Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Tiền di động tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. Thực trạng sử dụng Tiền di động tại Việt Nam
Tính đến thời điểm tháng 11/2025, Việt Nam hiện có 3 nhà mạng được NHNN cấp phép triển khai sản phẩm Tiền di động là Mobifone, VNPT và Viettel. Kết quả khảo sát của tác giả cho thấy “Chuyển, nhận tiền” và “Thanh toán hóa đơn” nhận được sự đồng thuận nhiều nhất – đều trên 65% khi được lựa chọn về mục đích sử dụng tiền di động, chi tiết xem Phụ lục 4. Điều này cũng đã góp phần tích cực trong thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, tạo cơ hội thúc đẩy tài chính toàn diện nhanh chóng.
Sau hơn 8 tháng triển khai, số thuê bao di động đăng ký tiền di động, số điểm kinh doanh và tổng số đơn vị chấp nhận thanh toán đều có sự tăng trưởng, với Viettel là đơn vị có số lượng dẫn đầu trong 3 đơn vị nhà mạng viễn thông (Bảng 4.1). Cụ thể, số lượng người đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile Money đạt gần 2 triệu người, tăng 440% so với cuối năm 2025, trong đó số lượng người đăng ký và sử dụng ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo là hơn 1,3 triệu người, chiếm 68% tổng số người đăng ký và sử dụng dịch vụ. Tuy nhiên tốc độ số thuê bao đăng ký sử dụng tiền di động có xu hướng giảm qua các tháng, tháng 1/2025 ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao nhất đạt 64% nhưng đến tháng 7/2025 tốc độ này giảm còn 11%. Mặc dù kết quả đáng được ghi nhận và khích lệ, tuy nhiên vẫn còn khá khiêm tốn chưa đạt được kỳ vọng như các nươc trên thế giới như Kenya, Philiphin, Indonesia; … chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, chưa đảm bảo được mong muốn đưa dịch vụ tài chính đến người tiêu dùng ở các vùng xa, vùng sâu của chính phủ.
Bảng 4.1. Bảng thống kê tình hình hoạt động Mobile money tại Việt Nam
4.2. Mô tả mẫu nghiên cứu Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Sau khi tiến hành quá trình thu nhập dữ liệu thông qua khảo sát bằng Google forms và phỏng vấn trực tiếp, tác giả đã thu thập được tổng cộng 342 mẫu. Số bảng câu hỏi hợp lệ sau khi tiến hành sàng lọc dữ liệu là 231 mẫu, chiếm 67.5%, (còn lại 111 bảng bị loại do trong đó gồm 07 bảng có cùng 1 câu trả lời giống nhau từ đầu đến cuối bảng câu hỏi; 104 bảng trả lời chưa từng biết đến và sử dụng MM không tiếp tục trả lời Phần 2 về tác động các nhân tố đến ý định sử dụng MM). Với kích thước mẫu này mẫu của nghiên cứu đảm bảo đủ điều kiện để tiến hành đưa vào phần mềm SPSS 22 để tiến hành phân tích dữ liệu.
Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng điều tra bao gồm giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ cư trú, thu nhập và trình độ học vấn. Thông tin về nhân khẩu được thể hiện trên Bảng 4.2
Bảng 4.2 Bảng mô tả đặc điểm nhân khẩu
Về giới tính: có 117 khách hàng là nam (chiếm 50.6%), còn lại 114 khách hàng là nữ (chiếm 49.4%).
Về độ tuổi: người đủ 14 tuổi trở lên, có căn cước/ CMND, đủ điều kiện để mở tài khoản MM. Kết quả của khảo sát cho thấy, nhóm từ 26 – 35 tuổi chiếm tỷ lệ sử dụng MM cao nhất chiếm 51.5%, tiếp đến là 14 – 25 tuổi chiếm 35.9%… nhóm tuổi từ 56 trở lên chiếm tỷ lệ trả lời thấp nhất là là 3%. Hoàn toàn phù hợp với giai đoạn “dân số vàng” của Việt Nam hiện nay.
Về nghề nghiệp: thể hiện mẫu quan sát có nghề nghiệp đa dạng và phong phú, phân bổ ở nhiều nhóm ngành nghề khác nhau. Khách hàng có nghề nghiệp tự do chiếm tỷ lệ cao nhất là 28.1%; kế đến là khách hàng có nghề thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng (22.1%), nhân viên văn phòng (18.2%). Với nhóm ngành lực lượng vũ trang và Học sinh, sinh viên có cùng tỷ lệ đạt 9.5%. Còn lại chiếm tỷ lệ thấp hơn là những khách hàng đang là nông dân, công nhân hoặc giáo viên và các ngành nghề khác.
Về nơi địa chỉ (cư trú): có 141 khách hàng ở Nông thôn (chiếm 61%), còn lại 90 khách hàng đang sinh sống và làm việc ở khu vực Thành phố (chiếm 39%). Điều này cho thấy phù hợp mục tiêu và đối tượng MM đang muốn hướng đến là tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Vê thu nhập: Đối tượng khách hàng đa số có thu nhập trung bình (từ 5 triệu đồng đến dưới 10 triệu đồng/tháng), chiếm tỷ lệ 42.4%, kế đến là có thu nhập trung bình dưới 5 triệu đồng/tháng, chiếm tỷ lệ 37.7%. Mức thu nhập cao hơn từ trên 10 triệu đồng đến 18 triệu đồng/tháng, chiếm tỷ lệ 17.3%; trong khi đó khách hàng có thu nhập trên 18 triệu đồng/tháng (cụ thể 2 mức trên 18 – 32 triệu đồng và mức từ 32 triệu trở lên) chiếm tỷ lệ rất thấp, đều chiếm 1.3%.
Về trình độ: có 80 người trình độ trung học phổ thông đạt 34.6%, 51 người trình độ trung cấp và cao đẳng chiếm 22.1%, còn lại trình độ đại học, sau đại học chiếm tỷ lệ cao nhất trong mẫu khảo sát là 100 người (43.3%).
Ngoài ra, tác giả tiến hành khảo sát 13 câu hỏi về kiến thức tài chính. Kết quả thống kê cho thấy, có 133 người trả lời đúng nhiều hơn 6 câu hỏi, chiếm tỷ lệ 57.6%, chi tiết tại Phụ lục 04. Cụ thể trong đó, với trình độ Trung học phổ thông chỉ có 21% người trả lời đúng đúng hơn 50% số câu hỏi; Đối với trình độ Trung cấp, cao đẳng tỷ lệ trả lời cao hơn đạt 61%; Trình độ đại học, sau đại học cho kết quả cao nhất với tổng số 85/100 người, chiếm 85%. Có thể thấy trình độ học vấn càng cao tỷ lệ trả lời đúng về kiến thức tài chính cao hơn, hay đồng nghĩa họ đã được giáo dục về tài chính nhiều hơn.
Bên cạnh đó, tác giả có thu thập thêm số liệu trong 231 khách hàng trả lời khảo sát có sử dụng Mobile money, 100% đều sở hữu điện thoại di động, 215 khách hàng đã có tài khoản ngân hàng (chiếm 93.1%), có 179 khách hàng đã tiếp cận sử dụng ví điện tử (chiếm 77.5%). Đây vừa xem là tạo nền tảng tạo điều kiện thuận lợi nhanh chóng cho việc tiếp cận và sử dụng MM; cũng là cơ hội để thấy rằng vẫn còn dư địa để MM có thể triển khai và phát triển tại Việt Nam.
