếp theo đặt ra sau khi xây bến bãi là quyền sở hữu, quản lý, thu phí thuộc về ai.
Nguyên nhân thứ hai: Là việc quản lý tài nguyên còn chồng chéo, gây lúng túng cho các đơn vị khai thác. Ví dụ tiêu biểu là hồ Trị An hiện được quản lý bởi 7 đơn vị, trong đó Khu bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai là đơn vị có ảnh hưởng mạnh.
Nguyên nhân thứ ba: Là việc xây dựng một sản phẩm cốt lõi đặc trưng cho du lịch sông Đồng Nai còn lúng túng mặc dù tài nguyên du lịch đặc sắc. Nguyên nhân này xuất phát sâu xa từ việc ngành du lịch chịu sự chi phối và quyết định của nhiều ngành khác nên khi triển khai nếu thiếu sự nhất trí đồng bộ của hàng loạt cơ quan liên quan thì kết quả sẽ không như mong muốn.
Qua khảo sát cho thấy, phần lớn các ý kiến của doanh nghiệp lữ hành cho rằng, nếu đưa vào khai thác, du lịch đường sông Đồng Nai nên khai thác như một sản phẩm liên tuyến. Biểu đồ tỉ lệ ý kiến doanh nghiệp dưới đây cho thấy rõ điều đó.
Biểu đồ 2.3: Ý kiến doanh nghiệp về hướng khai thác Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Ở góc độ xây dựng sản phẩm, các ý kiến của du khách tiềm năng từ thị trường nguồn cho rằng tour du lịch kéo dài 1 ngày là phù hợp nhất (24%), trong chương trình 1 ngày, đa phần muốn tham quan từ 3 đến 5 điểm.
Biểu đồ 2.4: Ý kiến du khách tiềm năng về thời lượng
Biểu đồ 2.5: Ý kiến du khách tiềm năng về số lượng điểm tham quan trong
Khảo sát cũng cho thấy, số tiền du khách tiềm năng sẵn sàng chi trả cho một tour 1 ngày như trong biểu đồ sau đây.
Biểu đồ 2.6: Số tiền du khách tiềm năng sẵn sàng chi trả
Để góp phần định hướng rõ hơn việc xây dựng sản phẩm để khai thác tuyến du lịch đường sông Đồng Nai, các dữ liệu sau đây từ khảo sát thị trường nguồn cần được xem xét.
Đối với các điểm tham quan, dừng chân, du khách cho rằng môi trường sạch sẽ là quan trọng nhất như trong biểu đồ dưới đây.
Biểu đồ 2.9: Các đặc điểm của điểm tham quan được
Thông qua hai dữ kiện trên có thể thấy sự sạch sẽ là điều du khách quan tâm nhiều nhất trong quá trình tham gia chương trình du lịch. Nhìn chung các điểm du lịch trên tuyến hiện nay được giữ vệ sinh ở mức trung bình, vì vậy khi đưa vào khai thác mạnh, đón lượng khách nhiều hơn, phải rất lưu ý đến việc giữ gìn vệ sinh.
Về việc ăn uống khi đi du lịch trên thuyền, khảo sát cho thấy khách thích được bố trí ăn uống nhất là ở trên tàu và tại nhà vườn như các dữ liệu dưới đây.
Đối với hoạt động vào buổi tối, các số liệu sau đây sẽ cho biết mong muốn của du khách tiềm năng từ thị trường nguồn.
Và nếu chương trình diễn ra hơn 1 ngày, phải ngủ đêm trong tour, ý kiến trả lời khảo sát của du khách tiềm năng như sau.
Các đối tượng khách được phỏng vấn trong khảo sát cũng cho biết người mà họ thích đi cùng trong chương trình du lịch đường sông Đồng Nai qua biểu đồ dưới đây.
Biểu đồ 2.13: Các đối tượng du khách tiềm năng
Số liệu cho thấy du khách tiềm năng thích đi cùng nhóm bạn nhất, tiếp theo đó là đi cùng gia đình, sau đó lần lượt là đi cùng người yêu, đồng nghiệp, chỉ 4% lựa chọn đi một mình.
Cuối cùng là việc lựa chọn sản phẩm làm quà tặng sau tour của du khách tiềm năng từ thị trường nguồn như biểu đồ sau.
Để có thể khai thác được du lịch đường sông, theo các doanh nghiệp lữ hành, những yếu tố cần ưu tiên lần lượt có dự liệu như biểu đồ dưới đây. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Biểu đồ 2.15: Các yếu tố cần ưu tiên để phát triển
Rõ ràng việc hoàn thiện dịch vụ là yếu tố đầu tiên cần ưu tiên, tiếp theo là việc tổ chức các điểm đến và xây dựng chính sách phát triển. Tổ chức điểm đến và hoàn thiện dịch vụ về mặt bản chất chính là xây dựng và hoàn thiện sản phẩm để bán. Nhận xét này của các doanh nghiệp cũng cho thấy thực tế là dịch vụ hiện nay chưa hoàn thiện cũng như các điểm đến còn chưa được tổ chức bài bản.
Tuy vậy, để phát triên du lịch, các doanh nghiệp cho rằng nên tận dụng lợi thế cảnh quan tự nhiên và khoảng cách từ thị trường nguồn.
Để đẩy mạnh việc khai thác thông qua việc bán tour, các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ từ tỉnh Đồng Nai bằng việc thông tin điểm đến, có cơ chế hợp tác quảng bá, cơ chế hợp tác đón khách, tạo điều kiện đặt văn phòng đại diện. Số liệu về nhu cầu hỗ trợ này như trong biểu đồ dưới đây.
2.1.4. Về xúc tiến, quảng bá
Công tác xúc tiến, quảng bá chung về du lịch Đồng Nai thời gian qua đã được cơ quan quản lý nhà nước quan tâm và thực hiện khá bài bản. Các sản phẩm đã được thực hiện công phu, hiện đại như Bản đồ du lịch Đồng Nai, Sách hướng dẫn du lịch Đồng Nai, website của trung tâm xúc tiến du lịch Đồng Nai. Các hội chợ di lịch cũng được tổ chức và du lịch Đồng Nai cũng góp mặt tại nhiều hội chợ du lịch trong vùng và trong nước. Tuy vậy, với quá nhiều lợi thế và tài nguyên, thông điệp và hình ảnh đặc trưng của du lịch Đồng Nai chưa được xác định rõ ràng. Trong bối cảnh đó, việc xúc tiến, quảng bá riêng cho du lịch đường sông Đồng Nai khó có thể đạt đến sự nhất quán và nỗi bật. Bên cạnh đó, cốt lõi của công tác xúc tiến, quảng bá vẫn là sản phẩm. Việc xúc tiến, quảng bá đều phải dựa trên sản phẩm. Trong khi sản phẩm du lịch đường sông Đồng Nai chưa định hình chắc chắn, công tác xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ có thể trở thành còn dao hai lưỡi, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch chung đang đi đến của Đồng Nai.
