Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Trong chương này sẽ trình bày tổng quát tình hình các biến số độc lập và phụ thuộc có sự tăng trưởng hay sụt giảm qua các năm từ 2011 – 2022. Sau đó chương này sẽ trình bày kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và sự tương quan của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Tiếp đó là trình bày về kết quả nghiên cứu thực nghiệm thông qua hàng loạt các kiểm định liên quan đến các mô hình hồi quy, kiểm định sự phù hợp mô hình và các khuyết tật mô hình.
4.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu và tính tương quan của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
4.1.1. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu
Dựa trên việc thu thập số liệu của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam thì tình hình tăng trưởng của ROA và ROE được biểu diễn dưới đồ thị như sau:
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn tốc độ tăng trưởng của ROA, ROE của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam
Dựa trên kết quả biểu đồ trên ta thấy rằng cả hai chỉ tiêu ROA, ROE có xu hướng tăng trong giai đoạn 2011 – 2022. Trong đó, ta thấy đối với chỉ tiêu ROA thì tốc độ tăng trưởng có xu hướng tăng nhẹ qua các năm và không có sự khác biệt nhiều về khoảng cách tăng trưởng. Từ năm 2011 đến năm 2022 thì tốc độ tăng trưởng tăng từ 0,97% đến 1,29%, tuy nhiên, có giai đoạn từ 2011 đến 2015 thì ROA có xu hướng giảm đến năm năm 2015 chỉ còn 0,49% nguyên nhân đến từ việc trong giai đoạn này thì NHNN có xu hướng siết quy định về tín dụng của các NHTMCP vì nợ xấu và nợ quá hạn qua các năm này có xu hướng gia tăng. Bắt đầu từ 2016 trở đi thì ROA có xu hướng tăng trưởng trở lại, mặc dù trong giai đoạn 2020 – 2021 chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid – 19 thì các NHTMCP vẫn có xu hướng kiếm được LN từ HĐKD của mình. Cùng với đó là tình hình ROE cũng có nét tương đồng với ROA trong giai đoạn từ năm 2011 – 2015 có xu hướng giảm từ 9,32% xuống 6,35%. Tuy nhiên từ năm 2016 trở đi thì xu hướng ROE tăng mạnh qua các năm và cao nhất vào năm 2021 là 15%, mặc dù chịu ảnh hưởng bởi đại dịch Covid – 19 nhưng các NHTMCP vẫn thực hiện các HĐKD theo quy định với hoạt động tín dụng, ngoài ra còn tạo thêm nhiều thu nhập từ các hoạt động đa dạng hóa thu nhập khác. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Ngoài ROA, ROE thì các chỉ tiêu thuộc nội tại ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế cũng được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến nghiên cứu
| Biến | Trung bình cộng | Độ lệch chuẩn | Giá trị nhỏ nhất | Giá trị lớn nhất |
| ROA | 0,86% | 0,76% | -5,51% | 3,21% |
| ROE | 10,16% | 8,69% | -82% | 26,82% |
| SIZE | 32,7717 | 1,2428 | 30,3178 | 35,5263 |
| LEV | 8,91% | 3,90% | 2,69% | 23,84% |
| ME | 1,70% | 0,54% | 0,42% | 5,20% |
| LIQ | 89,81% | 17,85% | 37,19% | 148,67% |
| LLR | 2,15% | 1,30% | 0,34% | 8,81% |
| DIVER | -0,5688 | 14,6410 | -248,1587 | 0,4999 |
| GDP | 5,85% | 1,57% | 2,58% | 8,02% |
| CPI | 4,98% | 4,64% | 0,63% | 18,68% |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên kết quả bảng 4.1 ta thấy ROA với giá trị trung bình là 0,86% với độ lệch chuẩn là 0,76% nên sẽ không có sự khác biệt quá lớn tại các NHTMCP. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Ngoài ra ta có thể thấy giá trị nhỏ nhất là -5,51% của TPB năm 2011 và giá trị lớn nhất là 3,21% của TCB năm 2022. Tương tự cho ROE thì giá trị trung bình à 10,16% và độ lệch chuẩn 8,69% thì cho thấy sự khác biệt của các NHTMCP trên mẫu tổng thể có thể chênh lệch nhau nhiểu. Ngoài ra, ROE nhỏ nhất là -82% của TPB năm 2011 và lớn nhất là 26,82% của ACB năm 2011.
