Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Ðan Việt dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng và được coi là động lực của sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Cạnh tranh là động lực của sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, góp phần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh. Kết quả của quá trình cạnh tranh sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do đó vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành một vấn đề sống còn mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải đặt lên hàng đầu trong nền kinh tế hội nhập.

Trên thị trường thép Việt Nam hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, kể cả các doanh nghiệp tư nhân không có hệ thống tiêu thụ trực tiếp mà bán hàng thông qua các công ty cấp I. Theo ông Nguyễn Tiến Nghi, phó chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, lý do khiến hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều không muốn bán trực tiếp đến người tiêu dùng, nhất là đối với các doanh nghiệp tiêu thụ thép lớn, là vì không thể thu hồi vốn ngay được. Các công ty nước ngoài hay liên doanh như Việt – Úc (Vinausteel), Việt Hàn (VPS), Posco (Hàn Quốc) là những doanh nghiệp rất có kinh nghiệm về thị trường, nhưng họ vẫn sử dụng biện pháp có lợi nhất là mua đứt bán đoạn. Với biện pháp này, họ giảm được tối đa rủi ro về nguồn vốn. Ngược lại, chính người tiêu dùng cũng không muốn mua trực tiếp từ các nhà sản xuất, vì không gửi được giá (không được hưởng % chênh lệch), trong khi đó khi mua ở các đại lý ngoài sẽ gửi được giá và qua đó có thể bù đắp vào các khoản chi phí khác (mỗi doanh nghiệp để có được một dự án thì phải mất rất nhiều khoản chi phí). Đây cũng chính là cơ hội để các công ty cấp 1, 2, 3, 4… rồi đến các cửa hàng bán lẻ của tư nhân phát triển (Nguyễn Mạnh, 2025).

Công ty TNHH Đan Việt là một công ty hoạt động chính trong lĩnh vực phân phối thép khá thành công trên thị trường Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Doanh thu, lợi nhuận và số lượng nhân viên của công ty không ngừng tăng lên trong vòng 5 năm gần đây. Tuy nhiên, với đặc điểm phân phối của ngành thép như đã phân tích ở trên, khi hàng ra khỏi cổng nhà máy giá thép đã được bán với một giá khác, sau đó tiếp tục qua các đại lý các cấp khác nhau. Mức giá này phụ thuộc rất nhiều vào sự cạnh tranh của các đại lý phân phối. Điều đó tạo ra một áp lực rất lớn đối với công ty trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể phân phối thép theo mức giá mà thị trường chấp nhận.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Ðan Việt” để làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành Quản trị kinh doanh.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn đề được nhiều nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà khoa học quan tâm.Thuật ngữ “lợi thế cạnh tranh” được hiểu là “giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vựot quá chi phí dùng để tạo ra nó. Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của những đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao hơn (Michael Porter, 1985)

Các lý thuyết nghiên cứu năng lực cạnh tranh bao gồm quan điểm của tổ chức công nghiệp IO (Industrial Organization) và quan điểm dựa trên nguồn lực RBV (Resource-Based View).Quan điểm của tổ chức công nghiệp (được ủng hộ bởi giáo sư Michael Porter) tập trung vào cơ cấu các lực lượng trong ngành, môi trường cạnh tranh của các công ty và ảnh hưởng của chúng tới lợi thế cạnh tranh.Quan điểm dựa trên nguồn lực RBV (Resource-Based View) thì cho rằng nguồn lực doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được và duy trì năng lực cạnh tranh. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Vận dụng các lý thuyết trên, đã có rất nhiều nghiên cứu phân tích và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam. Các nghiên cứu này được thực hiện ở các cấp độ khác nhau:

Nghiên cứu về NLCT của các doanh nghiệp Việt Nam, Nguyễn Thị Huyền Trâm (2022) đã nghiên cứu thực trạng số lượng, quy mô và nguồn lực vốn, lao động và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam tính đến năm 2022. Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp như giải pháp nâng cao năng lực quản lý, nâng cao năng lực marketing, năng lực sáng tạo của doanh nghiệp, cũng như giải pháp sử dụng hiệu quả và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp

Trong các luận án tiến sĩ đã công bố, có rất nhiều luận án nghiên cứu về năng lực cạnh tranh. Ở cấp độ nghiên cứu này, các tác giả thường nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của một ngành. Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành viễn thông Việt Nam đã được nghiên cứu bởi tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2022). Năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đã được tác giả Lê Cẩm Ninh (2023) phân tích đánh giá. Chiến lược nâng cao NLCT của ngành chế biến thủy sản được Bùi Đức Tuấn (2019) đề xuất. Tác giả Nguyễn Hữu Điệp (2017), cũng có rất nhiều nghiên cứu về NLCT của ngành mía đường Việt Nam, và còn rất nhiều nghiên cứu khác nghiên cứu về NLCT theo cấp độ ngành. Trong các nghiên cứu này, các tác giả chú trọng phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đặc thù của mỗi ngành tới NLCT của các doanh nghiệp trong ngành, cũng như đánh giá NLCT của cả ngành trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Trong các đề tài luận văn thạc sĩ, vấn đề nâng cao NLCT của một doanh nghiệp cụ thể thường được nghiên cứu phân tích. Bài viết của các tác giả Nguyễn Thị Bảo Thuý (2023), Nguyễn Thị Liên (2023) và nhiều đề tài luận văn thạc sĩ khác đã nghiên cứu tác động của các nhân tố vĩ mô và vi mô đến năng lực cạnh tranh, phân tích các nguồn lực của doanh nghiệp từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty, bao gồm giải pháp chăm sóc khách hàng, giải pháp nâng cao sức mạnh nhà cung ứng, giải pháp hạn chế sự ganh đua của các đối thủ cạnh tranh, và các giải pháp nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực bên trong của công ty. Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của một công ty hoạt động trong lĩnh vực phân phối thép tại Việt nam. Vì vậy đề tài có điểm mới là:

Nghiên cứu các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp cụ thể hoạt động trong lĩnh vực phân phối thép.