Các con số ý kiến khảo sát từ thị trường nguồn cho thấy sự nhận biết của du khách tiềm năng về tour du lịch sông Đồng Nai cũng như các danh thắng của các cụm tài nguyên như dưới đây. Các số liệu này phần nào phản ánh công tác quảng bá du lịch đường sông của Đồng Nai.
Về sản phẩm du lịch lữ hành, kênh quảng bá tốt nhất là qua chính các doanh nghiệp lữ hành. Thông lệ chung là tổ chức các chương trình khảo sát làm quen (famtrip) dành cho đại diện các doanh nghiệp lữ hành để giới thiệu các điểm đến, các sản phẩm để các doanh nghiệp góp ý hoặc có thể tiến hành khai thác ngay. Hiện chưa có một chương trình khảo sát dành riêng cho du lịch sông Đồng Nai.
Bên cạnh kênh quảng bá của doanh nghiệp lữ hành, trong bối cảnh hiện nay, không thể không kể đến kênh truyền thông đa phương tiện và internet. Theo khảo sát nghiên cứu 57% ý kiến người được hỏi cho rằng Đồng Nai nên quảng bá qua mạng xã hội, 18% cho rằng nên quảng bá qua tivi, chỉ 6% cho rằng nên quảng bá qua tờ rơi phát ở hội chợ. Rõ ràng thị trường hiện này, đặc biệt là du khách có độ tuổi thanh niên, thiếu niên coi mạng xã hội và các kênh truyền thông qua internet là một kênh chính thống và gần gũi nhất. Hiện du lịch đường sông Đồng Nai vẫn chưa xây dựng được kênh quảng bá thông qua mạng xã hội.
Các số liệu sau đây cho thấy các kênh quảng bá mà khách từ thị trường nguồn biết đến du lịch Đồng Nai.
Các du khách tiềm năng cũng như doanh nghiệp cho ý kiến về các kênh quảng bá hiệu quả nhất với du lịch đường sông Đồng Nai như sau: Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Các dữ liệu trên cho thấy vai trò quan trọng của internet, đặc biệt là các mạng xã hội trong truyền thống và quảng bá du lịch nói chung, du lịch đường sông Đồng Nai nói riêng trong bối cảnh ngày nay.
Tuy vậy ở một góc nhìn khác, các công ty du lịch cũng sẽ góp phần quan trọng vào công tác quảng bá khi có đến 57% du khách tiềm năng được hỏi muốn đi du lịch sông Đồng Nai qua các công ty du lịch.
Biểu đồ 2.22: Các hình thức khi đi du lịch đường sông
Dữ liệu nói trên còn gợi ý cho việc khai thác thị trường cũng như định hướng phục vụ du khách một cách chuyên nghiệp, không thể tổ chức một cách manh mún, tự phát.
Ngoài ra, công tác xúc tiến quảng bá cho sản phẩm du lịch của một địa phương đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực của đại diện chính quyền địa phương. Các lãnh đạo tỉnh, huyện xã cần trực tiếp tham gia giới thiệu sản phẩm, gặp gỡ doanh nghiệp để tạo niềm tin cho doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh, đầu tư khai thác sản phẩm.
2.1.5. Về nguồn nhân lực
Nhân lực luôn là yếu tố quyết định của ngành dịch vụ du lịch vì vậy khi nghiên cứu, không thể đặt vấn đề nhân lực ra ngoài phạm vi dịch vụ, Qua khảo sát, tác giả nhận thấy sự nhiệt tình ủng hộ của các chủ doanh nghiệp và cộng đồng địa phương. Đội ngũ nhân viên phục vụ nhìn chung còn trẻ, nhiệt tình, yêu công việc. Đây là tín hiệu tốt cho việc phát triển các hoạt động khai thác du lịch. Tuy vậy, do hoạt động kinh doanh tự phát, chủ yếu phục vụ khách dễ tính, phục vụ nhu cầu tại địa phương nên đội ngũ phục vụ còn thiếu tính chuyên nghiệp. Một số kỹ năng và kiến thức cơ bản của những người phục vụ tại các điểm tham quan còn thiếu là:
- Kỹ năng đón tiếp khách
- Kỹ năng thuyết minh, hướng dẫn tham quan
- Kỹ năng đảm bảo an toàn
- Kỹ năng phục vụ ăn uống
- Kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm
Nếu không chuẩn bị đầu tư nguồn nhân lực sớm, khi sản phẩm được giới thiệu và những khách đầu tiên đến với du lịch sông Đồng Nai nhưng không được phục vụ chu đáo thì hình ảnh cho du lịch sông Đồng Nai rất dễ bị ảnh hưởng.
Yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực là phải tiến hành đào tạo nhanh chóng và trực tiếp ngay tại đơn vị kinh doanh thông qua đội ngũ đào tạo viên có kinh nghiệm nghiệp vụ và các phương pháp giảng dạy hiện đại.
2.2. PHÂN TÍCH SWOT Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Các điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức đối với du lịch đường sông Đồng Nai được thể hiện trong sơ đồ dưới đây. Sau sơ đồ là phân tích chi tiết cho từng yếu tố của các khía cạnh.
| Điểm mạnh (S) | Điểm yếu (W) |
| – Là một con sông lớn, có cảnh quan đẹp chạy qua Tp. Biên Hòa.
– Có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nổi tiếng trên dọc tuyến sông Đồng Nai. – Có chủ trương phát triển rõ ràng. – Cư dân địa phương ủng hộ phát triển du lịch. |
– Quản lý chồng chéo
– Còn thiếu bến đậu phương tiện phù hợp cho du lịch. – Khẩu độ thông thuyền ở khu vực trung tâm Tp. Biên Hòa thấp. – Phương tiện vận chuyển chưa phù hợp với hoạt động du lịch hiện đại |
| – Khoảng cách gần thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh.
– Tuyến đường sông nối trực tiếp với thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh – Tài nguyên du lịch dọc tuyến đa dạng |
– Cảnh quan hai bờ chưa có điểm nhấn
– Sản phẩm chưa thành hình – Tuyên truyền quảng bá còn hạn chế – Năng lực của nguồn nhân lực còn hạn chế |
| Cơ hội (O) | Thách thức (T) |
| – Nhu cầu chung của xã hội về du lịch thiên nhiên và du lịch văn hóa – lịch sử có xu hướng tăng lên
– Dân số trẻ, sống và lao động tập trung – Nhiều công ty lữ hành đang tìm kiếm sản phẩm mới – Nhiều nhà đầu tư địa phương có thực lực và quyết tâm – Tp. Hồ Chí Minh cũng có kế hoạch phát triển du lịch đường thủy. |
– Các địa phương xung quanh Tp. Hồ Chí Minh có sản phẩm du lịch tương tự đã được khẳng định từ lâu.