Đối với quy mô ngân hàng (SIZE) thì giá trị Log(Tổng tài sản) với giá trị trung bình là 32,7717 với độ lệch chuẩn là 1,2428 cho thấy các ngân hàng không có sự khác biệt quá lớn với nhau. Trong đó, giá trị nhỏ nhất của SIZE là 30,3178 của SGB năm 2013 và giá trị lớn nhất là 35,5263 của BIDV năm 2022. Ngoài ra, các ngân hàng có sở hữu của Nhà nước như VCB, AGB, CTG cũng có giá trị quy mô tổng tài sản lớn nhất trong hệ thống qua các năm.
Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (LEV) thì giá trị trung bình là 8,91% với độ lệch chuẩn là 3,91% cho thấy mức chênh lệch của các NHTMCP trong hệ thống khá lớn đối với đòn bẩy tài chính. Trong đó, giá trị nhỏ nhất là 2,69% của SCB năm 2020 và lớn nhất là 23,83% của SGB năm 2013.
Tỷ lệ hiệu quả quản lý (ME) thì giá trị trung bình là 1,7% và độ lệch chuẩn là 0,54% cho thấy mức chênh lệch của các NHTMCP trong hệ thống không lớn đối với hiệu quả quản lý. Trong đó, giá trị nhỏ nhất là 0,42% của SCB năm 2011 và giá trị lớn nhất là 5,20% của TPB năm 2011.
Tỷ lệ thanh khoản (LIQ) thì giá trung bình là 89,81% và độ lệch chuẩn là 17,85% cho thấy mức chênh lệch của các NHTMCP trong hệ thống khá lớn đối với tỷ lệ thanh khoản. Trong đó giá trị nhỏ nhất là 37,19% của MSB năm 2014 và giá trị lớn nhất là 148,67% của VPB năm 2022.
Tỷ lệ dự phòng RR tín dụng (LLR) thì giá trị trung bình laf,15% với độ lệch chuẩn là 1,3% cho thấy các ngân hàng không có sự khác biệt quá lớn với nhau. Trong đó giá trị nhỏ nhất là 0,34% của SCB năm 2015 và giá trị lớn nhất là 8,81% của SHB năm 2012.
Đa dạng hóa thu nhập (DIVER) thì giá trị trung bình là -0,5688 với độ lệch chuẩn là 14,6410 và giá trị nhỏ nhất là -248,159 của TPB năm 2011, giá trị lớn nhất là 0,4999 của MSB năm 2014.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trung bình mỗi năm là 5,85% từ 2011 – 2022 với độ lệch chuẩn là 1,57% trong đó năm 2021 là tỷ lệ thấp nhất với 2,58% và tỷ lệ thấp nhất 8,02% vào năm 2022. Tỷ lệ lạm phát (CPI) có giá trị trung bình mỗi năm là 4,98% với độ lệch chuẩn là 4,64% trong đó năm 2015 với tỷ lệ thấp nhất là 0,63% và năm 2011 với tỷ lệ cao nhất là 18,68%.