Nghiên cứu các nhân tố nguồn lực bên trong ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối thép, trong mối quan hệ so sánh với các đối thủ cạnh tranh chính của doanh nghiệp này.

Xác định điểm mạnh và điểm yếu về NLCT của doanh nghiệp này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao NLCT của doanh nghiệp.

3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
  • Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân.
  • Đề xuất biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt.
  • Với mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu của đề tài là:
  • Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp?
  • Câu hỏi 2: Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài ảnh hưởng như thế nào đến NLCT của công ty TNHH Đan Việt ?
  • Câu hỏi 3: Các yếu tố bên trong ảnh hưởng như thế nào đến NLCT của công ty TNHH Đan Việt?
  • Câu hỏi 4: Điểm mạnh và điểm yếu về NLCT của công ty TNHH Đan Việt là gì?
  • Câu hỏi 5: Để nâng cao NLCT của công ty TNHH Đan Việt cần thực hiện các giải pháp gì?

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt.

4/2 Phạm vi nghiên cứu

  • Về không gian: đề tài nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh tại công ty TNHH Đan Việt, trong mối quan hệ tương tác với 2 đối thủ cạnh tranh chính là công ty TNHH Sơn Trường và công ty TNHH Thanh Biên.
  • Về thời gian: đề tài nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt trong giai đoạn 2020-2024, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đến năm 2020.
  • Về nội dung: đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của công ty Đan Việt, bao gồm 2 nhóm yếu tố: yếu tố thuộc môi trường bên ngoài và các yếu tố môi trường bên trong. Xác định điểm mạnh và điểm yếu về NLCT của công ty, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao NLCT của công ty TNHH Đan Việt.

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nhiều phương pháp bao gồm: phân tích, so sánh, lập bảng, thống kê, toán học, suy luận logic…Đề tài kết hợp mô tả và phân tích số liệu qua thực tế thu thập qua 5 năm (2020-2024), sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Mức độ nghiên cứu chỉ dừng ở phân tích so sánh mang tính thống kê mô tả, cụ thể:

Khi nghiên cứu các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến NLCT của công ty TNHH Đan Việt: tác giả sử dụng phương pháp lập bảng thống kê mô tả biến động của các yếu tố qua thời gian, xem xét chênh lệch tuyệt đối và tương đối, phân tích và đưa ra xu hướng…

Khi nghiên cứu các yếu tố môi trường bên trong ảnh hưởng đến NLCT của công ty TNHH Đan Việt, tác giả sử dụng phương pháp so sánh biến động các nhân tố qua thời gian, xem xét phân tích ảnh hưởng của các yếu tố này, so sánh với hai đối thủ cạnh tranh là công ty TNHH Sơn Trường và công ty TNHH Thanh Biên. Phần giải pháp được thực hiện dựa vào việc áp dụng mô hình SWOT sử dụng các kết quả phân tích thực trạng, giải quyết các nguyên nhân gây ra điểm yếu, duy trì điểm mạnh năng lực cạnh tranh của công ty, v à d ự a v à o các mục tiêu của công ty đến năm 2020

6. Nguồn số liệu và dữ liệu nghiên cứu

Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp bao gồm 2 nguồn: Số liệu thu thập từ Tổng cục thống kê Việt Nam, Hiệp hội thép Việt Nam, mạng internet… Số liệu từ các báo cáo của Công ty TNHH Đan Việt, Công ty TNHH Sơn Trường, Công ty TNHH Thanh Biên, Công ty TNHH thép VSC-POSCO ( thép Việt Hàn) trong giai đoạn 2020-2024

7. Lợi ích và hiệu quả của đề tài Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Đề tài đã hướng vào khoảng trống trong nghiên cứu về NLCT của các nghiên cứu trước. Cụ thể là đề tài đã đưa ra được thực trạng và phân tích các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài và môi trường bên trong tác động đến NLCT của một doanh nghiệp chuyên doanh phân phối thép. Từ đó đưa ra các điểm mạnh và điểm yếu về NLCT của doanh nghiệp này, đề xuất các giải pháp nâng cao NLCT của doanh nghiệp trong thời gian tới. Các kết quả này thực sự có ý nghĩa vì bối cảnh nghiên cứu một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phân phối thép có những đặc thù riêng tác động đến năng lực cạnh tranh mà các nghiên cứu trước chưa từng đề cập tới. Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài là những đề xuất hữu ích nhằm nâng cao NLCT cho công ty Đan Việt cũng như các công ty phân phối thép khác trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường thép Việt Nam.

8. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài làm gồm 3 chương:

  • CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
  • CHƯƠNG 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt
  • CHƯƠNG 3: Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Đan Việt

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIÊP

1.1 KHÁI NIÊM VÀ VAI TRÒ CỦA CẠNH TRANH ĐỐI VỚI DOANH NGHIÊP

1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

  • Khái niệm cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện. Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh: Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình.

Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận. Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ bị đào thải.

Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992): Cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín nhiệm; cải tiến nghiệp vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định hay giảm giá bán và tăng doanh lợi.

Theo Karl Marx, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyển hoá giá trị hàng hoá thành giá trị thị trường và giá cả sản xuất, Ông cũng đã đề cập cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu của hàng hoá. Karl Marx đã chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau; cạnh tranh giữa các người bán với nhau khi mà cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa những người mua với nhau khi mà cầu lớn hơn cung (Chu Văn Cấp, Trần Bình Trọng, 2002).

Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.

  • Khái niệm năng lực cạnh tranh (NLCT) của Doanh nghiệp

Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.

Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ.

Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

(Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao.

Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Porter: Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế (Michael E. Porter, 1996).

Theo Humbert Lesca, năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.

Hoặc NLCT của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất.

Những định nghĩa trên cho thấy, NLCT của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp được coi là có NLCT khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội như giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, để đánh giá NLCT của doanh nghiệp thì không chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác.

Doanh nghiệp xuất nhập khẩu hoạt động kinh doanh trong một phạm vi rộng lớn hơn các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nước, chịu ảnh hưởng của rất nhiều quy định của các thị trường khác nhau. Nhờ có được khả năng vượt trội so với các doanh nghiệp khác trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại thị trường nước ngoài hoặc cho khách hàng nước ngoài tại nước mình (xuất khẩu tại chỗ) mà doanh nghiệp xuất khẩu dành được thị phần tiêu thụ ngày một lớn, tăng thu nguồn thu ngoại tệ.

1.1.2. Vai trò của cạnh tranh Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng hoá, đảm bảo tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng hoá hình thức sở hữu, trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trường quốc tế nói riêng, các doanh nghiệp luôn đưa ra các biện pháp tích cực và sáng tạo nhằm đứng vững trên thị trường và sau đó tăng khả năng cạnh tranh của mình. Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải cố gắng tạo ra nhiều ưu thế cho sản phẩm của mình và từ đó có thể đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận.

Khi sản xuất kinh doanh một hàng hoá nào đó, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được, được xác định như sau: Pr = P.Q – C.Q

Trong đó:

  • + Pr: Lợi nhuận của doanh nghiệp
  • + P: Giá bán hàng hoá.
  • + Q: Lượng hàng hoá bán được
  • + C: Chi phí một đơn vị hàng hoá.

Như vậy để đạt được lợi nhuận tối đa doanh nghiệp có các cách như: tăng giá bán P, tăng lượng bán Q, giảm chi phí C và để làm được những việc này doanh nghiệp phải làm tăng vị thế của sản phẩm trên thị trường bằng cách áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ, các phương thức sản xuất tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp… và tốn ít chi phí nhất. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có những chiến lược Marketing thích hợp nhằm quảng bá sản phẩm, hàng hoá của mình tới khách hàng giúp họ có thể nắm bắt được sự có mặt của những hàng hoá đó và những đặc tính, tính chất, giá trị và những dịch vụ kèm theo của chúng.

Chỉ khi nền kinh tế có sự cạnh tranh thực sự thì các doanh nghiệp mới có sự đầu tư nhằm nâng cao sự cạnh tranh và nhờ đó sản phẩm hàng hoá ngày càng được đa dạng, phong phú và chất lượng được tốt hơn. Đó chính là tầm quan trọng của cạnh tranh đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

Có cạnh tranh, hàng hoá sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã ngày càng đẹp hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn và đáp ứng tốt hơn những yêu cầu của người tiêu dùng trong xã hội. Người tiêu dùng có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình. Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng, được quan tâm nhiều hơn. Đây là những lợi ích làm người tiêu dùng có được từ cạnh tranh.

Bên cạnh đó, cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nước. Để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao. Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá rẻ. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơn khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để đạt được điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước mình để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kỹ thuật của đất nước sẽ không ngừng được cải thiện.

Như vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Cạnh tranh tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, trong cuộc cạnh tranh khối liệt này không phải bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lợi, có doanh nghiệp bị huỷ diệt do không có khả năng cạnh tranh, có doanh nghiệp sẽ thực sự phát triển nếu họ biết phát huy tốt những tiềm lực của mình. Nhưng cạnh tranh không phải là sự huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí nguồn lực xã hội bằng doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển.

Tóm lại: Cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp.

1.2. MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIÊP Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

1.2.1. Môi trường vĩ mô (PEST)

Khu vực hóa, toàn cầu hóa đã và đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh với qui mô ngày càng lớn, phạm vi ngày càng rộng, xu hướng hội nhập kinh tế đang diễn ra rất mạnh mẽ có ảnh hưởng quan trọng tới các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh tại thị trường nước ngoài. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi kinh doanh ở một quốc gia nào đó ngoài việc tìm hiểu các hệ thống thương mại quốc tế, chính sách kinh tế của chính phủ…thì còn phải tìm hiểu các định chế quốc tế mà nước đó tham gia để nắm bắt tốt những cơ hội cũng như thách thức để từ đó lập kế hoạch kinh doanh phù hợp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường nước ngoài.

  • Môi trường Chính trị, luật pháp và quản lý của nhà nước về kinh tế

Chính trị và luật pháp là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu bởi các doanh nghiệp này hoạt động trên thị trường quốc tế với lợi thế trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa các nước. Chính trị ổn định, luật pháp đồng bộ rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả.

