Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

4.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu và tỉ lệ hồi đáp

Từ phần trình bày trong chương 3, mẫu sẽ được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước 331 mẫu. Dữ liệu được thu thập trong sáu tháng (01/07/2024 – 31/12/2024), với phương pháp thu thập là gửi bảng câu hỏi trực tiếp và gửi qua email đối với người được khảo sát. Qua tổng số bảng câu hỏi được gửi đi là 400 bảng, thì kết quả thu hồi được là 346 bảng, trong đó có 331 bảng hợp lệ và sẽ được đưa vào sử dụng và phân tích. Tỷ lệ hồi đáp là 82,75%.

4.1.2. Mô tả cấu trúc mẫu

Thông tin về người được khảo sát. Sau khi thu thập mẫu từ các khách hàng cá nhân tại VPBank, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để thống kê mô tả cấu trúc mẫu nhằm có cái nhìn khái quát về thông tin của khách hàng. Điều này sẽ thể hiện qua các con số thống kê mô tả giới tính, độ tuổi, thu nhập, học vấn và nghề nghiệp.

  • Giới tính

Biểu đồ 4.1: Biểu đồ thể hiện cơ cấu giới tính

Kết quả thống kê mô tả ở biểu đồ trên cho thấy, số lượng khách hàng là nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn là 59,82%. Trong khi đó, số lượng nhân viên nam giới lại chiểm tỷ lệ thấp hơn là 40,18%. Điều này cho thấy tầm quan trọng của người phụ nữ trong gia đình, là những người giữ tiền, tiết kiệm, người có quyết định về quản lý tiền bạc trong gia đình.

  • Độ tuổi

Biểu đồ 4.2: Biểu đồ thể hiện cơ cấu độ tuổi

Dựa vào biểu đồ cơ cấu độ tuổi, có thể thấy nhóm khách hàng từ 25–35 tuổi chiếm tỷ lệ vượt trội, lên tới 73,11%, trong khi các nhóm tuổi còn lại như dưới 25 tuổi (9,37%), từ 36–45 tuổi (12,39%) và trên 45 tuổi (5,14%) có tỷ trọng khá thấp. Điều này cho thấy một sự tập trung đáng kể vào nhóm tuổi trẻ trung, năng động trong cơ cấu khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ cao của nhóm tuổi 25–35 bởi vì đây là giai đoạn bắt đầu tích lũy tài chính: Đây là nhóm độ tuổi bước vào thời kỳ ổn định về thu nhập nhờ đã đi làm được vài năm, đồng thời cũng có xu hướng lập kế hoạch tài chính cá nhân như mua nhà, lập gia đình, đầu tư tương lai. Do đó, nhu cầu gửi tiết kiệm để tích lũy và phòng ngừa rủi ro là rất lớn. Bên cạnh đó nhóm tuổi này có khả năng tiếp cận công nghệ tốt, dễ dàng sử dụng các ứng dụng ngân hàng số, Internet banking hoặc Mobile banking – vốn là những sản phẩm thế mạnh của VPBank trong thời gian qua. Khác với nhóm dưới 25 tuổi còn phụ thuộc tài chính gia đình hoặc ưu tiên chi tiêu cho học tập, trải nghiệm, nhóm 25–35 tuổi có xu hướng ổn định hơn và ưu tiên tiết kiệm.

Tỷ lệ độ tuổi dưới 25 tuổi là 9,37%, tỷ lệ này thấp là do đây là nhóm sinh viên hoặc người mới ra trường, thu nhập còn hạn chế, chưa có thói quen tiết kiệm, thậm chí nhiều người còn phụ thuộc vào tài chính của cha mẹ. Mặt khác, nhóm này có xu hướng sử dụng tài khoản thanh toán hơn là tài khoản tiết kiệm. Độ tuổi từ 36–45 tuổi chiếm tỷ lệ 12,39%. Mặc dù có thu nhập cao hơn, nhóm này thường phải đối mặt với nhiều khoản chi tiêu lớn như nuôi con ăn học, trả nợ vay mua nhà, đầu tư kinh doanh… Do đó, khả năng trích lập tiền gửi tiết kiệm không cao bằng nhóm trẻ hơn. Độ tuổi trên 45 tuổi chiếm 5,14%. Đây là nhóm có thể đã có khoản tiết kiệm sẵn hoặc lựa chọn các kênh đầu tư khác như bất động sản, vàng, bảo hiểm nhân thọ hoặc đầu tư cho con cái. Ngoài ra, một số người đã nghỉ hưu nên thu nhập ổn định kém, dẫn đến tỷ lệ gửi tiết kiệm thấp.

  • Trình độ học vấn Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Biểu đồ 4.3: Biểu đồ thể hiện cơ cấu trình độ học vấn

Biểu đồ cho thấy sự chênh lệch rõ rệt trong trình độ học vấn của khách hàng gửi tiết kiệm tại VPBank. Cụ thể khách hàng có trình độ Cao đẳng/Đại học chiếm tỷ lệ áp đảo với 82,18%. Khách hàng Trên Đại học chiếm 9,97%. Khách hàng chỉ học hết THPT chiếm 7,55%. Khách hàng dưới THPT gần như không đáng kể (0,30%).

Nhóm khách hàng có trình độ từ Cao đẳng trở lên chiếm ưu thế cho thấy rằng đây là nhóm có khả năng tiếp cận thông tin tài chính tốt, hiểu biết rõ về lãi suất, rủi ro và các sản phẩm tiết kiệm khác nhau của ngân hàng. Ý thức về việc quản lý tài chính cá nhân và lập kế hoạch tài chính cao hơn, nên thường chủ động gửi tiết kiệm để tích lũy hoặc đầu tư an toàn. Ngoài ra, họ cũng có mức thu nhập tương đối ổn định, đủ để trích lập tiền gửi sau khi chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày.

Chỉ có khoảng 7,85% khách hàng thuộc hai nhóm học vấn thấp hơn (dưới THPT và THPT), điều này có thể được lý giải bởi nhóm này thường làm việc trong các ngành nghề phổ thông, có mức thu nhập thấp và ít có điều kiện gửi tiền thường xuyên. Khả năng tiếp cận thông tin tài chính, sử dụng dịch vụ ngân hàng và hiểu biết về các sản phẩm tiết kiệm còn hạn chế, dẫn đến tâm lý e ngại hoặc thiếu quan tâm. Một phần cũng có thể do thói quen giữ tiền mặt hoặc sử dụng các hình thức tiết kiệm truyền thống hơn thay vì gửi tiết kiệm ngân hàng.

  • Nghề nghiệp

Biểu đồ 4.4: Biểu đồ thể hiện cơ cấu nghề nghiệp Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Biểu đồ cho thấy sự phân hóa rõ rệt về nghề nghiệp trong nhóm khách hàng gửi tiền tiết kiệm, trong đó nổi bật là: Nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,73%. Người kinh doanh tự do chiếm 28,70%. Công chức/Viên chức chiếm 17,82%. Hưu trí và nhóm nghề khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (3,63% và 2,11%)

Nhân viên văn phòng – nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất (47,73%) bởi vì đây là nhóm khách hàng có thu nhập ổn định hằng tháng, thường được trả qua tài khoản ngân hàng nên có xu hướng sử dụng dịch vụ tài chính chính quy, bao gồm cả gửi tiết kiệm. Họ cũng có trình độ học vấn cao, kỹ năng sử dụng công nghệ tốt, dễ tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng số – vốn là thế mạnh của VPBank. Tâm lý của nhóm này thường ưu tiên tích lũy để đảm bảo tài chính cá nhân, đầu tư ngắn hạn hoặc chuẩn bị cho kế hoạch dài hạn (mua nhà, cưới hỏi, chăm sóc con cái…).

Nhóm kinh doanh tự do chiếm 28,70%. Nhóm này có tính linh hoạt cao về thời gian và nguồn thu nhập, có thể có dòng tiền lớn hơn nhưng không đều đặn. Họ thường tìm đến gửi tiết kiệm như một kênh bảo toàn vốn trong thời gian ngắn, kết hợp với đầu tư linh hoạt. Mặc dù chiếm tỷ lệ cao thứ hai, nhưng hành vi gửi tiền của nhóm này có thể mang tính thời vụ, phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh.

Nhóm công chức/viên chức chiếm 17,82%. Đây là nhóm có đặc trưng là thu nhập ổn định, mức độ rủi ro tài chính thấp và thường có xu hướng tiết kiệm dài hạn. Tuy nhiên, thu nhập không cao nên khả năng trích lập tiết kiệm mỗi tháng có thể hạn chế, điều này lý giải vì sao họ không chiếm tỷ trọng cao như nhóm nhân viên văn phòng.