4.1.2. Phân tích sự tương quan của các biến độc lập trong mô hình
Để phân tích sự tương quan của các biến độc lập trong mô hình thì ta dựa trên kết quả của ma trận sau:
Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan của các biến độc lập
| SIZE | LEV | ME | LIQ | LLR | DIVER | GDP | CPI | |
| SIZE | 1,0000 | |||||||
| LEV | -0,6185 | 1,0000 | ||||||
| ME | -0,2922 | 0,4175 | 1,0000 | |||||
| LIQ | 0,1569 | 0,1369 | 0,1553 | 1,0000 | ||||
| LLR | -0,2379 | 0,1616 | 0,1098 | 0,0027 | 1,0000 | |||
| DIVER | 0,0945 | 0,0331 | -0,3857 | 0,1031 | 0,0666 | 1,0000 | ||
| GDP | -0,0203 | -0,0345 | 0,0324 | -0,0297 | -0,0270 | -0,0154 | 1,0000 | |
| CPI | -0,2519 | 0,1738 | 0,0556 | -0,0060 | 0,2529 | -0,1776 | 0,0389 | 1,0000 |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Bảng 4.2 mô tả hệ số tương quan là hệ số được dùng để chỉ mối quan hệ giữa các biến được sử dụng trong mô hình. Kết quả phân tích ma trận tự tương quan giữa các biến trong 2 mô hình cho thấy, không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các cặp biến độc lập xuất hiện trong mô hình, không có cặp biến nào có hệ số tự tương quan lớn hơn 0,8. Do đó, tác giả kết luận rằng không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng giữa các cặp biến độc lập trong mô hình.
4.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
4.2.1. Kết quả mô hình hồi quy đa biến
Để đánh giá tác động của các nhân tố đến TSSL của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022, tác giả đã sử dụng các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM với biến phụ thuộc là ROA, ROE.
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả hồi quy Pooled OLS, FEM và REM
| Tên biến | Biến phụ thuộc ROA | Biến phụ thuộc ROE | ||||
| OLS | FEM | REM | OLS | FEM | REM | |
| SIZE | 0,0027*** | 0,0055*** | 0,0043*** | 0,0261*** | 0,0576*** | 0,0413*** |
| LEV | 0,0915*** | 0,0986*** | 0,0982*** | 0,0084 | -0,0070*** | 0,0774 |
| ME | 0,280*** | 0,159* | 0,149* | 3,439*** | 1,508 | 2,176*** |
| LIQ | 0,0092*** | 0,0073*** | 0,0091*** | 0,101*** | 0,0687*** | 0,0699*** |
| LLR | -0,133*** | -0,0798*** | -0,0911*** | -1,644*** | -0,900*** | -1,071*** |
| DIVER | 0,0003*** | 0,0003*** | 0,0003*** | 0,0042*** | 0,0040*** | 0,0040*** |
| GDP | -0,0326 | -0,0274* | -0,028* | -0,303 | -0,247 | -0,146 |
| CPI | 0,032*** | 0,0463*** | 0,0395*** | 0,354*** | 0,518*** | 0,367*** |
| cons | -0,0965*** | -0,188*** | -0,151*** | -0,866*** | -1,862*** | -0,973*** |
| R-square | 65,90% | 79,11% | 78,64% | 68,23% | 79,23% | 78,49% |
| Với mức ý nghĩa tương ứng * là 10%, ** là 5% và *** là 1% | ||||||
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên kết quả bảng 4.3 ta có thể thấy đối với biến phụ thuộc là ROA thì cả ba mô hình tác động Pooled OLS, FEM và REM thì hệ số xác định đều lớn hơn 65%. Mặt khác, các biến SIZE, LEV, ME, LIQ, LLR, DIVER, CPI đều ảnh hưởng đến ROA với mức ý nghĩa 1% hay 10%. Tuy nhiên, chỉ có biến GDP thì đối với mô hình Pooled OLS thì không có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA trong khi mô hình FEM, REM thì GDP có ý nghĩa thống kê với mức 10% tác động đến ROA. Nhưng nhìn chung, các biến độc lập tại ba mô hình hồi quy đều có sự tương đồng cao về chiều tác động đến ROA.
