Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Tiền di động tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Mô hình và Giả thuyết nghiên cứu

3.1.1. Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các nghiên cứu trước đây với mô hình chấp nhận công nghệ TAM là mô hình cơ sở, tác giả lựa chọn xây dựng mô hình nghiên cứu trên cơ sở có chọn lọc và bổ sung thêm một số yếu tố phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Cụ thể:

Thứ nhất, tính đến thời điểm hiện tại nghiên cứu Nguyễn Thị Hà Thanh; Hoàng Hồng Nhung (2025) là nghiên cứu duy nhất cùng khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động tại Việt Nam, nên tác giả kì vọng kiểm định xem xét có sự tương đồng hay khác biệt kết quả nghiên cứu về mặt tác động của các biến tính dễ sử dụng, tính hữu ích, sự tin tưởng và chi phí. Ngoài ra, do Mobile money chỉ vừa triển khai, vẫn đang trong giai đoạn thí điểm tại Việt Nam, nên tác giả tạm không xét đến yếu tố Ảnh hưởng xã hội trong nghiên cứu lần này. Thứ hai, Mobile money là một dịch vụ hoàn toàn mới tại Việt Nam nên không tránh khỏi những lo ngại về những rủi ro do giao dịch, do hacker xâm nhập … dẫn đến mất tiền oan nên dựa theo Thuyết nhận thức rủi ro, rủi ro về giao dịch trực tuyến có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, kế thừa nghiên cứu của Tobbin (2014), Go (2022) tác giả lựa chọn xác định tác động của biến rủi ro đối với ý định sử dụng MM . Đồng thời tác giả bổ sung thêm biến Hiểu biết tài chính để hoàn thiện mô hình nghiên cứu đề xuất, vì đây là một vấn đề đang rất được quan tâm trong thời gian gần đây và được đánh giá là một trong những rào cản người dân tiếp cận các dịch vụ tài chính.

Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mobile money tại Việt Nam sẽ áp dụng mô hình hồi quy có dạng: YD = β0 + β1HI + β2DS + β3TT – β4RR + β5CP + β6HB+ ei Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Trong đó:

  • YD là biến phụ thuộc ý định sử dụng Mobile money tại Việt Nam
  • HI (hữu ích), DS (dễ sử dụng), TT (tin tưởng), RR (rủi ro), CP (chi phí), HB (hiểu biết tài chính) là các biến độc lập.
  • β0: là hằng số
  • β1, β2, β3, β4, β5, β6: là hệ số hồi quy
  • ei: là phần dư của mô hình

Các dữ liệu sau khi thu thập được sẽ được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS22 kết hợp Microsoft Excel 2014, sau đó phân tích đánh giá về độ tin cậy của thang đo và đưa ra các nhận xét, khuyến nghị thích hợp.

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Nguồn: Tác giả tổng hợp

3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

3.1.2.1 Nhân tố tính hữu ích

Nhân tố hữu ích được định nghĩa là “mức độ mà một người tin rằng một hệ thống cụ thể sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ”. Đây là niềm tin nổi bật nhất trong TAM và làm rõ rằng nhận thức của người dùng về những lợi ích tiềm ẩn của việc sử dụng một sản phẩm dựa trên công nghệ tạo ra cảm giác tích cực đối với nó (Davis, 1989; Davis và các cộng sự, 1989). Sự tiện lợi và tính di động được coi là những lợi ích chính mà người tiêu dùng cảm nhận cùng với mức độ mà người tiêu dùng tin rằng các dịch vụ di động có thể được tích hợp vào các hoạt động hàng ngày của họ (Davidson & McCarty, 2014). Nếu các dịch vụ mà Mobile Money cung cấp đem lại nhiều hữu ích (tiết kiệm thời gian, chi phí, dễ thực hiện, nhanh chóng,…) hơn các dịch vụ ngân hàng truyền thống, ngân hàng điện tử, cũng như hình thức thanh toán truyền thống thì người tiêu dùng sẽ có ý định sử dụng và ngược lại. Chauhan (2019) tin rằng MM rất hữu ích cho người nghèo, các dịch vụ giúp cải thiện năng suất và nâng cao hiệu quả bằng cách tránh thời gian xếp hàng dài, giảm chi phí giao dịch, giảm rò rỉ và cải thiện bảo mật. Cùng quan điểm Nguyễn Thị Hà Thanh; Hoàng Hồng Nhung (2025) cũng bổ sung thêm dựa vào đặc điểm không yêu cầu người dùng phải mở tài khoản ngân hàng, MM được xem như một phương thức thanh toán hữu ích, giúp tiết kiệm thời gian và công sức kết hợp với việc triển khai điểm giao dịch/ đại lý ở mọi vùng miền.

Trong bối cảnh thanh toán di động, nó cũng có thể được giải thích là mức độ mà người tiêu dùng tin rằng MM sẽ tăng cường giao dịch của họ (Tobbin, 2014). Do đó nó phản ánh nhận thức của người tiêu dùng về việc nâng cao hiệu suất bằng cách sử dụng các dịch vụ MM, bao gồm thanh toán tiện lợi, phản hồi nhanh và hiệu quả của dịch vụ. Tobbin & Kuwornu (2015) khẳng định rằng ý định sử dụng Mobile money sẽ tăng lên nếu sự tin tưởng vào tính hữu dụng của nó cũng tăng lên. Theo Narteh và các cộng sự (2021), Luarn & Lin (2005) lý do cuối cùng mà mọi người khai thác việc sử dụng MM vì họ thấy nó hữu ích.