Các quy định bắt buộc của pháp luật đôi khi là hàng rào ngăn cản sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, đó có thể là các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm, về an toàn lao động…điều đó gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu so với doanh nghiệp tại nước sở tại. Đôi khi có trường hợp một quốc gia có ưu đãi về thuế xuất khẩu để khuyến khích xuất khẩu tăng thu ngoại tệ về cho nước mình đồng thời tăng thuế nhập khẩu để hạn chế sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng hàng hoá của các doanh nghiệp trong nước. Để có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài các công ty cần tìm hiểu thật kỹ các quy định bắt buộc của nước sở tại để đảm bảo thành công, nâng cao vị thế của mình trên thị trường quốc tế.

Môi trường Kinh tế: Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

  • Tốc độ tăng trưởng

Kinh tế tăng trưởng càng cao dẫn đến sự bùng nổ chi tiêu của khách hàng, vì thế đem lại khuynh hướng thoải mái hơn về sức ép cạnh tranh trong một ngành. Điều này có thể cho các công ty cơ hội để bành trướng giành được thị phần lớn hơn và thu được lợi nhuận cao hơn. Ngược lại, suy giảm kinh tế sẽ dẫn đến sự giảm chi tiêu của người tiêu dùng, làm tăng sức ép cạnh tranh và thường gây ra các cuộc chiến tranh giá trong các ngành bão hoà.

  • Tỷ lệ lạm phát Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Lạm phát có thể làm giảm tính ổn định của nền kinh tế, làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm hơn, lãi suất cao hơn, dịch chuyển hối đoái không ổn định. Tỷ lệ lạm phát tăng là mối đe doạ lớn đối với công ty: việc lập kế hoạch đầu tư trở nên mạo hiểm, gây khó khăn cho các dự kiến về tương lai, khó xác định giá cả cho các mặt hàng mà công ty kinh doanh. Sự không chắc chắn làm cho công ty không dám đầu tư, làm giảm các hoạt động kinh tế đẩy nền kinh tế tới chỗ đình trệ.

  • Tỷ giá hối đoái

Sự dịch chuyển tỷ giá có tác động trực tiếp lên tính cạnh tranh của các công ty trong thị trường toàn cầu. Khi đồng nội tệ trở nên mất giá so với các đồng tiền khác thì sản phẩm của doanh nghiệp làm trong nước sẽ rẻ hơn sản phẩm ở nước ngoài, doanh nghiệp có ưu thế về giá, từ đó làm giảm mối đe doạ từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, tạo động lực giúp doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu thì gặp khó khăn do phải chi trả mức nội tệ gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Và ngược lại nếu đồng nội tệ tăng giá cao so với đồng tiền nước ngoài, hàng hoá do doanh nghiệp sản xuất ra thiếu tính cạnh tranh về giá cả, gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp.

  • Lãi suất:

Các doanh nghiệp thường xuyên phải sử dụng tới nguồn vốn của ngân hàng cho hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy lãi suất Ngân hàng ảnh hưởng mạnh đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khi vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng dẫn tới giá thành sản phẩm tăng lên, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với các đối thủ của mình, đặc biệt các đối thủ có tiềm lực về vốn.

  • Môi trường Văn hoá xã hội.

Môi trường toàn cầu đã làm cho các nền văn hoá trở nên tương đồng, các quốc gia có sự giao lưu học hỏi lẫn nhau. Tuy nhiên cho dù có hoà nhập tới đâu thì mỗi quốc gia đều giữ lại bản sắc dân tộc, những giá trị văn hoá truyền thống. Chính sự khác biệt về các yếu tố thuộc môi trường văn hoá đã tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua khách hàng và cơ cấu nhu cầu thị trường, ảnh hưởng trực tiếp tới cách thức giao dịch, loại sản phẩm mà khách hàng sẽ mua và hình thức khuyếch trương có thể chấp nhận.

Ngôn ngữ, tập quán tiêu dùng, tôn giáo khác khác nhau dễ dẫn tới hiểu lầm trong cách quảng bá sản phẩm hay dùng biểu tượng, đóng gói cũng như màu sắc cho sản phẩm, bao bì. Không chú ý tới sự khác biệt này doanh nghiệp tất yếu sẽ thất bại.

Yếu tố thuộc môi trường vĩ mô luôn luôn biến động không ngừng theo chiều hướng có lợi hoặc bất lợi đối với các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp linh hoạt, phản ứng kịp thời với sự thay đổi của môi trường thì sẽ tận dụng được cơ hội, hạn chế thách thức, không ngừng vươn lên, lấn át các đối thủ của mình. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

  • Khoa học kỹ thuật công nghệ và thông tin.

Nhóm nhân tố này đóng vai trò ngày càng quan trọng mang tính chất quyết định đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về phương diện chất lượng và giá cả. Khoa học công nghệ hiện đại sẽ làm cho chi phí của doanh nghiệp giảm, chất lượng sản phẩm chứa hàm lượng khoa học công nghệ cao. Thông tin cũng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bởi để cạnh tranh thành công bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh, và biết cách xử lý có hiệu quả những thông tin thu thập được. Khoa học kỹ thuật công nghệ giúp doanh nghiệp trong quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin một cách nhanh chóng và chính xác; nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường và nâng cao uy tín của doanh nghiệp. Áp dụng công nghệ tiên tiến hiện đại giúp doanh nghiệp có lợi thế vượt trội so với đối thủ của mình, điều này còn đặc biệt quan trọng với những doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng hoá của mình sang các nước đại công nghiệp

1.2.2. Mô hình năng lực cạnh tranh của Micheal Forter về 5 lực lượng cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động cũng đều phải chịu một áp lực cạnh tranh nhất định, mà hiện trạng cuộc cạnh tranh phụ thuộc vào 5 lực lượng cạnh tranh cơ bản, được biểu diễn bởi mô hình sau:

  • Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter (1996).

Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter là một mô hình được nhiều nhà phân tích vận dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành công nghiệp.

  • Nguy cơ đe doạ từ những người mới vào cuộc

Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường nhưng khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trường (thị phần) của các doanh nghiệp khác. Để hạn chế mối đe doạ này, các nhà quản lý thường dựng nên các hàng rào như:

  • Mở rộng khối lượng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi phí.
  • Khác biệt hoá sản phẩm.
  • Đổi mới công nghệ, đổi mới hệ thống phân phối.
  • Phát triển các dịch vụ bổ

Ngoài ra có thể lựa chọn địa điểm thích hợp nhằm khai thác sự hỗ trợ của Chính phủ và lựa chọn đúng đắn thị trường nguyên liệu, thị trường sản phẩm. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

  • Quyền lực thương lượng của người cung ứng

Người cung ứng có thể chi phối đến doanh nghiệp là do sự thống trị hoặc khả năng độc quyền của một số ít nhà cung ứng. Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất do tầm quan trọng của sản phẩm được cung ứng, do đặc tính khác biệt hoá cao độ của người cung ứng với người sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phẩm mà nhà sản xuất phải chấp nhận và tiến hành, do liên kết của những người cung ứng gây ra…

Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật liệu. Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng quốc tế có vị trí càng quan trọng. Mặc dù có thể có cạnh tranh giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất thì quyền lực thương lượng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể. Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trước khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp phải biết được quyền lực thương lượng của người cung ứng thành quyền lực của mình.

  • Quyền lực thương lượng của người mua

Người mua có quyền thương lượng với doanh nghiệp (người bán) thông qua sức ép giảm giá, giảm khối lượng hàng mua từ doanh nghiệp, hoặc đưa ra yêu cầu chất lượng phải tốt hơn với cùng một mức giá…

Các nhân tố tạo nên quyền lực thương lượng của người mua gồm: Khối lượng mua lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những người mua khi tiến hành thương lượng với doanh nghiệp, do sự tập trung lớn của người đối với sản phẩm chưa được dị biệt hoá hoặc các dịch vụ bổ sung còn thiếu…

Quyền lực thương lượng của người mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trường, hoặc khi doanh nghiệp thiếu khá nhiều thông tin về thị trường (đầu vào và đầu ra). Các doanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để tung ra thị trường những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăng hơn và bằng những phương thức dịch vụ độc đáo hơn.

  • Nguy cơ đe doạ về những sản phẩm và dịch vụ thay thế Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu hướng sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về thị trường của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đưa ra thị trường những sản phẩm thay thế có khả năng biệt hoá cao độ so với sản phẩm của doanh nghiệp, hoặc tạo ra các điều kiện ưu đãi về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính.

Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp, thì mối đe doạ đối với doanh nghiệp càng lớn. Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lượng hàng bán và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu có ít sản phẩm tương ứng sản phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi nhuận.

  • Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành

Cạnh tranh giữa các Công ty trong một ngành công nghiệp được xem là vấn đề cốt lõi nhất của phân tích cạnh tranh. Các Hãng trong ngành cạnh tranh khốc liệt với nhau về giá cả, sự khác biệt về sản phẩm, hoặc sự đổi mới sản phẩm giữa các hãng hiện đang cùng tồn tại trong thị trường. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt khi đối thủ đông đảo và gần như cân bằng nhau, khi tăng trưởng của ngành là thấp, khi các loại chi phí ngày càng tăng, khi các đối thủ cạnh tranh có chiến lược đa dạng…

Có một điều thuận lợi và cũng là bất lợi cho các đối thủ trong cùng ngành là khả năng nắm bắt kịp thời những thay đổi, cải tiến trong sản xuất – kinh doanh, hoặc các thông tin về thị trường. Các doanh nghiệp sẽ có khả năng cạnh tranh cao nếu có sự nhạy bén, kịp thời và ngược lại có thể mất lợi thế cạnh tranh bất cứ lúc nào họ tỏ ra thiếu thận trọng và nhạy bén.

Doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau (trừ các doanh nghiệp ở nước sở tại) khi cùng tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài sẽ có một phần bất lợi như nhau do các quy định hạn chế của Chính phủ nước sở tại. Chính vì thế, doanh nghiệp nào mạnh về tài chính hoặc khoa học kỹ thuật hoặc trên cả hai phương diện sẽ có được lợi thế rất lớn. Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, doanh nghiệp khi tham gia thị trường nước ngoài cần có sự trợ giúp của các doanh nghiệp khác trong cùng quốc gia để có thêm khả năng chống đỡ trước sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc quốc gia khác. Lúc đó có thể coi sự cạnh tranh trong ngành là sự cạnh tranh giữa các quốc gia.

Sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp làm cho giá cả các yếu tố đầu ra và những yếu tố đầu vào biến động theo các xu hướng khác nhau. Tình hình này đòi hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn vậy doanh nghiệp cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường, đưa ra thị trường những sản phẩm mới chất lượng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp.

Dựa trên mô hình Micheal Porter về 5 lực lượng cạnh tranh chúng ta có thể đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIÊP Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.

Để đánh giá được NLCT của doanh nghiệp ta phải đánh giá các nguồn lực sau:

1.3.1. Nguồn lực tài chính

Vốn là nguồn lực mà doanh nghiệp cần có trước tiên vì không có vốn không thể thành lập được doanh nghiệp và không thể tiến hành hoạt động được. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào luôn đảm bảo huy động được vốn trong những trường hợp cần thiết, doanh nghiệp đó phải sử dụng đồng vốn có hiệu quả và hạch toán chi phí một cách rõ ràng. Như vậy doanh nghiệp cần đa dạng nguồn cung vốn bởi nếu thiếu vốn thì hạn chế rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp như đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại, hạn chế đào tạo nâng cao trình độ cán bộ, công nhân, nghiên cứu thị trường…

Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét tiềm lực của doanh nghiệp mạnh, yếu như thế nào. Trong tiêu chí này có các nhóm chỉ tiêu chủ yếu:

  • Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn.

Tỷ lệ nợ = Tổng nợ phải trả/ Tổng vốn (%) Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào nguồn vay từ bên ngoài. Tỷ lệ này cần duy trì ở mức trung bình của ngành là hợp lý.

  • Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán.

Khả năng thanh toán nhanh = (Tiền mặt / Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tiền hiện có. Hệ số này càng cao càng tốt, tuy nhiên còn phải xem xét kỹ các khoản phải thu ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động bình thường thì hệ số này thường bằng 1.

  • Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = Tổng tài sản lưu động/ Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng bao nhiêu tài sản lưu động. Nếu hệ số này quá nhỏ doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Hệ số này quá cao tức doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản lưu động quá nhiều không mang lại hiệu quả lâu dài. Mức hợp lý là bằng 2.

  • Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả.

Tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu = Lợi nhuận/ Doanh thu(%)

Chỉ số này cho biết trong một đồng hay 100 đồng doanh thu thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận thu được. Chỉ số này càng cao càng tốt.

Tỷ suất lợi nhuận / vốn tự có = Lợi nhuận ròng/ Tổng vốn chủ sở hữu (%) Các tiêu chí trên tốt sẽ giúp doanh nghiệp có được năng lực cạnh tranh so với các đối thủ của mình (Nguyễn Đức Kiệm, Bạch Đức Hiểu, 2017).

1.3.2. Nguồn lực con người Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Trong kinh doanh, con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để bảo đảm thành công. Kenichi Ohmae đã đặt con người lên vị trí số một trên cả vồn và tài sản khi đánh giá sức mạnh của một doanh nghiệp. Nguồn lực con người là yếu tố quyết định ưu thế cạnh tranh đặc biệt là đối với các doanh nghiệp thương mại để cung ứng các dịch vụ cho khách hàng hiệu quả nhất.

Nguồn lực về con người được thể hiện qua số lượng và chất lượng lao động của doanh nghiệp như trình độ học vấn, trình độ tay nghề, sức khỏe, văn hóa lao động… Doanh nghiệp có được tiềm lực về con người như có được đội ngũ lao động trung thành, trình độ chuyên môn cao…từ đó năng suất lao động cao, cắt giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.

1.3.3. Thương hiệu và nhãn hiệu

Thương hiệu, nhãn hiệu được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp.

Nhãn hiệu có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nhãn hiệu của doanh nghiệp có thể trải qua các thứ bậc đó là: nhãn hiệu bị loại bỏ, nhãn hiệu không được chấp nhận, chấp nhận nhãn hiệu, nhãn hiệu ưa thích và nhãn hiệu nổi tiếng. Nhãn hiệu ở thứ bậc càng cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩm càng cao, doanh nghiệp càng có lợi thế cạnh tranh cao hơn đối thủ.

Một doanh nghiệp khi bắt đầu kinh doanh đã có nhãn hiệu sản phẩm của mình nhưng để có được thương hiệu sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp là việc làm lâu dài và liên tục không thể một sớm một chiều. Một thương hiệu được người tiêu dùng chấp nhận và yêu mếm là cả một thành công rực rỡ của doanh nghiệp. Đây là một lợi thế cạnh tranh lớn mà các đối thủ khác khó lòng có được. Một khách hàng đã quen dùng một loại thương hiệu nào đó thì rất khó làm cho họ rời bỏ nó. Thương hiệu doanh nghiệp được tạo nên bởi nhiều yếu tố như uy tín doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, hình ảnh nhà lãnh đạo, văn hóa doanh nghiệp…Vì vậy mà có rất ít doanh nghiệp trên thương trường có được lợi thế cạnh tranh từ thương hiệu sản phẩm hay thương hiệu doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có được lợi thế này đã giành được năng lực cạnh tranh cao vượt trội hơn các đối thủ khác.