Đối với biến phụ thuộc là ROE thì cả ba mô hình tác động Pooled OLS, FEM và REM thì hệ số xác định đều lớn hơn 65%. Mặt khác, các biến SIZE, ME, LIQ, LLR, DIVER, CPI đều ảnh hưởng đến ROE với mức ý nghĩa 1%. Tuy nhiên, biến LEV thì chỉ có ý nghĩa thống kê 1% tác động đến ROE tại mô hình FEM và biến GDP thì không có ý nghĩa thống kê về tác động đến ROE tại cả ba mô hình.
Nhưng nhìn chung, các biến độc lập tại ba mô hình hồi quy đều có sự tương đồng cao về chiều tác động đến ROE.
Từ đó, ta có thể thấy về sự phù hợp đối với dữ liệu nghiên cứu thông qua sự tương đồng cao tại kết quả của ba mô hình hồi quy. Do đó, có thể dựa trên kết quả nghiên cứu này để tiến hành những kiểm định tiếp theo.
4.2.2. So sánh sự phù hợp giữa mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Để lựa chọn mô hình thích hợp để nghiên cứu hơn giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả sử dụng kiểm định Hausman. Giả thuyết kiểm định:
Giả thuyết H0: Không có tương quan giữa các biến độc lập và phần dư (mô hình REM phù hợp)
Giả thuyết H1: Có tương quan giữa các biến các biến độc lập và phần dư (mô hình FEM phù hợp)
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình FEM và REM
| Đối với biến phụ thuộc ROA | Đối với biến phụ thuộc ROE |
| Test: Ho: difference in coefficients not systematic | Test: Ho: difference in coefficients not systematic |
| chi2(6) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)
= 19,09 Prob>chi2 = 0,0144 |
chi2(6) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)
= 35,12 Prob>chi2 = 0,0000 |
| Giá trị P – value là 0,0144 thấp hơn 0,05 nên chấp nhận H0 bác bỏ H1. Hay nói cách khác mô hình FEM phù hợp nghiên cứu hơn | Giá trị P – value là 0,0000 thấp hơn 0,05 nên chấp nhận H0 bác bỏ H1. Hay nói cách khác mô hình FEM phù hợp nghiên cứu hơn |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên kết quả 4.4 ta thấy rằng kiểm định Hausman để so sánh sự phù hợp giữa mô hình FEM và REM đối với biến phụ thuộc là ROA và ROE thì kết quả cho thấy mô hình FEM phù hợp hơn REM. Mặt khác, trong ba mô hình tác động thì mô hình FEM có tính vững hơn mô hình Pooled OLS và REM, do đó, kết quả kiểm định này ủng hộ cho việc chọn FEM để thực hiện các kiểm định tiếp theo về khuyết tật của mô hình.
4.2.3. Kiểm định các khuyết tật của mô hình tác động cố định FEM
Tại đây sẽ tiến hành kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình FEM với hai trường hợp biến phụ thuộc là ROA và ROE.
4.2.3.1. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi Giả thuyết của kiểm định:
- H0: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình FEM
- H1: Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình FEM
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi của mô hình tác động cố định FEM
| Đối với biến phụ thuộc là ROA | Đối với biến phụ thuộc là ROE |
| H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i | H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i |
| chi2 (30) = 540,83 | chi2 (30) = 188,77 |
| Prob>chi2 = 0,0000 | Prob>chi2 = 0,0000 |
| Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05
Vì vậy, bác bỏ H0 chấp nhận H1. Xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM. |
Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05
Vì vậy, bác bỏ H0 chấp nhận H1 Xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình FEM. |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Dựa trên kết quả bảng 4.5 ta thấy rằng cả hai mô hình, FEM đối với biến phụ thuộc là ROA và ROE đều gặp khuyết tật phương sai thay đổi.