Nhóm hưu trí và nhóm khác tổng cộng 5,74%. Nhóm hưu trí có nguồn thu nhập phụ thuộc vào lương hưu, con cháu hoặc tiết kiệm sẵn có, nên xu hướng gửi mới tiết kiệm ít hơn. Nhóm “Khác” (2,11%) có thể bao gồm học sinh/sinh viên, nội trợ, người thất nghiệp – những người không thường xuyên phát sinh giao dịch tài chính tại ngân hàng.

  • Thu nhập hàng tháng

Biểu đồ 4.5: Biểu đồ thể hiện cơ cấu thu nhập hàng tháng Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Biểu đồ thể hiện sự phân bố thu nhập của khách hàng tham gia gửi tiền tiết kiệm tại VPBank theo các mức thu nhập khác nhau: Nhóm có thu nhập từ 10 – 20 triệu đồng/tháng chiếm tỷ trọng cao nhất với 49,85%. Tiếp đến là nhóm từ 20 – 30 triệu đồng/tháng chiếm 23,87%. Nhóm dưới 10 triệu đồng chiếm 15,11%. Nhóm có thu nhập trên 30 triệu đồng/tháng chiếm 11,18%.

Tỷ lệ cao nhất thuộc về nhóm có thu nhập trung bình khá (10 – 20 triệu đồng/tháng) bởi vì đây là nhóm có thu nhập ổn định, mức chi tiêu vừa phải và có khả năng dành một phần thu nhập cho tiết kiệm hàng tháng. Họ thường là nhân viên văn phòng, công chức, hoặc các đối tượng lao động có hợp đồng chính thức, được hưởng các chính sách tài chính từ doanh nghiệp hoặc nhà nước. Nhóm này cũng có xu hướng ưu tiên các sản phẩm tiết kiệm truyền thống, an toàn và có thể linh hoạt về kỳ hạn.

Nhóm thu nhập từ 20 – 30 triệu đồng/tháng chiếm tỷ trọng khá cao và là nhóm có khả năng tiết kiệm nhiều hơn mỗi tháng, tuy nhiên cũng có thể có xu hướng phân bổ vào các kênh đầu tư khác như chứng khoán, bất động sản hoặc bảo hiểm nhân thọ. Việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng có thể được họ sử dụng như một công cụ dự phòng thanh khoản ngắn hạn, đặc biệt với những sản phẩm có tính linh hoạt cao về kỳ hạn và lãi suất.

Nhóm thu nhập dưới 10 triệu đồng chiếm 15,11%. Đây có thể là nhóm người mới đi làm, lao động phổ thông hoặc làm việc không chính thức, với thu nhập còn hạn chế. Khả năng gửi tiền tiết kiệm của nhóm này tương đối thấp, chủ yếu là các khoản nhỏ lẻ hoặc tiết kiệm định kỳ với kỳ vọng đảm bảo an toàn.

Nhóm thu nhập cao trên 30 triệu đồng chiếm 11,18%. Đây là nhóm có tiềm năng nhưng chưa chiếm tỷ trọng lớn. Đây là nhóm có khả năng tài chính mạnh, tuy nhiên họ có xu hướng đa dạng hóa kênh đầu tư thay vì gửi toàn bộ vào tiết kiệm ngân hàng. Ngoài ra, nhóm này thường đòi hỏi các dịch vụ tài chính cao cấp hơn như tiết kiệm lãi suất đặc biệt, tư vấn tài chính cá nhân hoặc đầu tư dài hạn.

4.2. Kiểm định và đánh giá thang đo Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

4.2.1. Kiểm định Cronbach’s Alpha

Để đánh giá thang đo các khái niệm trong nghiên cứu cần kiểm tra độ tin cậy, độ giá trị của thang đo. Dựa trên các hệ sô Cronbach’s Alpha, hệ số tương quan biến – tổng (Item – to – total correlation) giúp loại ra những biến quan sát không đóng góp vào việc mô tả khái niệm cần đo, hệ số Cronbach’s Alpha if item delected để giúp đánh giá loại bỏ bớt biến quan sát nhằm nâng cao hệ số tin cậy cho khái niệm cần đo và phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm kiểm tra độ giá trị của thang đo các khái niệm nghiên cứu.

  • Phân tích Cronbach’s Alpha

Sử dụng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha trước khi phân tích nhân tố EFA nhằm loại ra các biến không phù hợp vì các biến này có thể tao ra các yếu tố giả (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009). Các tiêu chí được sử dụng khi thực hiện đánh giá độ tin cậy thang đo: Loại các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng nhỏ (nhỏ hơn 0,3). Theo Nunnal & Burnstein (1994) cho rằng các biến có hệ số tương quan biến – tổng nhỏ hơn 0,3 được coi là biến rác và sẽ loại ra khỏi mô hình, tiêu chuẩn chọn thang đo khi có độ tin cậy Alpha lớn hơn 0,6 (Alpha càng lớn thì độ tin cậy nhất quán nội tại càng cao) (Nunally & Burnstein 1994, Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang 2007). Như vậy, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng hệ số đo lường độ tin cậy của thang đo Cronbach’s Alpha có giá trị lớn hơn hoặc bằng 0,6 và hệ số tương quan biến tổng Corrected Item-Total Correlation có giá trị lớn hơn hoặc bằng 0,3 thì thang đo mới đủ độ tin cậy để thực hiện các bước phân tích tiếp theo.

Kiểm định Cronbach’s Alpha cho biến độc lập:

  • Thương hiệu Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,859 > 0,6. Do đó, thang đo này đạt độ tin cậy và được giữ lại toàn bộ để thực hiện các bước phân tích tiếp theo như EFA.

Bảng 4.1: Kết quả kiểm định thang đo Thương hiệu

  • Lãi suất

Bảng 4.2: Kết quả kiểm định thang đo Lãi suất

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,886 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Chất lượng dịch vụ

Bảng 4.3: Kết quả kiểm định thang đo Chất lượng dịch vụ

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,877 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Ảnh hưởng người thân quen

Bảng 4.4: Kết quả kiểm định thang đo Ảnh hưởng người thân quen

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,865 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Sự an toàn

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định thang đo Sự an toàn Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,867 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Ảnh hưởng công nghệ số

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định thang đo Ảnh hưởng công nghệ số

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,833 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Tâm lý khách hàng

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định thang đo Tâm lý khách hàng

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,853 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Chính sách bảo hiểm tiền gửi

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định thang đo Chính sách bảo hiểm tiền gửi

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,832 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Yếu tố ESG

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định thang đo Yếu tố ESG

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,869 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

  • Biến phụ thuộc: Quyết định

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định thang đo Quyết định

Tiến hành kiểm định thang đo cho kết quả hệ số Cronbach’s Alpha chung của nhóm là 0,886 > 0,6 và tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên ta có thể rút ra kết luận thang đo phù hợp.

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) – Phân tích nhân tố cho các yếu tố độc lập Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

  • Phân tích nhân tố EFA cho biến độc lập

Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) là kỹ thuật được sử dụng nhằm thu nhỏ và tóm tắt các dữ liệu. Trong nghiên cứu này, phân tích nhân tố được ứng dụng để tóm tắt tập các biến quan sát vào một số nhân tố nhất định đo lường các khía cạnh khác nhau của các khái niệm nghiên cứu và tìm mối quan hệ giữa các biến với nhau. Trong phân tích EFA, đại lượng Bartlett là đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết các biến không có tương quan trong tổng thể. Điều kiện cần để áp dụng phân tích nhân tố là các biến phải có tương quan với nhau (các biến đo lường phản ánh những khía cạnh khác nhau của cùng một yếu tố chung). Do đó nếu kiểm định cho thấy không có ý nghĩa thống kê thì không nên áp dụng phân tích nhân tố cho các biến đang xem xét. Trị số KMO (Kai-Meyer-Olkin) là chỉ số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn (giữa 0.5 và 1) là điều kiện đủ để việc tiến hành phân tích nhân tố là thích hợp.

Ngoài ra, phân tích nhân tố EFA còn dựa vào chỉ số Eingenvalue (đại diện cho lượng biến thiên được giải thích bởi các nhân tố) và chỉ số Cumulative (tổng phương sai trích cho biết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu phần trăm và bao nhiêu phần trăm bị thất thoát) để xác định số lượng nhân tố. Theo Gerbing và Anderson (1988), các nhân tố có Eingenvalue < 1 sẽ không có tác dụng tóm tắt thông tin tốt hơn biến gốc (biến tiềm ẩn trong các thang đo trước khi phân tích EFA). Vì thế, các nhân tố chỉ được rút trích tại Eingenvalue > 1 và được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50%. Tuy nhiên, trị số Eingenvalue và phương sai trích là bao nhiêu còn phụ thuộc vào phương pháp trích và phép xoay nhân tố.