1.3.4. Tổ chức quản lý điều hành sản xuất của doanh nghiệp

Trình độ tổ chức quản lý là một trong các yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên tính cạnh tranh cao của sản phẩm. Muốn tổ chức và quản lý tốt thì trước hết doanh nghiệp phải có ban lãnh đạo giỏi vừa có tâm, có tầm và có tài. Ban lãnh đạo của một tổ chức có vai trò rất quan trọng, là bộ phận điều hành, nắm toàn bộ nguồn lực của tổ chức, vạch ra đường lối chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, đánh giá mọi hoạt động của các phòng, ban để đưa hoạt động của tổ chức do mình quản lý đạt hiệu quả cao nhất. Ban lãnh đạo có vai trò rất quan trọng như vậy, nên phải chọn lựa người lãnh đạo, người đứng đầu ban lãnh đạo đảm bảo đủ các tiêu chuẩn để có thể điều hành quản lý doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao. Nhìn chung người lãnh đạo giỏi là người có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng về quan hệ với con người, hiểu con người và biết thu phục lòng người, có kỹ năng nhận thức chiến lược, tức là nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường kinh doanh để dự báo và xây dựng chiến lược thích ứng. Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Để tổ chức quản lý tốt thì vấn đề thứ hai mà doanh nghiệp cần phải có là một phương pháp quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh tốt. Đó là phương pháp quản lý hiện đại mà các phương pháp đó đã được nhiều doanh nghiệp trên thế giới áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo chất lượng…

Ngoài ra để tổ chức quản lý tốt hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có hệ thống tổ chức gọn nhẹ. Hệ thống tổ chức gọn nhẹ là hệ thống tổ chức ít cấp, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao.

Mặt khác, doanh nghiệp cần có văn hóa doanh nghiệp tốt, vững mạnh và có bản sắc, cố kết được các thành viên trong tổ chức nhìn về một hướng, tạo ra một tập thể mạnh. Nghĩa là có cam kết chất lượng minh bạch giữa doanh nghiệp và xã hội, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh phải theo pháp luật, có lương tâm và đạo đức trong kinh doanh, làm kinh tế giỏi và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, môi trường bên trong và bên ngoài phải xanh, sạch, đẹp…

1.3.5. Hoạt động nghiên cứu thị trường và marketing

Nghiên cứu thị trường là một nghiệp vụ vô cùng quan trọng. Để kinh doanh thành công, doanh nghiệp phải thực hiện nghiên cứu thị trường để lựa chọn thị trường mục tiêu. Nếu thực hiện việc nghiên cứu thị trường một cách có bài bản giúp doanh nghiệp giảm thiểu được các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, giảm được các chi phí không cần thiết, đưa ra được các quyết định về bán cái gì, tập trung vào ai, khuyến mại và định giá sản phẩm như thế nào, sử dụng những nhà cung cấp nào, sẽ gặp khó khăn gì về pháp luật thủ tục hành chính và làm thế nào để xác định những cơ hội mới hoặc những lỗ hổng trên thị trường. Ngược lại, nếu công tác nghiên cứu thị trường thu thập về những thông tin không chính xác, không phản ảnh đúng tình hình thực tế thị trường, và do không dựa trên cơ sở thông tin vững chắc nên quyết định được đưa ra sẽ không sát với thực tế, dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp sẽ không hiệu quả, lãng phí nhân, vật lực.

Trong bối cảnh hội nhập hiện nay hoạt động Marketing trở nên vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiêp. Marketing tốt là thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, đảm bảo được cung cấp sản phẩm dịch vụ ổng định với chất lượng theo yêu cầu, giá cả phù hợp giúp doanh nghiệp dành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn. Marketing giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được khách hàng, xác định được đối thủ cạnh tranh của mình là ai, khuyếch trương được hình ảnh uy tín của doanh nghiệp mình trên thị trường. Hoạt động Marketing của doanh nghiệp càng có chất lượng và ở phạm vi rộng bao nhiêu doanh nghiệp càng có thể tạo ra các lợi thế chiến thắng đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu.

1.3.6. Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Công nghệ là phương pháp, là bí mật, là công thức tạo sản phẩm. Để sử dụng công nghệ có hiệu quả doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ thích hợp để tạo ra các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường; phải đào tạo công nhân có đủ trình độ để điều khiển và kiểm soát công nghệ, nếu không thì công nghệ hiện đại mà sử dụng lại không hiệu quả. Để đánh giá về công nghệ của doanh nghiệp ta cần đánh giá nội dung sau:

  • Thứ nhất: Chi phí cho nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ mới

Sức cạnh tranh hàng hoá của doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá của họ thấp hơn giá cả trung bình trên thị trường. Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hoá. Muốn vậy các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến công nghệ. Thực tế đã chứng minh các doanh nghiệp muốn tồn tại và cạnh tranh được trên thị trường cần có dây chuyền công nghệ mới. Do đó doanh nghiệp càng quan tâm, đầu tư nhiều cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp càng tăng.