– Việc quy hoạch các cơ sở sản xuất gốm trong tương lai gần. – Ô nhiễm môi trường nước sông – Đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu lớn |
2.2.1. Điểm mạnh Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
2.2.1.1. Có chủ trương phát triển rõ ràng:
Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương phát triển du lịch, trong đó có du lịch đường sông một cách rõ ràng. Tiêu biểu phải kể đến chương trình hành động phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Chương trình hành động đã nêu rõ đối với phát triển du lịch đường sông:
- Đầu tư xây dựng các bến thủy nội địa phục vụ phát triển du lịch đường sông (bến Hồ Trị An, bến Bửu Long, bến đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh …).
- Nâng cấp chất lượng điểm đến trên tuyến du lịch đường sông và bổ sung một số dịch vụ tại điểm du lịch cù lao Ba Xê, làng bưởi Tân Triều …
- Liên kết ngành du lịch Tp. Hồ Chí Minh để xây dựng chương trình du lịch đường sông và khuyến khích các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài tỉnh đưa vào các chương trình khai thác.
Chỉ thị đẩy mạnh phát triển du lịch yêu cầu sự phối hợp của nhiều ban ngành, đoàn thể và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh để hỗ trợ cho việc phát triển du lịch, đặc biệt đối với Sở Giao thông Vận tải là “hỗ trợ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, đơn vị xây dựng, nâng cấp các cảng sông, bến thủy nội địa đón và trả khách, đặc biệt là các bến phục vụ khách du lịch nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển tuyến du lịch đường sông; khuyến khích phát triển, nâng cao chất lượng phương tiện vận tải phục vụ vận chuyển khách du lịch trên các tuyến đường thủy nội địa trong tỉnh và liên tỉnh”.
- Cư dân địa phương ủng hộ phát triển du lịch:
Qua khảo sát, cộng đồng địa phương tại các điểm tài nguyên, cư dân địa phương đều tỏ thái độ ủng hộ và chờ đợi sự tổ chức, hướng dẫn của cơ quan quan lý Nhà nước. Cộng đồng địa phương cho rằng phát triển du lịch sẽ tạo ra cơ hội để cải thiện đời sống cũng như thay đổi bộ mặt của thôn làng. Cộng đồng tại các khu vực xa như Đảo Ó, Đồng Trường cảm thấy vui khi được đón tiếp du khách và coi việc du khách lưu trú lại là một việc tốt cần khuyến khích.
- Khoảng cách gần thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh:
Tp. Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả nước. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của cả nước nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm 63.27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Năm 2025, lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn thành phố gồm 4.268.000 người, năm 2024 là 4.187.000 người. Tính chung trong 9 tháng đầu năm 2025, GDP đạt 404.720 tỷ đồng, tăng khoảng 8,7%. Năm 2024, GDP đạt khoảng 9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạt khoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5%. GDP bình quân đầu người đạt 3.900 USD.
Tổng lượng khách quốc tế đến thành phố trong 9 tháng đầu năm 2025 ước đạt 2.392.648 lượt, tăng 9,1% so với cùng kỳ và đạt 54,3% kế hoạch năm 2024 (4.400.000 lượt). Tổng doanh thu du lịch thành phố (lữ hành, khách sạn, nhà hàng) ước đạt 51.965 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Dữ liệu trên cho thấy tầm vóc và sự quan trọng của thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh. Lợi thế của du lịch đường sông Đồng Nai chính ở khoảng cách địa lý khá gần với thị trường nguồn này.
Cụm tài nguyên trung tâm Tp. Biên Hòa cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 40km. Với mật độ lưu thông bình thường, thời gian di chuyển bằng xe ô tô từ Tp. Hồ Chí Minh đến Tp. Biên Hòa hết khoảng 45 phút đến 60 phút. Đây là khoảng thời gian phù hợp cho dân cư Tp. Hồ Chí Minh tiếp cận điểm đến trong các chương trình du lịch cuối tuần.
Cụm tài nguyên hồ Trị An cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 85km, thời gian di chuyển bằng ô tô khoảng 100 phút đến 120 phút. Đây là khoảng thời gian phù hợp để du khách từ thị trường nguồn có được cảm giác “thay đổi không khí” thực sự mà không phải đi quá xa. Với điều kiện như vậy, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, các hoạt động ngoài trời cho công nhân viên chức từ thành phố là hết sức hợp lý.
Khoảng cách gần thị trường nguồn không chỉ là cơ hội đón khách mà còn là lợi thế trong các hoạt động truyền thông, quảng bá, xúc tiến du lịch cũng như các hoạt động tiếp thị, giới thiệu hình ảnh …
2.2.1.4. Tuyến đường sông nối trực tiếp với thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh:
Ngoài lợi thế về vị trí địa lý gần với thị trường nguồn, Đồng Nai còn có con sông có phần hạ lưu chảy xuôi qua Tp. Hồ Chí Minh. Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh với chiều dài trên 437km và lưu vực 38.600 km², nếu tính từ đầu nguồn sông Đa
Đưng thì dài 586 km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongour thì dài 487 km. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh). Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi), …
Lợi thế này giúp tạo cơ hội để đón khách từ Tp. Hồ Chí Minh bằng phương tiện thủy cũng như nối các tuyến du lịch sông Sài Gòn với các tuyến du lịch sông Đồng Nai.
Trong đầu tháng 11 năm 2025, tác giả đã tổ chức thí điểm đón khách từ Tp. Biên Hòa và chạy xuôi sông Đồng Nai về sông Sài Gòn bằng tàu du lịch cao cấp.
Chương trình diễn ra tốt đẹp, để lại ấn tượng tốt với du khách.
2.2.1.5. Tài nguyên du lịch dọc tuyến đa dạng và đã được biết đến:
Tại cụm trung tâm, các điểm tham quan đều có giá trị văn hóa lịch sử độc đáo, nổi bật nhất phải kể đến chùa Ông và làng gốm Tân Vạn. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Chùa Ông tọa lạc trên một thế đất đẹp, rộng khoảng 3000m², bên tả ngạn sông Đồng Nai. Chùa được ngăn cách với bên ngoài bởi bức tường gạch cao 2,5 mét, có bốn con Lân bằng đá ngồi ở bốn góc. Mặt tiền chùa nhìn ra sông Đồng Nai. Trước cổng chùa có cây si cổ thụ tỏa bóng mát, in hình trên dòng sông nước chảy hiền hòa ngay trước cổng chùa. Tất cả đã tạo cho chùa Ông có một quang cảnh thoáng mát, nên thơ nhưng cũng thật thâm u cổ kính, chinh phục lòng người. Chùa Ông được xây dựng vào năm 1684. Đây là ngôi chùa Hoa được xây dựng sớm nhất ở Nam Bộ, gắn bó với sự thịnh suy của lịch sử cộng đồng ngời Minh Hương ở vùng Đất Phương Nam.