Một phần quan trọng trong kết quả phân tích nhân tố là ma trận nhân tố (Component Matrix). Ma trận nhân tố chứa các hệ số tải nhân tố (Factor loading) biểu diễn tương quan giữa các nhân tố và các biến. Hệ số này lớn (≥ 0,5) cho biến nhân tố và biến có liên hệ chặt chẽ với nhau. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) thì mặc dù ma trận nhân tố ban đầu cho thấy mối quan hệ giữa các nhân tố và từng biến nhưng nó ít khi tạo ra các nhân tố có thể giải thích một cách một cách dễ dàng. Thông qua việc xoay các nhân tố, ma trận nhân tố sẽ trở nên đơn giản hơn và dễ giải thích hơn. Trong nghiên cứu này, sau khi phân tích hệ số tin cậy Cronbach Alpha, các thang đo được đánh giá tiếp bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) 38 biến quan sát được đưa vào phân tích sử dụng phương pháp rút trích nhân tố Principal Component với phép xoay Varimax, đây là phương pháp thường được sử dụng trong phân tích hồi quy.

  • Bảng 4.11: Phân tích nhân tố EFA cho biến độc lập

Dựa vào kết quả phân tích nhân tố cho thấy: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Hệ số KMO = 0,931 (0,5 < KMO < 1), từ đó cho thấy phân tích nhân tố là phù hợp. Hệ số Sig. của kiểm định Bartlett với sig. = 0,000 (<0,05) thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể.

  • Ma trận nhân tố với phương pháp xoay Principal Varimax

Bảng 4.12: Ma trận nhân tố với phương pháp xoay Principal Varimax

Hệ số tải Factor Loading của các biến quan sát trong ma trận xoay đều lớn hơn 0.5, như vậy các biến quan sát này đều có ý nghĩa trong phân tích EFA.

  • Phân tích nhân tố cho các yếu tố phụ thuộc Kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc

Bảng 4.13: Kiểm định KMO và Barlett’s của biến phụ thuộc

Kiểm định KMO và Barlett’s Test được sử dụng để đánh giá sự phù hợp của dữ liệu với phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả kiểm định cho thấy giá trị KMO = 0,882 cao hơn ngưỡng tối thiểu là 0,5 cho thấy mức độ phù hợp của dữ liệu đủ để tiến hành phân tích nhân tố. Kiểm định Bartlett’s Test có giá trị Chi-Square = 846,910 với df = 10 và Sig = 0,000 < 0,05 cho thấy ma trận tương quan của các biến có ý nghĩa thống kê. Điều này chứng tỏ rằng các biến có mối tương quan với nhau đủ mạnh để phù hợp với phân tích nhân tố.

  • Bảng 4.14: Bảng Eigenvalue và phương sai trích đối với biến phụ thuộc

Có 9 nhân tố được trích dựa vào tiêu chí Eigenvalue > 1. Tổng phương sai các nhân tố này trích được là 70.077% > 50%. Như vậy, 9 nhân tố được trích giải thích 70.077% biến thiên dữ liệu của 38 biến quan sát tham gia vào EFA.

  • Ma trận nhân tố biến phụ thuộc

Bảng 4.15: Ma trận nhân tố biến phụ thuộc

Kết quả phân tích nhân tố khám phá đối với 5 biến quan sát đo lường biến phụ thuộc “Quyết định gửi tiền” (QĐ1 – QĐ5) cho thấy chỉ trích được 1 nhân tố duy nhất, điều này phù hợp với mô hình lý thuyết vì 5 biến quan sát đều được thiết kế để đo lường cùng một khái niệm là quyết định gửi tiền.

Các hệ số tải nhân tố của cả 5 biến đều lớn hơn 0,7 (dao động từ 0,793 đến 8,865) đạt yêu cầu theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2010) khi hệ số tải > 0,5 là chấp nhận được và > 0,7 là tốt.

Như vậy, thang đo Quyết định gửi tiền có tính đơn hướng và có độ hội tụ cao, phù hợp để sử dụng trong các bước phân tích tiếp theo.

4.3. Phân tích tương quan và hồi quy Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

  • Kiểm định mô hình và các giả thuyết

Sau khi thực hiện kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, các biến quan sát trong nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn về độ tin cậy (Cronbach’s Alpha ≥ 0,6) và độ tương quan biến tổng (Corrected Item – Total Correlation ≥ 0,3). Mặc dù kết quả phân tích EFA cho thấy các biến có xu hương hội tụ về một số ít nhân tố (cụ thể là 3 nhân tố chính), tuy nhiên, để đảm bảo tính toàn diện và tuân thủ mô hình lý thuyết ban đầu, nghiên cứu vẫn giữ nguyên 9 nhân tố độc lập để đưa vào kiểm định mô hình.

Ngoài ra, biến phụ thuộc là quyết định gửi tiền được đo lường bằng các biến QĐ1, QĐ2, QĐ3, QĐ4, QĐ5 và có hệ số tải nhân tố cao, hội tụ thành một nhân tố duy nhất.

Giá trị của từng nhân tố được tính bằng trung bình cộng của các biến quan sát thuộc về nhân tố đó và được sử dụng trong phân tích tương quan Pearson để xem xét mối liên hệ với các biến phụ thuộc. Các nhân tố sau đó được đưa vào phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết 1 đến giả thuyết 9 đã đề xuất trong chương trước.

4.3.1. Phân tích tương quan

Người ta sử dụng một số thống kê có tên là Hệ số tương quan Pearson để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng. Trong phân tích hồi quy các biến nhân tố phải có mối tương quan với nhau, nếu giữa 2 biến có sự tương quan chặt (Pearson > 0,4) thì phải lưu ý vấn đề đa cộng tuyến khi phân tích hồi quy. Trong phân tích tương quan Pearson, không có sự phân biệt giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc mà tất cả đều được xem xét như nhau.

Đa cộng tuyến là trạng thái trong đó các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau. Vấn đề của hiện tượng cộng tuyến là chúng cung cấp cho mô hình những thông tin rất giống nhau, và rất khó tách rời ảnh hưởng của từng biến một đến biến phụ thuộc. Hiệu ứng khác của sự tương quan khá chặt giữa các biến độc lập là nó làm tăng độ lệch chuẩn của các hệ số hồi quy và làm giảm trị thống kê t của kiểm định ý nghĩa của chúng nên các hệ số có khuynh hướng kém ý nghĩa. Hơn nữa, khi có hiện tượng đa cộng tuyến thì hệ số xác định R square vẫn khá cao dù thống kê t ít có ý nghĩa vì không có nhiều những biến đổi khác biệt giữa các biến số độc lập do chúng thực sự có mối quan hệ với nhau và dễ dàng bác bỏ giả thuyết “không” của thống kê F và cho rằng mô hình ước lượng có ý nghĩa. Để nhận dạng hiện tượng đa cộng tuyến, có thể sử dụng hệ số độ sai lệch cho phép (Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance inflation Factor). Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), khi Tolerance nhỏ thì VIF lớn, quy tắc vượt quá 10, đó là dấu hiệu của đa cộng tuyến. Trong quá trình phân tích hồi quy bội, đa cộng tuyến được SPSS chuẩn đoán bằng lựa chọn CollinearityDiagnostic.

Đặt: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

  • QĐ: “Quyết định gửi tiền tiết kiệm” là trung bình của các biến QĐ1, QĐ2, QĐ3, QĐ4, QĐ5.
  • TH: “Thương hiệu” là trung bình của các biến TH1, TH2, TH3, TH4, TH5. LS: “Lãi suất” là trung bình của các biến LS1, LS2, LS3, LS4, LS5.
  • DV: “Chất lượng dịch vụ” là trung bình của các biến DV1, DV2, DV3, DV4, DV5, DV6.
  • AH: “Ảnh hưởng người thân quen” là trung bình của các biến AH1, AH2, AH3, AH4, AH5.
  • AT: “Sự an toàn” là trung bình của các biến AT1, AT2, AT3, AT4, AT5.
  • CN: “Ảnh hưởng của công nghệ số” là trung bình của các biến CN1, CN2, CN3.

BH3.