4.2.3.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan
Giả thuyết của kiểm định:
- H0: Không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM
- H1: có hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan
| Đối với biến phụ thuộc là ROA | Đối với biến phụ thuộc là ROE |
| Wooldridge test for autocorrelation in panel data | Wooldridge test for autocorrelation in panel data |
| H0: no first order autocorrelation
F( 1,29) = 28,449 Prob > F = 0,0000 |
H0: no first order autocorrelation
F( 1,29) = 75,139 Prob > F = 0,0000 |
| Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05
Vì vậy bác bỏ H0 chấp nhận H1 Xảy ra hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM. |
Prob>chi2 = 0,0000 thấp hơn 0,05
Vì vậy bác bỏ H0 chấp nhận H1 Xảy ra hiện tượng tự tương quan trong mô hình FEM. |
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả
Dựa trên kết quả bảng 4.6 ta thấy rằng cả hai mô hình FEM đối với biến phụ thuộc là ROA và ROE đều gặp khuyết tật hiện tượng tự tương quan.
4.2.3.3. Khắc phục các khuyết tật trong mô hình tác động cố định FEM
Sau quá trình thực hiện các kiểm định nhằm phát hiện các khuyết tật phương sai thay đổi và tự tương quan của mô hình FEM thì tiếp đó cần phải khắc các hiện tượng này để thu được kết quả hồi quy cuối cùng theo phương pháp FGLS. Kết quả được trình bày dưới bảng sau: Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình bằng phương pháp FGLS
| Biến độc lập | Biến phụ thuộc ROA | Biến phụ thuộc ROE | ||||
| Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | Giá trị P-value | Hệ số hồi quy | Sai số chuẩn | Giá trị P-value | |
| SIZE | 0,0024*** | 0,0003 | 0,000 | 0,0299*** | 0,0038 | 0,000 |
| LEV | 0,0963*** | 0,0096 | 0,000 | 0,0774 | 0,1040 | 0,457 |
| ME | 0,113* | 0,0497 | 0,023 | 2,176*** | 0,5968 | 0,000 |
| LIQ | 0,0076*** | 0,0015 | 0,000 | 0,0699*** | 0,0170 | 0,000 |
| LLR | -0,0936*** | 0,0121 | 0,000 | -1,071*** | 0,1551 | 0,000 |
| DIVER | 0,0002*** | 0,0001 | 0,000 | 0,0040*** | 0,0002 | 0,000 |
| GDP | -0,0131 | 0,0076 | 0,084 | -0,146 | 0,0941 | 0,120 |
| CPI | 0,0318*** | 0,0041 | 0,000 | 0,367*** | 0,0492 | 0,000 |
| cons | -0,0873*** | 0,0115 | 0,000 | -0,937*** | 0,1270 | 0,000 |
| Số quan sát | 288 | 288 | ||||
| Wald chi2(8) | 590,39 | 941,05 | ||||
| Prob > chi2 | 0,0000 | 0,0000 | ||||
| Với mức ý nghĩa tương ứng * là 10%, ** là 5% và *** là 1% | ||||||
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Với biến phụ thuộc là ROA và ROE sau khi sử dụng FGLS để khắc phục hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi, mô hình có ý nghĩa ở mức ý nghĩa 1% (do Prob =0,0000) nên mô hình hồi quy được xây dựng là phù hợp. Tuy nhiên, giữa hai mô hình FEM của ROA và ROE có điểm khác biệt đó là đối với LEV với biến phụ thuộc là ROA thì có ý nghĩa thống kê tác động với mức ý nghĩa 1%, ngược lại với biến phụ thuộc là ROE thì không có ý nghĩa thống kê tác động.
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Dựa trên kết quả sau khi khắc phục các hiện tượng khuyết tật của mô hình tác động cố định FEM với biến phụ thuộc ROA, ROE thì kết quả cuối cùng được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Kết quả mô hình hồi quy sau khi khắc phục bằng phương pháp FGLS:
ROA = -0,0873 + 0,0024*SIZE+ 0,0963*LEV+ 0,1129*ME + 0,0076*LIQ – 0,0936*LLR + 0,0002*DIVER + 0,0318*CPI
Dựa trên kết quả bảng 4.8 thì hệ số xác định của mô hình FEM với biến phụ thuộc ROA là 79,11% hay nói cách khác các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA bao gồm SIZE, LEV, ME, LIQ, LLR, DIVER, CPI có thể giải thích được 79,11% sự thay đổi của ROA.
