Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến – Nghiên cứu trường hợp sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1, Tiêu đề

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến – Nghiên cứu trường hợp sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Tóm tắt

Đào tạo trực tuyến hiện đã được trên thế giới công nhận là một hình thức giáo dục mới và thiết yếu. Đã có nhiều học giả ở VN và ngoài VN tiến hành với đề tài về sự hài lòng khi học trực tuyến. Một số nghiên cứu tiêu biểu như Udo và cộng sự (2011); Perera & Abeysekera (2016); Sun và cộng sự (2008); Loan (2019);…. Các nghiên cứu thực hiện chủ yếu với loại hình đào tạo trực tuyến không đồng bộ. Mặt khác, các nghiên cứu đa số tập trung vào mô hình chất lượng dịch vụ của học giả Parasuraman. Rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình của học giả Gronroos, học giả Wang (2003) nhất là các nghiên cứu ở VN. Mô hình học giả Wang (2003) được thực hiện nghiên cứu ngay trong lĩnh vực giáo dục và cụ thể hơn là với lĩnh vực giáo dục trực tuyến. Sau đại dịch covid-19 thì hình thức đào tạo này càng trở nên phổ biến ở VN. Chính vì vậy, cần có nghiên cứu nghiêm túc trong việc đào đạo trực tuyến trong bối cảnh mới này và đó cũng là lý do nghiên cứu này được tiến hành. Số mẫu được đưa vào phân tích trong nghiên cứu bao gồm 405 sinh viên theo học tại các Trường top đầu tại TP.HCM. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy. Kết quả cho thấy cả 4 nhân tố được đề xuất ban đầu đều có hệ số hồi quy dương và có ý nghĩa thống kê. Xếp thứ tự từ mạnh đến yếu theo kết quả hồi quy là nhân tố sự tương tác, đảm bảo, khả năng đáp ứng và giao diện hệ thống với hệ số hồi quy chuẩn hóa tương ứng là 0.424; 0.230; 0.218; 0.196. Kết quả kiểm định T-Test cho thấy có sự khác nhau về hài lòng theo giới tính, sinh viên nam có mức độ hài lòng cao hơn sinh viên nữ. Kết quả kiểm định ANOVA cho thấy sinh viên giữa các ngành học khác nhau sẽ có mức độ hài lòng là như nhau. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

3. Từ khóa: Học trực tuyến, đào tạo tực tuyến, chất lượng đào tạo trực tuyến.

ABSTRACT

1, Tile

Factors affecting student satisfaction about online learning – A case study of university students in Ho Chi Minh City.

2. Abstract

Online training is now recognized worldwide as a new and essential form of education. There have been many studies in Vietnam and around the world conducted with the topic of online learning satisfaction. Some typical studies such as Udo et al (2011); Perera & Abeysekera (2016); Sun et al (2008); Loan (2019);…. The studies performed mainly with the asynchronous type of online training. Most studies focus on the service quality model of Parasuraman. Few studies using the model of Gronroos, Wang (2003). Model of Wang (2003) have been researched right in the field of education and more specifically with the field of online education. Therefore, there is a need for serious research in online training and that is also the reason why this study was conducted. The number of samples included in the analysis included 405 students at the top universities in HCMC. Data processing method through reliability assessment by Cronbach’s Alpha, exploratory factor analysis EFA, regression analysis. The results show that all four factors initially proposed have positive regression coefficients and are statistically significant. Ranked from strong to weak according to the regression results are the factors of interaction, assurance, responsiveness and system interface with the corresponding standardized regression coefficient of 0.424; 0.230; 0.218; 0.196. The results of the T-Test show that there is a difference in satisfaction by gender, male students have a higher level of satisfaction than female students. The results of ANOVA test show that students between different disciplines will have the same level of satisfaction.

3. Keywords: Online learning, online training, online training quality.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Trị Kinh Doanh

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

 Lý do chọn đề tài

Cụm từ chuyển đổi số trong một vài ngành nghề đang được nhắc đến rất nhiều. Trong giáo dục cũng không phải ngoại lệ, việc ứng dụng công nghệ vào giáo dục rất cần thiết trong bối cảnh mới này, cụ thể hơn là từ giảng dạy truyền thống chuyển đổi sang phương pháp giảng dạy trực tuyến hoặc là kết hợp cả hai. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Thời điểm Covid 19 bắt đầu diễn ra mạnh mẽ tại VN, khiến cho các trường, các tổ chức đào tạo phải chuyển sang hình thức đào tạo trực tuyến. Những lợi ích mà loại hình đào tạo này mang lại là không hề nhỏ, giúp cho việc học không bị gián đoạn và các lớp học vẫn được diễn ra không bị giới hạn về thời gian và không gian. Tuy nhiên, quá trình ứng dụng thực tiễn vào đào tạo trực tuyến tại thời điểm Covid 19 phát sinh không ít những khó khăn và trở ngại từ khách quan đến chủ quan, phần nào làm giảm đi sự hài lòng và chất lượng đào tạo thông qua loại hình này.

Đào tạo trực tuyến hiện đã được trên thế giới công nhận là một hình thức giáo dục mới và thiết yếu. Ở VN đã có nhiều chương trình đào tạo từ xa áp dụng hình thức này như Đại Học Mở TPHCM, Đại Học Mở Hà Nội. Ở TP.HCM cũng đã có một số trường áp dụng phương pháp học trực tuyến đồng bộ và phương pháp kết hợp vẫn đem lại hiệu quả như Đại học Kinh Tế TP.HCM áp dụng cho hệ đào tạo buổi tối.

Chính vì vậy, cần có nghiên cứu nghiêm túc về vấn đề này để giúp cải thiện hơn chất lượng trong việc đào đạo trực tuyến và đó cũng là lý do nghiên cứu được tiến hành.