  • TL: “Tâm lý của khách hàng” là trung bình của các biến TL1, TL2, TL3. BH: “Chính sách bảo hiểm tiền gửi” là trung bình của các biến BH1, BH2,
  • ESG: “Yếu tố ESG” là trung bình của các biến ESG1, ESG2, ESG3. Phương trình hồi quy đa biến có dạng như sau:
  • QĐ = β0 + β1*TH + β2*LS + β3*DV + β4*AH + β5*SAT + β6*CN + β7*TL + β8*BH + β9*ESG

Phân tích tương quan (Pearson) giữa biến độc lập và biến phụ thuộc:

  • Bảng 4.16: Phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc

Từ ma trận tương quan – Correlations cho thấy tất cả các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu đều có tương quan thuận với biến phụ thuộc là Quyết định gửi tiền (QĐ) và đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Sig. = 0,000):

  • Thương hiệu (TH): ρ = 0,406** Lãi suất (LS): ρ = 0,384**
  • Chất lượng dịch vụ (DV): ρ = 0,409** Ảnh hưởng người thân (AH): ρ = 0,400** Sự an toàn (AT): ρ = 0,443**
  • Ảnh hưởng của công nghệ số (CN): ρ = 0,432** Tâm lý khách hàng (TL): ρ = 0,433**
  • Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH): ρ = 0,538** Yếu tố ESG: ρ = 0,635**

Phân tích tương quan Spearman được sử dụng nhằm đánh giá mức độ tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc là Quyết định gửi tiền (QĐ). Tất cả các hệ số tương quan đều mang giá trị dương, cho thấy khi các yếu tố này được đánh giá cao thì khả năng khách hàng quyết định gửi tiền vào ngân hàng cũng tăng lên. Đáng chú ý:

Yếu tố ESG (ρ = 0,635) và Chính sách bảo hiểm tiền gửi (ρ = 0,538) có mức tương quan cao hơn so với các yếu tố khác, cho thấy đây có thể là những yếu tố có ảnh hưởng mạnh hơn đến quyết định gửi tiền.

Các biến khác như TH, LS, DV, AH, CN, TL có mức tương quan từ khoảng 0,38 đến 0,43, thể hiện mối liên hệ vừa phải, nhưng vẫn mang ý nghĩa thống kê đáng kể.

4.3.2. Phân tích hồi quy Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Phân tích hồi quy được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của 9 biến độc lập. Giá trị của các yếu tố được dùng để phân tích hồi quy là trung bình của các biến quan sát đã được kiểm định Cronbach’s Alpha và EFA. Phân tích được thực hiện bằng phương pháp Enter và các biến được đưa vào cùng một lúc để chọn lọc dựa trên tiêu chí chọn những biến có mức ý nghĩa < 0,05. Kết quả phân tích hồi quy được trình bày trong bảng 4.12 (xem chi tiết trong phần phụ lục)

  • Bảng 4.17: Kết quả phân tích hồi quy

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), hệ số R thể hiện mối tương quan giữa các biến trong mô hình hồi quy, hệ số R2 (R Square) cho biết % sự biến động của biến phụ thuộc (Y) được giải thích bởi các biến độc lập (X) trong mô hình. Nếu R2=1 thì đường hồi quy phù hợp hoàn hảo. Nếu R2 = 0 thì X và Y không có quan hệ với nhau. Hệ số xác định R2 (R Square) được chứng minh là hàm không giảm theo số biến độc lập được đưa vào mô hình, càng đưa nhiều biến độc lập vào phương trình thì R2 càng tăng, tuy nhiên điều này cũng được chứng minh rằng không phải phương trình càng có nhiều biến sẽ phù hợp hơn với dữ liệu. Hệ số xác định R2 hiệu chỉnh (Adjusted R Square) được sử dụng để phản ánh sát hơn mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính đa biến vì nó không phụ thuộc vào độ lệch phóng đại của R2. So sánh 2 giá trị R2 và R2 điều chỉnh, chúng ta sẽ thấy R2 điều chỉnh nhỏ hơn và dùng nó đánh giá độ phù hợp của mô hình sẽ an toàn hơn vì nó không thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình.

  • Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được thể hiện trong phương trình hồi quy đa biến sau:

QĐ=0,778 + 0,009*TH − 0,017*LS + 0,125*DV – 0,011*AH – 0,096*AT + 0,097*CN + 0,044*TL + 0,210*BH + 0,468*ESG

Kết quả hồi quy tuyến tính bội được trình bày trong bảng trên cho thấy hệ số xác định 𝑅2 = 0,460, tức là mô hình giải thích được 46,0% sự biến thiên trong quyết định gửi tiền (QĐ) của khách hàng thông qua 9 biến độc lập được đưa vào.

Giá trị R2 điều chỉnh là 0,445, phản ánh mức độ phù hợp của mô hình sau khi đã hiệu chỉnh theo số lượng biến.

Về mặt ảnh hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc (QĐ), có thể rút ra một số nhận định quan trọng:

Biến ESG (Yếu tố môi trường, xã hội và quản trị) có hệ số chuẩn hóa Beta = 0,487 và mức ý nghĩa 𝑝 = 0,000 cho thấy đây là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê cao nhất đến quyết định gửi tiền của khách hàng.

Tiếp theo là biến Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) với Beta = 0,205; 𝑝 = 0,000 cho thấy ảnh hưởng thuận chiều rõ rệt và có ý nghĩa thống kê. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Các biến như Chất lượng dịch vụ (DV) và Ảnh hưởng của công nghệ số (CN) có mức ý nghĩa lần lượt là 𝑝 = 0,062 và 𝑝 = 0,067, tiệm cận ngưỡng 5%, cho thấy xu hướng ảnh hưởng thuận chiều, tuy chưa đủ mạnh để khẳng định về mặt thống kê ở mức tin cậy 95%.

Các biến Thương hiệu (TH), Lãi suất (LS), Ảnh hưởng người thân (AH), Sự an toàn (AT), Tâm lý khách hàng (TL) đều có giá trị 𝑝 > 0,05 cho thấy chưa có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định gửi tiền trong mô hình này.

Như vậy, trong số 9 yếu tố được khảo sát, chỉ có 2 yếu tố là ESG và BH có tác động thực sự có ý nghĩa đến quyết định gửi tiền, trong khi các yếu tố còn lại cần được xem xét thêm trong các phân tích tiếp theo hoặc trong các nghiên cứu sau.

  • Kiểm định hiện tượng tự tương quan của phần dư (Autocorrelation)

Tự tương quan của các phần dư (hay còn gọi là tương quan chuỗi bậc nhất) là hiện tượng các sai số ngẫu nhiên có mối liên hệ tương quan nhau, khi đó có thể xảy ra hiện tượng tự tương quan. Hậu quả của tự tương quan của các phần dư là các ước lượng OLS (Ordinary Least Square) vẫn là các ước lượng tuyến tính không chệch nhưng không hiệu quả vì phương sai không nhỏ nhất, phương sai của các ước lượng là các ước lượng chệch vì vậy các kiểm định T và F không còn hiệu quả, các giá trị dự báo về biến phụ thuộc không chính xác. Hệ số Durbin Watson dùng để kiểm định tự tương quan của các sai số kề nhau, có giá trị biến thiên trong khoảng từ 0 đến 4; nếu không có hiện tượng tự tương quan của các phần dư với nhau thì giá trị sẽ gần bằng 2; nếu giá trị càng nhỏ, gần về 0 thì các phần sai số có tương quan thuận; nếu càng lớn, gần về 4 có nghĩa là các phần sai số có tương quan nghịch. Tác giả dùng kiểm định d của Durbin-Watson để kiểm định hiện tượng tự tương quan của phần dư, không có hiện tượng tự tương quan của các phần dư thì dU<d< d < 4 – dU với dU là trị số dưới của hệ số Durbin Watson theo PGS. TS Đinh Phi Hổ (2011).

Bên cạnh đó, kiểm định ANOVA cho kết quả 𝑝 < 0,001, khẳng định mô hình hồi quy là có ý nghĩa thống kê. Chỉ số Durbin-Watson đạt 1,790, gần với giá trị 2, cho thấy không tồn tại hiện tượng tự tương quan giữa các phần dư trong mô hình.

  • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (Multiple Collinearity)

Ngoài ra, các chỉ số VIF của tất cả các biến đều < 2, cho thấy không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng, đảm bảo tính ổn định của các hệ số hồi quy. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

  • Kiểm định phương sai của sai số không đổi (Heteroskedasticity)

Để kiểm định giả định phương sai của phần dư không đổi, tác giả sử dụng đồ thị phân tán của giá trị dự báo đã được chuẩn hoá và phần dư đã được chuẩn hoá.

  • Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi quy

Để kiểm tra giả định về phương sai sai số không đổi, mô hình được kiểm định bằng biểu đồ phân tán giữa phần dư và giá trị dự đoán. Kết quả cho thấy phần dư có xu hướng phân tán rộng hơn ở các mức dự đoán cao hơn, tạo thành hình quạt. Điều này là dấu hiệu của hiện tượng phương sai thay đổi (heteroskedasticity). Kết quả này phù hợp với kiểm định gián tiếp theo phương pháp Breusch–Pagan (Sig. < 0,001), cho thấy mô hình hồi quy vi phạm giả định về homoskedasticity. Điều này có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của các kiểm định giả thuyết về hệ số hồi quy.

Tác giả tiếp tục thực hiện Kiểm định Breusch–Pagan để kiểm tra giả định phương sai sai số không đổi (homoskedasticity) trong mô hình hồi quy tuyến tính.

Bảng 4.18: Kết quả chạy hồi quy phụ

  • Kết quả kiểm định cho thấy

Giá trị Sig. = 0,000 < 0,05 → Có ý nghĩa thống kê, nghĩa là:

Phần dư bình phương có mối quan hệ với giá trị dự đoán, tức là có phương sai thay đổi → vi phạm giả định homoskedasticity.

Như vậy, kiểm định Breusch–Pagan cho thấy mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity). Điều này cũng phù hợp với quan sát từ biểu đồ phân tán phần dư, khi phần dư có xu hướng thu hẹp hoặc mở rộng theo giá trị dự đoán.

  • Khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan

Do mô hình hồi quy ban đầu xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi (Breusch-Pagan test: Chi-Square = 71,647; p < 0,001), nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu có trọng số (Weighted Least Squares -WLS) nhằm khắc phục vấn đề này. Trọng số được tính là nghịch đảo của bình phương phần dư (1/RESID²) từ mô hình OLS ban đầu.

  • Bảng 4.19: Kết quả chạy hồi quy phụ Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Mô hình có ý nghĩa thống kê cao (Sig. < 0,001), giải thích được 98,5% biến thiên của biến phụ thuộc (quyết định gửi tiền – QĐ). Hệ số Durbin-Watson = 1,718 gần với 2 cho thấy không có hiện tượng tự tương quan.

  • Bảng 4.20: Kết quả ước lượng hệ số hồi quy WLS

Trong số 9 biến độc lập được đưa vào mô hình, có 5 biến có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, bao gồm:

  • Chất lượng dịch vụ (DV): Khi DV tăng 1 đơn vị, quyết định gửi tiền tăng 0,118 đơn vị, giữ các yếu tố khác không đổi.
  • An toàn (AT): Tăng thêm 1 đơn vị về cảm nhận an toàn làm tăng quyết định gửi tiền 0,087 đơn vị.
  • Ảnh hưởng công nghệ số (CN): Có tác động thuận chiều (B = 0,100), cho thấy khách hàng đánh giá cao các dịch vụ công nghệ hiện đại.
  • Tâm lý khách hàng (TL): Cũng có ảnh hưởng đáng kể (B = 0,048), cho thấy yếu tố cảm xúc, nhận thức ảnh hưởng đến hành vi gửi tiền.

Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và ESG là hai biến có hệ số lớn nhất, lần lượt là 0,226 và 0,477, cho thấy đây là các yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định gửi tiền.

Ngược lại, các biến như Thương hiệu (TH), Lãi suất (LS), Ảnh hưởng người thân (AH) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình này.

4.4. Thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Thông qua việc sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu có trọng số (Weighted Least Squares – WLS) để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi của mô hình hồi quy ban đầu, nghiên cứu đã đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến quyết định gửi tiền của khách hàng.

Kết quả kiểm định cho thấy 5 biến có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định gửi tiền của khách hàng, bao gồm: Chất lượng dịch vụ (DV), Sự an toàn (AT), Ảnh hưởng của công nghệ số (CN), Tâm lý khách hàng (TL), Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và yếu tố ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị). Trong đó, BH và ESG là hai yếu tố có mức ảnh hưởng mạnh mẽ nhất.

Ngược lại, các biến TH (Thương hiệu), LS (Lãi suất) và AH (Ảnh hưởng người thân) không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), dẫn đến bác bỏ các giả thuyết tương ứng trong mô hình nghiên cứu ban đầu. Kết quả này mang nhiều ý nghĩa thực tiễn:

  • Thương hiệu (TH): Do VPBank đã có nhận diện thương hiệu vững chắc, yếu tố này không tạo ra khác biệt rõ rệt trong hành vi gửi tiền của khách hàng.
  • Lãi suất (LS): Không còn là yếu tố quyết định chính trong bối cảnh thị trường ổn định và cạnh tranh lãi suất không quá gay gắt.
  • Ảnh hưởng người thân (AH): Mặc dù được đề cập trong nhiều lý thuyết hành vi, nhưng trong bối cảnh hiện nay, khách hàng có thể đang chủ động và độc lập hơn trong các quyết định tài chính.

Như vậy, kết quả hồi quy WLS đã giúp làm rõ các yếu tố có tác động thực sự đến hành vi gửi tiền của khách hàng, đồng thời củng cố độ tin cậy và hiệu lực nội tại của mô hình nghiên cứu

  • Bảng 4.21: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Như vậy, thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu có trọng số (WLS), nghiên cứu đã đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến quyết định gửi tiền của khách hàng. Kết quả phân tích hệ số hồi quy và kiểm định ý nghĩa thống kê đã giúp xác định mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập, từ đó đưa ra kết luận về việc chấp nhận hoặc bác bỏ các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất trong Chương 3, cụ thể như sau: Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Có 6 trên 9 giả thuyết được chấp nhận, cho thấy các yếu tố: Chất lượng dịch vụ (DV), Sự an toàn (AT), Ảnh hưởng của công nghệ số (CN), Tâm lý khách hàng (TL), Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và Yếu tố ESG có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại VPBank. Trong đó, Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và Yếu tố ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) là hai yếu tố có tác động mạnh nhất (giá trị p < 0,001 và hệ số β lớn nhất).

Ngược lại, ba yếu tố Thương hiệu (TH), Lãi suất (LS) và Ảnh hưởng từ người thân quen (AH) không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), dẫn đến việc bác bỏ các giả thuyết 1, 2 và 4. Mặc dù đây đều là các yếu tố được đề cập phổ biến trong lý thuyết và nhiều nghiên cứu trước, song trong bối cảnh thực tế của đề tài, kết quả này lại mang nhiều ý nghĩa đáng suy ngẫm:

Thương hiệu (TH): Hệ số hồi quy gần bằng 0 và không có ý nghĩa thống kê (p = 0,994), cho thấy yếu tố thương hiệu không ảnh hưởng đáng kể đến quyết định gửi tiền trong bối cảnh nghiên cứu. Dù được xem là yếu tố nền tảng trong quyết định tài chính, tuy nhiên tại thời điểm khảo sát, VPBank đã có độ nhận diện thương hiệu ổn định và quen thuộc với khách hàng địa phương. Do đó, sự khác biệt về cảm nhận thương hiệu giữa các cá nhân có thể không đủ lớn để tạo ra sự biến động trong quyết định gửi tiền.

Lãi suất (LS): Mặc dù lãi suất được coi là yếu tố kinh tế cơ bản ảnh hưởng đến hành vi gửi tiền, kết quả lại cho thấy biến này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,325). Điều này phản ánh xu hướng ưu tiên các yếu tố phi tài chính như an toàn, bảo hiểm và ESG hơn là mức lãi suất cụ thể – đặc biệt trong giai đoạn lãi suất ít biến động. Kết quả cũng cho thấy lãi suất không còn là yếu tố quyết định như trong các giai đoạn thị trường cạnh tranh lãi suất gay gắt trước đây. Trong điều kiện thị trường ổn định, sự chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng không đáng kể, khiến khách hàng ưu tiên các yếu tố như an toàn và bảo hiểm hơn là mức lãi cụ thể.

Chất lượng dịch vụ (DV): Với hệ số dương và có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), biến DV chứng minh rằng trải nghiệm dịch vụ tốt có thể khuyến khích khách hàng gửi tiền tại ngân hàng. Điều này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước, khi khách hàng ngày càng coi trọng sự chuyên nghiệp, nhanh chóng, tiện lợi trong dịch vụ.

Ảnh hưởng người thân quen (AH): Trái với giả thuyết ban đầu, biến AH không có ý nghĩa thống kê (p = 0,314). Kết quả này có thể phản ánh xu hướng độc lập trong quyết định tài chính của khách hàng hiện đại, ít phụ thuộc vào lời khuyên từ người quen, đặc biệt trong bối cảnh số hóa và cá nhân hóa cao. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Sự an toàn (AT): Biến này có ý nghĩa thống kê cao (p < 0,001) và hệ số âm (-0,087), nhưng điều này không phản ánh tác động nghịch chiều, mà là do cách mã hóa thang đo. Kết quả cho thấy cảm nhận về an toàn là yếu tố then chốt trong hành vi gửi tiền, phù hợp với tâm lý chung trong bối cảnh rủi ro tài chính gia tăng.

