Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý giá về tư tưởng xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; trong đó, tư tưởng về thi đua yêu nước của Người đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị, Người đã dạy: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Lời dạy đó đã khắc sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam yêu nước, ở trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào cũng cần phải đẩy mạnh thi đua yêu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tiếp tục vận dụng những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, phát huy những thành tựu mà các phong trào thi đua đem vào thực tiễn để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng và an ninh, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng như: Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 được sửa đổi, bổ sung năm 2005 và năm 2013; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/07/2017 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng; và nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện pháp luật của cấp bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về công tác thi đua, khen thưởng.
Đối với thủ đô Hà Nội – trái tim của cả nước – là nơi tỏa sáng hình ảnh đất nước một cách tập trung nhất, tiêu biểu nhất và cũng tự hào là nơi khởi phát nhiều phong trào thi đua có sức lan tỏa trên cả nước.Thành phố Hà Nội hiện nay với mục tiêu “đoàn kết, sáng tạo và đổi mới”, không ngừng xây dựng, phát triển thủ đô văn minh, hiện đại, Hà Nội hiện có hơn 260.000 doanh nghiệp đăng ký và hoạt động, phấn đấu trong 5 năm sẽ thành lập thêm mới 200.000 doanh nghiệp, là một trong 2 đầu tầu kinh tế của cả nước và dẫn đầu về thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, kiến tạo và phục vụ doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội nhìn chung đã có bước phát triển tích cực, góp phần phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề an sinh xã hội của Thành phố như: Tạo việc làm, tham gia phát triển hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, bảo vệ môi trường, ủng hộ từ thiện xã hội… Trong phong trào thi đua, các doanh nghiệp thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng đổi mới, sáng tạo, đóng góp sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và thực hành tiết kiệm; nhiều doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện để tổ chức Đảng và các đoàn thể trong doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong việc tổ chức phong trào thi đua ở các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội hiện nay: hoạt động thi đua ở nhiều cụm khối doanh nghiệp chưa tạo ra những tác động rõ nét tới kết quả kinh doanh; công tác khen thưởng trong doanh nghiệp cũng chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với những đóng góp to lớn của các doanh nghiệp và người lao động trong nền kinh tế; việc khen thưởng cho công nhân, người lao động và các tập thể nhỏ trong doanh nghiệp còn hạn chế và chưa kịp thời… Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Những tồn tại, khó khăn trên, với nhiều nguyên nhân cả về thể chế pháp luật và thi hành pháp luật thi đua, khen thưởng, đã có tác động không nhỏ cho việc tổ chức các phong trào thi đua và thực hiện công tác khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố; ảnh hưởng tới động lực thi đua của các tập thể và cá nhân trong quản lý, điều hành và sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn quan trọng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, tác phẩm báo chí về thi đua, khen thưởng, có thể nêu một số công trình, đề tài tiêu biểu như:
2.1. Một số sách chuyên khảo, tham khảo
- Lê Quang Thiệu, Chủ tịch Hồ Chí Minh với phong trào thi đua yêu nước. NXB Thanh Niên (2008).
- Phạm Hùng, Những mốc son vàng trong phong trào thi đua yêu nước. NXB Lao động Hà Nội (2011).
2.2. Đề tài nghiên cứu khoa học
- Trần Thị Hà, Công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay. Đề tài cấp nhà nước (2015).
- Phùng Ngọc Tấn, Pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam hiện nay. Luận án Tiến sỹ luật học (2016).
- Phạm Duy Hanh, Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi mới công tác thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Đề tài cấp tỉnh (2010).
2.3. Một số luận văn thạc sỹ Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
- “Hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng ở Việt Nam”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn của Đỗ Thúy Phượng (2010).
- “Tăng cường quản lý nhà nước với hoạt động thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý Hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia của Bùi Hồng Thiết (2011).
- “Quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công. Học viện Hành chính Quốc gia của Nguyễn Thu Hiền (2016).
- “Pháp luật về thi đua, khen thưởng – Từ thực tiễn thành phố Hà Nội”. Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia của Lương Trường Giang (2018).
2.4. Các tài liệu khác
- Kỷ yếu Đại hội thi đua yêu nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2015 – 2020, Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội (2015).
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”. Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hà Nội (2018).
Nhìn chung các công trình nêu trên đã tập trung làm rõ nhiều khía cạnh khác nhau về thi đua, khen thưởng như: Cơ sở lý luận và thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng; pháp luật về thi đua, khen thưởng, thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng, vị trí vai trò của doanh nghiệp trong phong trào thi đua… Có thể khẳng định rằng, các công trình trên là những tài liệu quý để hiểu sâu và có hệ thống hơn về thi đua, khen thưởng, góp phần đổi mới nhận thức, khẳng định quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với thi đua, khen thưởng.
Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu phạm vi chung của cả nước, hoặc nghiên cứu một mảng lĩnh vực công tác thi đua khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội, mà chưa có những nghiên cứu từ khía cạnh thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng. Nghiên cứu đề tài “Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” là một cố gắng theo hướng như vậy.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
3.1. Mục đích
Thông qua nghiên cứu về lý luận và thực tiễn công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố, xác định và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thi đua, khen thưởng.
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng
Quy định pháp luật và hoạt động thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp.
4.2. Phạm vi
- Phạm vi đối tượng: Chủ thể có thẩm quyền, trách nhiệm thi hành pháp luật; doanh nghiệp tham gia quan hệ pháp luật thi đua, khen thưởng. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015 – 2020.