Đã có nhiều học giả ở VN và ngoài VN tiến hành với đề tài về sự hài lòng khi học trực tuyến. Những mô hình với nhiều nhân tố khác nhau được các học giả đưa ra, mỗi mô hình của một tác giả đều có sự tác động lên sự hài lòng của người học. Một số nghiên cứu tiêu biểu như Udo và cộng sự (2011); Perera & Abeysekera (2016) sử dụng thang đo về đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1994); Sun và cộng sự (2008); Loan (2019) thì dựa trên mô hình của Wang (2003) có điều chỉnh;…. Nhìn chung những tác giả ở VN và ngoài VN nghiên cứu thực hiện chủ yếu với loại hình đào tạo trực tuyến không đồng bộ, tập trung nghiên cứu qua các khóa học trực tuyến. Một số nghiên cứu được trình bày trong chương 2 thực hiện với loại hình đào tạo trực tuyến đồng bộ nhưng chỉ thực hiện ở phạm vi một tổ chức đào tạo. Thanh và cộng sự (2020) về vấn đề “cảm nhận của Sinh viên chính quy khi trải nghiệm học trực tuyến hoàn toàn trong thời gian phòng chống dịch covid 19” được thực hiện ở TP.HCM nhưng chưa được tiến hành bằng thống kê suy diễn nên kết quả nghiên cứu không thể suy luận ngược về tổng thể.

Mặt khác, các nghiên cứu đa số tập trung vào mô hình chất lượng dịch vụ của học giả Parasuraman. Rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình của học giả Gronroos. Đã có nhiều nghiên cứu so sánh giữa 2 mô hình này của tác giả ở VN và ngoài VN như Lassar và cộng sự (2000), Nhật và Sang (2016), Trâm (2008), kết quả nghiên cứu cho thấy hai nhân tố chất lượng kỹ thuật và chức năng trong mô hình của học giả Gronroos giải thích tốt hơn các nhân tố có trong mô hình của học giả Parasuraman. Ngoài ra, cũng rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình của học giả Wang (2003) nhất là các nghiên cứu ở VN, mô hình này được thực hiện nghiên cứu ngay trong lĩnh vực giáo dục và cụ thể hơn là với lĩnh vực giáo dục trực tuyến.

Xuất phát từ các lý do thực tiễn và lý thuyết như trình bày ở trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của Sinh viên về học trực tuyến – Nghiên cứu trường hợp sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ.

1.2 Mục tiêu trong đề tài thực hiện Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

1.2.1 Về mục tiêu tổng quát trong nghiên cứu: nghiên cứu đánh giá các nhân tố có sự tác động đến hài lòng của sinh viên về học trực tuyến tại các trường Đại học ở TP.HCM, từ đó đưa ra những hàm ý quản trị để cải thiện chất lượng trong việc đào tạo trực tuyến.

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  • Xác định các nhân tố và thang đo tương ứng có trong mô hình đề xuất tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên.
  • Đo lường các nhân tố tác động có trong mô hình lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên.
  • Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện chất lượng đào tạo và cải thiện sự hài lòng của sinh viên.

1.3 Những câu hỏi trong nghiên cứu

  • Nhân tố tác động có trong mô hình lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên là những nhân tố nào?
  • Các nhân tố này tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên như thế nào?
  • Các hàm ý nào được đề xuất để cải thiện chất lượng dịch vụ đào tạo với phương pháp học tập trực tuyến này?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: sự hài lòng liên quan đến chất lượng đào tạo của phương pháp học tập trực tuyến và các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên theo học các Trường Đại học tại TP.HCM.

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: nghiên cứu được tiến hành tại các trường đại học top đầu trong phạm vi TP.HCM.
  • Phạm vi thời gian: dự kiến tiến hành với sự tham gia khảo sát của 500 sinh viên từ tháng 8/2022 đến tháng 9/2022.
  • Đối tượng sẽ tham gia vào cuộc khảo sát: sinh viên thuộc các hệ tào tạo ở những Trường Đại học top đầu tại TP.HCM.

1.6 Những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu

Định tính và cả định lượng là hai phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này. Cụ thể:

Trong phương pháp định tính: tiến hành thảo luận nhóm để điều chỉnh thang đo trong mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên theo học các Trường Đại học tại TP.HCM.

Trong phương pháp định lượng: tiến hành thu thập mẫu trên phạm vi rộng thông qua bảng câu hỏi được thiết kế từ mô hình và các thang đánh giá được đưa ra từ nghiên cứu định tính. Sau đó tiến hành thực hiện các kiểm định sau:

Kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha được sử dụng để đánh giá độ tin cậy của các thang đo và các biến quan sát trong từng thang đo của mô hình nghiên cứu. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích để tìm ra các nhân tố đại diện cho các biến quan sát có trong mô hình của các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên.

Nhân tố khẳng định CFA được tiến hành phân tích để khẳng định lại các nhân tố trong mô hình.

Hồi quy tuyến tính là phương pháp phân tích hồi quy được sử dụng để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến sự hài lòng về việc học trực tuyến.

1.7 Ý nghĩa sau khi nghiên cứu hoàn thành Ý nghĩa trong lý thuyết:

  • Góp phần kiểm định lại các lý thuyết có liên quan ở VN và ngoài VN đã được trình bày trong chương 2.
  • Trình bày rõ ràng thêm các tiêu chí về sự hài lòng khi đào tạo trực tuyến, một lĩnh vực đang được sự chú ý của các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đào tạo.
  • Bổ sung thêm những bằng chứng sâu hơn về sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến thông qua xác định sự khác nhau với những nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên học các Trường Đại học tại TP.HCM theo giới tính, ngành đào tạo.

1.8 Ý nghĩa trong thực tiễn:

  • Cơ sở cho các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực đào tạo nhìn nhận được rõ hơn nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên theo học các Trường Đại học tại TP.HCM.
  • Đề xuất các hàm ý quản trị đối với các nhân tố này nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ đào tạo với phương pháp học tập trực tuyến tại TP.HCM.

1.9 Kết cấu của nghiên cứu

Nghiên cứu dự kiến kết cấu thành 5 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu

Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Chương này sẽ trình bày các khái niệm, các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên, lược khảo những công trình đã được công bố của những học giả trong và ngoài VN, phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này sẽ mô tả quy trình thực hiện nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu, cách thức thu thập mẫu nghiên cứu.

Chương 4: Kết quả phân tích số liệu từ các mẫu khảo sát thu về

Phần này sẽ trình bày các kết quả phân tích được từ số liệu các mẫu khảo sát thu về và phân tích đánh giá các nhân tố tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên theo học các Trường Đại học tại TP.HCM.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Trong phần này sẽ trình bày những kết luận chung với các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trong chương 1 và tiến hành đề xuất những hàm ý quản trị dựa vào kết quả hồi quy đã được phân tích trong chương 4 và dựa trên cơ sở phân tích giá trị trung bình (Mean) của những thang đo các nhân tố tác động trong mô hình.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Cơ sở chọn các trường đại học top ở TP.HCM cho nghiên cứu

Theo thống kê của kenhtuyensinh24h.vn, hiện tại TP.HCM có tổng cộng 6 học viện và 50 trường đại học. Trong số trường đại học thì gồm 37 trường công lập và 13 trường dân lập.