Ngoài ra, trước diễn biến phức tạp của đại dịch Covid 19 đã tạo ra nhu cầu lớn hơn nữa vì tiền di động có khả năng tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch tài chính với sự tiếp xúc vật lý tối thiểu để hỗ trợ hoạt động kinh tế (Bazarbash và các cộng sự, 2024). Rủi ro Covid 19 đối với tiền mặt vật chất được các cá nhân cảm nhận càng cao, thì ý định để sử dụng Mobile Money cho các giao dịch thanh toán để ngăn ngừa nguy cơ truyền Covid 19 (Aji và các cộng sự, 2024). Theo Long và Khoi (2024) nguy cơ sức khỏe nhận thức của khách hàng có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi tiêu dùng của họ với một sản phẩm nhất định.

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giả thuyết H1: Nhận thức về tính hữu ích ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.2 Nhân tố tính dễ sử dụng

Tiền di động đã trở thành một phương thức ưa chuộng trong tiếp cận các dịch vụ tài chính, đặc biệt là ở quốc gia không có sự thâm nhập sâu rộng của hệ thống ngân hàng và cơ sở hạ tầng hạn chế, tính mới của tiền di động nằm ở việc dễ dàng tiếp cập và sử dụng. Cũng như TAM – một mô hình lý thuyết được sử dụng rộng rãi, xác thực và nhân rộng trong việc dự đoán hành vi của người tiêu dùng, gợi ý rằng tính hữu ích được nhận thức và tính dễ sử dụng của các cá nhân ảnh hưởng đến ý định hành vi của họ trong việc áp dụng hoặc sử dụng một hệ thống.

Mức độ dễ dàng sử dụng là “mức độ mà một người tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không tốn công sức” (Davis, 1989). Davis cho rằng một người tiêu dùng tiềm năng sẽ chọn một sản phẩm từ nhiều lựa chọn có sẵn nếu sản phẩm đó cần ít hoặc không tốn nhiều công sức để sử dụng, họ sẽ có kỳ vọng cao về việc đạt được hiệu suất như mong đợi (Luarn & Lin, 2005; Okeke và Eze, 2022). Điều này cho thấy rằng để sử dụng bất kỳ công nghệ nào, người dùng cần ít nỗ lực (Narteh và các cộng sự, 2021). Trong chuyển khoản MM, nó bao gồm thủ tục đăng ký, dễ dàng sử dụng thủ tục thanh toán, dễ dàng truy cập vào các dịch vụ khách hàng, các bước tối thiểu cần thiết để thực hiện thanh toán, kích thước màn hình phù hợp, khả năng nhập liệu và sự sẵn có của các đại lý. Nó phải có thể truy cập được trên điện thoại di động với các tính năng và phần mềm cơ bản nhất (Tobbin, 2014; Penney và các cộng sự, 2025).

Ngoài ra, để ngăn chặn hệ thống ”sử dụng kém” chuyển giao MM phải vừa dễ học vừa dễ sử dụng (Luarn & Lin, 2005; Marumbwa & Mutsikiwa, 2017). Mọi lứa tuổi đều dễ dàng sử dụng việc định danh khách hàng thông qua SIM/ thẻ để có thể thực hiện các giao dịch tài chính. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tính dễ sử dụng là yếu tố quyết định chính đến ý định hành vi của người tiêu dùng (Venkatesh và Davis, 2000; Go, 2022).

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giả thuyết H2: Tính dễ sử dụng có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.3 Nhân tố sự tin tưởng

Môi trường của MM giống như tất cả các giao dịch kinh doanh, cần có yếu tố tin cậy. Do đó, để trở thành một đơn vị kinh doanh bền vững, MM nên chiếm ưu thế trước sự ngờ vực của người dùng (Tobbin, 2014), tức là kỳ vọng rằng bên được tin tưởng sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách đáng tin cậy.

Biến nhận thức sự tin tưởng được mô tả là mức độ mà một cá nhân cảm nhận được sự an toàn, tự tin khiến họ sẵn sàng phụ thuộc vào một hệ thống cụ thể (Kim và các cộng sự, 2013). Xây dựng lòng tin cá nhân là điều không thể thiếu vì nó có xu hướng giảm bớt nỗi sợ hãi và sự không chắc chắn của người tiêu dùng, do đó làm giảm sự phức tạp và thúc đẩy ý định áp dụng (Koksal, 2020). Theo Gefen (2000), niềm tin hay sự tin tưởng là sự sẵn lòng của người dùng mong đợi một kết quả tích cực về hiệu suất trong tương lai của công nghệ và niềm tin chủ quan rằng nhà cung cấp dịch vụ sẽ hoàn thành nghĩa vụ của họ. Đối với khách hàng, tiền di động cung cấp một lựa chọn thanh toán an toàn hơn, hiệu quả hơn và thuận tiện hơn so với tiền mặt, tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại, đồng thời giảm nguy cơ trộm cắp (GSMA, 2021); như Chauhan (2019) nhận định rằng MM là một giải pháp thay thế an toàn hơn so với việc giữ tiền mặt. Suri (2025) cũng cho rằng tài khoản tiền trên điện thoại di động có thể cung cấp khả năng lưu trữ an toàn các khoản tiết kiệm và có khả năng giảm tiết kiệm đề phòng, do đó có khả năng tăng tổng tiết kiệm, cũng như cải thiện việc phân bổ tiết kiệm và rủi ro giữa các hộ gia đình và doanh nghiệp.