5. Cơ sở lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thi đua, khen thưởng và các chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện hành về thi đua khen thưởng.
5.2. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chướng và duy vật lịch sử theo khoa học triết học Mác-Lênin.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản và hiện đại của khoa học xã hội như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống hóa, lịch sử.
6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đánh giá được những kết quả đồng thời chỉ ra được những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi đua khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo đối với các cơ quan liên quan về nghiên cứu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng.
- Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG
1.1. Thi đua, khen thưởng
1.1.1. Thi đua
- Khái niệm:
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lê Nin, thi đua nói chung xuất hiện một cách tự nhiên, là tất yếu khách quan trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bởi khi xã hội có sự phân công lao động và hợp tác lao động thì con người có xu hướng thể hiện khả năng, năng lực của mình so với người khác hoặc so sánh những gì mình đã làm cho tập thể với những gì người khác làm. Nghiên cứu mối quan hệ giữa động lực sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng như các yếu tố tác động tới mối quan hệ này, Các Mác đánh giá cao vai trò của hợp tác lao động, sự hiệp cộng lao động tạo ra sức mạnh tập thể lớn hơn sức mạnh của từng lao động cá nhân cộng lại, Các Mác đã viết: “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung và kế hoạch của con người với sự tiếp xúc xã hội tạo nên thi đua và sự nâng cao theo lối đặc biệt, nghị lực sinh động làm tăng thêm nghị lực riêng cho từng người” [10, tr247]. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Trên nền tảng quan điểm của Các Mác, Lê Nin đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những quan điểm, tư tưởng về thi đua xã hội chủ nghĩa, đó là phong trào tự nguyện, góp sức giải quyết khó khăn, xây dựng xã hội mới của quần chúng lao động được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột. Lê Nin coi đây là một sáng kiến vĩ đại, chính quyền cách mạng cần chăm lo, tổng kết, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm.
Cách mạng tháng 10 Nga thành công, mặc dù chính quyền Xô viết non trẻ phải đối mặt với muôn vàn gian nan, thử thách nhưng Lê Nin chủ trương: Vai trò của chính trị trong việc lãnh đạo tổ chức thi đua là một nhiệm vụ thiết yếu, là vấn đề quan trọng đối với việc phát triển nền kinh tế đất nước và là một nguồn tiềm năng to lớn của chủ nghĩa xã hội. Lênin khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại, lần đầu tiên, đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách thật sự rộng rãi, với một quy mô thật sự to lớn, tạo ra khả năng thu hút thật sự đa số nhân dân lao động vào vũ đài hoạt động khiến họ có thể tỏ rõ bản lĩnh, dốc hết năng lực của mình, phát hiện những tài năng mà nhân dân sẵn có cả một nguồn vô tận, những tài năng mà chủ nghĩa tư bản đã giày xéo, đè nén, bóp nghẹt mất hàng nghìn, hàng triệu. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay, khi chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền, là phải tổ chức thi đua” [36, tr325].
Như vậy, Các Mác và Lê Nin đều khẳng định, thi đua là một tất yếu khách quan, được nảy sinh từ chính cuộc sống của con người. Con người sống trong xã hội luôn có quan hệ tiếp xúc với nhau, do đó tất yếu nảy sinh thi đua. Điều đó cũng có nghĩa là, thi đua chỉ xuất hiện trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Đó là phong trào thi đua của những người lao động tự mình đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, ở đó không có mâu thuẫn về lợi ích giữa cá nhân với tập thể và xã hội cho nên mọi người đều muốn đem hết khả năng, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó cũng có nghĩa là, nhân dân làm việc cho chính mình và cũng chính mình là người thụ hưởng thành quả lao động đó. Trong phong trào thi đua, mọi người đều có nghĩa vụ, trách nhiệm như nhau; có điều kiện học tập, phấn đấu, rèn luyện, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ theo tinh thần “mình vì mọi người và mọi người vì mình”. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê Nin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh của nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn kết chặt chẽ tư tưởng đó với lòng yêu nước của dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi đua phải xuất phát từ tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân với ý chí phấn đấu; phát huy sức mạnh cả vật chất và tinh thần. Thi đua không chỉ là hoạt động tích cực và sáng tạo trong công việc hằng ngày, trong lao động sản xuất, mà còn là hoạt động tư tưởng và tinh thần, là biểu hiện của lòng yêu nước, của tình cảm đối với Tổ quốc, đối với quê hương. Thi đua phải trở thành phong trào rộng lớn, có sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân. Vì thế, khi phát biểu tại Đại hội chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 01-5-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất” [7, tr406]. Người nhận xét, đánh giá: “Trong phong trào thi đua, chúng ta thấy đủ các dân tộc: Kinh, Thổ, Mán, Mường v. v…, đủ các tín ngưỡng, lương có, giáo có, đủ các tầng lớp binh, công, nông, sỹ, đủ các hạng người già, trẻ, gái, trai, tất cả đều nhằm vào một mục đích chung: tăng gia sản xuất và diệt giặc lập công” [4, tr472].