Khảo sát cũng thống kê được về số thuê bao MM hiện đang sử dụng nhiều nhất thuộc về nhà mạng Viettel, có 142/231 khách hàng (chiếm 61.5%), cụ thể Bảng 4.3. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thực tế, khi mạng lưới giao dịch của Viettel đã phủ rộng khắp gần như hết diện tích Việt Nam và các huyện đảo (Hình 4.1) Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Bảng 4.3. Bảng mô tả Tài khoản MM thuộc các nhà mạng
Hình 4.1 Bản đồ phủ sóng 3G/4G/5G của Viettel tại Việt Nam
Xem Phụ lục 4, Mobile money được khách hàng biết đến và sử dụng nhiều nhất từ sự giới thiệu của người quen và bạn bè đã sử dụng MM là 54,1%. Tin nhắn quảng cáo nhà mạng, thông tin từ Mạng xã hội, Internet cũng chiếm tỷ lệ cao là 53,2%; Nguồn từ Chương trình quảng cáo, thông tin báo đài chiếm 46,3%. Căn cứ vào nguồn thông tin khách hàng tiếp cận với MM, các nhà mạng có thể xem xét để đưa ra những quyết định truyền thông phù hợp trong thời gian tới. Thống kê từ khảo sát cũng cho thấy quan điểm của khách hàng về “Đâu là rào cản tiếp cận sử dụng các dịch vụ chính?”. Khoảng cách về địa lý và Thủ tục giấy tờ phức tạp được chỉ ra là một trong những nguyên nhân chính, lần lượt chiếm 52.8% và 59.7%. Chi phí giao dịch, Không muốn tiết lộ thông tin cá nhân và Hạn chế về hiểu biết tài chính cũng là những tiêu chí ảnh hưởng đáng kể.
4.3. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha
4.3.1. Kiểm định cho các biến độc lập
Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha của các khái niệm được trình bày trong bảng:
Bảng 4.4. Đánh giá thang đo biến độc lập
Từ kết quả có được từ Bảng 4.4, Cronbach’s Alpha của 6 nhân tố tính hữu ích, dễ sử dụng, sự tin tưởng, rủi ro, chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính lần lượt là 0.921; 0.917; 0.933; 0.902; 0.913 và 0.920. Như vậy, qua phân tích dữ liệu cho thấy 6 thang đó đều có độ tin cậy thỏa mãn yêu cầu đặt ra là Cronbach’s Alpha > 0.6. Đồng thời, hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát thành phần đều lớn hơn 0.3. Như vậy, các biến quan sát đã phù hợp nên tại bước này tác giả không loại bỏ biến nào ra khỏi thang đo các khái niệm thành phần trước khi đi vào phân tích nhân tố khám phá (EFA). Mô hình nghiên cứu tiếp tục sử dụng 28 biến quan sát với 6 khái niệm thành phần để thực hiện phân tích EFA.
4.3.2. Kiểm định cho các biến phụ thuộc
Bảng 4.5. Đánh giá thang đo cho nhân tố Ý định sử dụng
Kết quả chạy phân tích độ tin cậy của thang đo cho thấy độ tin cậy đạt 0,929> 0,6 đạt yêu cầu. Tất cả các biến thành phần đều có tương quan với tổng > 0,3. Như vậy, thang đo nhân tố ý định sử dụng với các biến quan sát: YD1, YD2, YD3, YD4, YD5 đạt độ tin cậy.
4.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Trong đề tài nghiên cứu này, phân tích nhân tố sẽ giúp ta xem xét khả năng rút gọn số lượng 28 biến quan sát xuống còn một số ít các biến dùng để phản ánh một cách cụ thể sự tác động của các nhân tố đến nhân tố YD. Việc thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phương pháp trích yếu tố là: Principal component; Phép quay: Varimax. Nguyên nhân người nghiên cứu lựa chọn phép quay Varimax là vì mô hình nghiên cứu là một chiều và người nghiên cứu đã xác định được cụ thể các biến độc lập và phụ thuộc. Phép quay này cho phép người nghiên cứu xoay nguyên góc để tối thiểu hóa số lượng biến có hệ số lớn tại cùng một nhân tố (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012).
4.4.1. Kết quả phân tích nhân tố các biến độc lập
Kết quả chạy lần 1, kết quả kiểm định thể hiện trị số KMO đạt 0,868 > 0,5 và Sig của Bartlett’s Test là 0,000 < 0,05 cho thấy các quan sát là phù hợp. Tuy nhiên, kết quả EFA cho các biến độc lập lại cho thấy biến quan sát DS5 bị tải lên ở cả hai nhân tố nên ta loại bỏ biến này (chi tiết tại Phụ lục 06).
Tiếp tục tiến hành chạy lần 2, các tiêu chí đều thỏa điều kiện. Trị số KMO đạt 0,862 > 0,5, thỏa mãn tiêu chuẩn đặt ra và gần bằng 1, điều này cho thấy phương pháp phân tích nhân tố là cần thiết đối với tập dữ liệu nghiên cứu hay nói cách khác dữ liệu phù hợp để để thực hiện phân tích nhân tố khám phá. Kết quả kiểm định Bartlett cho thấy: Sig = 0,000 < 0,05 (5%), do đó bác bỏ giả thuyết H0 cho rằng các biến quan sát không có mối tương quan với nhau trong tổng thể.
Bảng 4.6. Kết quả kiểm định KMO và Bartlett với các biến độc lập
Kết quả phân tích nhân tố khám phá với các biến độc lập (Phụ lục 06) cho thấy Hệ số tải nhân tố có giá trị lớn hơn 0.5 đã đảm bảo được ý nghĩa thực tiễn của EFA. 28 biến quan sát được rút gọn thành 6 nhóm nhân tố, hệ số Eigenvalue >1 (đạt tiêu chuẩn) và tổng phương sai trích là 78.517% (> 0.5) đạt tiêu chuẩn. Điều này có nghĩa ý là 6 nhân tố được rút ra có thể giải thích được 78.517% sự biến thiên của tập dữ liệu. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Bảng 4.7. Hệ số tải nhân tố các thang đo
4.4.2. Kết quả phân tích nhân tố biến phụ thuộc
Bảng 4.8. Kết quả EFA cho biến phụ thuộc
| KMO | .894 |
| Sig. (Bartlett’s Test) | .000 |
| Eigenvalue | 3.923 |
| Phương sai trích (%) | 78.451 |
| Biến quan sát | Nhân tố (1) |
| YD4 | .919 |
| YD2 | .914 |
| YD5 | .899 |
| YD1 | .880 |
| YD3 | .812 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Kết quả kiểm định, trị số KMO là 0.894 > 0.5 và Sig của Bartlett’s Test là 0.00 < 0.05 cho thấy 5 biến quan sát có tương quan với nhau và hoàn toàn phù hợp với phân tích nhân tố. Hệ số tải nhân tố có giá trị lớn hơn 0.5 đã đảm bảo được ý nghĩa thực tiễn của EFA.
Phân tích nhân tố khám phá EFA trích ra được một nhân tố đại diện cho 5 biến quan sát YD1, YD2, YD3, YD4, YD5 trong thang đo Ý định sử dụng MM, đặt tên cho nhân tố này là YD. Với Eigenvalues là 3.923 (>1). Giá trị phương sai trích là 78.451%. Điều này có nghĩa là nhân tố đại diện cho Ý định sử dụng của khách hàng giải thích đựợc 78.451% mức độ biến động của 5 biến quan sát trong các thang đo.
4.5. Phân tích tương quan Pearson
Bảng 4.9. Hệ số tương quan (với N = 231)
Kết quả của kiểm định hệ số tương quan Pearson cho thấy Sig giữa từng biến độc lập HI, DS, TT, RR, CP, HB với biến phụ thuộc YD đều nhỏ hơn <0.05, nghĩa ý là có mối tương quan giữa biến biến phụ thuộc với từng biến độc lập. Như vậy nhận thức tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, sự rủi ro, chi phí hợp lý và nhận thức về hiểu biết tài chính đều có quan hệ tương quan tuyến tính với biến ý định sử dụng, riêng biến rủi ro có tương quan nghịch. Kết luận, các biến này đều được đưa vào để tiến hành phân tích mô hình hồi quy.
4.6. Phân tích hồi quy đa biến Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Từ kết quả kiểm định hệ số tương quan Pearson ta nhận thấy giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc có mối tương quan tuyến tính chặt chẽ với nhau. Tuy nhiên, chúng ta lại chưa thể khẳng định được giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc có quan hệ nhân quả với nhau hay không. Do đó tiến hành bước tiếp theo là chạy hồi quy tuyến tính với mục tiêu cuối cùng là kiểm định các giả thuyết đặt ra và mức độ tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động của người dân.