Siau & Shen (2003) định nghĩa, sự tin tưởng là thước đo mức độ đảm bảo của người tiêu dùng rằng dịch vụ sẽ được cung cấp với những trở ngại tối thiểu có thể xảy ra. Nghiên cứu cho thấy niềm tin vào thương mại di động có thể được phân biệt thành hai loại: tin tưởng vào công nghệ di động và tin tưởng vào các nhà cung cấp di động (Nguyễn Thị Hà Thanh & Hoàng Hồng Nhung, 2025). Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Sự tin tưởng là yếu tố quyết định quan trọng đến ý định hành vi của người dùng tiền di động. Thật vậy, các nghiên cứu cho thấy niềm tin là một yếu tố dự đoán quan trọng về ý định sử dụng bất kỳ công nghệ nào của người dùng (Narteh và các cộng sự, 2021; Tobbin, 2014). Mức độ sẵn sàng tham gia vào các giao dịch tiền trên thiết bị di động của người dùng tiền di động phụ thuộc vào mức độ tin tưởng (Baganzi & Lau, 2021). Nếu người ta tin rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến một kết quả không mong muốn hoặc không thuận lợi, thì nhiều khả năng người ta có thái độ tiêu cực đối với hành vi đó và ngược lại. Yếu tố niềm tin đóng vai trò quan trọng và có tác động lớn đến ý định chấp nhận và sử dụng những dịch vụ công nghệ mới, chưa có độ ổn định cao ví dụ như Mobile money (Marumbwa & Mutsikiwa, 2017).

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết:

Giả thuyết H3: Sự tin tưởng có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.4 Nhân tố sự rủi ro

Rủi ro được nhận thức được định nghĩa là niềm tin của người tiêu dùng về các kết quả tiêu cực không chắc chắn có thể xảy ra từ giao dịch tiền trên điện thoại di động. Thuyết nhận thức rủi ro TPR cho rằng hành vi tiêu dùng sản phẩm công nghệ có nhận thức rủi ro gồm 2 yếu tố: Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm/ dịch vụ và nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến. Mong muốn giảm thiểu rủi ro của người tiêu dùng thay thế cho sự sẵn sàng tối đa hóa tiện ích và do đó nhận thức rủi ro chủ quan của họ quyết định mạnh mẽ hành vi của họ (Bauer và các cộng sự, 2005). Theo Morgan, Huang và Trinh (2023), ngoài những rủi ro truyền thống khi sử dụng các dịch vụ tài chính, còn có những rủi ro bổ sung khi một người sử dụng các dịch vụ tài chính kỹ thuật số. Những rủi ro như vậy đa dạng hơn và khó phát hiện hơn những rủi ro liên quan đến các sản phẩm và dịch vụ tài chính truyền thống, bao gồm lừa đảo, dược phẩm, phần mềm gián điệp và hoán đổi thẻ SIM.

Theo Malaquias và Hwang (2020), Penney (2025) sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với công nghệ di động bị ảnh hưởng bởi những lo ngại về bảo mật và khả năng bị hack điện thoại di động của khách hàng. Việc bảo mật của được định nghĩa là mức độ mà khách hàng tin rằng sử dụng một phương thức thanh toán cụ thể thông qua ứng dụng di động sẽ được giữ an toàn. Bên cạnh đó, quyền riêng tư là quyền mà khách hàng mong muốn thông tin và giao dịch của họ được giữ bí mật.

Nhận thức về mức độ rủi ro tiềm ẩn của người dùng là khi thông tin khép kín của họ được người khác biết (Pavlou, 2003; Narteh và các cộng sự, 2021). Tội phạm mạng có thể đe dọa đến an ninh và sức khỏe tài chính của một người, công ty hoặc quốc gia (Moore, 2018). Các nghiên cứu cho thấy mức độ rủi ro cao và sự không chắc chắn chủ yếu liên quan đến thiết bị di động vì các cá nhân lo sợ bị mất hoặc bị đánh cắp các thiết bị này và thông tin chúng chứa. Khi khách hàng cảm nhận được bất kỳ tổn thất nào có thể xảy ra do sự không chắc chắn của việc sử dụng MM, nhận thức về rủi ro của họ sẽ tăng lên.

Những tổn thất được dự đoán trước có thể liên quan đến bất kỳ kết quả bất lợi nào đối với khách hàng, chẳng hạn như tổn thất tài chính, vi phạm quyền riêng tư, không chắc chắn với hiệu suất, tâm lý lo lắng, thời gian chờ đợi và xếp hàng dài (Baganzi & Lau, 2021; Narteh và các cộng sự, 2021 ). Rủi ro được nhận thức, xác định là rào cản đối với việc sử dụng bất kỳ hệ thống nào và được giả thuyết là có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng tiền di động (Go, 2022).