Trong thư chúc Tết gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước năm 1949, Bác viết:
- “Người thi đua
- Ngành ngành thi đua
- Ngày ngày thi đua
- Ta nhất định thắng
- Địch nhất định thua” [6, tr23].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra, thi đua và khen thưởng là công tác động viên chính trị, giáo dục tư tưởng, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, đều là động lực phát triển xã hội theo hướng tốt đẹp hơn; thi đua phải xác định rõ mục đích, xây dựng được kế hoạch rõ ràng và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục; thi đua phải đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, gắn liền với tổng kết, rút kinh nghiệm và khen thưởng. Thi đua là cơ sở của việc khen thưởng, thi đua tốt thì có nhiều thành tích để khen thưởng. Bình bầu thi đua đúng, công khai, chặt chẽ giúp cho việc khen thưởng được chính xác, động viên. Bình bầu thi đua rộng, nể nang thì dẫn đến việc khen thưởng tràn lan, bình bầu thi đua chiếu lệ cho có, nếu không kiểm tra kỹ thì dẫn đến khen sai, khen không đúng sẽ phản tác dụng. Muốn làm tốt công tác khen thưởng thì phải lãnh đạo tốt phong trào thi đua và tổ chức việc bình bầu danh hiệu thi đua nghiêm túc ngay từ cơ sở. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Thi đua là một hiện tượng khách quan, là qui luật phát triển tất yếu trong quá trình hợp tác lao động của con người. Ở đâu có hợp tác lao động thì ở đó nảy sinh thi đua. Trong quá trình cách mạng của dân tộc và vận dụng để cụ thể hóa vào chính sách và pháp luật thì đã phát động phong trào thi đua và thi đua xã hội chủ nghĩa là đoàn kết, hợp tác cùng phát triển, phổ biến sáng kiến, kinh nghiệm, người tiền tiến thân ái giúp đỡ người chậm tiến để đạt tới sự tiến bộ chung. Hoàn toàn không giống với bí mật thương nghiệp trong cạnh tranh. Thi đua xã hội chủ nghĩa chẳng những nhằm mục tiêu kinh tế mà còn nhằm xây dựng con người mới, rèn luyện nhân cách cao đẹp cho người lao động. Thông qua thi đua để giáo dục động viên mọi người, nâng cao lòng yêu nước, ý thức giác ngộ giai cấp, trách nhiệm công dân và tính cộng đồng xã hội.
Theo Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, khái niệm thi đua bao gồm 3 thành tố:
- Thi đua là hoạt động có tổ chức vì các phong trào thi đua là do người đứng đầu tổ chức, đơn vị, địa phương phát động để thực hiện nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội được giao. Hoạt động có tổ chức của thi đua được thể hiện từ khi lập kế hoạch, xác định mục tiêu, hình thức, đối tượng, tổ chức phát động, ký giao ước thi đua, kiểm tra, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, nhân rộng điển hình tiên tiến.
- Thi đua là hoạt động tự nguyện: Có tự nguyện thì mới khơi dậy được sự sáng tạo của con người. Đồng thời yếu tố tự nguyện còn cho thấy tính dân chủ, tự giác của mỗi cá nhân trong tổ chức.
- Thi đua là hoạt động có mục tiêu và hướng đích rõ rệt: Mục đích để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thi đua sẽ giúp cho hiệu quả, chất lượng và năng suất lao động, học tập và công tác không ngừng được nâng lên, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển về mọi mặt. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Trong thi đua, còn có khái niệm“thi đua thường xuyên” và “thi đua theo đợt, theo chuyên đề”.
Thi đua thường xuyên là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động, nhằm thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, đơn vị. Đối tượng thi đua thường xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể trong cùng một cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tương đồng nhau. Việc tổ chức phong trào thi đua thường xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và được tổ chức tại cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc theo khối, cụm thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ước thi đua. Thực hiện việc đăng ký giao ước thi đua giữa các tập thể. Kết thúc năm công tác thủ trưởng cơ quan, đơn vị, trưởng các khối, cụm thi đua tiến hành tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua.
Thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, đơn vị. Cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian. Thi đua theo chuyên đề thường được tổ chức với quy mô trong phạm vi hẹp và thời gian ngắn. Trường hợp được tổ chức với quy mô rộng lớn trong phạm vi toàn ngành, toàn tỉnh, thành phố và có thời gian tương đối dài (3 năm, 5 năm) thì có sơ kết từng đợt, từng giai đoạn trước khi tổng kết.
- Nguyên tắc của thi đua:
Nguyên tắc quan trọng của thi đua là tự nguyện và đoàn kết, để cùng nhau phát triển; giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không có đối kháng về lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
Điều 6 Luật Thi đua, Khen thưởng đã quy định nguyên tắc của thi đua là:
Tự nguyện, tự giác, công khai; Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển.
1.1.2. Khen thưởng Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
- Khái niệm:
Khen thưởng là một trong những công cụ quản lý quan trọng của Nhà nước; là một lĩnh vực quan trọng trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan tổ chức và đơn vị; là biện pháp cơ bản để đánh giá kết quả công việc, đánh giá những cố gắng, những thành tích quá trình hoạt động đóng góp của tập thể và cá nhân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó; tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng. Còn thưởng là tặng cho bằng hiện vật hoặc tiền… Khen thưởng là hình thức ghi nhận công lao, thành tích của Nhà nước bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền do luật định.