Việc lựa chọn các trường Đại học top đầu để tiến hành khảo sát dựa vào bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới Webometrics. Bảng xếp hạng này dựa trên 3 tiêu chí tổng hợp sau:

  • Impact or Visibility (50%): đo lường qua lượng backlink từ các website từ các nguồn khác nhau trở về website chính của trường, thể hiện mức độ uy tín từ nội dung trên trang web của trường.
  • Openness or Transparency (10%): số lượng các công trình nghiên cứu sử dụng nguồn tư liệu trích dẫn từ Google Scholar, thể hiện mức độ lan tỏa học thuật của trường.
  • Excellence (40%): số lượng các bài báo từ đội ngũ giảng viên cũng như các nhà khoa học của trường đăng trên các tạp chí khoa học, được trích dẫn nhiều nhất nằm trong top 10% của danh mục Scopus.

Bảng xếp hạng tác giả sử dụng được công bố từ tháng 1/2022. Và được cập nhật một năm 2 lần vào tháng 01 và tháng 07. Trong bảng xếp hạng lần này tác giả chỉ sử dụng 9/10 trường top đầu để tiến hành khảo sát, trường còn lại tác giả tiến hành khảo sát với sinh viên trường Đại học Ngân Hàng TP.HCM. Danh sách 10 trường được tiến hành lấy mẫu khảo sát là:

  • + Đại học Tôn Đức Thắng
  • + Đại học Bách Khoa TP.HCM
  • + Đại học Công Nghiệp TP.HCM
  • + Đại học Nguyễn Tất Thành
  • + Đại học Kinh Tế TP.HCM
  • + Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
  • + Đại học Quốc Gia TP.HCM
  • + Đại học Mở TP.HCM
  • + Đại học Nông Lâm TP.HCM
  • + Đại học Ngân Hàng TP.HCM

2.2 Những lý thuyết về sự đào tạo Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

2.2.1. Lý thuyết về đào tạo

Đào tạo là việc truyền đạt những nguồn tri thức trong một ngành nghề hay một vấn đề nào đó khi có người muốn được hiểu về nó. Đào tạo nhằm mang lại cho người học những kiến thức để vận dụng vào thực tiễn, để sau đó họ có thể đảm nhận được một vị trí chuyên môn nhất định trong quá trình làm việc.

2.2.2. Đào tạo truyền thống

Theo Gaither (2009), đào tạo truyền thống là một phương pháp học tập mà người học và người dạy cùng tập trung tại một thời gian cụ thể, một địa điểm cụ thể.

Theo Mellado và cộng sự (2011), với đào tạo truyền thống thì yếu tố Giảng Viên là quan trọng hơn, việc soạn giáo án kĩ càng và sự truyền đạt dễ hiểu của Giảng Viên ảnh hưởng rất nhiều đến sự hài lòng của những người tham gia học tập với loại hình này.

Yếu tố Giảng Viên luôn là quan trọng cho dù ở loại hình đào tạo truyền thống hay trực tuyến. Dù công nghệ có tiên tiến, hiện đại nhưng chất lượng chuyên môn của Giảng Viên không được cân nhắc xem trọng thì sẽ không mang lại sự hiệu quả cho người học. Giảng Viên luôn đồng hành với sinh viên, khuyến khích, duy trì không khí thoải mái khi học tập khiến cho người học tích cực hơn trong việc học của mình. Chính vì vậy, yếu tố Giảng Viên luôn là mục tiêu tiên quyết cần được xem trọng trong bất cứ loại hình nào. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

2.2.3. Lý thuyết liên quan đến phương pháp đào tạo trực tuyến

Đào tạo theo phương pháp học tập trực tuyến là hình thức đào tạo:

Đối với đào tạo trực tuyến không đồng bộ: ở đó người học và người dạy không tập trung tại một địa điểm cụ thể và cũng không tập trung tại một thời gian cụ thể, việc học tập sẽ vô cùng được chủ động cho cả người học và người dạy, bất cứ thời gian nào mà mình muốn đều có thể học được, tính tương tác trực tiếp không có, chỉ có thể tương tác với Giảng Viên qua email, điện thoại….

Đối với đào tạo trực tuyến đồng bộ: ở đó người học và người dạy không tập trung tại một địa điểm cụ thể, nhưng tập trung tại một thời gian cụ thể. Người học và người dạy thông qua ứng dụng hỗ trợ như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams,…để học tập và trao đổi với nhau. Tính tương tác trực tiếp với Giảng Viên cao hơn đào tạo trực tuyến không đồng bộ.

Ở phạm vi đề tài này, những nội dung chỉ tập trung vào hình thức đào tạo trực tuyến đồng bộ thông qua ứng dụng hỗ trợ như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams,…

2.3 Khái niệm liên quan đến chất lượng dịch vụ

Là một khái niệm rộng lớn và bao hàm nhiều yếu tố trong nó. Đây là vấn đề khiến các học giả ở nhiều quốc gia tiến hành một cách nghiêm túc để đưa ra những mô hình, những khái niệm, những thang đo nhằm có được những kết luận chung nhất làm thước đo để đánh giá về nó. Tùy vào cách tiếp cận vấn đề khác nhau, đối tượng nghiên cứu khác nhau hay môi trường nghiên cứu khác nhau mà các học giả đưa ra những khái niệm khác nhau nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể trong thực tiễn và chưa hình thành định nghĩa nào là chung nhất hoặc đúng nhất. Trong số đó, nổi bật có 2 nghiên cứu được nhiều học giả trên thế giới chấp nhận và sử dụng rộng rãi để giải quyết những vấn đề riêng của mình và cũng để xác định lại mức độ chính xác của mô hình gốc. Hai công trình được công nhận nhiều nhất đó là học giả Parasuraman và học giả Gronroos.