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giả thuyết H4: Sự rủi ro có tác động ngược chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.5 Nhân tố Chi phí hợp lý

Nhận thức chi phí giao dịch là một biến số mở rộng, từng được bổ sung vào nhiều mô hình nghiên cứu trước đây về ý định chấp nhận công nghệ nhằm giải thích đầy đủ hơn về hành vi sử dụng các dịch vụ tài chính trên ứng dụng của điện thoại di động. Chi phí được định nghĩa là phân tích đánh đổi nhận thức của một cá nhân giữa lợi ích được nhận thức của một số dịch vụ cải tiến nhất định (ví dụ: Mobile money) và chi phí tiền tệ để sử dụng chúng (Dodds và các cộng sự, 1991; Venkatesh và các cộng sự, 2016). Chi phí giao dịch bao gồm giá giao dịch, phí đăng ký hoặc chi phí của một thiết bị mới nếu cần thiết để sử dụng dịch vụ. Trong bối cảnh MM, khách hàng có nhiều khả năng sử dụng MM nếu chi phí/ giá cả chấp nhận được (Luarn & Lin, 2005). Do đó, trong các tình huống mà phân tích đánh đổi nhận thức giữa lợi ích của một cá nhân được từ một số dịch vụ cải tiến nhất định và chi phí tiền tệ để sử dụng chúng, nếu lợi ích của việc sử dụng được cho là cao hơn thì người dùng hoặc cá nhân có xu hướng sử dụng dịch vụ nhiều hơn. Bên cạnh đó, cuộc phỏng vấn người tiêu dùng ban đầu của Penney (2025) chỉ ra rằng người dùng sẽ chấp nhận chuyển MM nếu có cơ hội dùng thử dịch vụ miễn phí.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiền di động là một phương tiện lưu trữ giá trị và chuyển tiền an toàn với chi phí hợp lý cho bộ phận người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ tài chính truyền thống (Dupas và các cộng sự, 2022).

Nó đã giảm thiểu đáng kể chi phí giao dịch chuyển tiền và gửi tiền (Jack và Suri, 2018). Điều này cho phép các hộ gia đình dễ dàng hơn trong tiêu dùng và đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu của Go (2022), tương tự với Ismail và các cộng sự (2021) chỉ ra rằng chi phí tài chính cảm nhận là một biến số đáng kể, có thể được giải quyết bởi các nhà cung cấp dịch vụ bằng cách làm cho người đăng ký xem xét các lợi ích tổng thể của việc sử dụng tiền di động.

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giả thuyết H5: Chi phí hợp lý có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.6 Nhân tố Hiểu biết tài chính

Lần đầu được nhắc đến từ những năm 1900 tại Hoa Kỳ, hiểu biết tài chính được hiểu là khả năng quản lý tiền của một cá nhân. Khúc Thế Anh & Đặng Anh Vũ (2023) chỉ ra rằng, hiểu biết tài chính về căn bản được thể hiện ở 3 khía cạnh gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.

Việc chấp nhận và sử dụng tiền di động hạn chế ở những người có thu nhập thấp có khả năng liên quan đến một số yếu tố, trong đó yếu tố quan trọng nhất dường như được nhận thức không an toàn, thiếu tin tưởng, khó sử dụng công nghệ tài chính và mức độ hiểu biết về tài chính thấp (Oliveira và các cộng sự, 2020; Ozili, 2022). Một số yếu tố được báo cáo là những rào cản tiềm ẩn đối với việc sử dụng tiền di động bao gồm thiếu hiểu biết về các dịch vụ, tỷ lệ hiểu biết tài chính thấp, và nỗi sợ mất đi số tiền khó kiếm được (Balasubramnian & Sargent, 2024; Mirziyants, 2017). Hiểu biết về tài chính, giáo dục về tài chính làm tăng khả năng sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính kỹ thuật số, khuyến khích các hành vi tài chính mong muốn của người tiêu dùng, để cải thiện khả năng tiếp cận tài chính của người nghèo (Hasan và các cộng sự, 2024c ). CGAP (2021) lập luận thêm rằng việc trang bị cho người dùng kiến thức để trao quyền cho họ với tư cách là người tiêu dùng tài chính thông qua hiểu biết về tài chính dẫn đến khả năng tiếp cận và sử dụng rộng rãi các dịch vụ tiền di động. Mobile Money cung ứng cho nhóm khách hàng không có tài khoản ngân hàng một kênh giao dịch nhanh chóng và thuận tiện, sử dụng 24/7, thanh toán mọi lúc, mọi nơi với thiết bị di động. Mobile Money cũng góp phần phổ cập kiến thức tài chính toàn diện cho toàn dân. Thông qua đó, người sử dụng sẽ dần quen với sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức khác tại các ngân hàng và các tổ chức trung gian thanh toán (Phương Linh, 2025).

Hiểu biết về tài chính rất cần thiết cho việc áp dụng tiền di động (Finscope, 2013). Hiểu biết tài chính cao hơn có liên quan tích cực đến khả năng sử dụng các dịch vụ fintech cao hơn. Kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ số hiểu biết về tài chính có ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng tiền điện tử, sử dụng ứng dụng thanh toán di động (Yoshino và các cộng sự, 2024; Morgan và Trinh, 2024; Balasubramnian & Sargent, 2024, Xiao & Porto, 2021…).

Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu kiểm tra giả thuyết: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giả thuyết H6: Hiểu biết tài chính có tác động cùng chiều đến ý định sử dụng Mobile Money.

3.1.2.7 Nhân tố Ý định sử dụng

Như đã trình bày ở phần 2.1.2, chứng minh rằng trước đây đã có rất nhiều nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố đến ý định sử dụng. Nghiên cứu ý định sử dụng Mobile Money đã chỉ ra rằng nó rất có lợi, đặc biệt là những nơi chưa có hệ thống ngân hàng (Baganzi & Lau, 2021). Oliveira và các cộng sự (2020) cho rằng Ý định hành vi áp dụng thanh toán di động ảnh hưởng tích cực đến hành vi ý định giới thiệu công nghệ thanh toán di động cho người khác. Người tiêu dùng có ý định áp dụng công nghệ mới cao hơn có nhiều khả năng trở thành người chấp nhận và giới thiệu công nghệ cho người khác (Miltgen và các cộng sự, 2017).