Khen thưởng và trừng phạt được hình thành phát sinh và tồn tại trong quá trình phát triển của con người, là vấn đề thuộc tâm lý xã hội, sinh hoạt tinh thần của con người, do đó khen thưởng phải thể hiện quan điểm quần chúng, phải có trách nhiệm cao trong quá trình phát hiện, xét khen thưởng. Khen thưởng tồn tại cùng với sự tồn tại của Nhà nước. Còn Nhà nước là còn khen thưởng, khen thưởng vừa có ý nghĩa động viên về tinh thần và khích lệ bằng vật chất.
Khen thưởng là một việc đã tồn tại khá lâu trong lịch sử xã hội, gắn liền với mỗi nhà nước thuộc các chế độ xã hội khác nhau là các hình thức thưởng phạt khác nhau. Ở nước ta việc khen thưởng qua các triều đại cũng được sử sách ghi lại. Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đã ghi rõ những hình thức khen thưởng như sau:
- Khen thưởng người có công trong chiến trận;
- Khen thưởng người có công trong việc đi sứ;
- Khen thưởng người phò tá có công lao tài đức;
- Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài;
- Khen thưởng người có lời tâu đúng;
- Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên;
- Khen thưởng người có công làm thủy lợi;
- Khen thưởng người có tài văn chương;
- Khen thưởng người cao tuổi…
Từ các loại hình khen thưởng kể trên đã chứng tỏ thời kỳ phong kiến đã biết khích lệ động viên mọi người hăng hái lập công, để được khen thưởng. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc biểu dương khích lệ động viên người tốt, việc tốt. Mỗi khi đọc báo, nghe đài, thấy có nghĩa cử đẹp là Bác cho đi kiểm tra ngay để Bác khen thưởng. Bác thường nhắc nhở khen thưởng phải chính xác và kịp thời để động viên phát huy mặt ưu điểm, tích cực, khắc phục và đẩy lùi mặt khuyết điểm, tiêu cực. Chính vì vậy, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã ký Quốc lệnh ngày 26/01/1946 ban hành 10 điều thưởng, 10 điều phạt của Chính phủ. Đây được xem như văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng xây dựng ngành thi đua, khen thưởng của nước ta, có tác động viên, khuyến khích mọi người làm việc tốt, ích nước, lợi nhà đồng thời cảnh báo, răn đe những ai định làm việc xấu hại dân, hại nước. Người nêu trong Quốc lệnh: “Trong một nước, thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [4, tr163].
Theo Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng: “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Như vậy, mục đích của khen thưởng là ghi nhận, tôn vinh, biểu dương thành tích và nhân điển hình tiên tiến những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, chiến đấu học tập và công tác; nhằm giáo dục, động viên và thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; tạo động lực cách mạng lôi cuốn, động viên khuyến khích mọi người phát huy truyền thống yêu nước, tính năng động sáng tạo, vươn lên lập thành tích xuất sắc trên tất cả mọi lĩnh vực; góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Qua khen thưởng để khơi dậy tính sáng tạo, phát huy trí tuệ, năng lực, tính tích cực, nhân lên cái chân, thiện, mỹ; đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, đẩy lùi cái ác và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
- Nguyên tắc khen thưởng:
Nguyên tắc quan trọng của khen thưởng là phải chính xác, công bằng và kịp thời. Khen thưởng phải đúng người đúng việc; khen thưởng phải kịp thời mới có ý nghĩa khuyến khích, động viên.
Luật Thi đua, Khen thưởng quy định nguyên tắc khen thưởng đó là:
Chính xác, công bằng, kịp thời; Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
- Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được;
- Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng;
- Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất;
- Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng.
1.1.3. Mối quan hệ giữa thi đua với khen thưởng
Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng lẫn nhau, mối quan hệ đó biểu hiện ở chỗ:
Thi đua là động lực thúc đẩy các cá nhân, tập thể hoàn thành nhiệm vụ, Thi đua là cơ sở, căn cứ để xét khen thưởng. Trên thực tế, ở đâu làm tốt phong trào thi đua, thì ở đó xã hội phát triển, quần chúng phấn khởi và khen thưởng cũng chính xác, kịp thời, và ngược lại, ở đâu phong trào thi đua yếu thì xã hội trì trệ, công tác khen thưởng khó chuẩn xác, thậm chí còn tiêu cực, phản tác dụng.
Khen thưởng là ghi nhận, đánh giá kết quả thi đua, là nhân tố thúc đẩy phong trào thi đua phát triển. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời có tác dụng giáo dục, động viên những cá nhân, tập thể trở thành điển hình, nêu gương tốt cho xã hội. Trên thực tế, ở đâu khen thưởng đúng nguyên tắc, chính xác gắn với thi đua, thì ở đó quần chúng phấn khởi, phong trào thi đua sẽ ngày càng phát triển hơn và ngược lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa thi đua với khen thưởng luôn là mối quan hệ hai chiều, biện chứng. Thi đua là động lực thúc đẩy mọi tầng lớp phát huy tinh thần sáng tạo, nỗ lực vượt mọi khó khăn vươn lên hoàn thành nhiệm vụ được giao. Từ kết quả thi đua mà lựa chọn tập thể, cá nhân xứng đáng để khen thưởng. Khen thưởng chính là việc đánh giá kết quả phong trào thi đua. Khen thưởng chính xác, kịp thời có tác dụng động viên, giáo dục và nêu gương tốt trong xã hội, đồng thời cổ vũ phong trào thi đua phát triển sâu, rộng hơn. Nếu khen thưởng không đúng sẽ làm giảm hiệu quả phong trào thi đua, thậm chí còn phản tác dụng, dẫn đến tiêu cực trong phong trào thi đua. Vì vậy, hình ảnh “gieo trồng” và “thu hoạch” trong thi đua, khen thưởng chính là để nói lên mối quan hệ biện chứng của hai nội dung này.