Chùa Ông được trùng tu vào năm 1817, 1868, 1894. Năm 1968 – 1969, tu sửa trang trí nội thất trong chùa. Riêng Quan Âm của các phía sau chánh điện do ông Bang Ngầu (người Hoa) tái thiết lại vào năm 1927 theo lối kiến trúc hiện đại và được giữ nguyên hiện trạng cho đến ngày nay. Chùa Ông được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thế thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc cấp quốc gia theo Quyết định số 04/2001/QĐ – BVHTT ngày 19 – 01 – 2001.
Đặc sắc của gốm Biên Hòa đó là nghề làm gốm lu xuất phát từ những thợ gốm người Hoa ở Biên Hòa lập nên. Nửa cuối thế kỷ XIX (1875), nhiều lò gốm gia dụng ở Tân Vạn đã bắt đầu hình thành. Các phường Tân Vạn, Bửu Hòa, xã Hòa An có gần 100 xưởng gốm mỹ nghệ lớn nhỏ. Gốm mỹ nghệ Biên Hòa chỉ trong ba phần tư thế kỷ đã lan tỏa thành gốm Bình Dương, gốm Tp. Hồ Chí Minh, gốm Vĩnh Long. Kỹ thuật làm gốm không bàn xoay độc đáo, được đẩy lên hàng nghệ thuật với các sản phẩm cỡ lớn thực sự là dấu ấn quan trọng chứng minh giá trị của tài nguyên phi vật thể này.
Bên cạnh các Tài nguyên du lịch nhân văn nổi bật ở cụm trung tâm, các tài nguyên du lịch tự nhiên của cụm Trị An cũng hết sức có giá trị. Hồ Trị An được khởi công vào năm 1984 và hoàn thành vào đầu năm 1987. Hồ có dung tích toàn phần 2,765 km3, dung tích hữu ích 2.547 km3 và diện tích mặt hồ 323 km². Hồ được thiết kế để cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Trị An công suất 400mw với sản lượng điện hằng năm 1,7 tỷ kwh. Nằm trên hồ Trị An, cùng với đảo Đồng Trường, đảo Ó được ví như một viên ngọc hoang dã.
2.2.2. Điểm yếu
2.2.2.1. Quản lý chồng chéo:
Công tác quản lý là nền tảng quan trọng để giúp cho hoạt động du lịch phát triển. tài nguyên du lịch có một đặc điểm là mang tính sở hữu chung. Chính đặc điểm này gậy khó khăn cho phát triển đặc biệt khi công tác quản lý chồng chéo.
Vấn đề quản lý chồng chéo đặc biệt ở cụm Trị An. Ở cụm nay như khảo sát cho thấy có đến 7 đơn vị quản lý liên quan đến mặt nước hồ từ khu bảo tồn sinh thái – văn hóa, Chi cục Thủy Sản, Biên Phòng, Nhà máy thủy điện, Ủy ban nhân dân xã … Công ty du lịch đang khai thác tại đây không được quyền khai thác phát triển nếu không có ý kiến của các cấp quản lý. Mỗi hoạt động khai thác nếu không đụng chạm đến việc quản lý của đơn vị này thì sẽ đụng chạm đến việc quản lý của đơn vị khác. Chưa kể có thể cùng một vấn đề nhưng các bên quản lý khác nhau sẽ đưa ra những hướng dẫn khác nhau gây khó khăn cho doanh nghiệp khi ra quyết định. Cuối cùng điều này cản trở việc đón tiếp cũng như phục vụ khách kéo theo việc không thể đẩy mạnh phát triển du lịch Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
2.2.2.2. Còn thiếu bến đậu phương tiện tàu/ thuyền phục vụ du lịch:
Điểm yếu nổi bật nhất dễ nhận ra qua khảo sát cũng như qua ý kiến của các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp là các bến đậu hiện nay chưa phù hợp cho hoạt động du lịch. Khu vực bến tàu tại trung tâm Tp. Biên Hòa còn kém vệ sinh, chủ yếu phục vụ chuyên chở hàng hóa và người buôn bán. Trên các cụm trung tâm và Trị An, các bến đậu hầu hết còn tạm bợ, có điểm còn chưa có bến đậu (chùa Ông).
Yêu cầu đầu tiên của các điểm đón tiếp khách như bến tàu, bến xe phục vụ du lịch đó là sạch, đẹp, an toàn. Bên cạnh đó các điểm này còn phải có các dịch vụ hỗ trợ khác như khu vệ sinh, trạm thông tin, điểm dừng chân, xếp hàng, quầy đồ uống … Chưa kể đến các yếu tố khác như thiết kế điểm đón và tiễn một chiều hoặc hai chiều phù hợp với đặc điểm của điểm tham quan. Các bến, đặc biệt là bến chính cũng thường đóng vai trò một điểm tham quan với các biểu tượng kiến trúc độc đáo. Trên toàn tuyến hiện nay chưa có điểm nào như vậy.
Trong điều kiện hiện nay, các bến phà đón khách phải đáp ứng đủ yêu cầu như hướng dẫn của Thông tư 22/2024 của Bộ Giao thông Vận tải:
Có giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa theo quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa, giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện thủy nội địa còn hiệu lực, có bảo hiểm trách nhiệm dân sự còn hiệu lực và các giấy tờ khác có liên quan theo quy định của pháp luật; kẻ hoặc gắn biển số đăng ký phương tiện thủy nội địa, sơn kẻ vạch dấu mớn nước an toàn của phương tiện thủy nội địa, số lượng hành khách được phép chở trên phương tiện thủy nội địa;
- Đạt tiêu chuẩn chất lượng và được cơ quan đăng kiểm xác nhận đủ điều kiện được phép hoạt động;
- Được trang bị đủ số lượng, đúng chủng loại các trang thiết bị, dụng cụ cứu sinh, cứu đắm, phòng cháy, chữa cháy theo quy định;
- Có ghế ngồi cho người khuyết tật, người già, phụ nữ có thai và trẻ em khi đi phà;
- Lưỡi phà (phần tiếp giáp với lưỡi bến khi phà cập bến) phải chắc chắn, không trơn trượt, không lồi lõm, không để chướng ngại vật.
2.2.2.3. Khẩu độ thông thuyền ở khu vực trung tâm Tp. Biên Hòa thấp:
Một trong những điểm thú vị của du lịch đường sông nói chung là du khách cảm giác được hòa mình vào thiên nhiên khi ngắm trời nước bao la từ giữa sông.
Muốn mang lại cảm giác đó, khách phải đứng trên phương tiện vận chuyển có chiều cao nhất định và tầm nhìn không bị che chắn. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Các phương tiện đáp ứng được yêu cầu trên phải đi qua được gầm cầu. Đây chính là điểm yếu mấu chốt khiến cho việc phát triển du lịch đường sông không chỉ ở Đồng Nai mà cả ở Tp. Hồ Chí Minh trở nên khó khăn. Ví dụ khẩu độ thông thuyền của cây cầu mới là cầu Bửu Hòa nối hai bờ Bửu Hòa và Hiệp Hòa là 8m.