Hiện nay, Mobile Money đang được thí điểm tại Việt Nam, nên việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mobile Money là cần thiết, từ đó vừa phát triển sản phẩm vừa góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện, thanh toán không dùng tiền mặt. Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu bài luận văn này, sẽ tiến hành nghiên cứu sự tác động của 6 nhân tố, cụ thể: tính hữu ích, tính dễ sử dụng, sự tin tưởng, sự rủi ro, chi phí giao dịch hợp lý và sự hiểu biết tài chính.

3.2. Quy trình nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

3.2.1. Quy trình nghiên cứu

Từng bước làm được thể hiện qua sơ đồ bên dưới:

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Hình 3.2 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

  • Cụ thể các bước trong mô hình như sau: Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Bước 1: Dựa trên các nghiên cứu trước đây với TAM là mô hình cơ sở, nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mobile Money của người dân Việt Nam để từ đó xây dựng mô hình và đề xuất các giả thuyết nghiên cứu.

Bước 2: Thiết kế thang đo, bảng câu hỏi dựa trên các công trình nghiên cứu trước. Bước 3: Phỏng vấn Chuyên gia am hiểu về MM, giảng viên hướng dẫn, các nhân viên giao dịch khách hàng tại các cửa hàng giao dịch của Viettel, Vina,… để tham khảo ý kiến bảng câu hỏi khảo sát, sau đó điều chỉnh cần thiết cho bảng câu hỏi và thiết kế thang đo hoàn chỉnh. Từ đó có được bảng thang đo chính thức và bắt đầu khảo sát bảng câu hỏi.

Bước 4: Tiến hành khảo sát người dùng bằng hình thức tạo mẫu khảo sát trên Google Form; kết hợp phỏng vấn trực tiếp (nếu có). Sau đó thu nhập dữ liệu, lọc ra những bảng khảo sát hợp lệ, nhập dữ liệu thu thập được vào file excel. Phân tích dữ liệu sau khi được thu nhập bằng phần mềm SPSS 22.

Bước 5: Nghiên cứu sẽ thống kê mô tả mẫu quan sát, tiếp đó thực hiện kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha và tương quan biến tổng. Kết quả đạt yêu cầu tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích tương quan Pearson.

Bước 6: Kiểm định phương trình hồi quy đa biến để kiểm tra độ thích hợp mô hình.

Bước 7: Kiểm định tương quan, hiện tượng đa cộng tuyến để đo lường mối quan hệ giữa các biến và phân tích hồi quy tuyến tính để xác định mức độ ảnh hưởng của các biến đến việc sử dụng tiền di động của người tiêu dùng. Từ đó, thảo luận kết quả nghiên cứu; đưa ra kết luận và đề xuất một số hàm ý quản trị.

3.2.2. Thiết kế nghiên cứu Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Nghiên cứu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mobile money tại Việt Nam, được thực hiện thông qua sự kết hợp sử dụng hai phương pháp Định tính và Định lượng, trong đó Định lương là phương pháp chủ yếu.

Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu. Dựa trên cơ sở lý thuyết và khảo lược các công trình nghiên cứu liên quan, tác giả thiết lập thang đo sơ bộ thông qua việc thiết lập bảng câu hỏi khảo sát. Bằng cách thảo luận, phỏng vấn sâu và tham khảo ý kiến giảng viên, nhân viên viễn thông, khách hàng trực tiếp tiếp cận sử dụng Mobile money với mục đích khám phá, bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát phù hợp dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu cần thiết. Nghiên cứu được tiến hành vào tháng 6/2025.

Nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện (thông qua trả lời Google Forms hoặc phỏng vấn trực tiếp các khách hàng). Thời gian khảo sát là từ tháng 7 đến tháng 9/2025. Số lượng mẫu hợp lệ là 231 người dùng đã trải nghiệm sử dụng dịch vụ Mobile Money. Dữ liệu thu thập sẽ được tác giả chọn lọc, làm sạch và đưa vào phân tích thông qua 2 công cụ xử lý là SPSS 22 và Excel 2014.

3.3. Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn thông tin: Tham khảo các tài liệu, sách, tạp chí, bài báo, trang web, số liệu cơ quan thống kê và các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài.

Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tiền di động dựa trên cơ sở thông tin, số liệu thu thập tại khách hàng được khảo sát. Các bảng câu hỏi sau khi được khảo sát xong được thu hồi về, tiến hành kiểm tra và loại bỏ đi những bảng không đạt yêu cầu. Mục đích của bước này là thu thập và tổng hợp thông tin sơ cấp từ các đối tượng khảo sát, những thông tin này sau khi được hiệu chỉnh sẽ là dữ liệu cơ sở dùng cho các bước phân tích tiếp theo.

Để thực hiện công việc thống kê và phân tích dữ liệu thu thập được, nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 22 để kiểm định độ tin cậy và độ giá trị của thang đo thông qua chạy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, đồng thời cũng sử dụng SPSS để thực hiện các thống kê mô tả, thống kê suy diễn và phân tích hồi quy.