Ảnh hưởng của công nghệ số (CN): Biến CN (Công nghệ số) có ý nghĩa thống kê cao với hệ số B = 0,100 (p < 0,001), cho thấy đây là một trong những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền. Điều này phản ánh xu hướng chuyển đổi số mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân hàng. Khách hàng hiện nay không chỉ kỳ vọng vào các sản phẩm tài chính truyền thống mà còn đánh giá cao tính tiện lợi, tốc độ và khả năng tự phục vụ mà công nghệ mang lại.

Các ứng dụng như mobile banking, internet banking, eKYC (định danh điện tử), chatbot hỗ trợ 24/7, và các phương thức bảo mật nâng cao (OTP, sinh trắc học) đã trở thành tiêu chuẩn lựa chọn của người tiêu dùng hiện đại. Đặc biệt, khách hàng trẻ, có hiểu biết công nghệ và thu nhập trung bình – cao thường ưu tiên sử dụng các dịch vụ ngân hàng số để tiết kiệm thời gian và tăng trải nghiệm cá nhân hóa. Việc VPBank đẩy mạnh các sản phẩm số như VPBank NEO hay tích hợp ví điện tử, QR code thanh toán… cũng có thể đã góp phần làm tăng tính cạnh tranh và thu hút khách hàng gửi tiền tại ngân hàng.

Tâm lý khách hàng (TL): Biến TL (Tâm lý khách hàng) có hệ số B = 0,048 và p < 0,001, tuy mức ảnh hưởng chưa lớn so với các biến khác nhưng lại có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy các yếu tố phi lý trí như niềm tin, cảm xúc thuận chiều, thói quen cá nhân, sự gắn bó với thương hiệu có thể tác động đến hành vi tài chính của khách hàng.

Trong thực tế, niềm tin vào sự ổn định, cảm giác yên tâm khi giao dịch với ngân hàng, hay đơn giản là thói quen gửi tiền định kỳ tại một nơi quen thuộc đều là biểu hiện của yếu tố tâm lý. Ngoài ra, tác động từ truyền thông, quảng cáo, mạng xã hội hoặc cảm nhận thuận chiều từ các lần tương tác trước đó với ngân hàng cũng góp phần định hình hành vi.

Mặc dù không phải là yếu tố chính, nhưng TL đóng vai trò hỗ trợ quyết định, đặc biệt trong trường hợp khách hàng đang phân vân giữa các ngân hàng có mức lãi suất hoặc chất lượng dịch vụ tương đương nhau.

Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH): Biến BH có hệ số hồi quy cao (B = 0,226; p < 0,001), là một trong hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất trong mô hình. Kết quả này cho thấy sự an tâm về tài sản và mức độ bảo vệ hợp pháp của nhà nước hoặc cơ quan quản lý tài chính là yếu tố hàng đầu trong việc lựa chọn nơi gửi tiền.

Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, khách hàng ngày càng nhạy cảm với rủi ro tài chính và rủi ro hệ thống ngân hàng. Thông tin rõ ràng và minh bạch về việc có bảo hiểm tiền gửi, mức giới hạn bảo hiểm, thời gian chi trả bảo hiểm nếu rủi ro xảy ra tạo niềm tin lớn. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Ngoài ra, việc ngân hàng chủ động truyền thông và cập nhật về chính sách bảo hiểm cũng giúp củng cố niềm tin và thúc đẩy hành vi gửi tiền của khách hàng, nhất là với nhóm khách hàng lớn tuổi, nhóm ít am hiểu tài chính hoặc khách hàng gửi tiền dài hạn.

ESG – Môi trường, Xã hội, Quản trị: Biến ESG có ảnh hưởng lớn nhất trong mô hình (B = 0,477; p < 0,001), chứng tỏ trách nhiệm xã hội, đạo đức doanh nghiệp và cam kết phát triển bền vững ngày càng là yếu tố quan trọng với khách hàng hiện đại.

Điều này phản ánh xu thế toàn cầu khi người tiêu dùng và nhà đầu tư ngày càng quan tâm đến việc tổ chức có bảo vệ môi trường không (E), có quan tâm đến cộng đồng, bình đẳng, giáo dục, y tế (S), và có minh bạch, trung thực trong quản trị (G) hay không.

Khách hàng sẵn sàng lựa chọn ngân hàng không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì giá trị lâu dài mà ngân hàng tạo ra cho xã hội. Việc VPBank thuận chiều công bố các hoạt động ESG, tài trợ tín dụng xanh, thúc đẩy tài chính toàn diện… đã ghi điểm trong mắt người gửi tiền.

Đây là xu hướng đáng chú ý, đặc biệt trong nhóm khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà đầu tư, người có trình độ học vấn cao hoặc nhóm khách hàng trẻ quan tâm đến phát triển bền vững.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

Chương 4 đã trình bày toàn bộ quy trình và kết quả phân tích dữ liệu, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Sau khi kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính thông thường (OLS), nghiên cứu phát hiện tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Để khắc phục, mô hình hồi quy bình phương tối thiểu có trọng số (WLS) đã được áp dụng nhằm đảm bảo độ tin cậy của các ước lượng.

Kết quả hồi quy WLS cho thấy mô hình có độ phù hợp cao với dữ liệu thực tế và giúp xác định rõ mức độ tác động của từng nhân tố. Cụ thể, trong số 9 biến độc lập được đưa vào mô hình, có 6 biến đạt ý nghĩa thống kê (p < 0,05), gồm: Chất lượng dịch vụ (DV); Sự an toàn (AT); Ảnh hưởng của công nghệ số (CN); Tâm lý khách hàng (TL); Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH); Yếu tố ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Đặc biệt, hai biến BH và ESG là những yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định gửi tiền của khách hàng, với hệ số hồi quy lần lượt là 0,226 và 0,477. Điều này cho thấy khách hàng ngày càng quan tâm đến yếu tố bảo vệ tài sản và trách nhiệm xã hội của ngân hàng.

Ngược lại, 3 biến còn lại bao gồm: Thương hiệu (TH), Lãi suất (LS) và Ảnh hưởng người thân quen (AH) không đạt mức ý nghĩa thống kê (p > 0,05), cho thấy trong bối cảnh nghiên cứu tại VPBank, đây không phải là các yếu tố then chốt trong quyết định gửi tiền.

Như vậy, chương 4 không chỉ cung cấp các kết quả định lượng cụ thể mà còn giúp kiểm định lại toàn bộ hệ thống giả thuyết đã đặt ra trong Chương 3. Các phát hiện này sẽ là cơ sở quan trọng để đưa ra các khuyến nghị chính sách và chiến lược trong Chương 5 nhằm nâng cao năng lực huy động vốn của VPBank thông qua việc tối ưu hóa các yếu tố tác động đến hành vi gửi tiền của khách hàng.

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý

5.1. Kết luận

Luận văn có mục tiêu cụ thể là (i) Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại VP Bank; (ii) Đánh giá tác động của các yếu tố đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại VP Bank; (iii) Đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp VP Bank nâng cao khả năng thu hút và giữ chân khách hàng gửi tiền, tối ưu hoá chiến lược huy động vốn trong bối cảnh hiện nay.

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu 1, xác định các yếu tố và chiều hướng ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng, luận văn đã xây dựng mô hình nghiên cứu với 9 biến độc lập gồm: Thương hiệu (TH), Lãi suất (LS), Chất lượng dịch vụ (DV), Ảnh hưởng người thân quen (AH), Sự an toàn (AT), Ảnh hưởng của công nghệ số (CN), Tâm lý khách hàng (TL), Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH), và Yếu tố ESG (ESG) cùng với một biến phụ thuộc là Quyết định gửi tiền (QĐ).

Với mục tiêu thứ 2, đánh giá tác động của các yếu tố đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại VP Bank, tác giả đã thu thập dữ liệu sơ cấp từ 331 bảng khảo sát khách hàng cá nhân đã và đang gửi tiền tại VP Bank. Sau quá trình kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, các biến đạt tiêu chuẩn về giá trị hội tụ và phân biệt được đưa vào phân tích hồi quy đa biến. Mô hình được kiểm định thông quá các phương pháp phân tích như kiểm định tương quan Pearson, phân tích hồi quy tuyến tính bội (OLS), kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (VIF), kiểm định tự tương quan (Durbin – Watson) và phương sai sai số thay đổi (Heteroskedasticity).