Khẩu độ này không đảm bảo cho tàu du lịch cỡ lớn và đến mùa nước lớn cũng không đáp ứng được đòi hỏi phục vụ khách.
2.2.2.4. Phương tiện vận chuyển chưa phù hợp với hoạt động du lịch hiện đại:
Hiện nay các phương tiện vận chuyển khách ở địa phương hiện chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch hiện đại. Khách du lịch ngày nay thích các phương tiện hiện đại, an toàn, có thể sang trọng có thể đơn giản nhưng dứt khoát phải có đủ tiện nghi. Các phương tiện hiện đại vừa là phương tiện vận chuyển nhưng cũng là một loại nhà hàng, thậm chí là cơ sở lưu trú. Nguồn thu từ việc bán đồ ăn, thức uống trên phương tiện là một nguồn thu không nhỏ. Bên cạnh đó trong quá trình ngắm cảnh du khách cũng có mong muốn biết thêm về điểm đến thông qua việc thuyết minh hướng dẫn, và phương tiện phải đáp ứng được hệ thống âm thanh để đáp ứng được sự mong đợi của du khách, đặc biệt đối với du khách quốc tế nhu cầu này càng cao.
Với các phương tiện di chuyển trong thời gian dài, việc có đủ tiện nghi như vệ sinh, âm thanh, càng trở nên quan trọng. Các phương tiện hiện có của địa phương chỉ dừng ở mức đáp ứng nhu cầu di chuyển giữa hai điểm đến. Chỉ có một phương tiện được đầu tư lớn nhưng hiện không đưa vào hoạt động.
2.2.2.5. Cảnh quan hai bờ chưa có điểm nhấn:
Đối với du lịch đường sông ngoài những điểm tham quan với nhiều hoạt động hấp dẫn thì bản thân cảnh quan hai bờ cũng rất quan trọng, vì khi di chuyển trên sông, du khách sẽ nhanh chóng cảm thấy nhàm chán với cảnh vật đều đều, không có sự tương phản. Cảnh quan hai bờ càng quan trọng hơn nếu muốn khai thác dịch vụ vào buổi tối. Cảnh quan hai bờ phụ thuộc vào các công tình kiến trúc nhân tạo hoặc các thành tạo tự nhiên. Tuy vậy, cảnh quan hai bờ phụ thuộc rất nhiều vào công tác quy hoạch phát triển đô thị ở tầm vĩ mô của địa phương. Nếu các công trình kiến trúc được quy hoạch với vẻ đẹp hướng ra sông và trang trí ánh sáng để có thể quan sát được vào buổi tối sẽ là một lợi thế tốt cho việc du lịch đường sông.
Hiện nay cảnh quan hai bên bờ ở cụm trung tâm chưa có gì đặc sắc ngoại trừ mái một ngôi chùa Kh’me. Một đôi chỗ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp còn tạo ra cảnh mất vệ sinh, nhếch nhác, đặc biệt là khu vực nuôi cá bè Tân Mai.
2.2.2.6. Sản phẩm chưa thành hình:
Với những hạn chế kể trên, điều dễ dàng nhận thấy là sản phẩm du lịch đường sông Đồng Nai chưa thành hình và có nguy cơ dừng lại từ trứng nước. Sản phẩm du lịch là tổng hợp các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và các yếu tố khác phục vụ được liên kết lại một cách hệ thống và hợp lý để phục vụ nhu cầu của du khách trong quá trình đi du lịch. Vì vậy sản phẩm du lịch không chỉ là các tour, tuyến mà còn là các yếu tố tạo nên ấn tượng, trải nghiệm của khách như hình ảnh về điểm đến, khoảng cách từ thị trường nguồn. Các điểm tham quan, dừng chân hiện nay trên tuyến chưa có sự liên kết thành một chuỗi dịch vụ an toàn, hấp dẫn.
2.2.2.7. Tuyên truyền quảng bá có hạn chế: Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Công tác quảng bá du lịch của tỉnh Đồng Nai thời gian qua có nhiều điểm tích cực với việc xây dựng các tài liệu hướng dẫn thông tin du lịch, tham gia các hội chợ … Tuy vậy, để phát triển du lịch đường sông Đồng Nai như một sản phẩm riêng biệt và là điểm nhấn quan trọng thì công tác tuyên truyền quảng bá hiện còn hạn chế. Hiện chưa có các chương trình quảng bá, tuyên truyền dành riêng cho du lịch đường sông. Du lịch đường sông Đồng Nai hiện chưa có một hình ảnh, một thông điệp riêng để tiếp cận thị trường, vì vậy không dễ cho các công ty lữ hành tiếp thị.
Công tác tuyên truyền quảng bá còn hạn chế. Ngoài kênh thông tin như ấn phẩm, hội chợ, du lịch đường sông Đồng Nai còn chưa có các kênh quảng bá trực tuyến như các trang tương tác với người quan tâm qua các mạng xã hội hoặc qua các hiệp hội nghề, câu lạc bộ lữ hành của các địa phương.
2.2.2.8. Năng lực của nguồn nhân lực còn hạn chế:
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của dịch vụ.
Đội ngũ nhân lực phục vụ du lịch đường sông vừa phải có kỹ năng phục vụ như những nhân viên bình thường vừa phải được trang bị những kỹ năng, kiến thức về cứu hộ, cứu nạn, về hướng dẫn và tổ chức giải trí cho khách trên phương tiện.
Hiện nay đội ngũ nhân lực phục vụ du lịch đường sông Đồng Nai còn thiếu nhiều kỹ năng quan trọng. đội ngũ phục vụ trực tiếp như các tài công, nhân viên phục vụ nhà hàng, thuyết minh viên điểm đến còn chưa có thái độ phục vụ khách chuyên nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, thái độ và kỹ năng của người lao động ảnh hưởng lớn nhất đến hình ảnh ngành du lịch một địa phương. Mặc dù có lợi thế về tài nguyên về du lịch đường sông được nêu trên, nhưng nếu như nguồn nhân lực không được đào tào cơ bản về kỹ năng, nghiệp vụ phục vụ khách thì việc khai thác tài nguyên không dễ dàng, trái lại nó có thể trở thành yếu tố gây hại cho tài nguyên.