Bảng 4.10. Kết quả phân tích hồi quy
Kết quả từ bảng Coefficients cho thấy 6 yếu tố tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, tính rủi ro, chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính đều có ý nghĩa thống kê (Sig. <0.05), nghĩa là cả 6 yếu tố đều có tác động đến ý định sử dụng tiền di động. Thứ tự về tầm quan trọng của từng yếu tố phụ thuộc vào giá trị tuyệt đối của hệ số Beta. Nhân tố nào có hệ số Beta càng lớn thì mức độ ảnh hưởng đến ý định sử dụng MM của khách hàng ngày càng nhiều. Từ Bảng 4.10 ta viết được mô hình hồi quy mô tả ý định sử dụng MM có dạng: YD = 0.283CP + 0.269DS + 0.251TT + 0.223HI+ 0.115HB – 0.329RR
Từ phương trình, thấy hầu hết các biến độc lập đều có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng tiền di động, ngoại trừ biến rủi ro có tác động ngược chiều. Nghĩa là khi gia tăng mức đánh giá của các yếu tố tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính sẽ là ý định sử dụng tiền di động tăng theo. Ngược lại, khi gia tăng mức đánh giá của các yếu tố rủi ro sẽ làm ý định sử dụng tiền di động giảm đi. Bên cạnh đó cũng thấy được Rủi ro và Chi phí hợp lý là 2 nhân tố tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng MM, với hệ số Beta chuẩn hóa là 0.329 và 0.283. Kết quả nghiên cứu này là hợp lý và phù hợp với các giả thiết dự kiến trong chương 3, tất cả 6 biến đều có tác động đến Ý định sử dụng MM và dấu kỳ vọng của giả thiết cũng đúng kỳ vọng trong mô hình phân tích, vậy có thể kết luận mô phân tích các nhân tố đề nghị ở chương 3 là phù hợp.
4.6.1. Kiểm định sự phù hợp của mô hình Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Theo bảng 4.10, thấy R2= 0.696 nghĩa là mô hình tuyến tính đã xây dựng phù hợp với dữ liệu khảo sát đến 69.6%. Hay còn có thể coi là 69.6% thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ tiền di động có thể được giải thích bởi sự thay đổi của các biến tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, sự rủi ro chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính.
Nhưng bên cạnh đó R2 cũng không thể hiện chính xác mức độ phù hợp với mô hình với dữ liệu đã thu được, nên R2 hiệu chỉnh được sử dụng để củng cố mức độ phù hợp của mô hình. Ta có hệ số R2 hiệu chỉnh = 0.688 giải thích được 68.8% sự thay đổi của tác động các biến yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng MM trong mô hình được tạo ra, còn lại 31.2% sự biến thiên được giải thích bởi các biến nằm ngoài mô hình. Ta thấy giá trị R2 hiệu chỉnh nhỏ hơn R2, dùng nó để đánh giá mức độ của mô hình sẽ an toàn vì nó không thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình.
Kiểm định F sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) là phép kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính tổng thể. Xét thấy sig < 0.05 (Bảng 4.10), chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.
4.6.2. Kiểm định sự tự tương quan
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, Durbin-Watson = 1.701, thỏa điều kiện 1< Durbin-Watson < 3. Như vậy không xảy ra hiện tượng tự tương quan, nghĩa là giả định này không bị vi phạm.
4.6.3. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến
Đa cộng tuyến là hiện tượng xảy ra khi các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau. Xét thấy các hệ số phóng đại phương sai VIF của 6 biến độc lập đều <10, cụ thể < 2, chi tiết bảng 4.10. Như vậy các biến độc lập không có dấu hiệu tương quan với nhau, nghĩa là mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến.
4.6.4. Kiểm định về phân phối chuẩn của phần dư
Hình 4.2. Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Qua biểu đồ Histogram, giá trị trung bình Mean gần bằng 0; độ lệch chuẩn Std.Dev là 0.987 (gần bằng 1); biểu đồ phân bố phần dư có dạng hình chuông đều 2 bên. Như vậy phân phối phần dư xấp xỉ chuẩn, nghĩa là giả thiết phân phối chuẩn phần dư cũng không bị vi phạm. Hay đối với biểu đồ Normal P-P Plot, thấy các điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành một đường chéo, như vậy giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.
4.6.5. Kiểm định phương sai phần dư không đổi
Hình 4.3. Biểu đồ Scatterplot
Để kiểm định giả định phương sai của phần dư không đổi, ta sử dụng đồ thị phân tán của giá trị dự báo đã được chuẩn hóa và phần dư đã được chuẩn hóa.
Đồ thị cho thấy phần dư chuẩn hóa phân bổ tập trung xung quang đường tung độ 0 (giá trị trung bình của phần dư), nghĩa là phương sai của phần dư không đổi, do vậy giả định quan hệ tuyến tính không bị vi phạm.
4.7. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Mô hình nghiên cứu đề xuất đã giải quyết được mục tiêu ban đầu do đã xác định được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định sử dụng Mobile Money tại Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy:
Sự rủi ro: là biến số có tác động mạnh mẽ nhất theo hướng tiêu cực đối với người tiêu dùng khi họ cân nhắc sử dụng tiền di động (β = – 0.329) và cũng là nhân tố duy nhất trong 6 nhóm nhân tố nghiên cứu có tác động ngược chiều lên YD. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi sự rủi ro được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM giảm đi 0.329 đơn vị. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Jack và Suri (2018), Tobbin (2014), Penney và các cộng sự (2025), Noreen và các cộng sự (2025),… Vì Mobile money là một sản phẩm mới, trong khi người dân có thói quen tiền gửi tại ngân hàng sẽ an toàn hơn, chính vì vậy tâm lý lo ngại rủi ro khi sử dụng một sản phẩm mới là hoàn toàn bình thường. Tương tự, theo khảo sát của Deloitte (2025), chỉ ra rào cản đối với việc tiếp nhận các phương thức thanh toán số cao nhất là vấn đề bảo mật là 44%, lỗi hệ thống là 14%. Bên cạnh đó, trong thời kỳ công nghệ 4.0 hiện nay tội phạm công nghệ cao càng phổ biến với thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp gây hoang mang cho người dân khi rất nhiều người đã trở thành nạn nhân của loại tội phạm này. Hàng loạt các vụ mất tiền oan trong tài khoản của khách hàng do chủ quan cung cấp mã OTP, bị lừa đảo qua mạng,… Thực tế đó đã làm khách hàng cảnh giác hơn khi sử dụng các dịch vụ công nghệ tài chính mới.
Chi phí hợp lý: Được đánh giá có mức độ tác động lớn thứ hai (chỉ sau biến rủi ro), CP có hệ số tác động là β =0.283. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi chi phí hợp lý được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM tăng lên 0.283 đơn vị. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Narteh và các cộng sự (2021); Penney và các cộng sự (2025);…. Từ khi triển khai đến nay ba nhà mạng viễn thông đã có những ưu đãi miễn phí và điều chỉnh khác nhau về chi phí sử dụng Mobile money.
Bảng 4.11: So sánh khác nhau về biểu phí dịch vụ MM
Nhìn chung, các loại phí còn lại như chuyển tiền, rút tiền, hay thanh toán hàng hóa thì có mức phí khá tương đương với các dịch vụ của ngân hàng. Đối với khách hàng, tiền di động cung cấp một lựa chọn thanh toán an toàn hơn, hiệu quả hơn và thuận tiện hơn so với tiền mặt, tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại, đồng thời giảm nguy cơ trộm cắp (GSMA, 2021). Khi mà lợi ích, mức độ tiện ích đạt đến một ngưỡng nhất định, người ta sẽ có xu hướng sẵn lòng trả chi phí để được hưởng dịch vụ tốt hơn.