ROE = -0,9730 + 0,03*SIZE+ 2,1759*ME + 0,0699*LIQ – 1,0710*LLR + 0,0040*DIVER + 0,3671*CPI
Dựa trên kết quả bảng 4.8 thì hệ số xác định của mô hình FEM với biến phụ thuộc ROE là 79,23% hay nói cách khác các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến ROA bao gồm SIZE, ME, LIQ, LLR, DIVER, CPI có thể giải thích được 79,23% sự thay đổi của ROE.
Hệ số tương quan của biến quy mô ngân hàng (SIZE) với ROA và ROE lần lượt là 0,0024 và 0,03 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng tích cực đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – hiệu quả, khi NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam gia tác động vào cấu trúc khi gia tăng quy mô thì các ngân hàng càng mở rộng các HĐKD vừa truyền thống vừa hiện đại, góp phần gia tăng hiệu quả HĐKD. Mặt khác, kết quả này có sự tương đồng với các nghiên cứu của nhóm tác giả Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019). Vì vậy, giả thuyết H1 được chấp nhận. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Hệ số tương quan của đòn bẩy tài chính (LEV) đối với ROA là 0,0963 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng tích cực đến TSST của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết trung gian tài chính, khi NHTMCP niêm yết Việt Nam cang gia tăng được tài sản của ngân hàng, các ngân hàng này có cơ sở thực hiện chức năng trung gian tài chính để gia tăng thu nhập dẫn đến tăng hiệu quả HĐKD. Tài sản ngân hàng càng gia tăng cao giúp khách hàng có niềm tin với NHTMCP gia tăng và lựa chọn NHTM để vay vốn góp phần gia tăng thu nhập cho NHTMCP. Mặt khác, kết quả này có sự tương đồng với các nghiên cứu của nhóm tác giả Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019). Vì vậy, giả thuyết H2 được chấp nhận.
Hệ số tương quan của hiệu quả quản lý (ME) đối với ROA và ROE lần lượt là 0,1129 và 2,1759 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả nghiên cứu này trái ngược với nghiên cứu của các tác giả Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019) nhưng lại tương đồng với kết quả nghiên cứu của Adelopo và cộng sự (2018) và ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc hiệu quả. Khi NHTM quản trị chi phí tốt, sự gia tăng của chi phí vẫn có tác dụng gia tăng hiệu quả HĐKD. Kết quả này trái ngược với giả thuyết nghiên cứu của tác giả. Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H3.
Hệ số tương quan của tỷ lệ thanh khoản (LIQ) đối với ROA và ROE lần lượt là 0,0076 và 0,0699 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022.
Hay nói cách khác, các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam nếu duy trì tỷ lệ thanh khoản tốt trong các thời kì tăng trưởng hoặc khó khăn của ngân hàng sẽ tạo ra điều kiện cho HĐKD được đảm bảo để chống chọi với những RR của thị trường, hay nói cách khác nếu ngân hàng có quá nhiều nợ xấu hay nợ quá hạn thì các NHTMCP vẫn đủ sức để tạo ra cơ hội tăng trưởng trong HĐKD của mình nhờ thanh khoản tốt nhằm đi mở rộng việc đầu tư các kênh sinh lời khác. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bourke (1988); Adelopo và cộng sự (2018). Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H4.