  • Thứ hai: Mức độ hiện đại của công nghệ

Để có năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp phải trang bị những công nghệ hiện đại đó là những công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, không gây ô nhiễm môi trường. Công nghệ của công ty càng hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, chất lượng sản phẩm tốt do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng và qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1.4. KINH NGHIÊM XÂY DỰNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIÊP TẠI VIÊT NAM

1.4.1. Kinh nghiệm của công ty cổ phần thép TVB

Công ty cổ phần thép TVB là một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các loại sắt thép. Sản phẩm công ty được phân phối rộng khắp trên phạm vi toàn quốc. Xuất phát từ một công ty nhỏ được thành lập từ năm 1999, với không ít khó khăn về vốn và dây chuyền sản xuất. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Ban giám đốc công ty, đến nay công ty đã lớn mạnh cả năng lực sản xuất và thị trường tiêu thụ. Sản phẩm tôn mạ kẽm và mạ màu cung cấp cho thị trường nội địa từ Bắc đến Nam thông qua hệ thống đại lý phân phối, góp phần đưa thương hiệu TVP đến với mọi công trình, mọi người dân trên khắp đất nước. Đặc biệt, các mặt hàng của TVP đang được đánh giá rất cao không chỉ trong nước mà xuất khẩu ra nước ngoài. Sản phẩm của thép TVP xuất khẩu vào các nước “khó tính” như Mỹ, Nam Phi, Campuchia, Lào…

Kinh nghiệm xây dựng năng lực cạnh tranh của công ty là phải làm sao có được “niềm tin nơi các đối tác và khách hàng”. Để thực hiện được điều đó, công ty liên tục cải tiến trang thiết bị máy móc và công nghệ tiên tiến trên thế giới nhằm ngày càng đáp ứng các sản phẩm có chất lượng tốt nhất cho khách hàng. Đến với sản phẩm thép TVB, khách hàng không chỉ thoả mãn về chất lượng mà còn bất ngờ bởi các sản phẩm thép đa dạng về kiểu dáng, phong phú chủng loại. Bên cạnh đó, công ty cố gắng hoàn thiện và phát triển hệ thống đại lý phân phối khách hàng có thể tiếp cận được với sản phẩm của công ty một cách hiệu quả nhất. Kinh nghiệm trong quá trình phát triển 20 năm qua ở công ty cũng cho thấy việc đầu tư vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty.

1.4.2. Kinh nghiệm của công ty TNHH sản xuất và thương mại Tân Á Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

Công ty TNHH sản xuất và thương mại Tân Á là một công ty sản xuất mặt hàng gia dụng phục vụ cho sinh hoạt nên với sản phẩm chủ yếu là bồn chứa nước, vòi sen, chậu rửa, bình Inoxc, chân kê bồn chứa nước… Công ty được thành lập năm 1995, với quyết tâm với mục đích luôn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đạt chất lượng sản phẩm lên hàng đầu, đến nay thương hiệu Tân Á đã dần được chiếm lĩnh trên thị trường và ngày càng lớn mạnh. Hiện nay công ty đã có rất nhiều chi nhánh mở ra ở khắp các khu vực trên cả nước như Hưng Yên, Đà Nẵng, Quảng Trị,…Tại thời điểm thành lập, công ty chỉ số vốn ít ỏi khoảng 100 triệu đồng nhưng đến nay tổng giá trị tài sản sau hơn mười năm xây dựng và phát triển lên tới 250 tỷ đồng, có 3 công ty thành viên (công ty SX & TM Việt Thắng thành lập năm 2003; công ty SX & TM Tân Á – Hưng Yên thành lập năm 2013; công ty SX & TM Tân Á- Đà Nẵng thành lập năm 2014). Các sản phẩm của công ty Tân Á được công ty sản xuất và phân phối trực tiếp trên thị trường thông qua trên 1200 nhà phân phối, cửa hàng tại tất cả các tỉnh trong thành phố trong cả nước chiếm thị phần khoảng 20% .

Có được những thành tựu này là do công ty không ngừng tìm ra các biện pháp duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh. Các biện pháp đó bao gồm: đa dạng hóa sản phẩm; các biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm; giải pháp về công nghệ; giải pháp về thiết lập bạn hàng cung ứng nguyên vật liệu thân thiết và giải pháp phát triển thương hiệu (Trần Tuấn Nam, 2019). Bên cạnh đó, công ty luôn chủ trương đẩy mạnh công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực của công ty. Công ty cũng xác định nguồn nhân lực và thế mạnh trong công nghệ sẽ là điểm trọng yếu trong các kế hoạch cũng như chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong nền kinh tế thị trường hiện nay.

1.4.3. Kinh nghiệm của công ty cổ phần thép Hòa Phát

Công ty cổ phần thép Hòa Phát sản xuất và kinh doanh phôi thép, cán kéo thép, phế liệu thép, tôn lợp và buôn bán vật tư sản xuất. Sản phẩm chủ yếu của công ty là các chủng loại thép cốt bê tông cán nóng, được phân phối trên thị trường qua mạng lưới bán hàng rộng khắp, hệ thống kho trung chuyển đảm bảo việc giao nhận hàng nhanh chóng hiệu quả cùng các điều kiện thanh toán ưu đãi.

Để đứng vững khẳng định thương hiệu thép Hòa Phát trên thị trường thép Việt Nam (vốn chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ thép Trung Quốc). Công ty áp dụng các biện pháp sau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh: các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, các biện pháp cạnh tranh thông qua hệ thống phân phối, PR và hậu mãi. Công ty luôn cố gắng duy trì thương hiệu thép Hòa Phát với chất lượng tốt, ổn định và mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Một trong những điểm mạnh của công ty là công ty có một vị trí hết sức thuận lơị, nhờ điều kiện này, phần lớn các nhà máy sản xuất được xây dựng gần nhau, tạo điều kiện cho việc di chuyển nguyên vật liệu và sản xuất, tao điều kiên thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm giá thành sản phẩm, mặt khác giá thuê đất tương đối thấp cũng là yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí dẫn đến lợi thế cạnh tranh về giá (Lưu Thị Thanh Thủy, 2018). Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Đan Việt

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Ðan Việt […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537