Tính dễ sử dụng: là một trong những nhân tố chính trong mô hình TAM truyền thống, cũng là yếu tố tác động khá mạnh đến YDSD tiền di động động, ở vị trí thứ 3, với β =0.269. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi tính dễ sử dụng được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM tăng lên 0.269 đơn vị. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Tobbin (2014); Narteh và các cộng sự (2021), Penney và các cộng sự (2025); tuy nhiên Okeke & Eze (2022) và Marumbwa & Mutsikiwa (2017) cho thấy tính dễ sử dụng có tác động cao nhất đến ý định sử dụng MM. Điều này lý giải khi MM có thiết kế đơn giản, thuận tiện và thân thiện người dùng, các giao dịch đều có hướng dẫn dễ hiểu sẽ tác động đến ý định sử dụng của khách hàng. Sự nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện đều là những yếu tố mà các nhà mạng rất chú trọng khi triển khai MM. Với Viettel, Viettel Money là hệ sinh thái tài chính số với đa dạng nguồn tiền, cho phép người dùng thực hiện mọi giao dịch chuyển, nạp, rút tiền và mua bán trực tuyến nhanh chóng, dễ dàng. Sử dụng được mọi lúc, mọi nơi, trên nhiều thiết bị mà chưa cần có tài khoản ngân hàng hay kết nối Internet. Hay với VNPT cung cấp các phương thức thanh toán không tiền mặt đơn giản, an toàn, tiện lợi qua Mobile Money. Tương tự, MobiFone cung cấp và phổ cập cho khách hàng các dịch vụ tài chính trên nền tảng số một cách dễ dàng, nhanh chóng và an toàn. Tương tự phản hồi của khách hàng từ khảo sát là “Rất hữu ích cho ai sử dụng điện thoại thường”. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Sự tin tưởng: cũng có tác động không nhỏ đến ý định sử dụng tiền di động (β=0.251) và là nhân tố tác động thứ tư. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi sự tin tưởng được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM tăng lên 0.251 đơn vị. Điều này cũng tương đồng với một số nghiên cứu trước đó như của Tobbin (2014); Marumbwa và Mutsikiwa (2017); …. Với Narteh và các cộng sự (2021); Luarn & Lin (2005), sự tin tưởng được đánh giá cao nhất trong mô hình nghiên cứu. Như vậy có thể nhận định sự tin tưởng có ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng MM, khi khách hàng cảm thấy tin tưởng thì ý định sử dụng MM càng cao. Về cơ bản, biến sự tin tưởng đo lường mức độ đảm bảo của người tiêu dùng rằng dịch vụ sẽ được cung cấp với những cản trở tối thiểu có thể xảy ra. Do đó, với sự tồn tại sẵn có của Danh tiếng các nhà mạng viễn thông, các cơ sở hạ tầng, các đại lý MM sẽ là cơ sở cần thiết để người tiêu dùng tin rằng MM sẽ hòa nhập tốt vào thị trường Việt Nam. Người dùng Mobile Money cũng sẽ mong đợi một số mức độ riêng tư từ các đại lý này hơn, và vì uy tín ba nhà mạng viễn thông đã xây dựng suốt thời gian qua giúp người dân tin rằng họ sẽ luôn thực hiện theo đúng cam kết với khách hàng, bảo vệ tiền của họ,… nên tin tưởng để trải nghiệm sử dụng thử.
Tương tự Nguyễn Thị Hà Thanh, Hoàng Hồng Nhung (2025) chỉ ra rằng với uy tín của ba doanh nghiệp viễn thông triển khai dịch vụ này, Mobile Money hiện vẫn được khách hàng tin tưởng về mức độ bảo mật và an toàn giao dịch.
Sự hữu ích, cũng có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng MM với β=0.223, nghĩa là trong điều kiện các nhân tố khác không đổi khi sự hữu ích được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM tăng lên 0.223 đơn vị. Hay hiểu là khi khách hàng cảm nhận được sự hữu ích của tiền di động tăng lên thì ý định sử dụng của họ sẽ cao hơn. Kết quả của nghiên cứu tương tự với các nghiên cứu trước như Narteh và các cộng sự (2021); Marumbwa và Mutsikiwa (2017);…. Dựa vào đặc điểm không yêu cầu người dùng phải mở tài khoản ngân hàng, Mobile Money được xem như một phương thức thanh toán hữu ích, giúp tiết kiệm thời gian và công sức kết hợp với việc triển khai điểm giao dịch/ đại lý ở mọi vùng miền. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu trước đều cho thấy tính hữu ích có tác động khá cao trong các yếu tố tác động đến ý định sử dụng (Tobbin, 2015; Chauhan, 2019). Theo thống kê tại Bảng 4.1, có đến 215/231 khách hàng đã có tài khoản ngân hàng (chiếm 93.1%) và có 179/231 khách hàng sử dụng ví điện tử (chiếm 77.5%). Về cơ bản thấy rằng các tính năng, sự tiện lợi ngân hàng, ví điện tử và MM mang đến khá tương tự nhau. MM chưa tạo ra được sự nổi trội và khác biệt rõ ràng và chưa thực sự thỏa mãn được nhu cầu mong đợi của khách hàng nên chưa được đánh giá cao. Tuy vậy, cũng không thể phủ nhận sự đóng góp về tính hữu ích mà MM mang lại, nhất là trong đại dịch Covid 19 với mạng lưới rộng khắp cả nước, phủ sóng đến cả vùng núi, hải đảo xa xôi, đây là một sản phẩm giúp hạn chế tiếp xúc, góp phần hạn chế dịch bệnh lây lan và cải thiện dần tư duy không dùng tiền mặt của khách hàng.
Sự hiểu biết tài chính: Trong 6 biến số được chọn, HB là yếu tố có tác động ít nhất đến ý định sử dụng của khách hàng và có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng MM với hệ số β=0.115. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, khi sự hiểu biết tài chính được đánh giá tăng lên 1 đơn vị thì ý định sử dụng MM tăng lên 0.115 đơn vị. Hay hiểu là khi khách hàng có sự hiểu biết tài chính tăng lên thì ý định sử dụng MM của họ sẽ cao hơn. Cũng đã có những nghiên cứu trước đây tìm hiểu về HBTC nhưng tác động không đáng kể như Zhao và các cộng sự (2014); Hasan và các cộng sự (2024c); Mirziyants (2017); Morgan & Trinh (2024);… Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Tương tự, WorldBank (2021) cũng chỉ ra rằng Hạn chế về hiểu biết của người dân là một trong bốn rào cản chính dẫn đến hạn chế tiếp cận các dịch vụ tài chính. Trong khảo sát, có 88/231 người đồng ý chọn Hạn chế hiểu biết tài chính là một trong những rào cản để tiếp cận dịch vụ tài chính (Chi tiết xem Phụ lục 4). Ngoài ra, tác giả sử dụng 13 câu hỏi để đánh giá về kiến thức tài chính sẵn có của đối tượng khảo sát liên quan lạm phát, lãi suất, lựa chọn phương án tối ưu…. Và thu được kết quả có 133 người/231 người trả lời đúng nhiều hơn 6 câu hỏi, chiếm tỷ lệ 58%. Tương tự kết quả Báo cáo của OECD về tiếp cận tài chính các nước khu vực tiểu vùng sông Mekong năm 2025 cũng cho thấy, hiện tại Việt Nam có mức độ hiểu biết tài chính trung bình, có điểm số về hành vi tài chính và kiến thức tài chính tương đối cao so với các quốc gia khác, tuy nhiên điểm số về thái độ tài chính khá thấp (Xem Hình 4.4).
Hình 4.4. Mức độ hiểu biết tài chính
Dễ dàng nhận thấy rằng hiểu biết về tài chính đang ngày càng trở nên quan trọng như một mục tiêu chính sách ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. HBTC là sự kết hợp của nhận thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi cần thiết để đưa ra các quyết định tài chính đúng đắn và cuối cùng đạt được tài chính cá nhân an toàn. Khi một cá nhân có hiểu biết về sản phẩm, về giá trị MM mang lại thì họ sẽ dễ dàng chấp nhận và có ý định sử dụng cao lên, việc củng cố lời nhắc về cách hỗ trợ đào tạo tài chính bằng văn bản cũng góp phần cải thiện ý định sử dụng dịch vụ tài chính cho người tiêu dùng. Việc ứng dụng công nghệ tài chính nói chung và MM nói riêng giúp nâng cao hiểu biết tài chính sẽ là động lực quan trọng.