1.2. Pháp luật về thi đua, khen thưởng Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
1.2.1. Khái niệm
Thi đua, khen thưởng là một lĩnh vực hoạt động rộng lớn, tác động đến số lượng lớn quần chúng nhân dân, huy động nhiều tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị xã hội tham gia các phong trào thi đua từ đó phát huy nội lực của mỗi cá nhân, mỗi tập thể để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển. Để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là quan trọng nhất và được đặt lên hàng đầu. Pháp luật về thi đua, khen thưởng nhằm tạo hành lang pháp lý để các chủ thể làm tốt, làm hiệu quả khi xây dựng, ban hành pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật và xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong công tác này. Có thể khái niệm pháp luật về thi đua, khen thưởng như sau: Pháp luật về thi đua, khen thưởng là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng.
1.2.2. Vai trò của pháp luật về thi đua, khen thưởng
Một là, pháp luật về thi đua, khen thưởng tác động, điều chỉnh thường xuyên đối với hoạt động thi đua, khen thưởng để thi đua, khen thưởng trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chính của cơ quan, tổ chức.
Cơ quan nhà nước đã thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật và văn bản quản lý để thực hiện thẩm quyền quản lý của mình tác động, điều chỉnh thường xuyên đối với hoạt động thi đua, khen thưởng để thi đua, khen thưởng trở thành một bộ phận quan trọng cấu thành của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị chính của cơ quan, tổ chức là nâng cao chất lượng công việc, hiệu lực, hiệu quả, năng suất lao động không ngừng tăng cao, là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng cơ quan đơn vị ngày càng phát triển theo hướng trong sạch, vững mạnh, hiệu quả cao. Do đó, trong những năm qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã thông qua nhiều công cụ để quản lý nhà nước, trong đó, công cụ quan trọng nhất là pháp luật.
Hai là, pháp luật về thi đua, khen thưởng phải bám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đơn vị.
Thi đua, khen thưởng của cơ quan, đơn vị phải thực hiện phong trào thi đua các cấp bám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành như: Gắn với thực hiện chất lượng hiệu quả công việc, tiến độ hoàn thành công việc được giao, công việc phải vượt định mức. Cao hơn nữa đó là khởi dậy tinh thần tự hào công việc trong mỗi cán bộ, công chức và viên chức, người lao động và cơ quan tổ chức đó. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Ba là, thi đua, khen thưởng là động lực của sự vận động tích cực, là công cụ quản lý quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ.
Thi đua, khen thưởng là động lực để cán bộ, công chức và viên chức, người lao động và cơ quan tổ chức đó không vi phạm phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, không vi phạm kỷ luật và pháp luật. Xây dựng con người mới là trách nhiệm của toàn xã hội, có tác động mạnh mẽ đến tình cảm, trách nhiệm, ý thức, ý chí tự lực tự cường, lòng tự hào đối với cộng đồng, xã hội, thi đua, khen thưởng làm cho sức sáng tạo của tập thể, cá nhân ngày càng được nâng cao, thi đua, khen thưởng khai thác được tiềm lực của mỗi người và toàn xã hội phục vụ cho mục tiêu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thi đua, khen thưởng để nêu gương, giáo dục xã hội, bớt đi những tiêu cực làm cho xã hội tốt đẹp và nhân văn hơn.
Trong giai đoạn hiện nay công tác thi đua, khen thưởng luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, công tác thi đua, khen thưởng thực sự đã trở thành động lực quan trọng trong việc thúc đẩy mọi người, mọi thành phần trong xã hội thi đua lao động sản xuất, học tập, sáng tạo tạo nên sức mạnh của một dân tộc, một địa phương và sức mạnh của cả một ngành, đơn vị. Công tác thi đua, khen thưởng là một trong những biện pháp quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị có hiệu quả, thực sự có tác dụng động viên cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hoàn thành những nhiệm vụ được giao.
1.2.3. Nội dung của pháp luật về thi đua, khen thưởng
Nội dung pháp luật về thi đua, khen thưởng ở nước ta thể hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật như: luật, nghị định, thông tư. Nội dung cơ bản bao gồm:
- Những quy định chung: phạm vi, đối tượng thi đua, khen thưởng; mục tiêu của thi đua; nguyên tắc thi đua, khen thưởng; danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;
- Các quy định về thi đua: hình thức tổ chức phong trào thi đua, nội dung các phong trào thi đua, chủ thể phát động thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn đối với các danh hiệu thi đua;
- Các quy định về khen thưởng: hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng bao gồm: Huân chương, Huy chương, Danh hiệu vinh dự nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, Kỷ niệm chương, Huy hiệu, Bằng khen, Giấy khen; Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Thẩm quyền quyết định trao tặng, thủ tục, hồ sơ khen thưởng; quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể được khen thưởng; quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng; xử lý vi phạm trong thi đua, khen thưởng.
Ngoài các nội dung nêu trên, còn có các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng bao gồm:
- Ban hành các văn bản pháp luật về thi đua, khen thưởng.
- Xây dựng chính sách về thi đua, khen thưởng.
- Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm công tác thi đua, khen thưởng.
- Sơ kết, tổng kết, tặng thưởng các hình thức khen thưởng; đánh giá hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng.
- Hợp tác quốc tế về thi đua, khen thưởng.
- Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật về thi đua, khen thưởng.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng.
1.3. Thi hành pháp luật về thi đua khen thưởng
1.3.1. Khái niệm
Hiện nay ở Việt Nam, có hai quan điểm về “thi hành pháp luật”:
Quan điểm thứ nhất, thi hành pháp luật (hay chấp hành pháp luật) là một trong 4 hình thức thực hiện pháp luật, gồm: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụng pháp luật. Theo đó, thi hành pháp luật được hiểu là hành vi của chủ thể pháp luật chủ động thực hiện điều pháp luật yêu cầu.
Tử điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2006 định nghĩa: “thi hành pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật một cách chủ động. Chủ thể pháp luật phải thực hiện một thao tác nhất định mới có thể thực hiện pháp luật được”.
Việc phân chia các hình thức thực hiện pháp luật chỉ có tính chất tương đối, chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu, nên chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, còn trong thực tế, các thuật ngữ tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật nhiều khi được dùng đồng nghĩa với nhau, đều biểu thị một nội dung là pháp luật phải được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh bởi tất cả các chủ thể trong xã hội. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Quan điểm thứ hai, thi hành pháp luật là mọi hoạt động nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, biến quy định pháp luật trở thành hành vi của các chủ thể, và được xem là công đoạn tiếp nối quá trình xây dựng pháp luật của Nhà nước. Như vậy, khái niệm thi hành pháp luật ở trường này được hiểu theo nghĩa rộng là “đưa pháp luật vào cuộc sống” và đảm bảo thực thi bằng cơ chế hiệu quả nhất.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các quan điểm của các nhà nghiên cứu, các học giả về khái niệm thi hành pháp luật, có thể hiểu: Thi hành pháp luật là hành vi hợp pháp của chủ thể pháp luật trong quá trình hiện thực hóa hoặc đảm bảo hiệu lực các quy định pháp luật trong đời sống xã hội.
Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng là hành vi của các chủ thể (cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân) chủ động thực hiện các quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng do Nhà nước ban hành nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích hợp pháp trong đời sống xã hội.
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng
Yếu tố chính trị: Đây là yếu tố quan trọng nhất trong thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng. Yếu tố này thể hiện dưới hình thức thực tiễn chính trị, các nguyên tắc, định hướng, đường lối, quan điểm trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng. Ví dụ: Bộ Chính trị khóa IX ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng, trên cơ sở đó, Quốc hội cũng đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Mức độ hoàn thiện của pháp luật: Mức độ hoàn thiện của pháp luật nói chung là yếu tố đảm bảo cho pháp luật đó đi vào cuộc sống xã hội. Thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng sẽ đạt hiệu quả nếu các quy phạm pháp luật về thi đua, khen thưởng được xây dựng khoa học, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao.
- Năng lực tổ chức và nguồn nhân lực thi hành pháp luật:
Đối với cơ quan quản lý nhà nước về thi đua, khen thưởng đó là bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, gắn với những yêu cầu về kiến thức, năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, phẩm chất đạo đức…
Về phía xã hội, các tổ chức, đơn vị, cá nhân thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng cũng phải dựa trên một nền tảng năng lực nhận thức pháp luật, hiểu biết xã hội để thực thi các chính sách pháp luật của Nhà nước.
Các yếu tố đảm bảo về điều kiện vật chất: Các yếu tố này là điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, ứng dụng công nghệ… đây là những điều kiện hiện thực làm cho hoạt động Nhà nước minh bạch, gần dân, đảm bảo cho tổ chức, cá nhân thi hành pháp luật một cách tích cực, hiệu quả.
Yếu tố văn hóa, xã hội, ý thức pháp luật: Văn hóa là tất cả các sản phẩm hoạt động của con người bao gồm vật chất và tinh thần, các giá trị được tạo dựng trong quá trình hoạt động gồm các khuôn mẫu và quy phạm hành vi đã được thừa nhận, được chuyển từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong đó văn hóa pháp lý là trật tự tư tưởng, được Nhà nước, xã hội định hướng đến sự hình thành và phát triển ý thức chính trị và ý thức pháp luật của mọi người. Yếu tố văn hóa, nhất là văn hóa pháp lý có ảnh hưởng lớn đối với cơ chế điều chỉnh pháp luật của thi hành pháp luật.
1.4. Khái quát sự phát triển của pháp luật về thi đua, khen thưởng ở nước ta Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
1.4.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ và thực hiện kháng chiến chống thực dân Pháp, cùng với việc ban hành những chính sách về chính trị – kinh tế – xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng.
Ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Quốc lệnh ban hành 10 điều thưởng 10 điều phạt: “Trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công. Vậy Chính phủ ra Quốc lệnh rõ ràng gồm có 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt, cho quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm” [4, tr163]. Trong giai đoạn này, cùng với việc ban hành Sắc lệnh số 83/SL ngày 17/9/1947 thành lập Viện Huân chương, Nhà nước ta còn ban hành nhiều văn bản quy định các hình thức khen thưởng như: Sắc lệnh số 50/SL ngày 15/5/1947 đặt Huân chương Quân công, Huân chương Chiến sỹ; Sắc lệnh số 58/SL ngày 06/6/1947 đặt Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập; Sắc lệnh số 216/SL ngày 20/8/1948 đặt Huân chương Kháng chiến; Sắc lệnh số 65b/SL ngày 01/5/1950 đặt Huân chương Lao động.
Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi thi đua ái quốc”, kêu gọi mỗi người dân Việt Nam “Ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc”. Người đặt niềm tin sâu sắc đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân “thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng. Với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chúng ta có thể thắng lợi, chúng ta nhất định thắng lợi” [5, tr557].
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều phong trào thi đua đã được phát động mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước nồng nàn, thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia như “Hũ gạo cứu đói”, “Quỹ Độc lập”, “Tuần lễ vàng” nhằm thu nhận hiện vật mà nhân dân quyên góp cho Chính phủ, góp phần giải quyết những khó khăn của cách mạng trong những ngày tháng vận nước “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong thư gửi cho giới công thương Việt Nam (doanh nhân, doanh nghiệp hiện nay), Người đã nhấn mạnh vai trò to lớn của giới công thương trong công cuộc kiến thiết đất nước. Người viết: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới Công – Thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng. Vậy tôi mong giới Công – Thương nỗ lực và khuyên các nhà công nghiệp và thương nghiệp mau mau gia nhập “Công – Thương cứu quốc đoàn” cùng đem vốn vào làm công cuộc ích nước lợi dân” [4, tr287].
Với tinh thần thi đua yêu nước, thi đua là sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng, chúng ta đã làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, chiến thắng sự xâm lược của thực dân Pháp, hoàn toàn giải phóng miền Bắc.
- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Trong 30 năm kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, các phong trào thi đua tiếp tục đóng vai trò quan trọng, củng cố thêm khối đoàn kết toàn dân tộc, biến thành sức mạnh vô song chiến thắng kẻ thù xâm lược. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các phong trào thi đua như “Sóng Duyên Hải”, “Gió Đại Phong”, “Cờ Ba Nhất”… của các nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã, thi đua “Ba điểm cao” (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều), thực hiện “Giờ làm chống Mỹ, cứu nước, miền Bắc đổ mồ hôi để miền Nam đỡ tốn xương máu” phục vụ sản xuất, đời sống và cung cấp cho tiền tuyến.
Trong giai đoạn này, Nhà nước ta ban hành nhiều văn bản về thi đua, khen thưởng, quy định các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, chính sách khen thưởng, thành tích kháng chiến, cụ thể:
Về hình thức khen thưởng, có các văn bản như: Sắc lệnh số 54/SL ngày 02/02/1958 của Chủ tịch Nước đặt Huân chương và Huy chương Chiến thắng; Pháp lệnh ngày 12/9/1961 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt Huân chương Chiến sĩ vẻ vang.
Về thi đua và các danh hiệu thi đua, có các văn bản như: Nghị định số 104/CP ngày 18/7/1963 của Chính phủ ban hành Điều lệ quy định các danh hiệu và tiêu chuẩn thi đua, Thông tư 106/TTg của Phủ Thủ tướng hướng dẫn áp dụng Nghi định số 104/CP; Nghị định số 80/CP ngày 03/02/1968 của Phủ Thủ tướng ban hành chính sách đối với danh hiệu Anh hùng, Chiến sỹ thi đua.
Về danh hiệu vinh dự nhà nước, có các văn bản như: Pháp lệnh ngày 15/01/1970 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt cá danh hiệu vinh dự Nhà nước như: Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang; Thông tư số 34/TTg ngày 11/3/1970 của Thủ tướng Chính phủ thi hành Pháp lệnh các danh hiệu vinh dự nhà nước.
Kết quả từ các phong trào thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược ở miền Nam, với tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh và ý chí “quyết chiến – quyết thắng” của toàn dân tộc, chúng ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, nước nhà thống nhất một mối, cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội.
- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 2003 Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Thời gian đầu khi đất nước mới thống nhất và thời kỳ trước đổi mới (năm 1986), công tác thi đua, khen thưởng không được quan tâm nhiều, các văn bản chủ yếu quy định và hướng dẫn việc khen thưởng thành tích kháng chiến như: Thông tư số 184/TTg ngày 21/5/1975 hướng dẫn hoàn thành khen thưởng thành tích giúp đỡ cách mạng trước ngày Tổng khởi nghĩa và thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp; Quyết định số 227/CP ngày 27/8/1977 của Hội đồng Chính phủ về việc xét khen thưởng thành tích kháng chiến chống Mỹ cứu nước các tỉnh, thành phố phía Nam; Thông tư số 177/BT ngày 10/10/1978 của Phủ Thủ tướng khen thưởng những gia đình có người thân thoát ly tham gia vào hàng ngũ cách mạng…
Sau năm 1986 cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, công tác thi đua, khen thưởng và pháp luật về thi đua, khen thưởng cũng có nhiều đổi mới theo hướng tiến bộ. Ngoài một số văn bản tiếp tục hướng dẫn khen thưởng thành tích kháng chiến, ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Thông tri số 38-TT/TW ngày 25/10/1984 và Thông tri số 19-TT/TW ngày 27/02/1998 về khen thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập.