Hệ số tương quan của tỷ lệ dự phòng RR tín dụng (LLR) đối với ROA và ROE là -0,0936 và -1,0710 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng tiêu cực đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả này cũng thể hiện đúng theo Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) của Akerlof (1970). Theo đó, thông tin bất cân xứng xảy ra khi các thành phần của thị trường không có sự cân bằng trong việc nắm giữ thông tin giữa các bên tham gia giao dịch dẫn đến sự gia tăng nợ xấu và giảm hiệu quả HĐKD của các NHTMCP. Kết quả này có sự tương đồng với các nghiên cứu của nhóm tác giả Djalilov và cộng sự (2016); Batten và Võ Xuân Vinh (2019); Athanasoglou và cộng sự (2008). Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H5.
Hệ số tương quan của đa dạng hóa thu nhập (DIVER) đối với ROA và ROE lần lượt là 0,0002 và 0,04 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng tích cực đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ, các NHTMCP phát triển hoạt động theo hướng tạo ra các nguồn thu ngoài lãi sẽ mang lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết cấu trúc – hiệu quả và giống kết quả nghiên cứu của các tác giả Al-Homaidi và cộng sự (2020). Vì vậy, chấp nhận giả thuyết H6. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Hệ số tương quan của tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đối với ROA và ROE lần lượt là -0,0131 và -0,146 tuy nhiên giá trị P-value lớn hơn 5%, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) không ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Hay nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế dù cao hay thấp thì việc ngân hàng vận hành HĐKD sẽ phải được sắp xếp tương ứng với môi trường kinh tế. Do đó, có thể cho rằng nếu các chiến lược quản trị doanh nghiệp có thể thích ứng với điều kiện kinh tế hay sự tăng trưởng, suy giảm kinh tế thì các NHTM vẫn có thể tạo ra được LN hoặc duy trì sự ổn định trong hoạt động. Nên kết quả nghiên cứu này ủng hộ cho việc tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể không ảnh hưởng đến TSSL của các NHTM Việt Nam. Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H7.
Hệ số tương quan của tỷ lệ lạm phát (CPI) đối với ROA và ROE lần lượt là 0.031 và 0,3671 có nghĩa là biến này có ảnh hưởng tích cực đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả nghiên cứu này trái ngược với kết quả nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008); Sufian và Habilullah (2009); Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019). Điều này có thể cho thấy mặc dù tỷ lệ lạm phát tăng cao nhưng HĐKD của ngân hàng vẫn hiệu quả hay các chính sách thắt chặt các khoản tín dụng nhằm hạn chế bớt các RR tín dụng hoặc các hoạt động đầu tư của ngân hàng vào các danh mục hiệu quả thì vẫn có thể tạo ra được nhiều LN hơn. Vì vậy, bác bỏ giả thuyết H8.
Bảng 4.9: Tóm tắt kết luận các giả thuyết nghiên cứu
| Giả thuyết | Nội dung | Kết luận |
| H1 | Quy mô ngân hàng có tương quan dương với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Chấp nhận |
| H2 | Đòn bẩy tài chính có tương quan dương với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Chấp nhận |
| H3 | Hiệu quả quản lý có tương quan âm với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Bác bỏ |
| H4 | Tỷ lệ thanh khoản có tương quan dương với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Chấp nhận |
| H5 | Dự phòng RR tín dụng có tương quan âm với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Chấp nhận |
| H6 | Đa dạng hóa thu nhập có tương quan dương với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Chấp nhận |
| H7 | Tốc độ tăng trưởng kinh tế có tương quan dương với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Bác bỏ |
| H8 | Tỷ lệ lạm phát có tương quan âm với TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. | Bác bỏ |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Trong chương này tác giả đã chạy các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM dựa trên số liệu thu thập được của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011 – 2022. Đầu tiên tác giả mô tả tổng quát mẫu nghiên cứu thông qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, đồng thời tác giả xem xét hiện tượng tương quan của các biến độc lập trong mô hình. Sau đó, tác giả chạy các mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định theo phương pháp FGLS mang lại ước lượng vững và hiệu quả nhất để đánh giá tác động của các nhân tố đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Từ kết quả này tác giả tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu và kết luận giả thuyết thống kê đồng thời khuyến nghị các hàm ý chính sách trong chương 5.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Trong chương này trình bày kết luận chung của luận văn về các kết quả đạt được. Đồng thời trình bày về các hàm ý chính sách cho các NHTMCP niêm yết Việt Nam để có thể tăng trưởng TSSL trong thời gian tiếp theo. Cuối cùng chương này cũng đề cập đến hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo.