4.8. Đánh giá sự khác biệt về ý định sử dụng giữa các nhóm có đặc điểm nhân khẩu học khác nhau Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Bảng 4.12. Kiểm định sự khác biệt theo đặc điểm nhân khẩu học
|
Sig. (Kiểm định |
|||
| Tiêu chí | Phân tích | LEVENE) | Sig.(2-tailed) |
| Giới tính | T TEST | 0.000 | 0.054 |
| Địa chỉ | T TEST | 0.014 | 0.016 |
| Độ tuổi | ANOVA | 0.324 | 0.388 |
| Trình độ | ANOVA | 0.522 | 0.079 |
| Thu nhập | ANOVA | 0.388 | 0.363 |
| Nghề nghiệp | ANOVA | 0.486 | 0.083 |
| Kiến thức tài chính | T TEST | 0.974 | 0.503 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu điều tra Từ chi tiết ở
- Bảng 4.12 và Phụ lục 8, có thể đưa ra một số nhận xét như sau.
Địa chỉ: Trong các biến nhân khẩu học nghiên cứu xem xét, biến địa điểm là biến duy nhất thể hiện có sự khác nhau về ý định sử dụng tiền di động giữa hai khu vực thành phố và nông thôn. Trong kiểm định Levene, Sig=0.014 < 0.05 chứng tỏ là phương sai giữa các nhóm không đồng nhất; trong kiểm định T Test, Sig =0.016 05. Như vậy có thể kết luận rằng có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa 2 nhóm khu vực thành thị và nông thôn. Cụ thể xem giá trị mean có thể thấy ý định sử dụng Mobile money của người dân khu vực Nông thôn (3.8723) cao hơn thành khu vực Thành phố (3.6267). Điều này phù hợp với thực tế, và cũng phù hợp với mục tiêu MM hướng đến là tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam. Đối với khu vực thành phố, khách hàng có quá nhiều sự lựa chọn về hàng loạt các ngân hàng, các sản phẩm tài chính đa dạng, với sự thuận tiện của mobile baking… Trong khi hệ thống ngân hàng thường đặt điểm giao dịch ở những vùng trung tâm, tập trung dân cư, vậy thì những nơi mà các NHTM bỏ trống sẽ là nơi người sử dụng cần MM nhất, ý định sử dụng của họ sẽ nhiều hơn và là nơi các công ty viễn thông có thể phát triển thị phần của mình. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Các nhóm biến nhân khẩu học còn lại thể hiện rằng không có sự khác biệt về ý định sử dụng tiền di động giữa các nhóm người được hỏi khác nhau về Giới tính, Độ tuổi, Thu nhập, Nghề nghiệp, và Trình độ học vấn, Kiến thức tài chính.
Giới tính: Kiểm định xem xét sự tác động của biến giới tính tới ý định sử dụng Tiền di động của khách hàng. Trong kiểm định Levene, Sig=0.000 < 0.05. Với độ tin cậy cho phép là 95%, ta chấp nhận giả thuyết H0 nghĩa là phương sai giữa các nhóm có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê. Trong kiểm định T Test, Sig =0.054 > 0.05. Với độ tin cậy là 95%, có thể kết luận rằng không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa 2 nhóm giới tính nam và nữ.
Độ tuổi: Trong kiểm định Levene, Sig=0.324 > 0.05, vậy phương sai giữa các nhóm đồng nhất. Trong phân tích ANOVA, Sig =0.388 > 0.05. Như vậy, không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa các nhóm độ tuổi khác nhau.
Nghề nghiệp: Trong kiểm định Levene, Sig=0.486 > 0.05, vậy phương sai giữa các nhóm đồng nhất. Trong phân tích ANOVA, Sig =0.083 > 0.05. Vậy cũng không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau.
Trình độ học vấn: Trong kiểm định Levene, Sig=0.522 > 0.05, nên kết luận phương sai giữa các nhóm đồng nhất. Trong phân tích ANOVA, Sig =0.079 > 0.05. Như vậy có thể kết luận rằng không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa các trình độ học vấn khác nhau.
Thu nhập: Trong kiểm định Levene, Sig=0.388 > 0.05, nên kết luận phương sai giữa các nhóm đồng nhất. Trong phân tích ANOVA, Sig =0.363 > 0.05. Như vậy, không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa các nhóm thu nhập khác nhau.
Kiến thức tài chính: Kiểm định xem xét sự tác động của biến kiến thức tài chính tới ý định sử dụng Tiền di động của khách hàng. Trong kiểm định Levene, Sig=0.974 > 0.05. Với độ tin cậy cho phép là 95%, ta chấp nhận giả thuyết H0, nghĩa là phương sai biến phụ thuộc giữa các nhóm là đồng nhất. Tiến hành kiểm định T Test, Sig =0.503> 0.05. Với độ tin cậy là 95%, có thể kết luận rằng không có sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa 2 nhóm kiến thức tài chính. Kết quả cũng tương đồng với Trình độ học vấn khi đều chỉ ra không có sự khác biệt. Đồng thời thấy rằng, có thể vì Mobile money đang trong giai đoạn triển khai thí điểm tại Việt Nam, dịch vụ đang còn sơ khai, đơn giản nên chưa cần người tiêu dùng có các kiến thức tài chính về lãi suất, quyết định đầu tư, lạm phát,… Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Như vậy, có thể lý giải kết quả của tác giả khác với các nghiên cứu trước là vì một số nguyên nhân như sau. Thứ nhất do đối tượng tiến hành khảo sát là những người đã có cơ hội tiếp cận sử dụng ví điện tử hoặc là các ứng dụng của ngân hàng, cụ thể trong 231 người tiêu dùng đang sử dụng MM có đến 93.1% có tài khoản ngân hàng và 77.5% có dùng ví điện tử (theo Bảng 4.1). Nên dựa trên nền tảng sẵn có này sẽ dễ dàng sử dụng Mobile money, dẫn đến ý định sử dụng Mobile money sẽ khá tương đồng, không có sự phân biệt giới tính Nam hay Nữ, lứa tuổi hay trình độ, kiến thức tài chính. Thứ hai, một trong những điểm nổi trội của MM là không bắt buộc phải sử dụng Smartphone, không cần Internet, dùng điện thoại thông thường cũng có thể sử dụng MM một cách dễ dàng, điều này đã tạo điều kiện và cơ hội cho những người lớn tuối có thể sử dụng MM thông qua cú pháp SMS, và xóa bỏ khoảng cách về tuổi tác khi phải tiếp cận công nghệ mới. Thứ ba, vì MM là một dịch vụ mới, mới nên khách hàng thuộc các độ tuổi, nghề nghiệp và thậm chí là thu nhập khác nhau, bất kể trình độ, có kiến thức về tài chính hay không đều sẽ muốn thử trải nghiệm xem sản phẩm có gì độc đáo hơn, tiện lợi hơn sản phẩm, dịch vụ họ đang sử dụng hay không. Cụ thể, trong thống kê về mục đích sử dụng MM, theo bảng 4.2, ngoài mục đích chính là nạp, rút, chuyển tiền, thanh toàn hóa đơn thì có 32.5% người đồng ý lựa chọn sử dụng vì muốn trải nghiệm sản phẩm dịch vụ mới.
4.9. Đánh giá mức độ trung bình của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Bảng 4.13. Thống kê trung bình
Qua bảng thống kê giúp thấy rõ hơn về cảm nhận của các đáp án viên về từng biến độc lập, đánh giá được mức độ đồng ý hay không đồng ý đối với các yếu tố. Thang đo nghiên cứu của mô hình áp dụng là thang đo Likert 5, mức độ từ 1 là hoàn toàn không đồng ý đến 5 là hoàn toàn đồng ý, mức 3 sẽ là mức trung lập.
Đối với nhân tố tính hữu ích, tất cả các đáp viên đều đồng ý với các yếu tố được đưa ra khi giá trị trung bình đều lớn hơn 3. Trong đó yếu tố “Mạng lưới đại lý rộng khắp, có thể dễ dàng đến giao dịch gửi và rút… ở bất kỳ đại lý nào” được đánh giá đồng ý cao nhất, đạt giá trị trung bình là 4.104.
Đối với nhân tố dễ sử dụng, tất cả các đáp viên đều đánh giá khá khả quan khi đồng ý với các yếu tố được đưa ra khi giá trị trung bình đều lớn hơn 3. Với mức trung bình 3.961 yếu tố “Có thể sử dụng Mobile money ở bất kỳ loại hình điện thoại di động nào, không yêu cầu 3G/wifi” được đánh giá đồng ý cao nhất.
“Sự tin tưởng Danh tiếng của nhà cung cấp là yếu tố then chốt trong việc lựa chọn sử dụng Mobile money” là yếu tố được đánh giá đồng ý cao nổi trội trong nhóm nhân tố sự Tin tưởng với giá trị trung bình là 4.061. Tương tự, các yếu tố còn lại đều có giá trị đồng ý trung bình lớn hơn 3. Điều này cho thấy các yếu tố về sự tin tưởng được các đáp án viên đánh giá khá tốt.
Đối với nhân tố sự rủi ro, kết quả cho thấy 4/5 yếu tố đạt giá trị trung bình lớn hơn 3, trong đó yếu tố “Sử dụng Mobile Money tôi lo ngại về bảo mật và khả năng bị người khác hack điện thoại di động, truy cập tài khoản của mình” nhận được sự đồng ý nhiều nhất từ các đáp viên với giá trị trung bình là 3.242. Riêng yếu tố “E ngại về việc thông tin cá nhân của tôi có thể bị tiết lộ khi tôi cung cấp thông tin cho MM” không nhận được sự đồng ý của đáp viên khi giá trị trung bình chỉ đạt 2.922. Có thể lý giải một phần vấn đề này là do các sim nhà mạng viễn thông trước khi đăng ký thành công Mobile money phải thỏa điều kiện sim đã đăng ký chính chủ và hoạt động trên 3 tháng. Điều này đồng nghĩa với trước đó khách hàng đã chấp nhận cung cấp toàn bộ thông tin cho nhà mạng về các dữ liệu như hình ảnh, chứng minh, chữ ký,… để đăng ký thông tin sim chính chủ tại quầy nên cơ bản họ tin tưởng rằng nhà mạng sẽ đảm bảo giữ bí mật thông tin của mình như đúng cam kết trong hợp đồng.
“Đăng ký sử dụng Mobile money không tốn phí” là yếu tố được đánh giá mức độ đồng ý cao nhất trong nhóm nhân tố Chi phí hợp lý, giá trị trung bình đạt 3.939. Ở nhóm này các yếu tố về chi phí được các đáp án viên đánh giá khá tốt khi giá trị trung bình đều lớn hơn 3. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Đối với nhân tố Nhận thức về hiểu biết tài chính tất cả các đáp viên đều đồng với các yếu tố được đưa ra khi giá trị trung bình đều lớn hơn 3, điều này cho thấy các yếu tố về hiểu biết tài chính được các đáp án viên đánh giá khá cao. Trong đó “Tỷ lệ hiểu biết tài chính thấp là một trong những rào cản tiềm ẩn đối với sử Mobile Money” đạt mức đánh giá trung bình cao nhất là 3.818.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Chương 4 trình bày kết quả thống kê mô tả và kiểm định độ tin cậy thang đo cho các biến độc lập và phụ thuộc. Nghiên cứu kết luận rằng mô hình hồi quy tuyến tính ở chương 3 được chấp nhận. Bên cạnh đó nghiên cứu đưa ra rằng 6 yếu tố là tính hữu ích, dễ sử dụng, sự tin tưởng, sự rủi ro, chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính đều có sức ảnh hưởng quan trọng và có tác động đến ý định sử dụng MM của người tiêu dùng. Trong đó nhân tố rủi ro là ảnh hưởng nhiều nhất và tác động ngược chiều đến ý định sử dụng, còn lại 5 nhân tố đều tác động cùng chiều. Bên cạnh đó, trong các biên nhân khẩu học – địa chỉ giữa hai khu vực thành phố và nông thôn là biến duy nhất thể hiện có sự khác nhau về ý định sử dụng tiền di động. Thông qua đánh giá mức độ trung bình của các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng MM, xác định được mức độ đồng ý hay không đồng ý đối với các yếu tố. Từ những kết quả phân tích trong chương 4 là cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp nhằm phát triển và nâng cao tiền di động ở chương 5. Những giải pháp này xuất phát từ việc phát huy ở điểm mạnh cũng như khắc phục được những điểm yếu khác để có thể giúp các nhà cung ứng có thể phát triển Mobile money đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ tại Việt Nam, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa , hải đảo xa xôi.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Tác giả thực hiện nghiên cứu trong bối cảnh mà Mobile Money đã được Chính phủ triển khai thử nghiệm tại Việt Nam Theo Quyết định 316/QĐ-TTg. Chính vì vậy đây cũng là cơ hội để tiếp cận với những khách hàng đã thật sự được trải nghiệm sử dụng MM và đưa ra những đánh giá khách quan nhất. Từ đó làm nền tảng để tác giả tiến hành xây dựng khung mô hình góp phần đánh giá tác động của các nhân tố đến ý định sử dụng tiền di động tại Việt Nam gồm 6 yếu tố quan trọng, đó là tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, tính rủi ro, chi phí hợp lý và hiểu biết tài chính.
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha chứng minh các thang đo thỏa yêu cầu về độ tin cậy, nghĩa là có ý nghĩa đo lường tốt cho nghiên cứu. Thông qua nhân tố EFA, xác định được 6 nhóm nhân tố biến độc lập được rút ra có thể giải thích được 78.517% sự biến thiên của tập dữ liệu. Sau khi xây dựng thang đo và kiểm định mô hình, nghiên cứu này đã xác định được từng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định sử dụng tiền di động tại Việt Nam. Trong đó nhân tố tính rủi ro (Beta = 0.329) là có sức ảnh hưởng nhiều nhất trong việc xác định độ tin cậy sử dụng tiền di động của người dân, nhưng có tác động ngược chiều. Còn lại, tính dễ sử dụng (Beta = 0.269), chi phí hợp lý (Beta = 0.283), sự tin tưởng (Beta = 0.251), tính hữu ích (Beta = 0.223) và sự hiểu biết tài chính (Beta = 0.115) cũng là các yếu tố quan trọng đến ý định sử dụng tiền di động và có tác động cùng chiều với YD. Từ kết quả phân tích của mô hình nghiên cứu, đề tài có thể đề ra các giải pháp khả thi nhằm nâng cao ý định sử dụng tiền di động của khách hàng. Nghiên cứu cũng giúp thể hiện một dấu hiệu đáng mừng khi ý định sử dụng Mobile money của người dân khu vực Nông thôn (3.8723) cao hơn thành khu vực Thành phố (3.6267), chứng tỏ ở địa bàn nông thôn, vùng xâu, vùng xa,… đã có những bước chuyển mình trong tiếp cận công nghệ số mới – Mobile money.
Kết quả nghiên cứu đã góp một phần nhỏ trong việc góp phần làm phong phú thêm nguồn nghiên cứu mới về Mobile money tại Việt Nam, đồng thời xác định được một số các nhân tố tác động đến ý định sử dụng tiền di động của khách hàng cá nhân.
5.2. Khuyến nghị
Căn cứ kết quả có được từ nghiên cứu định lượng, đề tài xác định được các nhân tố tác động và mức độ tác động của từng nhân tố đến ý định sử dụng Tiền di động của người tiêu dùng tại Việt Nam. Vậy nên để có thể nâng cao ý định sử dụng dịch vụ MM, thì các nhà mạng viễn thông cần có các giải pháp cụ thể hơn nữa để gia tăng tính tác động của các nhân tố này. Trong khuôn khổ của bài luận văn, tác giả đề xuất một số khuyến nghị như sau:
5.2.1. Đối với Yếu tố sự rủi ro Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra Rủi ro được đánh giá có có tác động mạnh nhất đến ý định sử dụng tiền di động, nhưng có tác động ngược chiều. Chính vì vậy, nên tập trung có những giải pháp cụ thể hơn nữa để hạn chế tối đa rủi ro cho người tiêu dùng khi sử dụng Mobile money.
Đầu tiên, nhận thức tiền di động là dịch vụ mới, nên không tránh khỏi các quy định pháp lý còn chưa đầy đủ và đồng bộ, có thể có những lỗ hổng tiềm ẩn những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện. Chính vì vậy, các bộ, ngành không ngừng rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp luật, nhất là bảo mật thông tin, đảm bảo an toàn dữ liệu khách hàng, sớm hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư… Cần xây dựng các kịch bản sẵn để đối phó với các tình huống xấu nhất liên quan đến rủi ro mang tính hệ thống, mất an toàn an ninh mạng. Ngoài ra, xem xét việc tăng cường các luật bảo vệ người tiêu dùng hiện có áp dụng cho nền tảng tiền di động. Một cách tiếp cận hợp tác giữa các nhà khai thác mạng di động, các tổ chức tài chính và cơ quan quản lý nên thắt chặt các luật hiện hành chống lại những kẻ gian lận tiền di động và một cơ chế hiệu quả để truy đòi, bồi thường và khắc phục phải được thiết lập để mang lại quyền lợi cho khách hàng là các nạn nhân của gian lận, tội phạm công nghệ.
Dựa trên nhu cầu của người tiêu dùng, xem xét có nên nâng hạn mức giao dịch cao hơn hay không. Để đảm bảo an toàn, có thể nâng thành các mức độ khác nhau như: Mức 10 triệu/ tháng dành cho cố định khi khách tự đăng ký MM lần đầu, hoặc đăng ký tại nhà; nếu có nhu cầu ra quầy đăng kí hạn mức cao hơn, dưới sự kiểm soát hạn mức của nhà mạng viễn thông. Phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro: đối với những khách hàng, trong quá trình thẩm định được đánh giá thuộc nhóm rủi ro thấp thì nên nới lỏng các quy định về đăng ký tài khoản và ngược lại, siết chặt bằng các quy định định danh cùng định mức và lệ phí chuyển tiền chặt chẽ. Như vậy, những người thật sự có nhu cầu sẽ nhanh chóng tiếp cận tài chính toàn diện và giảm rủi ro những cá nhân/tổ chức sử dụng dịch vụ với mục đích phạm pháp.
Hiện nay khi mà công nghệ ngày càng phát triển rộng khắp thì cũng không thể phủ nhận rằng xuất hiện những rủi ro tiềm tàng. Các giao dịch tiền di động đã trở thành mục tiêu của những tội phạm tài chính – kẻ tấn công có động cơ và kỹ năng (Gombiro và các cộng sự, 2019). Cần thực hiện xác thực hai lớp nâng cao với tất cả các giao dịch, hạn chế nguy cơ bị kẻ gian xâm nhập điện thoại trái phép và trong giao dịch thường xuyên nhắc nhở khách hàng tuyệt đối không cung cấp mật khẩu, mã OTP, hay truy cập bất kì đường link không chính thống nào dẫn đến mất tiền oan.
5.2.2. Đối với Yếu tố chi phí hợp lý Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Trong giai đoạn thử nghiệm có thể miễn phí sử dụng dịch vụ để khuyến khích khách hàng làm quen với việc tiếp cận và sử dụng tiền di động, tạo cơ hội được trải nghiệm toàn bộ các tiện ích mà MM mang lại.
Trên tinh thần làm quen khách hàng mới tri ân khách hàng cũ, thường xuyên có nhiều chương trình, khuyến mãi hấp dẫn cho khách hàng mới là một trong các yếu tố cần thiệt tạo thêm sức hút cho MM giúp thu hút người dùng. Đồng thời cũng có các chính sách ưu đãi, tri ân chăm sóc khách hàng thường xuyên giao dịch để họ cảm nhận được sự quan tâm của nhà mạng viễn thông thông qua chương trình giảm giá, tích điểm thưởng cho họ khi thực hiện một số giao dịch nhất định có thể là một công cụ tiếp thị hiệu quả để khuyến khích hành vi của khách hàng. Có thể xem xét dựa vào mục đích sử dụng MM, thấy được nhu cầu tập trung tiêu dùng của khách hàng, từ đó mở rộng chương trình chuyển khoản nhận mã may mắn, quay số trúng thưởng, hoặc tặng các mã giảm giá thanh toán hóa đơn tiền điện, nước; xếp thứ hạng thân thiết để hưởng ưu đãi về phí giao dịch; giới thiệu bạn mới tích điểm nhân đôi,… để thu hút họ trong việc tích cực lựa chọn sử dụng MM, không lo về giá. Xây dựng chính sách phí, cơ cấu phí, các loại phí hợp lý, rõ ràng vừa tạo được sự cạnh tranh nhưng cũng đủ để thu hút khách hàng. Xem xét, chia khung các dịch vụ, hay các gói sản phẩm tương ứng các mức chi phí. Khách hàng có thể lựa gói sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình sao cho đảm bảo chi phí phù hợp không gây lãng phí. Việc chủ động tùy chọn mức phí “sẵn lòng trả” cho dịch vụ sẽ góp phần nâng cao nhận thức về chi phí chuyển đổi của khách hàng đối với với dịch vụ đó hơn, chi phí sử dụng MM cần phải hợp lý khi so sánh với các lựa chọn thay thế hiện có. Điều này tạo nên tâm lý thoải mái hơn khi trải nghiệm sử dụng MM.
5.2.3. Đối với Yếu tố dễ sử dụng
Thiết kế giao diện gần gũi, đơn giản và thông minh để người dân có thể thực hiện các thao tác một cách dễ dàng. Nội dung giao diện khi sử dụng phải to, rõ, dễ nhìn để người tiêu dùng dễ dàng nhận biết kể cả những người lớn tuổi.
Do đặc điểm dân cư phân bố Việt Nam không đồng đều, trong đó 65% dân số khu vực nông thôn khắp các vùng miền nên khi triển khai dịch vụ cần tập huấn cho người sử dụng theo dạng “cầm tay chỉ việc” để hướng dẫn khách hàng sử dụng dịch vụ. Bên cạnh đó cận tận dụng phát triển các kênh thông tin giới thiệu về dịch vụ mà người dân thường tiếp cận như tivi, radio, báo chí,… để MM gần gũi hơn đến người tiêu dùng. Đồng thời tận dụng lợi thế tiếp thị truyền miệng để quảng bá sản phẩm, kết quả khảo sát chỉ ra Mobile money được khách hàng biết đến từ sự giới thiệu của người quen và bạn bè đã sử dụng MM là 54,1%, chiếm tỷ trọng cao nhất các nguồn thông tin (Chi tiết phụ lục 4). Nhà mạng viễn thông có thể đến các trường học, trực tiếp đăng kí mở MM, hướng dẫn học sinh trải nghiệm, nói rõ hơn về tiện ích để sinh viên giới thiệu bạn bè và người nhà sử dụng, đồng thời kèm theo ưu đãi giới thiệu bạn bè dùng MM thành công được tích điểm thưởng…
Xây dựng các video dễ hiểu, có ý nghĩa, có thông điệp gửi gắm rõ rằng; xây dựng các tờ rơi hướng dẫn chi tiết và đơn giản hóa các quy trình thanh toán để người tiêu dùng đỡ mất thời gian trong lần đầu sử dụng MM. Nghiên cứu ngày càng phát triển tối ưu hóa sản phẩm, tăng tốc độ chuyển tiền, giảm thời gian giao dịch, thường xuyên đổi mới giao diện bắt mắt tạo sự thân thiện cho người dùng. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
5.2.4. Đối với Yếu tố sự tin tưởng
Dựa trên nền tảng lợi thế về Danh tiếng của nhà mạng viễn thông sẵn có, tăng cường hơn nữa các hoạt động thiện nguyện, đồng hành tài trợ các chương trình, sự kiện phát động hàng năm tại địa phương, nhất là các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hải đảo nhằm xây dựng hình ảnh thương hiệu trong lòng người tiêu dùng và góp phần quảng bá Mobile gần gũi, thuận tiện hơn với người tiêu dùng.