2.3.1. Học giả Parasuraman – mô hình SERVQUAL

Ban đầu, học giả Parasuraman và cộng sự (1985) đã xây dựng và đề xuất mô hình với 10 nhân tố xoay quanh sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ và sự cảm nhận về nó sau khi sử dụng với 5 khoảng cách. Khoảng cách 1 đề cập đến nhận thức liên quan đến người quản lý với sự kì vọng của người sử dụng sản phẩm dịch vụ. Khoảng cách 2 đề cập đến nhận thức của nhà quản lý về việc chuyển đổi sự mong đợi đó thành tiêu chuẩn chất lượng riêng để đáp ứng. Khoảng cách 3 là khoảng cách từ tiêu chuẩn chất lượng lý thuyết đến thực tế diễn ra có đúng với những tiêu chuẩn đã xác định trước đó hay không. Khoảng cách 4 thể hiện sự cam kết với những thông tin hay lời hứa đã truyền thông đến khách hàng được thực hiện đúng và chính xác hay nói cách khác nó thể hiện sự tin cậy của người sử dụng sản phẩm dịch vụ với bên cung cấp. Khoảng cách 5 thể hiện sự cảm nhận từ những trải nghiệm sau khi trực tiếp sử dụng sản phẩm hay dịch vụ so với sự mong đợi của khách hàng. Ông cho rằng sự hài lòng của khách hàng thể hiện qua: “sự tin cậy”, “sự đáp ứng”, “năng lực phục vụ”, “tiếp cận”, “lịch sự”, “thông tin”, “tín nhiệm”, “an toàn”, “hiểu biết khách hàng”, “phương tiện hữu hình”. Mỗi một nhân tố trong mô hình của Ông đều có thang đo rất cụ thể chi tiết. Về ưu điểm thì có thể thấy được tính bao quát trong những gì học giả đã đưa ra. Tuy nhiên, vì chứa trong nó có khá nhiều nhân tố và biến quan sát nên nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường chúng. Càng về sau, có rất nhiều học giả kế thừa công trình nghiên cứu của Ông tiếp tục tiến hành cho những kiểm định và giải quyết vấn đề của mình. Cho đến nay, mô hình này được công nhận và sử dụng rộng rãi với 5 nhân tố mà hầu như nghiên cứu nào cũng xuất hiện bao gồm:

2.3.2. Học giả Gronroos (1984) – mô hình chất lượng kỹ thuật/chức năng

Theo Gronroos (1984), nhân tố thứ nhất là chất lượng kỹ thuật và nhân tố thứ hai là chất lượng chức năng là hai nhân tố được đưa ra để đánh giá về sự hài lòng khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Chất lượng kỹ thuật trả lời câu hỏi cung cấp cho khách hàng “cái gì”, đây là kết quả mà khách hàng nhận được. Chất lượng chức năng trả lời câu hỏi cung cấp dịch vụ “như thế nào”, thể hiện cách phục vụ của bên cung cấp sản phẩm dịch vụ với bên sử dụng nó.

Chất lượng kỹ thuật được Gronroos đánh giá thông qua những yếu tố: sản phẩm dịch vụ; kỹ năng chuyên môn; trình độ tác nghiệp; tiện ích cho khách hàng; trang thiết bị. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Chất lượng chức năng thể hiện thông qua các yếu tố: sự thuận tiện trong giao dịch; hành vi ứng xử, thái độ phục vụ; công tác tổ chức doanh nghiệp; tiếp xúc khách hàng; phong thái phục vụ và tinh thần tất cả vì khách hàng.

Hình 2.2 – Mô hình được sử dụng rộng rãi của học giả Gronroos

2.4 Lý thuyết sự hài lòng theo các nghiên cứu trước

Sự hài lòng được hiểu là kết quả nhận được so với sự mong đợi ban đầu. Khi cá nhân đặt sự kỳ vọng và kết quả nhận được sẽ cho họ cảm giác tích cực hoặc tiêu cực. Tức là sự hài lòng và không hài lòng.

Theo Kotler (2003), sự hài lòng là trạng thái cảm xúc của cá nhân bắt đầu từ những kỳ vọng của người đó với việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ.

Theo Swan và Nolan (1985), sự hài lòng được thông qua sự đánh giá có ý thức về sản phẩm tốt hoặc kém, phù hợp hay không phù hợp với mục đích sử dụng. Khái niệm này trình bày về sự khác biệt có nhận thức giữa các kỳ vọng trước khi trải nghiệm và hiệu suất thực tế của sản phẩm.

Theo Hunt (1991), sự hài lòng được thể hiện dựa trên đánh giá chủ quan của cá nhân thông qua kết quả của sự trải nghiệm khi sử dụng sản phẩm. Khái niệm này tập trung về sự trải nghiệm và kết quả đạt được sau trải nghiệm của mỗi cá nhân.

Những định nghĩa về sự hài lòng có thể khác nhau nhưng đều xoay quanh sự kỳ vọng của người sử dụng những sản phẩm hay dịch vụ với bên cung cấp và kết quả nhận được sau đó. Sự hài lòng tỉ lệ thuận với sự cung cấp chất lượng dịch vụ, sự hài lòng cao thì chất lượng dịch vụ tốt và ngược lại.

2.5 Mối liên hệ giữa sự hài lòng với sự cung cấp chất lượng dịch vụ trong đào tạo trực tuyến Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Người học có hài lòng hay không phụ thuộc vào mức độ kỳ vọng của họ so với kiến thức đạt được trong một môn học hoặc khóa học nào đó. Thái độ tích cực hoặc tiêu cực với những giá trị nhận được từ môn học, khóa học cũng có thể hiểu như là sự hài lòng hoặc không hài lòng của người học.

Theo Sun và cộng sự (2008) thì chất lượng của khóa học; thái độ của người học và cách sử dụng máy tính; sự phản hồi và thái độ của Giảng Viên; đường truyền internet; giao diện trang web dễ sử dụng và đem lại thông tin chính xác cho người học; sự đa dạng trong đánh giá học tập và sự tương tác trong quá trình học là những nhân tố thể hiện sự hài lòng hay không hài lòng của người học.

Theo Lindgaard và Dudek (2003), sự hài lòng hay không hài lòng khi tham gia học trực tuyến của người học thông qua sự trải nghiệm đối với hệ thống thông tin, kết nối và thông qua sự tương tác khi tham gia vào quá trình học tập.

Theo Russo và Benson (2005), thì yếu tố lo sợ việc rủi ro khi học tập trực tuyến từ tâm lý cá nhân bên cạnh những kỳ vọng mà họ mong muốn cũng tác động đến sự hài lòng hay không khi tiếp cận với phương thức học tập này. Nếu những vấn đề phát sinh về mặt kỹ thuật được hỗ trợ và đáp ứng nhanh chóng, kịp thời sẽ góp phần vào thành công của phương thức học tập này theo các tác giả.