2.2.3. Cơ hội
2.2.3.1. Nhu cầu của xã hội về du lịch thiên nhiên có xu hướng tăng lên:
Du lịch nói chung và du lịch thiên nhiên gần đây trở nên một hoạt động xã hội phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế kéo theo việc thu nhập của người dân được nâng lên, từ đó kéo theo trình độ dân trí ngày càng cao. Thời gian lao động có xu hướng giảm xuống, các kỳ nghỉ được chính phủ sắp xếp dài hơn. Những lý do này khiến người dân dễ dàng đưa ra quyết định đi du lịch. Mặt trái của phát triển kinh tế chính là hoạt động đô thị hóa và ô nhiễm môi trường. Những yếu tố tiêu cực này khiến các mảng xanh trong đô thị ngày càng bị thu hẹp hoặc bị đẩy ra xa đô thị. Kinh tế phát triển cũng kéo theo nhịp sống căng thẳng, bộn bề lo toan. Trong khi cuộc sống ngày càng nhiều sức ép, môi trường thiên nhiên trở thành một tài sản quý giá. Con người có mong muốn “chạy trốn” khỏi đo thị ồn ào để tái tạo sức lao động. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến xu thế du lịch tìm về thiên nhiên hiện nay. Các loại hình như du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm ngày càng thu hút nhiều đối tượng du khách tham gia. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Thị trường du lịch Việt Nam. Đặc biệt các thành phố lớn cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Du lịch đường sông Đồng Nai với sự đa dạng và có phần nguyên sơ sẽ có cơ hội khẳng định giá trị nếu được khai thác đúng cách.
2.2.3.2. Dân số trẻ, sống và lao động tập trung:
Đồng Nai hiện có hơn 900 ngàn lao động đang làm việc tại các khu công nghiệp, trong đó có hơn 50% là lao động nhập cư; 95% đối tượng lao động nhập cư thuộc diện lao động trẻ, có sức khỏe, số lao động sống độc thân cao, gia đình ít con … điều này không chỉ tạo cho cơ cấu dân số Đồng Nai trẻ hóa trong những năm qua mà còn đang chuyển dịch Đồng Nai từ cơ cấu dân số trẻ sang thời kỳ “dân số vàng” (dân số trong độ tuổi lao động tăng cao và tỉ lệ dân số phụ thuộc giảm).
Ngoài ra, cuối năm 2025, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn tỉnh đạt 2,361 triệu đồng/người/tháng; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống đáng kể từ 5,61% năm 2024.
Đây là thị trường tiềm năng cho hoạt động du lịch nói chung và du lịch đường sông nói riêng. Nhóm khách này có thể có khả năng chi trả không cao nhưng bù lại có số lượng lớn, đòi hỏi dịch vụ không khắt khe và sẵn sàng ủng hộ địa phương.
2.2.3.3. Nhiều công ty lữ hành đang tìm kiếm sản phẩm mới:
Nhu cầu xã hội về du lịch tăng cao, kéo theo sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty lữ hành, dẫn đến hệ quả là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này ngày càng mạnh mẽ. Với ngành kinh doanh lữ hành, cạnh tranh về sản phẩm mới với những điểm nhấn mới là một hình thức cạnh tranh phổ biến và đương nhiên cho thị hiếu tiêu dùng của du khách là luôn hướng đến cái mới.
Nhu cầu của du khách tiềm năng đến các điểm đến truyền thống quanh thành phố từ thị trường nguồn là Tp. Hồ Chí Minh gần đây đã có dấu hiệu bão hòa. Người tiêu dùng chờ đợi những sản phẩm mới. Các công ty lữ hành vì thế ráo riết tạo ra những sản phẩm mới với dịch vụ độc đáo nhưng những điểm đến mới có thể khai thác một cách an toàn, liên tục luôn là bài toán đau đầu.
Du lịch đường sông Đồng Nai với một loạt điểm đến mới mẻ, đa dạng, độc đáo, gần về vị trí địa lý thực sự là điều mà các công ty lữ hành chờ đợi. Cơ hội để xây dựng một thị trường khách ổn định thông qua các doanh nghiệp lữ hành là hoàn toàn khả thi. Tuy vậy yếu tố cốt lõi vẫn là “có cái gì để bán” nghĩa là bản chất của sản phẩm phải là một sản phẩm sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách cũng như của công ty lữ hành, những người duy trì một lượng khách đều đặn và có kế hoạch giúp hoạt động kinh doanh của địa phương đảm bảo mục tiêu đề ra một cách ổn định và có khả năng dự báo cao.
2.2.3.4. Nhiều nhà đầu tư địa phương có thực lực và quyết tâm:
Cơ hội phát triển của du lịch đường sông Đồng Nai còn ở chỗ có sự xuất hiện của những nhà đầu tư địa phương có thực lực đồng thời có quyết tâm và có tình yêu quê hương. Các doanh nghiệp này có thể kể đến như doanh nghiệp Ngọc Phát, Thăng Long, gốm Phong Sơn. Các doanh nghiệp này có lợi thế về sự am hiểu hoạt động kinh doanh tại địa phương. Họ có kinh nghiệm, kinh doanh phục vụ du khách ở những cấp độ khác nhau.
Qua phỏng vấn sâu, các doanh nghiệp thể hiện quyết tâm đầu tư phát triển nếu được chính quyền tạo điều kiện và đảm bảo một chính sách bền vững. Các doanh nghiệp cũng nhận thức được việc học tập mô hình thành công của những doanh nghiệp tại Tp. Hồ Chí Minh để áp dụng cho việc phát triển của mình. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
2.2.3.5. Cần liên kết này trong sự phát triển du lịch đường sông:
Cơ hội phát triển và kết nối của du lịch đường sông Đồng Nai với du lịch đường sông Tp. Hồ Chí Minh là hết sức rõ ràng và hiển nhiên vì bản thân Tp. Hồ Chí Minh cũng đã bước đầu triển khai kế hoạch phát triển du lịch đường thủy trên sông Sài Gòn và kết tuyến kết nối. tại Tp. Hồ Chí Minh có đến hơn 20 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch đường sông với các hình thức đa dạng như nhà hàng nổi, tham quan … Riêng Tổng công ty Saigontourist hiện có 5 công ty thành viên khai thác loại hình du lịch đường sông, gồm công ty TNHH MTV dịch vụ lữ hành Saigontourist, Làng du lịch Bình Quới, Công ty du lịch sinh thái Cần Giờ, công ty cổ phần Fiditour, công ty TNHH MTV du lịch Phú Thọ, và công ty cổ phần du thuyền Nam Sài Gòn, cung cấp các tour du lịch đường sông tại Tp. Hồ Chí Minh, các vùng phụ cận. Hiện nay có khoảng 101 phương tiện tham gia du lịch Đường sông. Về cơ sở hạ tầng, Sở VHTTDL Tp. Hồ Chí Minh đã và đang tiến hành phối hợp với các Sở, Ngành đầu tư các bến tàu, nhà chờ, bến đợi theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Giữa năm 2023, Tp. Hồ Chí Minh đã khai trương 7 tuyến du lịch đường sông.