3.3.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

Phân tích Cronbach’s Alpha nhằm kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha và loại bỏ những biến quan sát chưa phù hợp, có tương quan biến tổng (Item-Total correlation) nhỏ. Hệ số Cronbach’s Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các câu hỏi trong thang đo tương quan với nhau. Theo Nguyễn Đình Thọ (2015), Cronbach’s Alpha là hệ số được ứng dụng phổ biến nhất khi đánh giá độ tin cậy của những thang đo đa biến. Hệ số Cronbach’s Alpha có giá trị biến thiên trong khoảng [0,1]. Nó đo lường tính nhất quán của các biến quan sát trong cùng 1 thang đo để đo lường 1 khái niệm. Hệ số tương quan biến tổng được dùng để đánh giá thang đo có tin cậy hay không, thông thường giá trị này phải trên 0.3 (Nguyễn Đình Thọ, 2015). Nếu Cronbach’s Alpha >=0,60 là thang đo có thể chấp nhận được về mặt độ tin cậy, trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu mới đối với người trả lời trong bối cảnh nghiên cứu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012). Về lý thuyết Hệ số Cronbach’s Alpha càng cao càng tốt (thang đo càng có độ tin cậy cao).

3.3.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

Sau khi loại bỏ các biến không đảm bảo độ tin cậy thông qua phân tích Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để xác định độ giá trị hội tụ, độ giá trị phân biệt và đồng thời thu gọn các tham số ước lượng theo từng nhóm biến. Phân tích nhân tố khám phá nhằm rút gọn một tập hợp gồm nhiều biến quan sát phụ thuộc lẫn nhau thành một tập hợp có ít biến quan sát hơn để chúng có ý nghĩa hơn, đồng thời vẫn đảm bảo chứa đầy đủ thông tin của tập ban đầu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012). Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

EFA được xem là thích hợp khi có đủ các điều kiện sau:

Kaiser – Meyer – Olkin (KMO): Là chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Nếu 0,5 ≤ KMO ≤ 1 phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu. KMO là chỉ số dùng để so sánh độ lớn của hệ số tương quan giữa các biến đo lường với độ lớn của hệ số tương quan riêng phần của chúng (Nguyễn Đình Thọ, 2015). Hệ số KMO càng lớn càng tốt vì phần chung giữa các biến càng lớn. Để phân tích nhân tố khám phá, KMO phải lớn hơn 0,5. Kaiser (1974) đề nghị KMO ≥ 0,9: rất tốt; KMO ≥ 0,8: tốt; MO ≥ 0,7: được; MO ≥ 0,6: tạm được; MO 0,5: xấu và KMO < 0,5: không thể chấp nhận được.

Hệ số tải nhân tố (factor loading): là chỉ tiêu biểu thị tương quan giữa các biến với nhân tố, dùng để đánh giá mức ý nghĩa thiết thực của EFA. Theo Hair và các cộng sự (1998), hệ số tải nhân tố là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA. Hệ số tải nhân tố EFA > 0,3 được xem là đạt mức tối thiểu; > 0,4 được xem là quan trọng; > 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn.

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2012), Hệ số này phải > 0,5 mới được chấp nhận nếu không sẽ bị loại khỏi mô hình. Hệ số tải nhân tố mang dấu (-) thì sẽ được lấy trị tuyệt đối. Thực hiện EFA nhiều lần cho đến khi xác định được các biến có hệ số tải nhân tố > 0,5. Từ đó xác định được các nhân tố mới, đặt tên lại cho các nhân tố này.

Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test): Là đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết H0. Nếu mức ý nghĩa Sig. <0,05 thì sẽ bác bỏ giả thuyết H0, đồng nghĩa với việc các biến có tương quan với nhau trong tổng thể. Điều này chứng tỏ dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn thích hợp, chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.

Tổng phương sai trích (% cumulative variance): cho biết các nhân tố giải thích được bao nhiêu phần trăm biến thiên của các biến quan sát. Tiêu chuẩn của tổng phương sai trích phải đạt từ 50% trở lên, nghĩa là phần chung phải lớn hơn phần riêng và phương sai từ 60% trở lên được coi là tốt (Nguyễn Đình Thọ, 2015).

Điểm dừng (Eigenvalue): đại diện cho một phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố. Những nhân tố Eigenvalue > 1 sẽ được chấp nhận.

3.3.3. Phân tích tương quan Pearson( Pearson correlation coefficient, r) Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Phân tích sự tương quan giữa các biến để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc. Nếu biến độc lập và biến phụ thuộc có tương quan với nhau thì mới tiến hành phân tích hồi qui tuyến tính. Sự tương quan được phân tích bằng cách xem xét ma trận tương quan sử dụng hệ số tương quan Pearson.

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2012) thì giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan Pearson biến thiên trong khoảng từ 0 đến 1, (0: hoàn toàn không tương quan và 1: tương quan hoàn toàn). Việc phân tích tương quan còn nhằm phát hiện sự tương quan giữa các biến độc lập vì khi các biến độc lập có sự tương quan nhiều thì sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích hồi qui cũng như hiện tượng đa cộng tuyến làm cho việc giải thích các hệ số hồi qui không còn đáng tin cậy.

Về nguyên tắc, tương quan Pearson sẽ tìm ra một đường thẳng phù hợp nhất với mối quan hệ tuyến tính của 2 biến. Hệ số r sẽ nhận giá trị từ +1 đến -1. Điều kiện để tương quan có ý nghĩa là giá trị Sig <0,05.