Nhằm khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi phát hiện trong hồi quy OLS, nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy bình phương tối thiểu có trọng số (WLS). Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 yếu tố có tác động có ý nghĩa thống kê và tác động thuận chiều đến quyết định gửi tiền, kết quả so sánh mức độ tác động của các yếu tố nội tại được trình bày trong bảng bên dưới.

  • Bảng 5.1: So sánh mức độ tác động của các yếu tố nội tại

Trong số các yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu, hai biến có tác động mạnh nhất đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại VPBank là Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và Yếu tố Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG), với hệ số lần lượt là B = 0,226 và B = 0,477, đều đạt mức ý nghĩa thống kê rất cao (p < 0,001). Kết quả này phản ánh rằng, trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng phức tạp và cạnh tranh, khách hàng ngày càng đề cao các yếu tố an toàn và phát triển bền vững trong quyết định gửi tiền.

Cụ thể, biến BH cho thấy rằng chính sách bảo hiểm tiền gửi – một cơ chế pháp lý đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền – là một yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên sự an tâm cho khách hàng. Trong bối cảnh niềm tin đối với hệ thống tài chính có thể bị ảnh hưởng bởi các sự kiện vĩ mô như biến động lãi suất, bất ổn kinh tế hoặc sự sụp đổ của một số tổ chức tài chính nhỏ, thì việc biết tài sản được bảo vệ bởi nhà nước sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hành vi gửi tiền. Kết quả này phù hợp với xu hướng “tìm nơi gửi gắm an toàn” thay vì chỉ tìm kiếm lợi nhuận, đặc biệt với nhóm khách hàng cá nhân hoặc có khẩu vị rủi ro thấp.

Bên cạnh đó, biến ESG là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất trong mô hình. Điều này thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt trong nhận thức của khách hàng hiện đại – từ lợi ích tài chính thuần túy sang việc lựa chọn ngân hàng có trách nhiệm với cộng đồng và môi trường. Khách hàng ngày nay quan tâm không chỉ đến sản phẩm, mà còn đến cách mà ngân hàng tạo ra giá trị xã hội, minh bạch trong quản trị, và cam kết với phát triển bền vững. Những ngân hàng như VPBank nếu thể hiện tốt vai trò trong ESG sẽ tạo dựng được hình ảnh thuận chiều, xây dựng niềm tin lâu dài, và thu hút nhóm khách hàng trẻ, có học thức và quan tâm đến trách nhiệm xã hội.

Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu quốc tế, cho thấy niềm tin vào hệ thống bảo vệ người gửi tiền và ưu tiên giá trị đạo đức, môi trường là xu hướng rõ rệt trong hành vi tiêu dùng tài chính hiện đại. Đây là cơ sở để VPBank tiếp tục đẩy mạnh các chiến lược quản trị rủi ro minh bạch, công bố thông tin ESG, truyền thông về bảo hiểm tiền gửi và các cam kết trách nhiệm xã hội, từ đó gia tăng năng lực cạnh tranh và củng cố vị thế trong ngành ngân hàng.

Trên cơ sở đó, luận văn tiếp tục đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp VPBank nâng cao hiệu quả trong việc thiết kế các chính sách và sản phẩm gửi tiền phù hợp với kỳ vọng và hành vi của khách hàng hiện đại, đồng thời gia tăng lợi thế cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững trong ngành ngân hàng.

5.2. Các hàm ý quản trị Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

5.2.1. Về Yếu tố Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG)

Yếu tố ESG là biến có tác động mạnh nhất đến quyết định gửi tiền (B = 0,477; p < 0,001). Điều này cho thấy sự chuyển biến trong nhận thức của khách hàng hiện đại, khi họ ngày càng quan tâm đến trách nhiệm xã hội và tính bền vững của doanh nghiệp. VPBank cần thuận chiều triển khai và công bố các hoạt động ESG như phát triển tài chính xanh, hỗ trợ doanh nghiệp xã hội, đầu tư bền vững… Đồng thời, có thể thiết kế các sản phẩm tiết kiệm gắn liền với ESG như “Tiết kiệm vì môi trường” hoặc “Gửi tiết kiệm – Góp phần phát triển bền vững”, qua đó thu hút nhóm khách hàng trẻ, có tư duy hiện đại và tinh thần trách nhiệm cộng đồng cao.

5.2.2. Về Chính sách bảo hiểm tiền gửi

Chính sách bảo hiểm tiền gửi là yếu tố có tác động mạnh thứ hai trong mô hình nghiên cứu (B = 0,226; p < 0,001), cho thấy khách hàng đặc biệt quan tâm đến sự an toàn và bảo vệ tài sản. Đây là yếu tố then chốt trong việc xây dựng niềm tin, đặc biệt với nhóm khách hàng có xu hướng tiết kiệm dài hạn. Do đó, VPBank cần thuận chiều truyền thông rõ ràng về phạm vi và mức độ bảo hiểm tiền gửi được Nhà nước bảo hộ thông qua các kênh như website, ứng dụng VPBank NEO, tờ rơi tại quầy và đội ngũ tư vấn viên. Ngoài ra, có thể tích hợp chính sách bảo hiểm vào quy trình tư vấn sản phẩm tiết kiệm để tăng tính minh bạch và củng cố lòng tin từ khách hàng.

5.2.3. Về Chất lượng dịch vụ

Chất lượng dịch vụ là yếu tố có ý nghĩa thống kê cao (B = 0,118; p < 0,001), khẳng định rằng trải nghiệm của khách hàng trong suốt quá trình giao dịch vẫn là yếu tố nền tảng trong quyết định gửi tiền. VPBank nên tiếp tục đầu tư vào đào tạo nhân sự, nâng cao thái độ phục vụ và kỹ năng xử lý tình huống cho đội ngũ giao dịch viên. Đồng thời, cải tiến quy trình giao dịch, tăng tốc độ xử lý hồ sơ, và ứng dụng công nghệ (như e-signature, xếp hàng trực tuyến…) để nâng cao sự thuận tiện cho khách hàng.

5.2.4. Về Sự an toàn Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

An toàn là một trong những biến có ảnh hưởng rõ rệt đến hành vi gửi tiền (B = -0,087; p < 0,001). Mặc dù hệ số âm, nhưng xét trong ngữ cảnh của mô hình WLS với trọng số, điều này cho thấy cảm nhận về sự thiếu an toàn có thể khiến khách hàng hạn chế gửi tiền. VPBank cần tiếp tục củng cố hệ thống bảo mật thông tin, phát hiện gian lận và cảnh báo rủi ro cho khách hàng. Việc truyền thông về hệ thống bảo mật đa tầng, xác thực hai lớp, và dịch vụ cảnh báo qua SMS/ứng dụng sẽ giúp khách hàng cảm thấy yên tâm hơn khi lựa chọn ngân hàng.

5.2.5. Về Ảnh hưởng của công nghệ số

Biến công nghệ số (B = 0,100; p < 0,001) cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của ngân hàng số trong quyết định tài chính. VPBank nên tiếp tục phát triển VPBank NEO với các tính năng cá nhân hóa, tự động hóa đề xuất sản phẩm, quản lý mục tiêu tài chính, tích hợp đầu tư – tiết kiệm – thanh toán trên cùng nền tảng. Bên cạnh đó, cần liên tục cập nhật công nghệ mới như AI, Big Data để nâng cao trải nghiệm và đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng hiện đại.

5.2.6. Tâm lý khách hàng

Yếu tố tâm lý khách hàng cũng có ý nghĩa thống kê trong mô hình (B = 0,048; p < 0,001). Điều này cho thấy rằng sự tin tưởng, cảm giác hài lòng và sự an tâm khi giao dịch ảnh hưởng đáng kể đến hành vi gửi tiền. VPBank có thể khai thác điều này thông qua các chiến dịch truyền thông đánh vào cảm xúc như “Gửi hôm nay – Vững ngày mai”, hoặc phát triển các sản phẩm tiết kiệm phù hợp với từng nhóm tâm lý (người lớn tuổi – tiết kiệm an nhàn, người trẻ – tiết kiệm tích lũy tương lai…).

5.2.7. Về Thương hiệu

Mặc dù không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,994), thương hiệu vẫn là yếu tố nền tảng tạo nên nhận diện và sự tín nhiệm trong dài hạn. VPBank nên tiếp tục duy trì và nâng cao hình ảnh thương hiệu thông qua chiến dịch truyền thông đại chúng, tài trợ cộng đồng, và xây dựng mối quan hệ với khách hàng trên nền tảng số. Việc đảm bảo thông điệp thương hiệu nhất quán và phù hợp với giá trị cốt lõi của ngân hàng cũng là cách để nâng cao vị thế trong tâm trí khách hàng.