Giá trị thương hiệu phải được xây dựng bằng niềm tin, sự trung thành của khách hàng. Vì vậy, phải tăng cường chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng tốt nhất, nâng cao trải nghiệm cho khách hàng, gia tăng nhiều sản phẩm, tính năng hơn nữa để khách hàng có nhiều sự lựa chọn và sẽ gắn bó lâu dài. Ngoài ra, nhà mạng viễn thông phải luôn thực hiện đúng với những cam kết đối với khách hàng và chịu trách nhiệm về sản phẩm dịch vụ đã cung cấp nhằm tạo niềm tin cho khách hàng hình thành thói quen TTKDTM.
5.2.5. Đối với Yếu tố hữu ích
Mức độ hữu ích được nhận thức, là một trong những yếu tố dự báo về ý định hành vi, cho thấy tầm quan trọng của nhận thức của khách hàng về lợi ích tiềm năng của việc sử dụng tiền di động. Vì vậy, truyền thông tiếp thị hiệu quả là rất quan trọng, chú trọng tính lan tỏa, ảnh hưởng cộng đồng, tính kết nối khi triển khai dịch vụ. Để đảm bảo triển khai tốt cần tổ chức tập huấn nhiều hơn cho các bên liên quan với nhiều hình thức khác nhau.
Một trong những góp ý khảo sát nhận được là “mong muốn có nhiều hơn nữa các cửa hàng và điểm giao dịch viễn thông tại thôn, xóm”. Các nhà mạng viễn thông nên xem xét mở rộng mạng lưới điểm giao dịch trực tiếp, nhất là tăng các điểm chấp nhận giao dịch nộp, rút tiền trực tiếp tiền từ tài khoản Mobile money tại các thôn, xã vì hiện nay vẫn phải ra huyện đi lại khá xa, như vậy thì chưa tạo sử thuận tiện hơn ngân hàng về khoảng cách địa lý. Ngoài cơ sở hạ tầng, phải chú trọng đến chất lượng của đội ngũ nhân viên đặc biệt là tuyến nhân viên có giao dịch trực tiếp với khách hàng. Phải xây dựng đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, vừa giỏi kiến thức vừa giỏi kỹ năng để tư vấn hoặc giải đáp nhanh chóng các thắc mắc của khách hàng về Mobile money. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Thường xuyên cập nhật những công nghệ tiên tiến nhất, đơn giản nhất cho khách hàng để nâng cao hơn nữa ý định sử dụng MM. Cần nắm bắt kịp thời các vướng mắc, khó khăn cũng như kỳ vọng của khách hàng về các tính năng mới của Mobile money để tạo thêm những dịch vụ mới thu hút được người dùng như chuyển khoản khác nhà mạng viễn thông,..
Nhà mạng viễn thông tăng cường triển khai thỏa thuận hợp tác với các ngân hàng, trong trường hợp khách hàng không có tài khoản mở tại ngân hàng vẫn có thể đến quầy giao dịch đề nghị nạp tiền trực tiếp vào tài khoản MM cho mình và người thân được, giúp tạo tính thuận tiện cho người dùng, phát triển đôi bên cùng có lợi.
5.2.6. Đối với Yếu tố hiểu biết tài chính
Việt Nam là một trong các nước có tốc độ phủ Internet nhanh và tỷ lệ người dân có internet cũng cao. Vào tháng 1/2025, Việt Nam có 72,10 triệu người sử dụng, chiếm 73.2% tổng dân số (Kemp, 2025) tuy nhiên mức độ phát triển CNTT không đồng đều giữa các vùng, chỉ số sẵn sàng ứng dụng CNTT 2024 cả nước chỉ có 16/63 tỉnh thành đạt mức điểm từ 50 trở lên. Ngoài ra, theo số liệu Niên giám thống kê năm 2025 thực tế số năm đi học bình quân của Việt Nam 2025 chỉ đạt 9.2, còn khoảng cách khá xa so với kì vọng là 12.36, vậy nên xem xét lồng ghép kiến thức cơ bản về tài chính, về lãi suất, gửi tiết kiệm, lựa chọn đầu tư, hay nhận thức về rủi ro mạng, về lợi ích công nghệ số, thay đổi thói quen dùng tiền mặt… vào chương trình học sớm hơn, phù hợp với thực tế, giúp làm nền tảng để học sinh, người dân sẵn sàng hơn khi tiếp cận các dịch vụ tài chính mới, nâng cao nhận thức về HBTC, tiến tới tài chính toàn diện nhanh chóng.
Đảm bảo rằng kiến thức tài chính kỹ thuật số được cung cấp cho người dùng tiền điện thoại di động để giúp họ hiểu các rủi ro kỹ thuật số. Người tiêu dùng sẽ có những quyết định và lựa chọn tốt hơn về những sản phẩm tài chính để tiêu thụ trên nền tảng tiền kỹ thuật số di động. Thiếu kiến thức và hiểu biết về các loại sản phẩm/dịch vụ tài chính cũng như các yêu cầu cần thiết để sử dụng sẽ khiến người dân thiếu sự tự tin, ngại tiếp cận và thái độ không tin tưởng đối với Mobile money.
Chính vì vậy nên thường xuyên có chiến dịch nâng cao hiểu biết tài chính, tăng cường đào tạo kỹ năng và năng lực tài chính cho người dân để họ có thể tiếp cận và sử dụng có trách nhiệm các dịch vụ tài chính, quản lý tốt hơn tình hình tài chính của mình nhất là với đối tượng người dân khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa,…
Bản thân khách hàng cũng là những người chủ động, tự trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức và kĩ năng cơ bản về tài chính để dễ dàng tiếp cận các dịch vụ MM, ngoài ra cũng giúp tự bảo vệ mình trước những rủi ro tài chính.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
Nghiên cứu đã có tạo dựng một mô hình tương đối rõ ràng về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động nhưng do khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên tác giả nhìn nhận vẫn còn một số tồn tại như sau: Thứ nhất, số lượng mẫu trong nghiên cứu chỉ dừng ở mức 231 phiếu hợp lệ với phương pháp lấy mẫu thuận tiện nên có thể khiến cho tính đại diện của mẫu chưa cao. Thứ hai, số lượng nhân tố tác động mới chỉ dừng lại ở 6 nhân tố, chưa có đột phá nhiều, chưa bao quát so với các nghiên cứu trước. Bên cạnh đó, yếu tố Hiểu biết tài chính nghiên cứu chưa kiểm tra được khoảng cách giữa hiểu biết tài chính khách quan và cảm nhận, chưa có sự tương đồng về kiến thức tài chính. Thứ ba, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nên chỉ dừng lại ở phân tích tác động của từng yếu tố đến ý định sử dụng, chưa chỉ ra được mối quan hệ đa chiều giữa nhiều biến trong mô hình.
Chính vì vậy, ở các nghiên cứu tiếp theo tác giả có thể bổ sung thêm nhân tố khác ngoài các nhân tố đã được đề cập đến trong mô hình nghiên cứu chính thức để khám phá ra những nhân tố tiềm năng khác có tác động đến ý định sử dụng tiền di động. Ngoài ra, có thể mở rộng quy mô, tăng kích thước mẫu, thực hiện nghiên cứu với các đối tượng khách hàng mới, hoặc sử dụng mô hình phương trình cấu trúc để khám phá… Và sẽ rất thú vị khi xác minh các yếu tố tiềm năng thúc đẩy việc sử dụng tiền di động của cư dân từ các khu vực khác trong các nghiên cứu trong tương lai, đặc biệt là khu vực nông thôn. Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động […]