2.2.4. Thách thức
2.2.4.1. Các địa phương xung quanh Tp. Hồ Chí Minh có sản phẩm du lịch tương tự đã được khẳng định từ lâu:
Thách thức lớn nhất đối với du lịch sông Đồng Nai khi phát triển hiện nay là các sản phẩm tương tự cùa các tỉnh như Bến Tre, Tiền Giang, Cần Thơ. Các sản phẩm du lịch sông nước, miệt vườn miền Tây từ lâu đã là sản phẩm truyền thống được bán rộng rãi cho du khách trong và ngoài nước đến Tp. Hồ Chí Minh. Bến Tre với khoảng cách tương đương, với khu du lịch Thới Sơn, Cồn Phụng nổi tiếng có thể trở thành một đối thủ cạnh tranh đáng gờm. Khác với tuyến đường sông Đồng Nai, đoạn đường sông được khai thác ở Thới Sơn, Cồn Phụng tuy ngắn nhưng có cảnh quan hấp dẫn đặc trưng cho cảnh quan miền Tây với rừng dừa nước ken dày và có nhiều ngã rẽ giúp tạo nhiều cảm giác thú vị cho du khách. Bên cạnh đó, tại đây, du khách vừa có cơ hội thay đổi phương tiện di chuyển giữa các loại thuyền máy và thuyền chèo tay. Với lịch sử phát triển gần 20 năm, điểm du lịch này hiện có mô hình vận hành nhịp nhàng, trơn tru, đáp ứng được nhu cầu của số lượng lớn khách đoàn trong nước và quốc tế. Trong nửa ngày tại Thới Sơn, Cồn Phụng, du khách có thể trải nghiệm nhiều hoạt động từ tham quan làng nghề, nghe đờn ca tài tử đến tham gia các trò chơi dân gian cũng như tìm hiểu lịch sử Đảo Dừa. Đội ngũ nhân viên phục vụ và điều hành của khu du lịch này cũng đã qua đào tạo và do đón tiếp du khách hàng ngày nên tay nghề cũng như thái độ của họ rất chuyên nghiệp. Không chỉ vậy, những khu du lịch kiểu này còn thực hiện công tác quảng bá sản phẩm cũng như chăm sóc khách hàng rất bài bản. Thông qua các hội chợ và đặc biệt là chương trình khảo sát làm quen cho các công ty lữ hành từ các thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh hay thành phố Hà Nội. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Một số các điểm du lịch khác tuy không có tuyến đường sông, song có nét đặc sắc riêng như Đại Nam (Bình Dương), Happyland (Long An) hay vùng ven Tp. Hồ Chí Minh như Suối Tiên, Cần Giờ cũng là những sản phẩm thay thế đáng phải quan tâm.
2.2.4.2. Việc quy hoạch các cơ sở sản xuất gốm trong tương lai gần:
Điểm du lịch hấp dẫn được các chuyên gia đánh giá cao đó là làng gốm truyền thống Tân Vạn (điểm cơ sở sản xuất Phong Sơn). Tuy vậy, điểm hấp dẫn này đã nằm trong quy hoạch giải tỏa, di dời đến khu sản xuất tập trung theo kế hoạch của tỉnh.
Các làng nghề gốm sứ, lu, sành … ở các xã, phường: Tân Vạn, Bửu Hòa, Hóa An có gần 100 xưởng gốm mỹ nghệ lớn, nhỏ. Gốm mỹ nghệ Biên Hòa chỉ trong ba phần tư thế kỷ đã lan tỏa thành gốm Bình Dương, gốm Tp. Hồ Chí Minh, gốm Vĩnh Long và đi khắp nơi, góp phần tô điểm cho đời thêm đẹp. Hiện tại, Tp. Biên Hòa đã hoàn chỉnh quy hoạch làng nghề gốm sứ rộng 52 hecta tại xã Tân Hạnh để di dời các làng gốm trên địa bàn thành phố về đây. Vừa qua, UBND tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định buộc 185 cơ sở gây ô nhiễm môi trường, không phụ thuộc quy hoạch trong tương lai phải di dời ra khỏi khu đô thị. Trong đó có 37 cơ sở sản xuất gốm mỹ nghệ, 20 cơ sở giết mổ, 128 cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Như vậy trong tương lai gần, tuyến du lịch sông Đồng Nai sẽ mất đi một điểm đến độc đáo, hấp dẫn vừa có giá trị vật thể, vừa có giá trị phi vật thể, kéo theo một nguồn thu từ quà tặng lưu niệm cũng bị giảm đi.
2.2.4.3. Ô nhiễm môi trường nước sông:
Bản thân sự trong lành của thiên nhiên là một tài nguyên du lịch quý giá, vì vậy, với sự phát triển của dân cư và sản xuất công nghiệp, nông nghiệp như hiện nay, việc nguồn nước sông bị ô nhiễm là nguy cơ có thể thấy rõ.
Nguồn nước sông chính xuất phát từ Cao nguyên Lâm Viên tỉnh Lâm Đồng.
Sông uốn chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam vượt khỏi miền núi ra đến bình nguyên ở Tà Lài, tỉnh Đồng Nai.
Nước sông cũng chính là nguồn tiếp cận nước mưa và các loại nước thải vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp của môi trường bên ngoài. Mặc dù các nhà máy xí nghiệp trên thuông lưu sông không thải trực tiếp nước thải xuống sông nhưng vẫn thải trong lưu vực. Vì thế, theo các con đường khác nhau chất ô nhiễm vẫn xâm nhập được vào nguồn nước sông, phần lớn nước tại khúc sông chảy qua Tp. Biên Hòa là nước mưa chảy tràn, nước thải sinh hoạt, nước thải công nông nghiệp, nước thải nuôi trồng thủy sản …
- Nước thải sinh hoạt:
Nếu tính trung bình mỗi đầu người tiêu thụ 100 lít nước cho sinh hoạt hằng ngày, với 2.483.211 người thì Đồng Nai thải vào sông lượng nước thải gần 500.000m3/ngày, một lượng không nhỏ đổ vào sông Đồng Nai. Nước sông nguyên thủy không đủ khả năng làm loãng nước thải nữa vì mức ô nhiễm tăng quá khả năng điều tiết tự nhiên của sông (khả năng giới hạn). Tình trạng nhiễm độc nguồn nước sẽ xảy ra từ đây.
- Nước thải công nghiệp:
Tp. Biên Hòa tập trung rất nhiều KCN lớn như Biên Hòa 1, Biên Hòa 2 … Ngoài ra các khu vực thuộc các huyện khác có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp xả một lượng nước thải xuống sông, rãnh không qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu. Do đặc điểm kinh tế của từng vùng khác nhau, sự phát triển sản xuất cũng khác nhau nên tính chất nước thải xuống sông cũng khác nhau. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Ngoài ra còn có các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn nằm ngoài KCN rất đa dạng về ngành nghề như chế biến bắp, bánh kẹo, lò đường thủ công, gạch ngói … Nhiều nhà máy trong số đó có nguồn thải rất lớn nhưng chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn như: nhà máy giấy Tân Mai, nhà máy đường Trị An.
Các cơ sở chế biến thức ăn gia súc hoặc chăn nuôi gia súc xử lý chất thải chưa tốt. Các cơ sở này thường gây ô nhiễm (do mùi hôi), ô nhiễm do nước thải và chất thải rắn.