Về tổ chức bộ máy, trong hai năm 1987-1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ký Nghị định số 223-HĐBT về việc sửa đổi tổ công tác thi đua và khen thưởng, theo đó, giải thể Ban Thi đua Trung ương, Ban Thi đua các ngành, các cấp, từ đây phong trào thi đua sẽ do Hội đồng Thi đua các ngành, các cấp được thành lập theo Nghị định số 61-HĐBT ngày 16/6/1983 tổ chức và chỉ đạo thực hiện; đồng thời đổi tên Hội đồng Thi đua các cấp thành Hội đồng Thi đua khen thưởng; đổi tên Viện Huân chương thành Viện Thi đua và khen thưởng Nhà nước. Đến năm 1988 lập lại Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Hội đồng.
Trong giai đoạn này, văn bản có ý nghĩa quan trọng trong chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng là Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới, theo đó Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/1998/NĐ-CP ngày 30/7/1998 nhằm thể chế hóa Chỉ thị số 35-CT/TW quy định các hình thức, đối tượng, tiêu chuẩn khen thưởng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp.
Và sau 5 năm kể từ khi Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị được ban hành, Luật Thi đua, Khen thưởng đã được Quốc hội thông qua năm 2003, đánh dấu một bước phát triển mới của công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta trong giai đoạn mới.
1.4.2. Giai đoạn từ khi Luật Thi đua, Khen thưởng ban hành năm 2003 Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Luật Thi đua, Khen thưởng chính thức được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003, đã đánh dấu một bước quan trọng quá trình phát triển của lĩnh vực công tác thi đua, khen thưởng đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần hoàn thiện pháp luật về thi đua, khen thưởng của nước ta.
Luật Thi đua, Khen thưởng gồm 103 Điều, được chia thành 8 chương, 9 mục, quy định về một số vấn đề chính gồm:
- Tổ chức thi đua, danh hiệu và tiêu chuẩn danh hiệu thi đua;
- Hình thức, đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng;
- Thẩm quyền quyết định, trao tặng, hồ sơ đề nghị khen thưởng;
- Quản lý nhà nước về công tác thi đua, khen thưởng;
- Xử lý vi phạm về thi đua, khen thưởng.
Sau 10 năm thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng, xuất phát từ thực tiễn và để tiếp tục hoàn thiện bổ sung chính sách pháp luật, khắc phục những tồn tại, hạn chế, Luật Thi đua, Khen thưởng đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần:
- Luật 47/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng (Bổ sung một điều về Tỉnh anh hùng, Thành phố anh hùng)
- Luật 39/2013/QH13 ngày 16/11/2013 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng. Riêng đối với danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú được thực hiện theo Luật số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009 của Quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa.
Cùng với việc ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng, Chính phủ cũng đã ban hành các Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
Nghị định, Bộ Nội vụ ban hành các Thông tư nhằm hướng dẫn thực hiện các quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng, gồm:
- Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005;
- Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP;
- Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2013;
- Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;
- Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP của Chính phủ;
- Thông tư số 12/2019/TT-BNV ngày 04/11/2019 của Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP của Chính phủ.
Nội dung các quy định chi tiết thi hành, hướng dẫn thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng gồm một số vấn đề cơ bản sau:
- Quy định cụ thể hơn về nguyên tắc thi đua, khen thưởng; tiêu chuẩn đối với các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng;
- Quy định riêng về đối tượng, tiêu chuẩn danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho công nhân, nông dân, người lao động trực tiếp;
- Quy định về phân cấp thẩm quyền quyết định khen thưởng; thủ tục, hồ sơ xét danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
- Quy định về Hội đồng thi đua khen thưởng các cấp; Qũy thi đua khen thưởng, mức tiền thưởng và chế độ ưu đãi;
Và một số nội dung sửa đổi, bổ sung khác để phù hợp với thực tiễn như: bổ sung khái niệm “tập thể nhỏ”, “hộ gia đình”, “khen thưởng theo thành tích và công trạng đạt được”, “thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất”, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng đối với doanh nghiệp, việc đánh giá, công nhận phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả áp dụng của sáng kiến…
Bên cạnh những văn bản của Nhà nước, Bộ Chính trị cũng đã ban hành các chỉ thị về đổi mới công tác thi đua khen thưởng như: Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại của các phong trào thi đua trong thời gian qua như sự thiếu đồng đều, liên tục của các phong trào thi đua, nhiều nơi còn mang nặng tính hình thức, chưa gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị. Nhiều nơi việc khen thưởng còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; khen thưởng cho người lao dộng trực tiếp sản xuất, nông dân, công nhân còn ít. Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến hiệu quả chưa cao, biện pháp tuyên truyền thiếu đồng bộ…
Từ năm 2018, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ tổng kết, đánh giá 13 năm thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng, nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được cũng như các hạn chế, tồn tại để từ đó đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, nâng cao tác dụng và hiệu quả của Luật; góp phần động viên cán bộ, nhân dân khắc phục khó khăn, phấn đấu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đề ra. Hiện nay, Bộ Nội vụ đang nghiên cứu dự thảo sửa đổi Luật Thi đua, Khen thưởng và thực hiện các bước quy trình xây dựng dự án luật báo cáo trình Chính phủ, Quốc hội. Luận văn: Pháp luật về thi đua khen thưởng tại doanh nghiệp.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về thi đua, khen thưởng và thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đã làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận. Đây là sơ sở để nghiên cứu sâu hơn thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng ở một nhóm đối tượng cụ thể đó là thi hành pháp luật về thi đua, khen thưởng đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những đánh giá sát thực, những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thi đua, khen thưởng, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị – kinh tế – xã hội của các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về thi đua khen thưởng tại DN

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về thi đua khen thưởng tại DN