  • r < 0 cho biết một sự tương quan nghịch giữa hai biến
  • r = 0: không có sự tương quan.
  • r > 0 cho biết một sự tương quan thuận giữa hai biến, nghĩa là nếu giá trị của biến này tăng thì sẽ làm tăng giá trị của biến kia.

Ngoài ra cần nhận diện vấn đề đa cộng tuyến khi các biến độc lập cũng có tương quan mạnh với nhau. Dấu hiệu nghi ngờ dựa vào giá trị Sig tương quan giữa các biến độc lập nhỏ hơn 0,05 và giá trị tương quan Pearson lớn hơn 0,4.

3.3.4. Phân tích hồi quy đa biến Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Phương pháp hồi qui tuyến tính được thực hiện thông qua các bước sau: Đưa các biến vào phân tích hồi qui. Bước tiếp theo là đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui thông qua hệ số R2 hiệu chỉnh. Sau đó thực hiện kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình cùng với đánh giá mức độ tác động của các biến thông qua hệ số Beta. Nhằm đảm bảo độ tin cậy của phương trình hồi qui được xây dựng là phù hợp thì kiểm định quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc và biến độc lập cũng như hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định phân phối chuẩn của phần dư, tính độc lập của phần dư và hiện tượng đa cộng tuyến được thực hiện.

Khi sử dụng mô hình hồi quy đa biến chúng ta cần chú ý đến sự phù hợp của mô hình và kiểm tra các giả định của nó.

Kiểm định sự phù hợp với mô hình: Kiểm định F sử dụng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) là phép kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính tổng thể. Nếu sig < 0,05, kết luận mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.

Đánh giá sự phù hợp với mô hình bằng Giá trị R2 (R Square), R2 hiệu chỉnh (Adjusted R Square). Các nhà nghiên cứu sử dụng hệ số xác định R2 (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012), mục đích là cho thấy biến phụ thuộc được biến độc lập giải thích bao nhiêu phần trăm trong mô hình hồi quy. R2 hiệu chỉnh phản ánh sát hơn so với R2. Mức dao động của 2 giá trị này là từ 0 đến 1, càng gần 1 thì mô hình càng phù hợp. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp Enter.

Trị số Durbin –Watson (DW) dùng để kiểm tra hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất (kiểm định tương quan của các sai số kề nhau). Theo Field (2013), nếu DW nhỏ hơn 1 và lớn hơn 3, chúng ta cần thực sự lưu ý bởi khả năng rất cao xảy ra hiện tượng tự tương quan chuỗi bậc nhất. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Giá trị Sig của kiểm định t được sử dụng để kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy. Nếu Sig kiểm định t của hệ số hồi quy của một biến độc lập nhỏ hơn 0,05 ta kết luận biến độc lập đó có tác động đến biến phụ thuộc.

Hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) dùng để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến. Thông thường, nếu VIF của một biến độc lập >10 nghĩa là đang có đa cộng tuyến xảy ra với biến độc lập đó, thì biến đó sẽ không có giá trị giải thích biến thiên của biến phụ thuộc trong mô hình và VIF của một biến độc lập < 2 thì được chấp nhận (Nguyễn Đình Thọ, 2015).

Kiểm tra các giả định hồi quy, bao gồm phần dư chuẩn hóa và liên hệ tuyến tính: Phần dư có thể không tuân theo phân phối chuẩn vì những lý do như: sử dụng sai mô hình, phương sai không phải là hằng số, số lượng các phần dư không đủ nhiều để phân tích… Vì vậy, chúng ta cần thực hiện nhiều cách khảo sát khác nhau. Hai cách phổ biến nhất là căn cứ vào biểu đồ Histogram và Normal P-P Plot. Đối với biểu đồ Histogram, nếu đồ thị này có dạng đường cong phân phối chuẩn nằm chồng lên biểu đồ tần số, có mean xấp xỉ bằng 0 và giá trị độ lệch chuẩn xấp xỉ bằng 1 thì phần dư xem như có phân phối chuẩn. Đối với biểu đồ Normal P-P Plot, nếu các điểm phân vị trong phân phối của phần dư tập trung thành 1 đường chéo, như vậy, giả định phân phối chuẩn của phần dư không bị vi phạm.

Kiểm tra vi phạm giả định liên hệ tuyến tính: biểu đồ phân tán Scatter Plot giữa các phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán chuẩn hóa giúp dò tìm xem, dữ liệu hiện tại có vi phạm giả định liên hệ tuyến tính hay không. Nếu phần dư chuẩn hóa phân bổ tập trung xung quanh đường hoành độ 0, có thể kết luận giả định quan hệ tuyến tính không bị vi phạm. Ngoài ra, từ kết quả phân tích hồi quy sẽ xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến ý định sử dụng tiền di động.

3.3.5. Kiểm định sự khác biệt Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Phương pháp kiểm nghiệm T – test được dùng để kiểm định có hay không sự khác biệt của giá trị trung bình của một biến đơn với một giá trị cụ thể, với giả thuyết ban đầu cho rằng giá trị trung bình cần kiểm nghiệm thì bằng với một con số cụ thể nào đó. Trong thống kê, có ba loại t-test thông dụng, đó là: One-Sample T Test; Independent Samples T Test; Pair sample T test.