Theo Diệp và Nga (2020), thì sự hài lòng của người học thể hiện ở đường truyền internet, phần mềm hỗ trợ dễ sử dụng, trình độ và trách nhiệm của giảng viên, sự đáp ứng kịp thời từ nhà trường, sự hỗ trợ quan tâm đến người học từ phía nhà trường.

Theo Udo và cộng sự (2011), chuyên môn người dạy, đánh giá kết quả học tập một cách công bằng, sự giải đáp thỏa đáng của giảng viên; sự quan tâm và khuyến khích sinh viên cố gắng; sự giải đáp nhanh chóng từ phía giảng viên, nhà trường; nội dung học tập chất lượng; trang web mang lại thông tin hữu ích, chính xác là những nhân tố mang lại sự hài lòng cho người học.

Nhìn chung từ những khái niệm, người học có hài lòng hay không thường được thể hiện qua các nhân tố giảng viên, sự đáp ứng nhanh chóng từ phía nhà trường, sự đồng cảm với người học, nội dung được học bám sát với thực tiễn. Ngoài ra sự hài lòng còn thể hiện ở các nhân tố khác như đường truyền, trang web của khóa học và sự tương tác trong quá trình học. Những nhân tố này cần được quan tâm, điều chỉnh kịp thời, bài bản để tăng năng lực cạnh tranh về đào tạo trực tuyến giữa các tổ chức.

2.6 Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

2.6.1. Các nghiên cứu ở VN

Nghiên cứu của Diệp và Nga (2021) về “đánh giá sự hài lòng của Sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo đại học bằng e-learning trong bối cảnh covid-19 tại trường đại học Lạc Hồng”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 1935 sinh viên trường Đại học Lạc Hồng. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL có điều chỉnh để đánh giá chất lượng bao gồm các nhân tố “phương tiện hữu hình”, “sự đáp ứng”, “năng lực phục vụ”, “sự tin cậy”, “sự đồng cảm”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “phương tiện hữu hình” là nhân tố tác động mạnh nhất và “năng lực phục vụ” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Nguồn: Diệp và Nga (2021) – đánh giá sự hài lòng của Sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo đại học bằng e-learning trong bối cảnh covid-19 tại trường đại học Lạc Hồng”.

Theo Hằng (2020) về “đánh giá sự hài lòng của Sinh viên đối với hoạt động giảng dạy e-learning ở trường Đại học Công nghệ Đồng Nai”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 350 sinh viên trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Nghiên cứu sử dụng mô hình với 5 yếu tố là “thiết kế”, “giảng viên”, “sinh viên”, “nội dung và cá nhân hoá, “công nghệ”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “sinh viên” là nhân tố tác động mạnh nhất, “nội dung và cá nhân hóa” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Hình 2.4 – Mô hình nghiên cứu của Hằng (2020)

Theo Thanh và cộng sự (2020) về “cảm nhận của Sinh viên chính quy khi trải nghiệm học trực tuyến hoàn toàn trong thời gian phòng chống dịch Covid-19”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 2225 sinh viên trường Đại học Mở TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 04 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Shee và Wang (2008) là “giao diện người dùng”, “cộng đồng học tập”, “nội dung hệ thống”, “cá nhân hóa”. Phương pháp nghiên cứu được tiến hành bằng cách gửi khảo sát và thu thập những phản hồi của sinh viên sau đó số liệu thu về sẽ được xử lý thông qua thống kê và mô tả mẫu. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy sự hài lòng của sinh viên khi tham gia vào việc học trực tuyến là chưa cao. Các yếu tố dẫn đến sự không hài lòng xuất phát từ cả khách quan lẫn chủ quan như đường truyền mạng cũng như những yếu tố liên quan đến tâm lý của người học khi chưa sẵn sàng và sự hỗ trợ chưa được nhanh chóng, kịp thời từ phía nhà trường.

Hình 2.5 – Mô hình nghiên cứu của Thanh và cộng sự (2020) Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Nghiên cứu của Hiền (2019) về “các yếu tố tác động đến sự hài lòng của Học Viên tham gia khóa học đào tạo trực tuyến ở các trường đại học khu vực TP.HCM”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 350 sinh viên đã và đang theo học khóa học trực tuyến ở các trường trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 07 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Uppal và cộng sự (2018) và có sự điều chỉnh với 7 nhân tố là “độ tin cậy”, “đảm bảo”, “hữu hình”, “đồng cảm”, “đáp ứng”, “nội dung học tập”, “trang web khóa học”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “nội dung học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất và “đồng cảm” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Hình 2.6 – Mô hình nghiên cứu của Hiền (2019)

Nghiên cứu của Loan (2019) về “các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người học với phương pháp e-learning: nghiên cứu tại hội liên hiệp phụ nữ TP.HCM”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 240 học viên tại hội liên hiệp phụ nữ TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 06 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Sun và cộng sự (2008) và có sự điều chỉnh bao gồm 6 nhân tố “thái độ người học”, “giảng viên”, “chương trình đào tạo”, “giao diện hệ thống”, “công nghệ”, “tương tác”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Theo kết quả nghiên cứu thì tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau khi hồi quy thì “thái độ người học” là nhân tố tác động mạnh nhất và “tương tác” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Hình 2.7 – Mô hình nghiên cứu của Loan (2019)

2.6.2. Các nghiên cứu ngoài VN Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Theo Uppal và cộng sự (2018) về “các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ e-learning”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 421 sinh viên đại học, sau đại học ở các lĩnh vực khác nhau tại trường đại học GC, đại học công nghệ và kỹ thuật Lahore. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL mở rộng để đánh giá chất lượng bao gồm 7 nhân tố tác động là “sự tin cậy”, “sự đảm bảo”, “sự hữu hình”, “sự đồng cảm”, “sự đáp ứng”, “nội dung học tập” và “trang web học tập”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “trang web học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất và “sự tin cậy” là nhân tố có tác động.