5.2.8. Về Lãi suất Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Biến lãi suất không có ý nghĩa thống kê trong mô hình (p = 0,325), điều này phản ánh thực tế rằng khách hàng không còn chỉ quan tâm đến lãi suất đơn thuần mà chú trọng hơn đến trải nghiệm tổng thể. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh, VPBank vẫn nên duy trì chính sách lãi suất linh hoạt, đặc biệt cho các kỳ hạn dài hoặc tiết kiệm tích lũy. Các gói “lãi suất + ưu đãi” kết hợp quà tặng, voucher hoặc rút thăm trúng thưởng có thể giúp tăng sức hấp dẫn.

5.2.9. Về Thương hiệu

Thương hiệu (TH) cũng là một yếu tố nền tảng, dù không đạt mức ý nghĩa thống kê. Điều này có thể lý giải do khách hàng Việt Nam hiện nay quan tâm nhiều hơn đến tính tiện ích và trải nghiệm thay vì danh tiếng thương hiệu đơn thuần. Tuy nhiên, thương hiệu vẫn là biểu tượng đại diện cho uy tín và đẳng cấp ngân hàng. VPBank nên tiếp tục chiến lược xây dựng thương hiệu thông qua hình ảnh thân thiện, hiện đại và cam kết với khách hàng, đồng thời đầu tư vào các hoạt động truyền thông xã hội, tài trợ sự kiện, kết nối cộng đồng để khắc sâu hình ảnh thương hiệu vào tâm trí khách hàng.

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Mặc dù đề tài đã phần nào đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra và mang lại những kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định cần được lưu ý trong các nghiên cứu tiếp theo.

Thứ nhất, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong số lượng khách hàng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), dẫn đến việc các kết quả có thể chưa phản ánh toàn diện hành vi của khách hàng ở các khu vực, vùng miền khác. Tính đại diện của mẫu vì thế còn bị hạn chế. Trong các nghiên cứu tiếp theo, nên mở rộng khảo sát tại nhiều chi nhánh thuộc các địa bàn khác nhau như khu vực đô thị, nông thôn, vùng kinh tế trọng điểm để có cái nhìn đa chiều và chính xác hơn về hành vi gửi tiền của khách hàng VPBank trên toàn quốc.

Thứ hai, cỡ mẫu quan sát trong nghiên cứu tuy đạt yêu cầu tối thiểu theo đề xuất của Hair và cộng sự (1998), nhưng vẫn còn khá khiêm tốn so với các nghiên cứu quy mô lớn. Để tăng độ tin cậy và khả năng khái quát hóa của mô hình, nghiên cứu trong tương lai nên mở rộng quy mô mẫu với số lượng quan sát lớn hơn, đặc biệt tập trung vào đa dạng hóa độ tuổi, thu nhập và trình độ học vấn của người tham gia khảo sát. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Thứ ba, nghiên cứu chỉ khảo sát hành vi của những khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ gửi tiền tại VPBank, điều này khiến kết quả nghiên cứu thiên về nhóm khách hàng hiện hữu và có thể bỏ sót những rào cản, tâm lý e ngại hoặc lý do từ chối sử dụng dịch vụ của ngân hàng từ phía khách hàng tiềm năng. Vì vậy, một hướng nghiên cứu thiết thực trong tương lai là khảo sát cả những khách hàng chưa từng gửi tiền tại VPBank hoặc chưa sử dụng bất kỳ sản phẩm nào của ngân hàng, nhằm xác định được nguyên nhân chưa lựa chọn dịch vụ, từ đó đề xuất các chiến lược tiếp cận phù hợp.

Thứ tư, mặc dù đã xử lý hiện tượng Phương sai sai số thay đổi bằng WLS nhưng luận văn chưa đề cập đến việc kiểm tra hay khắc phục hiện tượng Biến nội sinh. Hiện tượng này có thể xảy ra khi có mối quan hệ hai chiều giữa các biến ví dụ như Chất lượng dịch vụ có thể vừa là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền, vừa là yếu tố bị ảnh hưởng bởi hành vi giao dịch thường xuyên của khách hàng. Vì thế, ở hướng nghiên cứu tiếp theo, nên có kiểm định này để không làm ảnh hưởng đến các hệ số ước lượng bị sai lệch.

Cuối cùng, nghiên cứu chỉ tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn, mang tính cắt ngang, nên chưa thể đánh giá được xu hướng thay đổi hành vi của khách hàng theo thời gian. Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng về mặt thời gian, có thể áp dụng phương pháp nghiên cứu dọc để ghi nhận những thay đổi trong nhận thức và hành vi gửi tiền theo từng giai đoạn kinh tế, chính sách lãi suất hay xu hướng tiêu dùng tài chính.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

Chương 5 đã tổng hợp toàn bộ kết quả nghiên cứu, làm rõ những yếu tố tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank). Kết quả hồi quy WLS cho thấy trong 9 yếu tố được xem xét, có 6 yếu tố có ý nghĩa thống kê và tác động thuận chiều, trong đó Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và Yếu tố Môi trường – Xã hội – Quản trị (ESG) nổi bật với mức ảnh hưởng mạnh nhất. Điều này phản ánh xu hướng khách hàng ngày càng đề cao sự an toàn và tính bền vững trong quyết định tài chính, thay vì chỉ chú trọng vào các yếu tố truyền thống như lãi suất hay thương hiệu.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, các hàm ý quản trị đã được đề xuất nhằm giúp VPBank hoàn thiện chính sách huy động vốn, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển ngân hàng số, và truyền thông hiệu quả về bảo hiểm tiền gửi và cam kết ESG. Những khuyến nghị này không chỉ góp phần nâng cao khả năng thu hút và giữ chân khách hàng mà còn giúp VPBank củng cố vị thế cạnh tranh trong bối cảnh ngành ngân hàng ngày càng số hóa và cạnh tranh gay gắt.

Ngoài ra, luận văn cũng chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu như phạm vi khảo sát hẹp, cỡ mẫu còn khiêm tốn và tính cắt ngang của dữ liệu. Các hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất theo hướng mở rộng phạm vi khảo sát, tăng quy mô mẫu và nghiên cứu dọc để phản ánh chính xác hơn hành vi gửi tiền của khách hàng theo thời gian và bối cảnh kinh tế.

KẾT LUẬN CHUNG Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

Luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng – VPBank” đã hoàn thành mục tiêu đề ra khi nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết hành vi tiêu dùng, hành vi tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu phù hợp với bối cảnh cạnh tranh của ngành ngân hàng hiện nay.

Kết quả nghiên cứu định lượng trên mẫu 331 khách hàng tại VPBank cho thấy 6 yếu tố tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến quyết định gửi tiền, trong đó Chính sách bảo hiểm tiền gửi (BH) và Yếu tố ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất. Điều này phản ánh xu hướng khách hàng ngày càng chú trọng đến sự an toàn, tính minh bạch và trách nhiệm xã hội của ngân hàng, thay vì chỉ quan tâm đến các yếu tố truyền thống như lãi suất hay thương hiệu.

Về mặt lý thuyết, nghiên cứu đã mở rộng khung phân tích bằng cách tích hợp các yếu tố mới như công nghệ số, tâm lý khách hàng và ESG, qua đó góp phần làm phong phú thêm tài liệu nghiên cứu về hành vi gửi tiền trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững. Về mặt thực tiễn, các hàm ý quản trị được đề xuất giúp VPBank nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc đẩy mạnh truyền thông về bảo hiểm tiền gửi, phát triển ngân hàng số, cải thiện chất lượng dịch vụ và xây dựng hình ảnh ngân hàng có trách nhiệm với cộng đồng.

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, khuyến khích các ngân hàng tăng cường hoạt động ESG và ứng dụng công nghệ số để nâng cao niềm tin của khách hàng, hướng tới một hệ thống ngân hàng phát triển bền vững.

Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế về phạm vi khảo sát, quy mô mẫu và thời gian nghiên cứu mang tính cắt ngang. Do đó, các nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng phạm vi và đối tượng khảo sát, kết hợp phương pháp nghiên cứu dọc để đánh giá sự thay đổi hành vi gửi tiền theo thời gian và các yếu tố kinh tế vĩ mô.

Nhìn chung, luận văn đã cung cấp những kết quả có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, góp phần hỗ trợ VPBank cũng như các ngân hàng thương mại khác trong việc hoạch định chiến lược huy động vốn, đáp ứng nhu cầu khách hàng và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt. Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng

One thought on “Luận văn: KQNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng

  1. Pingback: Luận văn: PPNC Ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền khách hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *