Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong việc phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề và tính cấp thiết của đề tài
- Đặt vấn đề
Ngành Du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã chứng kiến sự phát triển đáng kể, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; thu hút được các nguồn lực đầu tư để phát triển mạnh mẽ.
Một trong những ưu thế nổi bật của Việt Nam là nguồn tài nguyên du lịch phong phú, cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Tiêu biểu có di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, di sản văn hóa phi vật thể Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và hàng ngàn di tích lịch sử-văn hóa được công nhận trên cả nước. Đây là những điều kiện thuận lợi giúp ngành Du lịch phát triển ngày càng mạnh hơn.
Ngày 25 tháng 11 năm 2005, UNESCO đã quyết định công nhận “Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên” của Việt Nam là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Đây là niềm tự hào không chỉ của đồng bào các tộc người Tây Nguyên mà còn là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, và trở thành tài sản chung của cả nhân loại. Nói đến cồng chiêng Tây Nguyên, ai trong chúng ta cũng cảm thấy thích thú và mong muốn được thưởng thức, được tìm hiểu đặc biệt là trong những chuyến du lịch lên với vùng đất Tây Nguyên. Việc đưa hoạt động biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào phục vụ khách du lịch, phát triển du lịch là điều cần thiết, giúp cho việc quảng bá hình ảnh, văn hóa của vùng đất Tây Nguyên đến du khách, bè bạn gần xa.
- Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Đà Lạt, tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng từ lâu đã được biết đến như là một thành phố du lịch nổi tiếng bởi khí hậu mát mẻ, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú. Những tài nguyên du lịch hấp dẫn lân cận như Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Thung lũng Vàng, hồ Đankia, núi Lang Biang… cùng các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống của 43 tộc người anh em ở Lâm Đồng góp phần thu hút lượng khách du lịch ngày càng nhiều đến với Đà Lạt. Trong quá trình phát triển của Du lịch Đà Lạt, cồng chiêng Tây Nguyên cũng đã được một số đơn vị kinh doanh du lịch đưa vào biểu diễn phục vụ khách du lịch.
Ở Đà Lạt, các loại hình dịch vụ giải trí chưa thật sự phong phú, nhưng việc thưởng thức biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng đã được nhiều du khách lựa chọn. Biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đóng góp phần quan trọng trong phát triển du lịch và du lịch văn hóa ở vùng đất Tây Nguyên nói chung và Đà Lạt nói riêng. Cồng chiêng Tây Nguyên mang sắc thái địa phương rõ nét bởi vì nó gắn chặt với đời sống văn hóa tinh thần của bà con các tộc người nơi đây.
Biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một yếu tố được khai thác phát triển sản phẩm du lịch độc đáo phục vụ nhu cầu giải trí cho khách du lịch đồng thời góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của địa phương. Như tầm quan trọng của nó, kể từ khi bắt đầu được đưa vào biểu diễn phục vụ du khách, loại hình dịch vụ này đang tìm hướng phát triển phù hợp. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo viết về cồng chiêng Tây Nguyên nhưng tiếp cận cồng chiêng Tây Nguyên dưới góc độ là một dịch vụ biểu diễn phục vụ phát triển sản phẩm du lịch là điều khá mới mẻ. Thực tế, việc khai thác các dịch vụ biểu diễn đã được quan tâm triển khai phục vụ khách du lịch, tuy vậy, vấn đề làm thế nào khai thác hiệu quả dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch là vấn đề cần được triển khai nghiên cứu một cách hệ thống.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ “Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong việc phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt”.
Với mục đích hiểu được gốc rễ của vấn đề một cách sâu sắc để có thể đề xuất các giải pháp khả thi. Nghiên cứu này góp phần vào việc thảo luận tiếp tục trong cách thức tổ chức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch, đồng thời là việc cải thiện chất lượng dịch vụ. Một sự hiểu biết thấu đáo về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, cảm nhận và phản hồi của khách du lịch về dịch vụ là rất quan trọng và cần thiết cho các giải pháp tích cực.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu thực trạng khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Đà Lạt nhằm tìm ra các giải pháp đề xuất khai thác có hiệu quả hơn dịch vụ biểu diễn cồng chiêng Tây Nguyên để phát triển sản phẩm du lịch ở Đà Lạt.
- Mục tiêu cụ thể:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến khai thác các dịch vụ biểu diễn nghệ thuật phát triển sản phẩm du lịch;
Phân tích thực trạng khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phát triển sản phẩm du lịch phục vụ khách tại một số điểm du lịch ở thành phố Đà Lạt;
Điều tra phản hồi của du khách về chất lượng loại hình dịch vụ này sau khi thưởng thức từ đó đánh giá thực trạng hoạt động khai thác dịch vụ này để phát triển sản phẩm du lịch hiện nay ở Đà Lạt;
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
2.2. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu liên quan đến việc giải thích các vấn đề nghiên cứu về sự cần thiết cho việc điều tra (Zikmund, 1997, trang 88). Các câu hỏi nghiên cứu có thể được tiếp cận như sau:
- Lý thuyết nào liên quan đến việc khai thác dịch vụ biểu diễn Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong việc phát triển sản phẩm du lịch?
- Thực trạng việc cung cấp dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch ở Đà Lạt như thế nào?
- Những giải pháp nào có thể giúp khai thác hiệu quả dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt?
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động khai thác dịch vụ biểu diễn các loại hình văn hóa nghệ thuật phục vụ phát triển sản phẩm du lịch.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong phát triển sản phẩm du lịch.
- Phạm vi không gian nghiên cứu:
Các địa điểm tổ chức biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương (xã Lát, Núi Langbiang).
- Phạm vi thời gian nghiên cứu:
Số liệu thứ cấp được sử dụng liên quan đến đề tài nằm trong giai đoạn từ 2019 đến 2023 và các số liệu sơ cấp điều tra, khảo sát năm 2024.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu:
Đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt và chủ yếu trong quá trình thực hiện đề tài. Để có nguồn thông tin đầy đủ về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin và các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như các tài liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng, các bài viết trên các tạp chí khoa học, sách báo, mạng internet … Các số liệu thu thập được thông qua các bảng hỏi được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm SPSS để tính giá trị trung bình làm cơ sở cho các nhận định và giải pháp đề nghị.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Bảng hỏi được thiết kế để điều tra mong đợi, cảm nhận và đánh giá của du khách đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
5 bảng hỏi được thiết kế ban đầu được sử dụng điều tra thử sau đó về điều chỉnh, bổ sung các biến để phù hợp với nội dung nghiên cứu. 250 bảng hỏi được phát điều tra ngẫu nhiên ở các câu lạc bộ cung cấp dịch vụ biểu diễn VHCCTN trong đó 16 bảng trả lời không hợp lệ nên bị loại bỏ. Đề tài áp dụng tính cỡ mẫu trong phân tích nhân tố khám phá, tỷ lệ quan sát /biến đo lường ít nhất là 5:1, tốt nhất trong khoảng tỷ lệ 5:1-10:1. Tỷ lệ được chọn trong đề tài vào khoảng 9:1. Điều tra ngẫu nhiên về khách du lịch tại các điểm du lịch đảm bảo tính khách quan, đại diện cho khách du lịch đến Đà Lạt.
- Phương pháp chuyên gia:
Theo Dillon và cộng sự (1993, trang 134), phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm các kỹ thuật thu thập thông tin từ một số ít người được hỏi về suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm của mình mà khó thực hiện với toàn bộ dân số. Một phương pháp phổ biến trong số này là phương pháp chuyên gia. Trong nghiên cứu này, bảng hỏi khảo sát sẽ là phương pháp quan trọng để có được dữ liệu cho việc phân tích và đánh giá. Tuy nhiên, phương pháp chuyên gia cũng là một phương pháp để hỗ trợ các mục tiêu trên và tăng cường độ tin cậy của nghiên cứu. Một nhóm nhỏ những người tham gia bao gồm đại diện của Ban quản lý tổ chức dịch vụ (Phòng quản lý văn hóa huyện Lạc Dương, Phòng Quản lý di sản Sở VHTTDL Lâm Đồng), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng, công ty du lịch ở Đà Lạt, nhà cung cấp dịch vụ và các chuyên gia từ trường Cao đẳng Du lịch Đà Lạt trao đổi trong một cuộc thảo luận không có cấu trúc về thực trạng và chất lượng của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt.
6. Lược khảo về tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu về khai thác giá trị văn hóa truyền thống để phát triển du lịch, phát triển sản phẩm du lịch cũng đã được nhiều tác giả thực hiện như Quản Minh Phương (2020) với đề tài “Khai thác giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số phục vụ phát triển du lịch tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”; Trần Thị Minh (2019) với đề tài “Khai thác các giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối nước ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam phục vụ phát triển du lịch”; Lê Ngọc Quỳnh Mai (2022) với đề tài “Khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ phát triển du lịch tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội”.
Cồng chiêng Tây Nguyên đã được đề cập tương đối cụ thể trong các nghiên cứu của nhiều tác giả. Nguyễn Phước Hiền (2021) đã nêu được giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên, phân tích tác động của du lịch đối với văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và phân tích vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong du lịch.
Bên cạnh đó, Nguyễn Chí Bền (2018) đã khẳng định Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên chứa đựng những giá trị nổi bật ngang tầm kiệt tác sáng tạo của nhân loại; văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bắt rễ từ truyền thống văn hóa truyền thống lịch sử của cộng đồng có liên quan và cồng chiêng đóng vai trò là phương tiện khẳng định cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc ít người ở Tây Nguyên. Cư dân các dân tộc ít người ở Tây Nguyên đã đạt đến những hiểu biết sâu và có các kỹ thuật điêu luyện trong việc sử dụng cồng chiêng trong văn hóa và âm nhạc của mình. Cồng chiêng Tây Nguyên có giá trị như một bằng chứng độc đáo của đặc trưng truyền thống văn hóa và khẳng định những nỗ lực đưa Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã được đền bù xứng đáng.
Lê Thị Kim Dung (2009) đã giới thiệu về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, phân tích những giá trị văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và những thách thức của thời kỳ hội nhập đối với văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Các nghiên cứu của các tác giả đề cập đến nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên, lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Bên cạnh đó, các nghiên cứu chủ yếu giới thiệu các giá trị về nhạc cụ cồng chiêng, về tình hình sử dụng và phát huy âm nhạc cồng chiêng của một số các dân tộc ở Tây Nguyên dưới những góc độ khác nhau. Song, đa phần các tác giả thường nghiên cứu văn hóa cồng chiêng từ cách tiếp cận đơn ngành hoặc đưa ra một số định hướng ở dạng ghi chép, mô tả, giới thiệu về nghệ thuật cồng chiêng. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Như vậy, đề tài dưới góc độ khai thác giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên trong việc đa dạng hóa và phát triển sản phẩm du lịch của một địa phương riêng biệt vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể. Đề tài “Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong việc phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt” là đề tài mới, chưa được đề cập một cách cụ thể trong các nghiên cứu trước đây.
Dựa vào những nghiên cứu của các tác giả đã thực hiện, đề tài tiếp tục nghiên cứu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thực trạng hoạt động biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ khách du lịch ở Đà Lạt và giải pháp khai thác dịch vụ này trong việc phát triển sản phẩm du lịch tại địa phương.
7. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận liên quan đến khai thác phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển sản phẩm du lịch hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có một ý nghĩa lớn đó là không chỉ nhằm tôn vinh các giá trị của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – một biểu tượng độc đáo của Tây Nguyên, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại mà còn góp phần vào việc tìm ra định hướng tiếp tục trong cách thức tổ chức dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nhằm phát triển sản phẩm du lịch ở Đà Lạt một cách hiệu quả, bền vững.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, bố cục của luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1 đề cập đến các vấn đề lý thuyết như khái niệm và đặc điểm của sản phẩm du lịch, khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật phát triển du lịch; Mối liên hệ giữa việc khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật dân tộc và phát triển sản phẩm du lịch; Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật trong việc phát triển sản phẩm du lịch tại Đà Lạt; Kinh nghiệm của việc phát triển biểu diễn dịch vụ văn hóa dân tộc ở một số địa phương trong nước và tổng quan các đề tài nghiên cứu trước đây.
Chương 2 giới thiệu về thực trạng khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ du lịch ở Đà Lạt.
Và chương 3 đưa ra tóm tắt về kết quả nghiên cứu và một số giải pháp và kiến nghị đề xuất cũng như nêu những đóng góp và hạn chế của đề tài cùng hướng nghiên cứu tiếp theo.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
1.1. Khái niệm và đặc điểm của sản phẩm du lịch
1.1.1. Khái niệm sản phẩm du lịch
Theo các tác giả Trương Sỹ Quý và Hà Quang Thơ (2017, trang 12): “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp giữa những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác những tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”.
Theo Điều 4 Luật Du lịch 2005: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”. Theo điều 3 Luật Du lịch 2024 thì “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” (Quốc Hội, 2005).
Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm các yếu tố hữu hình (hàng hóa vật chất) và các yếu tố vô hình (dịch vụ, sự tiện nghi) để cung cấp cho khách du lịch. Sản phẩm du lịch bao gồm 2 thành phần quan trọng: Tài nguyên du lịch; các dịch vụ và hàng hoá du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Các dịch vụ gồm vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí…và trong các dịch vụ đó thì có một số hàng hóa được cung cấp cho du khách.
Để có thể thu hút khách đến với một địa phương, một vùng hay một đất nước nào đó thì sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt phải được tạo ra. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch muốn có được sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt thì phải dựa trên cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất đó là điểm đến có tài nguyên du lịch hay không. Dựa trên tài nguyên du lịch đặc trưng của từng nơi, các doanh nghiệp sẽ triển khai các dịch vụ và hàng hóa cụ thể, phù hợp để có thể thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách du lịch. Các giá trị văn hóa truyền thống được coi là tài nguyên nhân văn để khai thác, phát triển sản phẩm du lịch phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm du lịch bao gồm những hàng hóa và dịch vụ kết hợp nhau.Bất kỳ sản phẩm du lịch nào cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của khách, sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ, có thể là sản phẩm tổng hợp do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng.
Sản phẩm đơn lẻ là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một nhu cầu cụ thể của khách. Ví dụ dịch vụ lưu trú (khách sạn, homestay…), dịch vụ vận chuyển, dịch vụ biểu diễn văn hóa truyền thống…
Tuy nhiên, người đi du lịch không chỉ để thỏa mãn bởi một dịch vụ mà trong chuyến đi du lịch của họ phải được thỏa mãn nhiều nhu cầu do những sản phẩm đó tạo nên, hay nói cách khác là họ đòi hỏi phải có sản phẩm tổng hợp. Sản phẩm tổng hợp là sản phẩm phải thỏa mãn đồng thời một nhóm nhu cầu, mong muốn của khách du lịch, có thể do một nhà cung ứng hoặc do nhiều nhà cung ứng cung cấp. Việc phối hợp các bộ phận hợp thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh cung ứng tốt cho khách du lịch là quá trình phức tạp và đa dạng.
1.1.2. Đặc điểm của sản phẩm du lịch Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Sản phẩm du lịch bao gồm hàng hóa và các dịch vụ du lịch, trong đó bộ phận dịch vụ chiếm tỉ trọng cao. Vì thế sản phẩm du lịch mang những đặc điểm của dịch vụ nói chung.
1.1.2.1. Tính vô hình
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không có hình thái cụ thể (vô hình).Thực ra nó là một chuỗi các trải nghiệm, tiêu dùng các dịch vụ được cung ứng bởi các nhà cung cấp hơn là một món hàng cụ thể, mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Sản phẩm du lịch là không cụ thể, do đó không thể đặt ra vấn đề nhãn hiệu như hàng hóa và cũng vì vậy mà sản phẩm du lịch rất dễ bị sao chép, người ta có thể dễ dàng sao chép những chương trình du lịch, bắt chước cách bài trí phòng đón tiếp hay qui trình phục vụ đã được nghiên cứu công phu. Mặt khác, do tính chất không cụ thể nên khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua và vì vậy, rất nhiều người chưa từng đi du lịch sẽ phân vân khi chọn sản phẩm du lịch. Ngoài ra, cũng do đặc điểm này mà vấn đề quảng cáo trong du lịch đóng vai trò quan trọng và phải khác với quảng cáo cho những hàng hóa vật chất.
1.1.2.2. Tính không đồng nhất
Vì được tạo thành chủ yếu từ dịch vụ nên sản phẩm du lịch khó tiêu chuẩn hóa được, khó đưa ra một quy chuẩn nhất định. Cùng một sản phẩm dịch vụ nhưng chất lượng có thể không giống nhau khi:
- Cung cấp bởi những nhân viên khác nhau
- Cung cấp cho những khách hàng khác nhau
- Cung cấp tại những thời gian, địa điểm khác nhau.
Trong một nhà hàng hay khách sạn, mặc dù có cùng tiêu chuẩn dịch vụ nhưng đánh giá của khách hàng sẽ khác nhau là do mỗi khách hàng được phục vụ bởi một hoặc một nhóm nhân viên khác nhau. Nhân viên trong cùng đơn vị có thể có trình độ chuyên môn như nhau nhưng thái độ phục vụ, tinh thần trách nhiệm đối với công việc… khác nhau sẽ tác động đến sự cảm nhận khác nhau về chất lượng dịch vụ giữa các khách hàng. Trong một số trường hợp, cùng một tiêu chuẩn dịch vụ, cùng một nhân viên nhưng phục vụ nhiều đối tượng khách hàng.Mỗi khách hàng có một đánh giá, một cảm nhận khác nhau chất lượng sản phẩm, về thái độ phục vụ của nhân viên.Điều này cho thấy chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho khách phụ thuộc vào tính cách, sở thích, trạng thái tâm lý… của mỗi khách hàng.Chất lượng sản phẩm du lịch cung cấp cho du khách cũng sẽ được cảm nhận khác nhau tùy vào từng thời điểm, không gian khác nhau. Vào những lúc đông khách hay vào thời điểm vắng khách, vào ngày đẹp trời hay ngày nóng bức… thì cũng sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá chất lượng sản phẩm của du khách cũng như sự linh hoạt trong phục vụ của đơn vị kinh doanh… Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
1.1.2.3. Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng
Việc tiêu dùng và sản xuất sản phẩm du lịch (dịch vụ) xảy ra trên cùng một không gian và thời gian. Vì sản phẩm du lịch gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch, mà như chúng ta biết muốn phát triển du lịch thì phải có tài nguyên du lịch và tài nguyên du lịch không thể di dời đi nơi khác (cố định về không gian), vì thế khách phải tìm đến nếu muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đồng thời, sản phẩm du lịch đa phần là dịch vụ, mà đã là dịch vụ thì chỉ khi nào khách tiêu dùng thì lúc đó cơ sở kinh doanh mới cung cấp, hay nói cách khác lúc đó dịch vụ mới được sản xuất. Với đặc điểm này thì khách du lịch không thể kiểm tra được chất lượng sản phẩm trước khi mua và muốn tiêu dùng thì phải đến nơi sản xuất.
1.1.2.4. Tính mau hỏng và không dự trữ được
Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…Vì thế không thể sản xuất trước, lưu kho và bán từ từ cho khách.Nói cách khác,sản phẩm du lịch không thể dự trữ được và mau hỏng. Số lượng buồng trong khách sạn, số chỗ ngồi trong nhà hàng… nếu không thể bán vào ngày hôm nay thì khách sạn, nhà hàng sẽ mất doanh thu chứ không thể cộng thêm tất cả số buồng và chỗ ngồi đó vào số buồng và số chỗ ngồi của doanh nghiệp ngày hôm sau được. Chính vì vậy, làm sao để tối đa hóa công suất theo từng ngày là điều mà các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch luôn quan tâm và cố gắng khai thác.
1.1.2.5. Các đặc điểm khác
Ngoài bốn đặc điểm chính trên thì sản phẩm du lịch còn có các đặc điểm cần được luận giải.
- Sản phẩm du lịch do nhiều nhà cung cấp tham gia cung ứng
Nhằm thỏa mãn nhu cầu trong suốt cuộc hành trình của khách, từ nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu thứ yếu, đòi hỏi phải có nhiều loại hình dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan… Để có thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu của du khách một cách đầy đủ nhất, đa dạng nhất vào mọi thời điểm… thì phải có nhiều nhà kinh doanh tham gia vào việc cung ứng sản phẩm du lịch cho khách.
- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ
Do nhu cầu du lịch thay đổi thường xuyên, lúc thì cầu du lịch quá cao nhưng có lúc thì quá thấp, trong khi đó cung du lịch tương đối ổn định trong thời gian dài. Từ đó nảy sinh độ chênh lệch giữa cung và cầu du lịch, đó chính là tính thời vụ trong việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Đặc điểm này gây khó khăn đối với nhà kinh doanh du lịch: làm sao để độ chênh lệch giữa cung và cầu ở mức thấp nhất vào mùa cao điểm, làm sao để giải quyết mọi vấn đề về lao động, doanh thu, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất… vào mùa thấp điểm. Những đơn vị kinh doanh du lịch muốn đạt được hiệu quả như mong muốn phải hiểu được đặc điểm của sản phẩm du lịch để tổ chức hoạt động kinh doanh, bố trí nhân sự…
1.2. Phát triển sản phẩm du lịch Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Phát triển sản phẩm du lịch hiện nay không chỉ chú trọng đến phát triển về quy mô, số lượng các dịch vụ du lịch chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, hoàn thiện các sản phẩm du lịch. Các loại hình sản phẩm du lịch ngày càng được đa dạng hóa, cơ cấu dịch vụ du lịch tăng lên, chiếm tỷ trọng cao trong tổng cơ cấu kinh tế chung.
Phát triển sản phẩm du lịch có thể tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như:
- Các yếu tố thu hút và phục vụ khách bao gồm cơ sở hạ tầng (đường sá, điện nước, thông tin liên lạc, các loại phương tiện vận chuyển khách), cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ khách (các cơ sở lưu trú, ăn uống, giải trí, mua sắm…), nhân viên phục vụ và cơ sở vật chất và tiện nghi khác; đặc biệt là vấn đề tiếp thị, quảng cáo và xây dựng hình ảnh cho điểm đến.
- Theo một hướng tiếp cận khác, phát triển sản phẩm du lịch bao gồm phát triển những điểm tham quan, các hoạt động và các dịch vụ đa dạng phục vụ khách.
Trong hai cách tiếp cận trên, cách thứ nhất đóng một vai trò quyết định đến việc phát triển sản phẩm du lịch tại các điểm đến du lịch.
Mặt khác, phát triển sản phẩm du lịch của một điểm đến không chỉ phục vụ cho khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa mà cả đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư xung quanh.
Phát triển sản phẩm du lịch là một quá trình mà trong đó các giá trị của một địa điểm cụ thể được sử dụng tối đa để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong nước, khách du lịch quốc tế và người dân địa phương.
1.2.1. Mục tiêu phát triển sản phẩm du lịch
Một điểm đến du lịch dù đã phát triển lâu năm hay mới phát triển đều phải tập trung phát triển sản phẩm của mình với các mục tiêu:
Thỏa mãn đầy đủ nhất nhu cầu của khách du lịch tại điểm đến: Để thỏa mãn các nhu cầu của khách tại điểm đến thì một số điều kiện nhất định cần phải được đảm bảo:
Điều kiện về tổ chức: Có cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; hệ thống các thể chế quản lý, các chính sách và cơ chế quản lý cũng như các tổ chức và doanh nghiệp chuyên trách về du lịch để thực hiện các hoạt động kinh doanh du lịch.
Điều kiện về hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, công viên, mạng lưới thương nghiệp, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống điện…
Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch về ăn, ở, đi lại,… như khách sạn, nhà hàng, hệ thống phương tiện vận chuyển, các khu giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện,… trong khu vực cơ sở du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác các tài nguyên du lịch, giữ vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Điều kiện về kinh tế: Việc đảm bảo nguồn vốn để duy trì và phát triển du lịch cũng như thiết lập các mối quan hệ kinh tế với đối tác trong việc cung ứng hàng hoá và dịch vụ đủ về số lượng đảm bảo về chất lượng. Từ đó tạo điều kiện tăng nguồn thu cho các tổ chức du lịch và cho địa phương.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch: Phát triển sản phẩm du lịch góp phần đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch, cung cấp cho khách du lịch những trải nghiệm thú vị đồng thời mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp du lịch và cộng đồng dân cư địa phương tại điểm đến. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Phát triển sản xuất, kinh doanh: Phát triển sản phẩm du lịch đồng thời kéo theo sự phát triển của các ngành phụ trợ khác, kích thích sự phát triển các hoạt động sản xuất hàng hóa, kinh doanh dịch vụ tại điểm đến.
Tạo thêm nhiều việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương: Phát triển sản phẩm du lịch tại một địa phương góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động trực tiếp cũng như gián tiếp, giúp thay đổi sinh kế hoặc tạo nguồn thu nhập thêm đáng kể cho dân cư địa phương.
1.2.2. Một số nguyên tắc phát triển sản phẩm du lịch
Để phát triển sản phẩm du lịch nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập của du lịch Việt Nam với khu vực và quốc tế, việc tập trung xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm du lịch, phát triển quy mô sản phẩm du lịch đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch cần dựa trên cơ sở một số nguyên tắc phát triển như sau:
Nguyên tắc đặc sắc, đảm bảo tính cạnh tranh: Khai thác các nét đặc trưng của thiên nhiên, văn hóa của cộng đồng địa phương là nền tảng để tạo ra sức hấp dẫn của các sản phẩm du lịch. Các tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đặc trưng riêng có của mỗi địa phương là nguồn “nguyên liệu đầu vào” đặc biệt để xây dựng và phát triển một hay nhiều sản phẩm du lịch độc đáo. Các sản phẩm du lịch này mang những đặc điểm độc đáo mà những nơi khác khó có thể có được. Cần phải trân trọng tính đa dạng của thiên nhiên, xã hội, môi trường của điểm đến, đảm bảo nhịp độ, quy mô và loại hình phát triển du lịch, để bảo vệ tính đa dạng của văn hóa địa phương. Lồng ghép các hoạt động du lịch vào các hoạt động của cộng đồng dân cư, ngăn ngừa sự thay thế các ngành nghề truyền thống lâu đời bằng các ngành nghề hiện đại, khuyến khích các đặc tính riêng của từng vùng, từng miền. Phát triển du lịch phù hợp với văn hóa bản địa, phúc lợi xã hội, nhu cầu của sự phát triển, đảm bảo quy mô, tiến độ của các loại hình du lịch nhằm gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau giữa du khách và dân cư sở tại.
Nguyên tắc phù hợp với nhu cầu khách: Bất kỳ một hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ nào muốn tồn tại và phát triển đều phải đảm bảo nguyên tắc phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tìm hiểu nhu cầu, xu hướng của khách du lịch và nghiên cứu thị trường để tìm ra nguồn khách, thị trường mục tiêu, từ đó xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp nhằm đẩy mạnh và phát triển kinh doanh du lịch. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Nguyên tắc lợi ích kinh tế: Bất cứ đầu tư xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch nào cũng cần phải xét đến những tác động của nó đối với nền kinh tế. Với tính đặc thù liên ngành, phát triển không phải chỉ riêng du lịch mà kéo theo nhiều lĩnh vực khác, trong lĩnh vực du lịch, việc hỗ trợ cho ngành nghề khác không chỉ các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đơn vị được hỗ trợ nhiều, dẫn đến hỗ trợ kinh tế cho địa phương. Nói cách khác, ngành Du lịch làm nền cho sự đa dạng hóa bằng kinh tế bằng hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Đầu tư cho du lịch, không chỉ là sản phẩm du lịch, khu dự án, còn là sơ sở hạ tầng du lịch, cơ sở hạ tầng địa phương, mang lại lợi ích cho nhiều thành phần kinh tế nhân dân sở tại.
Nguyên tắc bảo tồn tài nguyên và bền vững: Khi khai thác tài nguyên du lịch cần bảo đảm nguyên tắc bảo tồn và gìn giữ môi trường, duy trì sự cân bằng sinh thái, nghiêm cấm việc phá hoại cảnh quan môi trường nhất là các tài nguyên du lịch có giá trị đặc biệt. Phát triển sản phẩm du lịch cần ngăn chặn sự phá hoại tới nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, nhân văn, phát triển và thực thi chính sách môi trường hợp lý trên các lĩnh vực của du lịch. Thực thi nguyên tắc phòng ngừa, tôn trọng các nhu cầu của người dân địa phương, bảo vệ và ủng hộ việc thừa hưởng di sản văn hóa dân tộc, triển khai các hoạt động du lịch có trách nhiệm và đạo đức, kiên quyết bài trừ các hoạt động du lịch trái thuần phong mỹ tục.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm du lịch Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Thực tế có rất nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển việc sản phẩm du lịch tại điểm đến, cụ thể gồm 3 yếu tố cơ bản, quan trọng sau đây:
Cơ sở hạ tầng, các dịch vụ bổ trợ và môi trường dân cư: Sản phẩm du lịch không phải chỉ là một hoạt động được thực hiện riêng rẽ mà là một quá trình gắn kết với nhau của nhiều sản phẩm, hàng hóa do các chủ thể tại điểm đến cung cấp cho khách. Một sản phẩm du lịch trong một điểm đến là tập hợp của nhiều trải nghiệm mà khách có thể nhận được không chỉ là các cơ sở lưu trú để ở, các nhà hàng để ăn, uống, các điểm tham quan, các bảo tàng, công viên, nhà hàng, rạp chiếu phim, cửa hàng mua sắm… mà bao gồm cả các phương tiện vận chuyển, sự giao tiếp với cộng đồng dân cư, cách ứng xử của các cấp chính quyền… Vì thế, phạm vi và quy mô của sản phẩm du lịch là những gì thu hút khách du lịch đến và phục vụ khách với chất lượng cao.
Chính sách phát triển du lịch của một điểm đến:Chính sách phát triển du lịch phải được nằm trong các ưu tiên của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vùng hoặc tỉnh, thành phố trong đó có ngành Du lịch. Việc xác định cơ hội phát triển sản phẩm du lịch phải phù hợp với các chiến lược này.
Thị trường khách du lịch: Phát triển sản phẩm du lịch phải được xác định dựa trên sự hiểu biết về thị trường du lịch, xu hướng và thị hiếu khách du lịch. Vì vậy, nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm và tiếp thị là một sự kết nối liên tục trong quá trình phát triển sản phẩm du lịch. Sự liên kết giữa thị trường và sản phẩm phải tuân theo các quy luật cơ bản của thị trường, đó là các quy luật cung – cầu, quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị.
1.3. Khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật phát triển sản phẩm du lịch
1.3.1 Vai trò của biểu diễn văn hóa nghệ thuật trong phát triển sản phẩm du lịch
Trong những thập kỷ gần đây, nghệ thuật biểu diễn trở thành sản phẩm du lịch với nhiều hình thức độc đáo và hấp dẫn. Các di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng được phục hồi, trở thành dịch vụ phục vụ thường xuyên cho du khách như múa rối nước, ca trù, quan họ, bài chòi, biểu diễn văn hóa cồng chiêng … Bên cạnh hình thức dịch vụ xem biểu diễn còn xuất hiện các dịch vụ trải nghiệm cùng cộng đồng, hòa mình trong môi trường, không gian của di sản. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của các làng văn hóa du lịch, điểm du lịch cộng đồng, khu du lịch sinh thái, thì hoạt động của nhiều câu lạc bộ, đội văn nghệ quần chúng cũng phát triển khá mạnh. Hiện tượng giao lưu văn hóa, văn nghệ dân gian mô phỏng xuất hiện ở hầu hết các điểm, khu du lịch. Ý kiến tranh luận về văn hóa, văn nghệ dân gian mô phỏng cũng khác nhau. Một số nhà khoa học phê phán sự mô phỏng, làm mất bản sắc dân tộc, thậm chí còn lên án hiện tượng này phá hoại truyền thống văn hóa tộc người. Nhưng có nhà quản lý lại cho rằng, cần có các loại hình văn nghệ mô phỏng mới đáp ứng nhu cầu của du khách và sinh hoạt văn hóa cộng đồng hiện nay. Thực tiễn ở hầu hết các cuộc liên hoan, sự kiện du lịch, hội thi, hội diễn… những tiết mục văn nghệ dân gian mô phỏng là chủ đạo, là hình thức sáng tạo chủ yếu, thu hút đông đảo du khách và công chúng.
Khi các tài nguyên du lịch tự nhiên đang dần trở nên phổ biến và quen thuộc thì các sản phẩm du lịch sử dụng các tài nguyên đó cũng dễ trở nên đơn điệu. Để du lịch phát triển mạnh trở thành ngành kinh tế mũi nhọn thì bên cạnh các tài nguyên du lịch thiên nhiên cần khai thác nguồn tài nguyên mới, đặc biệt là văn hóa. Giữa du lịch và biểu diễn các giá trị văn hóa dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ tác động qua lại với nhau. Phát triển du lịch tại những nơi có nhiều giá trị văn hóa truyền thống là điều kiện tốt để phát triển kinh tế xã hội ở địa phương đó theo hướng tích cực và bền vững. Ngược lại, các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc cũng tạo nên sức hấp dẫn mới lạ thu hút khách du lịch và có những tác động mạnh mẽ trở lại đối với du lịch trong mục tiêu phát triển chung.
1.3.2 Mối liên hệ giữa việc khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật với phát triển sản phẩm du lịch Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Muốn phát triển du lịch dựa trên việc khai thác biểu diễn văn hóa truyền thống cần có những cơ sở nhất định được coi là tiền đề. Một trong những tiền đề quyết định đó chính là văn hóa. Sự tồn tại lâu bền của văn hóa truyền thống chính là yếu tố quyết định cho sự phát triển du lịch gắn với cộng đồng bản địa. Văn hóa truyền thống được cộng đồng tạo dựng và gìn giữ, trao truyền liên tục cho các thế hệ tiếp theo. Nó được xem như là một phần giá trị vốn cho phát triển du lịch.
Ngược lại, phát triển du lịch là một trong những biện pháp cơ bản hữu hiệu giúp cho công tác bảo tồn văn hóa đạt hiệu quả cao. Phát triển du lịch góp phần quảng bá văn hóa, hình ảnh của địa phương thông qua sự trải nghiệm của du khách và ấn tượng của họ về văn hóa địa phương. Hoạt động du lịch biến các di sản văn hóa bản địa thành hàng hóa, phát triển các giá trị của văn hóa theo hướng tích cực, nâng các giá trị văn hóa lên một tầm cao mới không chỉ góp phần nâng cao đời sống tinh thần mà còn nâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng địa phương.
Với hoạt động biểu diễn các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống; âm thanh, hình ảnh trực quan sinh động được hiện lên rõ nét; thể hiện nét hùng tráng nhưng cũng không kém phần lãng mạn, giúp cho khán giả thấy được bức tranh cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Du lịch là đại sứ văn hóa, là cầu nối du khách nước ngoài đến với Việt Nam cũng như khách du lịch từ các địa phương trong cả nước. Những địa danh, danh lam, thắng cảnh đẹp và hấp dẫn, những món ăn ngon, những dịch vụ tốt, và đặc biệt là những nét văn hóa độc đáo riêng có của địa phương là những tiêu chí thu hút khách du lịch. Vì vậy, biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cũng là một trong số các yếu tố thu hút khách, thúc đẩy nhu cầu du lịch.
1.3.3. Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật
Parasuraman và cộng sự, (1985, trang 47) đưa ra danh sách 10 yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ bao gồm: Độ tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực, sự tiếp cận, tính lịch sự, giao tiếp, uy tín, an ninh, sự thấu hiểu và yếu tố hữu hình. Ông và các đồng nghiệp thừa nhận sự tồn tại của sự chồng chéo giữa 10 yếu tố quyết định này.
Cho đến năm 1988, Parasuraman và các đồng nghiệp đã đề xuất năm yếu tố quyết định dịch vụ trong mô hình SERVQUAL dựa trên 10 yếu tố quyết định ban đầu mà họ đưa ra năm 1985:
Hữu hình: Các tiện nghi vật chất, thiết bị và diện mạo con người:
- + Thiết bị hiện đại.
- + Tiện nghi hấp dẫn.
- + Diện mạo chuyên nghiệp và dễ thương của nhân viên.
- + Nguyên liệu tốt để phục vụ.
Sự tin cậy: Là khả năng thực hiện dịch vụ đã hứa hẹn một cách đáng tin cậy và chính xác. Yếu tố này có thể được phân biệt bằng các biến sau:
- + Cung cấp dịch vụ như đã hứa
- + Tập trung vào giải quyết vấn đề của khách hàng
- + Cung cấp dịch vụ nhanh chóng
- + Cung cấp dịch vụ đúng giờ
- + Duy trì các bản ghi dịch vụ hoàn hảo
Tính đáp ứng: Thiện chí giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng. Cụ thể, có các biến bao gồm:
- + Thông báo thời gian dịch vụ đến khách hàng
- + Dịch vụ nhanh chóng cho khách hàng
- + Sẵn sàng giúp đỡ khách hàng
- + Sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu của khách
Sự đảm bảo: Kiến thức và tính lịch sự của nhân viên và khả năng của họ trong việc tạo ra sự tin tưởng và sự tự tin. Đặc biệt là:
- + Nhân viên là người tạo ra và củng cố lòng tin của khách hàng.
- + Khách hàng cảm thấy an toàn khi giao dịch + Tính lịch sự của nhân viên.
- + Nhân viên có đủ kiến thức dịch vụ để trả lời các câu hỏi của khách hàng.
Sự cảm thông: Quan tâm, chú ý đến từng cá nhân khách hàng. Bao gồm các khía cạnh sau:
- + Quan tâm đến từng cá nhân khách hàng.
- + Nhân viên phải thể hiện sự quan tâm khi giao tiếp với khách hàng.
- + Chú ý đến những mối quan tâm của khách hàng.
- + Hiểu các nhu cầu của khách hàng
- + Thời gian phục vụ thuận tiện
Bảy nhân tố nguyên gốc bao gồm giao tiếp, sự tin cậy, an ninh, năng lực, tính lịch sự, sự thấu hiểu và khả năng tiếp cận được bao gồm trong hai yếu tố sau cùng trên đây (sự đảm bảo và sự cảm thông) do đó, mặc dù SERVQUAL chỉ có năm nhân tố riêng biệt, chúng bao gồm các khía cạnh của tất cả mười nhân tố nguyên gốc ban đầu (Parasuraman và cộng sự, 1998, trang 23-24).
Ngoài các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ, một số yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật trong việc phát triển sản phẩm du lịch bao gồm: Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Cơ sở vật chất, địa điểm biểu diễn: Nơi biểu diễn có dễ dàng tiếp cận không; diện tích, không gian biểu diễn được bố trí như thế nào; các công trình, tiện nghi bổ trợ có đảm bảo phục vụ khách không.
- Nhạc công và diễn viên: Khả năng biểu diễn của các nhạc công, diễn viên như thế nào; thái độ của họ có thân thiện, dễ mến không.
- Chương trình biểu diễn: Kết cấu chương trình biểu diễn như thế nào; số lượng và chủng loại các tiết mục có đa dạng, có làm toát lên được bản sắc văn hóa truyền thống không; các tiết mục biểu diễn có đảm bảo tính chân xác của văn hóa truyền thống hay không; thời lượng của buổi biểu diễn có hợp lý không.
- Tổ chức và quản lý hoạt động biểu diễn: Công tác quản lý của buổi biểu diễn như thế nào; có đảm bảo an toàn, thoải mái cho du khách trải nghiệm hay không.
- Bản thân khách du lịch: Mục đích của khách tham gia thưởng ngoạn dịch vụ biểu diễn văn hóa truyền thống là gì; khách du lịch có nhiệt tình và thích thú khi tham gia giao lưu văn hóa truyền thống hay không; nếu du khách thực sự yêu thích dịch vụ thì đây là một kênh quảng bá dịch vụ cực kỳ hiệu quả.
Các công ty du lịch: Dịch vụ biểu diễn văn hóa truyền thống phát triển một phần cũng nhờ vào các công ty du lịch – những đơn vị tổ chức đưa dịch vụ biểu diễn văn hóa truyền thống vào trong các tour du lịch.
1.3.4. Kinh nghiệm khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa dân tộc để phát triển du lịch trên thế giới và ở một số địa phương trong nước
1.3.4.1. Biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống Hàn Quốc
Tác giả Trịnh Lê Anh và Đặng Thúy Quỳnh (2024) đã chia sẻ kinh nghiệm về biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống của Hàn Quốc: “Ghé qua Hàn Quốc khách du lịch sẽ ngỡ ngàng bởi “Miso Show” bởi đây là một trong những chương trình biểu diễn hội tụ tất cả những vẻ đẹp tinh tế nhất của nghệ thuật biểu diễn Hàn Quốc. Chương trình biểu diễn tái hiện lần lượt các điệu múa truyền thống, những loại nhạc cụ tiêu biểu và trò chơi dân gian, những tích truyện cổ dân gian Hàn Quốc. Đây là món quà mà người Hàn Quốc rất hãnh diện khi giới thiệu với bạn bè quốc tế trong những hội nghị diễn ra tại Seoul. Kể cả khi chưa có điều kiện tham quan đầy đủ đất nước con người của điểm đến thì với những show trình diễn công phu này, du khách hoàn toàn có thể có một hiểu biết đầy đủ về nơi họ đặt chân đến, ngầm gợi cầu cho sự trở lại thăm thú và trải nghiệm những lần tiếp theo”.
1.3.4.2. Dịch vụ biểu diễn Ca Huế trên sông Hương tại thành phố Huế
Sau hơn 20 năm được đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch đến Huế, dịch vụ biểu diễn ca Huế nói chung, biểu diễn ca Huế trên sông Hương nói riêng đã phát huy được vai trò to lớn của mình trong việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch ở Huế. Loại hình dịch vụ văn hóa truyền thống độc đáo này đã thu hút một lượng lớn khách du lịch trong nước và quốc tế tham gia thưởng thức. Số lượng khách du lịch thưởng thức dịch vụ ca Huế trên sông Hương trong tổng số khách du lịch đến Huế không ngừng tăng qua các năm. Theo số liệu từ Sở VHTTDL Thừa Thiên Huế và Ban quản lý dịch vụ thuyền du lịch, năm 2006, có khoảng 14,81% số khách du lịch đến Huế thưởng thức ca Huế trên sông Hương. Con số này năm 2008 đạt 16,60% và tăng lên 18,75% vào năm 2017 và năm 2018 là 19,34% tương ứng với 310.204 lượt khách thưởng thức. Dịch vụ biểu diễn ca Huế trên sông Hương đã làm cho sản phẩm du lịch ở thành phố Huế đa dạng hơn; thay đổi sinh kế cho một lượng lớn người dân trước đây sống bằng nghề khai thác cát sạn và đánh bắt thủy sản trên sông Hương; tăng nguồn thu đáng kể cho du lịch Thừa Thiên Huế; và góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của ca Huế.
1.3.4.3. Dịch vụ biểu diễn múa rối nước ở đồng bằng Bắc bộ
Múa rối nước được hình thành từ lâu đời và phát triển cực thịnh vào thời kỳ thế kỷ XI-kỷ nguyên Đại Việt. Múa rối nước thu hút mọi tầng lớp, độ tuổi, thành phần khán giả. Nói đến múa rối nước là nói đến Việt Nam. Múa rối nước chứa đựng các giá trị tiềm ẩn đặc sắc về văn hóa nghệ thuật, thẩm mỹ và lịch sử trong đó giá trị văn hóa nghệ thuật được thể hiện qua các yếu tố cấu thành và đặc trưng của nghệ thuật múa rối nước. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Chính vì khả năng truyền cảm lôi cuốn lòng người, rối nước hiện nay vẫn đang được duy trì cả ở sân khấu múa rối truyền thống (với 14 phường rối nước dân gian) và sân khấu múa rối chuyên nghiệp (04 nhà hát múa rối) và các điểm tham quan, bảo tồn (Bảo tàng, các khu du lịch sinh thái). Các đơn vị này đều được đánh giá tốt về mặt chuyên môn và có chỗ đứng trong lòng khán giả. So với các nghệ thuật dân gian truyền thống khác, múa rối nước có duyên nhiều hơn với du lịch bởi múa rối nước vượt qua được rào cản ngôn ngữ để đến với du khách.
Để khai thác tốt hơn nữa loại hình nghệ thuật này phục vụ phát triển du lịch, một số vấn đề được đặt ra liên quan đến cơ cấu tổ chức-quản lý; vấn đề cơ sở vật chất-kỹ thuật; nhân lực; xây dựng sản phẩm du lịch; tuyên truyền quảng bá và thu hút du khách; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của nghệ thuật múa rối nước trong du lịch. Hiện nay, với sự quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng với các cơ quan chuyên môn, các đơn vị quản lý Nhà nước tại địa phương, múa rối nước và du lịch có được sự quan tâm thuận lợi. Ngoài ra múa rối nước còn nhận được sự quan tâm hơn nữa từ phía các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, có điều kiện bảo tồn và phát huy giá trị của mình.
Vấn đề nhân lực đang là thực trạng không nhỏ, đặc biệt là tại các sân khấu múa rối nước truyền thống. Với kho tàng nội dung phục vụ rối nước phong phú, mỗi phường rối có từ 15 – 20 tiết mục. Tuy nhiên, việc trùng lặp các tiết mục tương đối phổ biến làm giảm tính đặc sắc đối với du khách. Các đơn vị rối, ngoài việc tìm tòi học lại các vốn cổ qua thời gian bị thất truyền, việc làm mới mình bằng sự khác biệt về kỹ thuật biểu diễn, cập nhật tính thời đại kết hợp với truyền thống nhằm đem lại sự hấp dẫn khác biệt.
Một vấn đề quan trọng của việc bảo tồn và phát triển được nghệ thuật múa rối nước chính là việc làm thế nào để quảng bá múa rối nước đến với công chúng. Hiện nay, các cơ quan Nhà nước có quan tâm đến công tác tuyên truyền quảng bá nghệ thuật múa rối nước thông qua việc tổ chức và tham gia các liên hoan. Các đơn vị múa rối ngoài việc đầu tư đến việc xây dựng sản phẩm du lịch khác biệt, họ còn tự mình xây dựng trang thông tin điện tử, in ấn tờ rơi, chủ động liên hệ đối tác và tổ chức các gánh rối di động đem các tiết mục đi khắp các vùng miền.
Múa rối nước đang có vị thế quan trọng thể hiện sức hấp dẫn, chỗ đứng vững chắc trong lòng khán giả, đặc biệt là khách du lịch. Định hướng phát triển bền vững, phát triển gắn với bảo tồn được ưu tiên chú trọng hàng dầu. Bởi với xuất phát điểm từ trong dân gian, thì nghệ thuật dân gian truyền thống được bảo tồn tốt nhất trong chính môi trường tự nhiên, xã hội nơi sinh ra nghệ thuật ấy. Đó chính là các làng quê, với những ngày hội quê hương; với cây đa giếng nước, sân đình trong không gian thiêng của lễ và nô nức của hội. Vai trò của Du lịch là đưa du khách đến gần hơn với không khí ấy, theo một cách nào đó.
1.3.5. Một số bài học kinh nghiệm về khai thác giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống trong phát triển du lịch. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Thứ nhất là phải tôn trọng tính chân xác của văn hóa nghệ thuật truyền thống, không thương mại hóa bất chấp giá trị truyền thống, làm thay đổi hình thức hoặc/và nội dung của các hoạt động văn hóa truyền thống nhằm chạy theo sở thích của khách du lịch. Luôn tôn trọng giá trị văn hóa truyền thống, tôn trọng khán giả thông qua việc sử dụng đúng và đủ các loại nhạc cụ, đạo cụ, trang phục biểu diễn; thực hiện đúng các tiết mục, chương trình biểu diễn đã được đăng ký và cấp phép.
Thứ hai là phải đảm bảo các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực. Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là yếu tố rất quan trọng trong việc phục vụ khách du lịch khi khai thác các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống.
Đảm bảo khả năng tiếp cận thuận lợi, sức chứa của không gian phục vụ khách. Ngoài ra, nguồn nhân lực cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng cần được quan tâm. Nguồn nhân lực ở đây bao gồm cả diễn viên biểu diễn lẫn những người tham gia phục vụ khách. Diễn viên biểu diễn phải có am hiểu sâu về loại hình văn hóa nghệ thuật đang được biểu diễn phục vụ khách du lịch đồng thời có khả năng biểu diễn thành thục.
Thứ ba là tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá kết hợp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống.
1.4. Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ biểu diễn văn hóa nghệ thuật truyền thống
Mô hình SERVQUAL mô tả chất lượng dịch vụ như là sự sai lệch giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng về dịch vụ. Trong mô hình này, những người được hỏi phải trả lời các câu hỏi liên quan đến cả mong đợi và cảm nhận (Parasuraman và cộng sự, 1988). Sự khác biệt giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng được xem như là khoảng cách quyết định cảm nhận của khách về chất lượng dịch vụ.
Mô hình này giúp đánh giá chất lượng dịch vụ cũng như thực trạng của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phục vụ du lịch tại Đà Lạt. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Sơ đồ 1.1. Mô hình Servqual
Theo sơ đồ này, mong đợi của khách hàng cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài. Năm khoảng cách chỉ ra sự khác biệt giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng như là chất lượng dịch vụ cảm nhận. (Kumar và cộng sự, 2009, trang 214) và đề tài tập trung vào khoảng cách này, sự sai lệch giữa mong đợi và cảm nhận của khách du lịch đối với dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng ở Đà Lạt.
Mặc dù mô hình SERVQUAL vẫn còn bị các nhà nghiên cứu chỉ trích về tính ứng dụng của nó (Buttle, 1996; Cronin và Taylor, 1992), nó vẫn được coi là phù hợp trong ngữ cảnh của dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Mô hình này được sử dụng để làm cơ sở đánh giá chất lượng dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên ở Đà Lạt thông qua mong đợi và cảm nhận của khách du lịch đối với dịch vụ này để thấy rõ hơn thực trạng việc khai thác dịch vụ. Nghiên cứu trước tiên tiếp cận chất lượng dịch vụ từ quan điểm và cảm nhận của khách du lịch và năm nhân tố được Parasuraman và cộng sự (1988) đề xuất bao gồm Hữu hình, Sự tin cậy, Sự đáp ứng, Sự đảm bảo và Sự cảm thông được sử dụng để đo lường chất lượng dịch vụ.
22 biến của mô hình SERVQUAL không được giữ nguyên gốc ban đầu trong nghiên cứu này, chúng được điều chỉnh và bổ sung để phù hợp với ngữ cảnh, và tổng số biến là 28 để đo lường sự thỏa mãn của khách du lịch và chất lượng dịch vụ. Các biến được xây dựng dựa theo 5 yếu tố của mô hình SERVQUAL và căn cứ vào thực tế điều kiện thực hiện dịch vụ biểu diễn VHCCTN của các đơn vị cung cấp dịch vụ từ cơ sở vật chất kỹ thuật đến nội dung chương trình, cách thức tổ chức, các điều kiện vệ sinh an toàn và các dịch vụ bổ sung khác. Các biến đo lường được tổng hợp như sơ đồ sau đây.
Tiểu kết chương
Trên cơ sở lý thuyết chung về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng ta đã có cái nhìn tổng quát về đặc điểm của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có mối liên hệ tương hỗ với phát triển du lịch tại Đà Lạt. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong việc phát triển du lịch tại Đà Lạt cũng đã được đề cập để làm cơ sở cho nghiên cứu. Một số kinh nghiệm về khai thác dịch vụ biểu diễn văn hóa dân tộc ở một số địa phương trong nước cũng được kể đến bao gồm dịch vụ biểu diễn ca Huế trên sông Hương ở thành phố Huế và dịch vụ biểu diễn múa rối nước ở đồng bằng Bắc Bộ. Để phục vụ đề tài, tác giả đã tìm hiểu các nghiên cứu trước đây liên quan đến không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trong hoạt động du lịch của các địa phương ở Tây Nguyên. Luận văn: Khai thác biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng biểu diễn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Pingback: Luận văn: Giải pháp nhằm thu hút khách du lịch Nga đến Phú Yên