Hình 2.8 – Mô hình nghiên cứu của Uppal và cộng sự (2018)

Nghiên cứu của Perera và Abeysekera (2016) về “mô hình phân tích dựa trên sự hài lòng của Sinh viên trong đào tạo từ xa”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 244 sinh viên trong chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Mở Sri Lanka (OUSL). Nghiên cứu sử dụng mô hình Udo và cộng sự (2011) gồm 5 nhân tố “sự đảm bảo”, “sự đồng cảm”, “khả năng đáp ứng”, “độ tin cậy” và “nội dung trang web”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “nội dung trang web” là nhân tố tác động mạnh nhất.

Hình 2.9 – Mô hình nghiên cứu của Perera và Abeysekera (2016) Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Nguồn: Perera và Udo và cộng sự (2011) với đề tài “sử dụng SERVQUAL để đánh giá chất lượng của trải nghiệm học tập trực tuyến”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 203 sinh viên học trực tuyến tại trường Cao đẳng Quản trị Kinh doanh, Đại học Texas tại El Paso, El Paso, TX 79968, Hoa Kỳ. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL sửa đổi để đánh giá chất lượng bao gồm 5 nhân tố “sự đảm bảo”, “sự đồng cảm”, “khả năng đáp ứng”, “độ tin cậy” và “nội dung trang web”. Phương pháp phân tích dữ liệu thông qua SEM. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy chỉ bốn trên năm nhân tố được đề xuất có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Nhân tố ‘‘độ tin cậy’’ chỉ ra mối quan hệ tích cực nhưng không đáng kể với sự hài lòng khi học trực tuyến. Nhân tố ”nội dung trang web” là có tác động mạnh nhất.

Theo Sun và cộng sự (2008) về “điều gì thúc đẩy một e-Learning thành công? Một cuộc điều tra thực nghiệm các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 295 sinh viên tại một trường công lập ở Đài Loan. Nghiên cứu sử dụng mô hình của Wang (2003) là “nội dung học tập”, “người học”, “giao diện hệ thống”, “tương tác” và đề xuất thêm 2 yếu tố là “công nghệ”“giảng viên”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, tương quan pearson được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau khi hồi quy thì “nội dung học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất.

Hình 2.11 – Mô hình nghiên cứu của Sun và cộng sự (2008)

Nguồn: Sun và cộng sự (2008) – điều gì thúc đẩy một e-Learning thành công? Một cuộc điều tra thực nghiệm các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học”.

Nghiên cứu của Wang (2003) về “đánh giá mức độ hài lòng của người học với học tập trực tuyến không đồng bộ”. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 116 sinh viên đang theo học tại Đại học công lập Đài Loan. Phương pháp được sử dụng là nghiên cứu định tính do Ông xây dựng bằng cách tiến hành phỏng vấn 2 chuyên gia, 4 Giảng Viên đại học và 10 người học. Mô hình gồm 4 yếu tố “nội dung học tập”, “yếu tố người học”, “yếu tố giao diện hệ thống””yếu tố tương tác”.

Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích. Sau khi tiến hành phân tích thì kết quả đạt được cho thấy những tiến bộ đáng kể hướng tới phát triển một công cụ chung dùng để đo lường cho các nghiên cứu sau này. Tính tổng quát của công cụ được đề xuất này cung cấp một khuôn khổ chung để làm nền tảng cho các nghiên cứu khác nhau.

Hình 2.12 – Mô hình nghiên cứu của Wang (2003) Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Bảng 2.1 – Bảng tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan

Tác giả (năm) Vấn đề nghiên cứu Dữ liệu nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

Diệp và Nga (2021)

“Đánh giá sự hài lòng của Sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo đại học bằng elearning trong bối cảnh covid- 19 tại trường đại học Lạc Hồng.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 1935 sinh viên trường Đại học Lạc Hồng. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL có điều chỉnh để đánh giá chất lượng bao gồm các nhân tố “phương tiện hữu hình”, “sự đáp ứng”, “năng lực phục vụ”, “sự tin cậy”, “sự đồng cảm”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy nhị phân Binary Logistic. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau khi hồi quy thì “phương tiện hữu hình” là nhân tố tác động mạnh nhất và “năng lực phục vụ” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Hằng (2020)

“Đánh giá sự hài lòng của Sinh viên đối với hoạt động giảng dạy elearning ở trường Đại học Công nghệ Đồng Nai.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 350 sinh viên trường Đại học Công nghệ Đồng Nai. Nghiên cứu sử dụng mô hình với 5 yếu tố là “thiết kế”, “giảng viên”, “sinh viên”, “nội dung và cá nhân hoá”, “công nghệ”.

Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này.

Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “sinh viên” là nhân tố tác động mạnh nhất; “nội dung và cá nhân hóa” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Thanh và cộng sự (2020)

“Cảm nhận của sinh viên chính quy khi trải nghiệm học trực tuyến hoàn toàn trong thời gian phòng chống dịch Covid- 19.”

 

Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 2225 sinh viên trường Đại học Mở TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 04 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Shee và Wang (2008) là “giao diện người dùng”, “cộng đồng học tập”, “nội dung hệ thống”, “tính cá nhân hóa”.

Phương pháp nghiên cứu được tiến hành bằng cách gửi khảo sát và thu thập những phản hồi của sinh viên sau đó số liệu thu về sẽ được xử lý thông qua thống kê mô tả mẫu.

Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy sự hài lòng của sinh viên khi tham gia vào việc học trực tuyến là chưa cao. Các yếu tố dẫn đến sự không hài lòng xuất phát từ cả khách quan lẫn chủ quan như đường truyền mạng cũng như những yếu tố liên quan đến tâm lý của người học khi chưa sẵn sàng và sự hỗ trợ chưa được nhanh chóng, kịp thời từ phía nhà trường.

Hiền (2019)

“Nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của học viên tham gia khóa học đào tạo trực tuyến ở các trường đại học khu vực TP.HCM.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 350 sinh viên đã và đang theo học khóa học trực tuyến ở các trường trường đại học trên địa bàn TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 07 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Uppal và cộng sự (2018) và có sự điều chỉnh với 7 nhân tố là “độ tin cậy”, “đảm bảo”, “hữu hình”, “đồng cảm”, “đáp ứng”, “nội dung học tập”, “trang web khóa học”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “nội dung học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất và “đồng cảm” là nhân tố có tác động yếu nhất.
Loan (2019) “Các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người học với phương pháp e-learning: nghiên cứu tại hội liên hiệp phụ nữ TP.HCM.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 240 học viên tại hội liên hiệp phụ nữ TP.HCM. Nghiên cứu sử dụng 06 thành phần kế thừa từ nghiên cứu của Sun và cộng sự (2008) và có sự điều bao gồm 6 nhân tố là “thái độ người học”, “giảng viên”, “chương trình đào tạo”, “giao diện hệ thống”, “công nghệ”, “tương tác”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “thái độ người học” là nhân tố tác động mạnh nhất và “tương tác” là nhân tố có tác động yếu nhất.