- Nước thải chăn nuôi heo:
Một trong những địa phương có hoạt động chăn nuôi mạnh của Tp. Biên Hòa là một số khu dân cư phường Trảng Dài, Long Bình Tân …
Trong nước thải chăn nuôi chứa đến 70 – 80% các loại hợp chất hữu cơ, bao gồm xenllulose, protein, acid amin, chất béo, hydratecacbon và các dẫn xuất của chúng trong phân, máu. Hầu hết dễ phân hủy thành acid amin, acid béo, CO2, H20, NH3, H2S … tạo mùi hôi ảnh hưởng xấu đến môi trường không khí, gây bệnh hô hấp.
- Nước thải nuôi thủy sản:
Nguồn gây ô nhiễm phát sinh từ hoạt động của cá nuôi trong bè: dư lượng thức ăn, các hóa chất phòng và trị bệnh cho cá, phân cá, vi trùng, ký sinh trùng trên mình cá, cá chết gây ô nhiễm mùi và ô nhiễm môi trường nước.
Nguồn gây ô nhiễm từ hoạt động làm khô cá ngay trên bè và trên các bãi cá vùng bán ngập, ruột cá và các bộ phận bỏ đi của cá thải vào nguồn nước gây ô nhiễm mùi và môi trường nước. Ngoài ra việc nuôi trồng thủy sản cũng ảnh hưởng đến tích lũy các chất dinh dưỡng trong nước, ước lượng khoảng 0,16 kg nitơ tổng và 0,035 kg phosphor tổng trên kg cá thịt.
Nguồn ô nhiễm từ hoạt động sinh sống của người trên bè, bao gồm: lượng chất hữu cơ thải ra từ hoạt động ăn uống, phân (E.Coli và các vi trùng khác), chất tẩy rửa từ hoạt động tắm giặt … gây ô nhiễm mùi và ô nhiễm nguồn nước mặt. Như vậy hoạt động sinh hoạt của con người chủ yếu thải ra các chất hữu cơ không bền và dễ phân hủy sinh học, chất dinh dưỡng (phosphor, nitơ), vi trùng và mùi.
Hoạt động nuôi bè đã gây ô nhiễm khá lớn đến nguồn nước ở lưu vực sông dẫn đến chất lượng nước sông cũng bị suy giảm.
- Hoạt động khai thác cát:
Khu vực sông có lưu lượng và độ dốc khá lớn nên lượng phù sa bồi lắng rất nhiều, vì vậy hoạt động khai thác cát lậu diễn ra thường xuyên. Hoạt động khai thác cát ít nhiều đã gây ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông. Các tàu thuyền ngày đêm hút cát rùi xả bùn, bợn trả xuống lòng sông cùng dầu nhớt động cơ thải làm ô nhiễm nguồn nước. Hơn thế nữa, hoạt động khai thác còn làm tăng khả năng khuếch tán của chất dinh dưỡng trong trầm tích vào nguồn nước và làm dậy phèn trên sông dẫn đến làm chua nguồn nước gây nguy hiểm cho sinh vật thủy sinh sống trên sông.
2.2.4.4. Đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu lớn: Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Với hiện trạng bến bãi, khẩu độ thông thuyền của các cầu như hiện nay, để phát triển một cách mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn. Đặc biệt các bến đón khách, các điểm dừng, neo đậu. Nếu thực hiện theo thiết kế quy định của Thông tư 22/2024/TT – BGTVT (hướng dẫn xây dựng quy trình vận hành, khai thác bến phà, bến khách ngang sông sử dụng phà một lưỡi chở hành khách và xe ô tô), dự kiến kinh phí đầu tư cho mỗi bến khoảng 2 tỷ đồng.
Với các cây cầu hiện có ở cụm trung tâm, việc thay đổi khẩu độ thông thuyền gần như là điều không thể. Hệ quả của việc này là chỉ có thể đón và phục vụ khách bằng những tàu công suất nhỏ, nội thất sơ sài, không tận dụng được tầng cao của tàu để du khách thưởng ngoạn cảnh quan.
TIỂU KẾT CHƯƠNG II. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
Với lợi thế về vị trí địa lý gần với thị trường nguồn Tp. Hồ Chí Minh, sông Đồng Nai còn có phần hạ lưu chảy xuôi qua Tp. Hồ Chí Minh. Sông Đồng Nai chảy qua các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh với chiều dài trên 586km và lưu vực 38.600 km², nếu tính từ đầu nguồn sông Đa Đưng thì dài 610km còn nếu tính từ điểm hợp lưu với sông Đa Nhim phía dưới thác Pongour thì dài 486km. Sông Đồng Nai đổ vào biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ (Tp. Hồ Chí Minh). Các phụ lưu chính của nó gồm sông Đa Nhim, sông Bé, sông La Ngà, sông Sài Gòn, sông Đạ Hoai và sông Vàm Cỏ. Các chi lưu của nó có tên gọi là sông Lòng Tàu (sông Ngã Bảy), sông Đồng Tranh, sông Thị Vải, sông Soài Rạp (sông Soi), …
Du lịch đường sông Đồng Nai với một loạt điểm đến mới mẻ, đa dạng, độc đáo, gần về vị trí địa lý thực sự là điều mà các công ty lữ hành chờ đợi. Cơ hội để xây dựng một thị trường khách ổn định thông qua các doanh nghiệp lữ hành là hoàn toàn khả thi. Tuy vậy yếu tố cốt lõi vẫn là “có cái gì để bán” nghĩa là bản chất của sản phẩm phải là một sản phẩm sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách cũng như của công ty lữ hành, những người duy trì một lượng khách đều đặn và có kế hoạch giúp hoạt động kinh doanh của địa phương đảm bảo mục tiêu đề ra một cách ổn định và có khả năng dự báo cao.
Trong những năm qua, chính quyền tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương phát triển du lịch, trong đó có du lịch đường sông một cách rõ ràng. Tiêu biểu phải kể đến chương trình hành động phát triển du lịch tỉnh Đồng Nai của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Qua phân tích SWOT tác giả đã đi sâu vào khái quát những điều kiện thuận lợi trong phát triển du lịch đường sông Đồng Nai, trong đó tác giả đã phân tích sâu các giá trị về mặt tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường và pháp luật. Tiếp đến là phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức.
Do đó, để phát triển du lịch đường sông Đồng Nai cần phải có hành động cụ thể ngay từ bây giờ, để phát huy những điểm mạnh, khắc phục những hạn chế các điểm yếu, tận dụng tốt các cơ hội và đương đầu với thử thách.
Từ phân tích trên, trong phần tiếp theo của nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra các giải pháp cụ thể để liên hết các điểm mạnh, biến tài nguyên thành sản phẩm, hạn chế các điểm yếu và tận dụng triệt để các cơ hội đang có. Luận văn: Hiện trạng phát triển du lịch đường sông Đồng Nai.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch đường sông Đồng Nai