Kiểm định ANOVA (ANOVA test), hay còn được gọi là phân tích phương sai (Analysis of Variance), là một kỹ thuật thống kê tham số được sử dụng để phân tích sự khác nhau giữa giá trị trung bình của các biến phụ thuộc với nhau (Fisher, 1919). Hiểu đơn giản, đây là một công cụ giúp xác định ảnh hưởng của các biến độc lập với biến phụ thuộc trong một nghiên cứu hồi quy. Nhưng thay vì chỉ so sánh các đối tượng trong một nhóm nghiên cứu, phân tích ANOVA giúp so sánh trong phạm vi rộng hơn, giữa hai hoặc nhiều nhóm đối tượng. Kỹ thuật phân tích phương sai được dùng để kiểm định giả thuyết các tổng thể nhóm có trị trung bình bằng nhau (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2012).

Để kiểm định xem ý định sử dụng tiền di động theo giới tính, độ tuổi, trình độ, thu nhập, địa chỉ cư trú và kiến thức tài chính có sự khác biệt hay không bằng cách kiểm định T-test và phân tích ANOVA. Nếu Sig. > 5%, kết luận không có sự khác biệt và ngược lại.

3.4. Xây dựng thang đo

Thang đo là cách sắp xếp các thông tin nghiên cứu theo hệ thống con số hoặc chữ mà tỷ lệ giữa chúng đồng đẳng với trật tự cho những vấn đề nghiên cứu. Hay còn gọi là công cụ dùng để mã hóa các tình trạng hay mức độ của các đơn vị khảo sát theo các đặc trưng được xem xét.

Các thang đo nghiên cứu của mô hình là thang đo Likert 5 mức độ (Likert, 1932), được sử dụng mức độ từ 1 là hoàn toàn không đồng ý đến 5 là hoàn toàn đồng ý. Dựa trên các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng MM trên thế giới đã được kiểm nghiệm, tác giả kế thừa và chọn lọc ra 6 biến quan sát được xem là phù hợp. Để tăng tính tin cậy, sau khi phỏng vấn chuyên gia, tác giả đã tổng hợp, điều chỉnh và bổ sung cho ra đời các thang đo chính thức gồm 33 biến quan sát đo lường 6 biến độc lập tính hữu ích (5 biến quan sát), tính dễ sử dụng (5 biến quan sát), sự tin tưởng (5 biến quan sát), tính rủi ro (5 biến quan sát), chi phí giao dịch (4 biến quan sát), sự hiểu biết tài chính (4 biến quan sát) và 1 biến phụ thuộc là ý định sử dụng (YD: 5 biến quan sát). Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

Bảng 3.1 Bảng thang đo nghiên cứu chính thức

3.5. Phương pháp chọn mẫu và xử lý dữ liệu

Với phân tích nhân tố khám phá EFA, cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát (Hair, Anderson, Tatham & Black, 1998). Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng phân tích nhân tố cần ít nhất 200 quan sát (trích từ Nguyễn Đình Thọ, 2015).

Mô hình nghiên cứu đưa ra gồm 6 biến độc lập với 28 biến quan sát và 1 biến phụ thuộc với 5 biến quan sát. Như vậy cỡ mẫu ước lượng tối thiểu là (28+5)*5 = 165 mẫu. Để đảm bảo cho quá trình nghiên cứu với số lượng mẫu tối thiểu là 165, thực tế có thể có những phiếu trả lời bị lỗi, hoặc khách hàng chưa từng biết đến và sử dụng MM nên tác giả đã phát ra 342 phiếu. Số phiếu thu về là 342 phiếu, trong đó có 7 phiếu không hợp lệ, còn lại 335 phiếu hợp lệ với số khách hàng sử dụng là 231 phiếu, số KH không sử dụng MM là 104 phiếu.

Bài khảo sát tập trung vào sự đánh giá các nhân tố tác động đến ý định sử dụng MM của những khách hàng đã sử dụng dịch vụ MM. Chính vì vậy, tác giả chọn cỡ mẫu là 231 để làm dữ liệu cho mô hình nghiên cứu.

Dữ liệu khảo sát khách hàng cá nhân được thu thập từ phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Phiếu khảo sát Google Forms được gửi thông qua email và các kênh mạng xã hội trong thời gian từ tháng 07/2025 đến tháng 09/2025. Để nhiên cứu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Mobile money của người tiêu dùng, tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp 30 người đã sử dụng Mobile money là nhân viên và khách hàng tới giao dịch trực tiếp tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh Lâm Đồng II, cùng một số điểm giao dịch của Viettel Đức Trọng và VNPT Đức Trọng.

Dữ liệu thu thập được sẽ được tổng hợp vào Excel và mã hóa; tác giả dùng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý. Các kiểm định thực hiện trong nghiên cứu định lượng gồm có: Kiểm định Cronbach’s Alpha, kiểm định EFA, phân tích hồi quy bội.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trình bày các vấn đề về quy trình nghiên cứu, cách thức thu thập dữ liệu và phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu. Đồng thời, dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu trước tác giả xây dựng thang đo cho các nhân tố trong mô hình nghiên cứu, đây là cơ sở để hình thành bảng câu hỏi để tiến hành thu thập dữ liệu nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết.

Dữ liệu thu thập được tác giả sẽ tiến hành tính toán, xử lý thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22. Kết quả này sẽ được tác giả thống kê mô tả, phân tích, tương quan và hồi quy cũng như sẽ trình bày kết quả nghiên cứu tại chương tiếp theo. Ngoài ra, cũng đánh giá sự khác biệt về ý định sử dụng MM giữa các đặc điểm nhân khẩu học khác nhau. Luận văn: PPNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: KQNC Nhân tố ảnh hưởng ý định sử dụng tiền di động

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537