Uppal và cộng sự (2018)

“Các yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ elearning.” Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 421 sinh viên đại học, sau đại học ở các lĩnh vực khác nhau tại trường đại học GC, đại học công nghệ và kỹ thuật Lahore. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL mở rộng để đánh giá chất lượng bao gồm 7 nhân tố tác động là “sự tin cậy”, “sự đảm bảo”, “sự hữu hình”, “sự đồng cảm”, “sự đáp ứng”, “nội dung học tập” và “trang web học tập”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “trang web học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất và “sự tin cậy” là nhân tố có tác động yếu nhất.
Perera và Abeysekera (2016) “Mô hình phân tích dựa trên sự hài lòng của Sinh viên trong đào tạo từ xa.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 244 sinh viên trong chương trình đào tạo từ xa tại Đại học Mở Sri Lanka (OUSL). Nghiên cứu sử dụng mô hình Udo và cộng sự (2011) gồm 5 nhân tố “sự đảm bảo”, “sự đồng cảm”, “khả năng đáp ứng”, “độ tin cậy” và “nội dung trang web”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau khi hồi quy thì “nội  dung trang web” là nhân tố tác động mạnh nhất.
Udo và cộng sự (2011) “Sử dụng SERVQUAL để đánh giá chất lượng của trải nghiệm học tập trực tuyến.”

 

Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 203 sinh viên học trực tuyến tại trường Cao đẳng Quản trị Kinh doanh, Đại học Texas tại El Paso, El Paso, TX 79968, Hoa Kỳ. Nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL sửa đổi để đánh giá chất lượng bao gồm 5 nhân tố “sự đảm bảo”, “sự đồng cảm”, “khả năng đáp ứng”, “độ tin cậy” và “nội dung trang web”. Phương pháp phân tích dữ liệu thông qua SEM. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy chỉ bốn trên năm nhân tố được đề xuất có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Nhân tố “độ tin cậy” chỉ ra mối quan hệ tích cực nhưng không đáng kể với sự hài lòng khi học trực tuyến. Nhân tố “nội dung trang web” là có tác động mạnh nhất.

Sun và cộng sự (2008)

“Điều gì thúc đẩy một eLearning thành công? Một cuộc điều tra thực nghiệm các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của người học.” Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 295 sinh viên tại một trường công lập ở Đài Loan. Nghiên cứu sử dụng mô hình của Wang (2003) là “nội dung học tập”, “người học”, “giao diện hệ thống”, “tương tác” và đề xuất thêm 2 yếu tố là “công nghệ” và “giảng viên”. Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, tương quan pearson được tiến hành phân tích, phân tích hồi quy cũng được tiến hành trong nghiên cứu này. Kết quả sau khi tiến hành phân tích cho thấy tất cả các nhân tố được đề xuất đều có tác động lên sự hài lòng của sinh viên khi tham gia học trực tuyến. Xếp theo thứ tự tác động từ mạnh đến yếu sau khi hồi quy thì “nội dung học tập” là nhân tố tác động mạnh nhất.
Wang (2003) “Đánh giá mức độ hài lòng của người học với học tập trực tuyến không đồng bộ.” Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến. Tham gia vào quá trình khảo sát của nghiên cứu này là 116 sinh viên đang theo học tại Đại học công lập Đài Loan. Phương pháp được sử dụng là nghiên cứu định tính do Ông xây dựng bằng cách tiến hành phỏng vấn 2 chuyên gia, 4 Giảng Viên đại học và 10 người học. Mô hình gồm 4 yếu tố là “nội dung học tập”, “người học”, “giao diện hệ thống”, “tương tác”.

Phương pháp xử lý dữ liệu thông qua Cronbach’s Alpha để xem độ tin cậy của thang đo, nhân tố khám phá EFA được tiến hành phân tích.

Sau khi tiến hành phân tích thì kết quả đạt được cho thấy những tiến bộ đáng kể hướng tới phát triển một công cụ chung dùng để đo lường cho các nghiên cứu sau này. Tính tổng quát của công cụ được đề xuất này cung cấp một khuôn khổ chung để làm nền tảng cho các nghiên cứu khác nhau.

Nhìn chung từ 10 nghiên cứu lược khảo trình bày ở trên có 5 nghiên cứu sử dụng mô hình SERVQUAL của học giả Parasuraman, 4 nghiên cứu là kế thừa mô hình của học giả Wang. Trong đó, kết quả nghiên cứu của Perera và Abeysekera (2016) khi kế thừa mô hình của Udo và cộng sự (2011) cho thấy nhân tố nội dung trang web là tác động mạnh nhất, giống kết quả của mô hình kế thừa. Nghiên cứu của Hiền (2019) kế thừa mô hình của Uppal và cộng sự (2018) thì thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau hồi quy của các nhân tố không giống nghiên cứu kế thừa. Mặt khác, nghiên cứu của Loan (2019) kế thừa mô hình của Sun và cộng sự (2008) thì thứ tự tác động sắp xếp theo chiều mạnh về yếu sau hồi quy của các nhân tố cũng không giống nghiên cứu kế thừa. Và chỉ có hai trên mười nghiên cứu lược khảo là tiến hành với học trực tuyến đồng bộ, các nghiên cứu còn lại tiến hành nghiên cứu với học trực tuyến không đồng bộ. Đa số các nghiên cứu ở trên được tiến hành trong bối cảnh đã có sự chuẩn bị về các mặt khi tiến hành đào tạo trực tuyến, chỉ có nghiên cứu của Thanh và cộng sự (2020) là tiến hành trong bối cảnh covid 19 với học trực tuyến đồng bộ khi chưa có sự chuẩn bị từ cả người học, người dạy và nhà trường. Chính vì vậy mà các nhân tố trong mô hình của các nghiên cứu trên có đầy đủ các yếu tố thể hiện cho sự chuẩn bị trước khi triển khai đào tạo trực tuyến không đồng bộ. Nhưng nếu áp dụng các mô hình nghiên cứu trên cho học trực tuyến đồng bộ tại các trường đại học TP.HCM có thể sẽ không đầy đủ được hết các nhân tố mà cần có sự điều chỉnh kế thừa cho hợp lý với thực trạng. Ví dụ như nhân tố nội dung chương trình đào tạo, theo tiêu chuẩn riêng của từng trường đã có sẵn, khi triển khai dạy trực tuyến đồng bộ thì phụ thuộc vào kỹ năng cũng như cách truyền đạt của giảng viên truyền đạt cho sinh viên chứ không phải là đi điều chỉnh lại nội dung chương trình đào tạo. Còn các nhân tố nội dung đào tạo trình bày ở trên có tác động mạnh là do đang tiến hành nghiên cứu với một khóa học e-learning nên nội dung có hay và chất lượng hay không có thể sẽ là một yếu tố tiên quyết.

2.7 Mô hình được đề xuất và giả thuyết trong mô hình nghiên cứu Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

Sau khi lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, kế thừa những lý thuyết nền của nhiều học giả có uy tín. Và như đề cập cuối mục 2.6, mô hình của học giả Wang 2003 có 4 nhân tố nhưng trong đó 2 nhân tố là nội dung và cá nhân hóa các câu hỏi trong thang đo chỉ tập trung vào trực tuyến không đồng bộ và chỉ phù hợp với trực tuyến không đồng bộ. Tương tự như vậy, với mô hình của học giả Udo và cộng sự (2011) cũng có những nhân tố chỉ thích hợp hơn khi nghiên cứu đào tạo trực tuyến không đồng bộ, không phù hợp với nghiên cứu về đào tạo trực tuyến đồng bộ. Tác giả kế thừa những nhân tố phù hợp với đào đạo trực tuyến đồng bộ từ 2 nghiên cứu của Wang (2003); Udo và cộng sự (2011) để tiến hành cho nghiên cứu của mình. Tác giả đề xuất khung phân tích trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình với 4 nhân tố tác động lên sự hài lòng khi tham gia vào việc học trực tuyến của sinh viên. Cụ thể là:

Theo Udo và cộng sự (2011) nhân tố đảm bảo là nhân tố được đo lường thông qua giảng viên là người có nền tảng chuyên môn tốt; đánh giá kết quả học tập một cách công bằng; sự giải đáp thỏa đáng của giảng viên; ứng dụng thành thạo phần mềm trong giảng dạy. Các nghiên cứu liên quan của Hiền (2019), Perera và Abeysekera (2016), Uppal và cộng sự (2018) đều cho thấy nhân tố đảm bảo có tác động tích cực đến sự hài lòng khi tham gia học trực tuyến. Tác giả đưa ra giả thuyết đầu tiên về nhân tố đảm bảo tác động lên sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên như sau:

H1: “Nhân tố đảm bảo có tác động tích cực đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên”.

Theo Udo và cộng sự (2011) nhân tố khả năng đáp ứng được thể hiện thông qua việc luôn sẵn sàng giải quyết những nhu cầu của sinh viên liên quan đến việc học được nhanh chóng, hiệu quả và thỏa đáng. Giảng viên luôn hoan nghênh các câu hỏi và nhận xét của sinh viên. Các nghiên cứu liên quan của Diệp và Nga (2021), Hiền (2019), Perera và Abeysekera (2016), Uppal và cộng sự (2018) cũng cho kết quả tác động tích cực từ nhân tố này. Tác giả đưa ra giả thuyết thứ hai về khả năng đáp ứng tác động đến sự hài lòng của sinh viên khi học trực tuyến như sau: Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

H2: “Khả năng đáp ứng có tác động tích cực đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên”.  

Theo Wang (2003) nhân tố sự tương tác trong quá trình học được đo lường thể hiện qua việc giảng viên và sinh viên tương tác với nhau khi học tập dễ dàng, thuận lợi. Cũng như sự tương tác trong nội dung học tập là những tình huống luôn bám sát thực tế để mọi người được tranh luận phản biện với nhau, được làm việc nhóm thảo luận với nhau tạo ra không khí hào hứng khi lớp học trực tuyến diễn ra. Các nghiên cứu liên quan của Thanh và cộng sự (2020), Loan (2019), Sun và cộng sự (2008) đều cho thấy nhân tố sự tương tác có tác động tích cực đến sự hài lòng khi tham gia học trực tuyến. Tác giả đưa ra giả thuyết thứ ba về sự tương tác có tác động đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên như sau:

H3: “Sự tương tác có tác động tích cực đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên”.

Theo Wang (2003) nhân tố giao diện hệ thống được đo lường thông qua tính dễ sử dụng, tính tương tác, linh hoạt thuận tiện, dễ nhìn và thu hút người học. Bên cạnh đó nhân tố này cũng bao gồm kỹ năng sử dụng công cụ khi đăng nhập phần mềm của người học. Các nghiên cứu liên quan của Thanh và cộng sự (2020), Loan (2019), Sun và cộng sự (2008) đều cho thấy nhân tố giao diện hệ thống có tác động tích cực đến sự hài lòng khi tham gia học trực tuyến. Tác giả đưa ra giả thuyết thứ tư về giao diện hệ thống có tác động đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên như sau:

H4: “Giao diện hệ thống có tác động tích cực đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên”.

TÓM TẮT NỘI DUNG TRÌNH BÀY TRONG CHƯƠNG 2

Trong chương 2, nghiên cứu này đã đưa ra những định nghĩa, khái niệm của các nghiên cứu trong và ngoài VN có liên quan đến với đề tài nghiên cứu. Thêm vào đó, nghiên cứu này cũng thể hiện các lý thuyết về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng về chất lượng dịch vụ đào tạo trực tuyến. Chương 2 cũng được tiến hành lược khảo những nghiên cứu của các tác giả ở VN và nước ngoài có liên quan về các nhân tố tác động đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên. Trên cơ sở đó, tác giả đã hình thành nên những giả thuyết cho nghiên cứu của mình và đề xuất các nhân tố tác động đến sự hài lòng trong việc tham gia học trực tuyến của sinh viên tại TP.HCM.

Trên cơ sở những lý thuyết đã trình bày trong chương 2, những nội dung liên quan đến phương pháp được tiến hành cho nghiên cứu này sẽ được thể hiện trong chương 3. Luận văn: Nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC đến sự hài lòng của sinh viên về học trực tuyến

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537