5.1. Kết luận
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy trên dữ liệu bảng nhằm tìm hiểu các yếu tố tác động đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Sử dụng biến phụ thuộc đại diện cho TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam đó là ROA và ROE, các biến độc lập được sử dụng bao gồm các yếu tố bên trong ngân hàng và yếu tố bên ngoài. Dữ liệu ngân hàng được thu thập từ BCTC của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2011 – 2022 và dữ liệu vĩ mô được thu thập từ ADB Indicator và Tổng Cục Thống kê.
Luận văn đã đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã đề ra trong chương 1 là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam và đề xuất các hàm ý chính sách. Kết quả nghiên cứu của mô hình FGLS cho thấy các nhân tố ảnh hưởng TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam đã làm rõ các biến có ý nghĩa thống kê và có tác động cùng chiều đến ROA, ROE của trong giai đoạn 2011 – 2022 là quy mô ngân hàng (SIZE), đòn bẩy tài chính (LEV), hiệu quả quản lý (ME), tỷ lệ thanh khoản (LIQ), đa dạng hóa thu nhập (DIVER) và tỷ lệ lạm phát (CPI). Trong khi đó biến tỷ lệ dự phòng RR tín dụng (LLR) có tác động ngược chiều. Biến tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) thì không có ý nghĩa thống kê về sự ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.
5.2. Hàm ý chính sách
5.2.1. Gia tăng quy mô ngân hàng
Các NHTM có thể mở rộng quy mô bằng việc mở rộng mạng lưới hoạt động như tăng số lượng chi nhánh ngân hàng hay các phòng giao dịch ở các vị trí đắc địa như khu dân cư có mật độ dân số cao hay các khu công nghiệp tập trung để thu hút và tiếp cận đến khách hàng. Tuy nhiên để có thể thành lập chi nhánh ngân hàng thì các ngân hàng cần đáp ứng những yêu cầu liên quan đến việc các NHTM phải được kiểm toán, kiểm soát theo yêu cầu, đảm bảo các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng, phân loại nợ trích lập dự phòng theo quy định và tỷ lệ nợ xấu dưới 3% (21/2013/TT-NHNN) Bên cạnh đó, số lượng các chi nhánh tập trung đa số ở các thành phố phát triển, tuy nhiên ở các tỉnh và thành phố nhỏ lẻ chỉ có ít các NH tập trung. Vì vậy, cần có những chính sách để mở rộng quy mô một cách tối ưu vì nhu cầu của người dân khắp cả nước ngày một tăng cao.
Quy mô càng lớn “thì càng giúp các NHTM hoạt động kinh doanh tốt hơn nhưng đi đôi với đó là rủi ro về nguồn vốn và năng lực để duy trì hoạt động của các NHTM. Các chi phí hoạt động phát sinh trong quá trình ngân hàng mở rộng quy mô như chi phí mặt bằng, nhân lực,… ảnh hưởng đến LN của ngân hàng. Vì vậy, các NHTM cần nâng cao năng lực quản lý,” đẩy mạnh phát triển công nghệ và dựa vào nguồn vốn của từng ngân hàng để tăng quy mô một cách hợp lý.
Các NHTM có thể tăng tổng tài sản NH bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ, tích hợp nhiều tiện ích của các sản phẩm để khách hàng có thể lựa chọn sử dụng. Ngoài ra, các NHTMCP cần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ của mình để tạo thêm nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng Từ đó, số lượng khách hàng đến với NH cũng ngày một tăng, kéo theo doanh thu của NH của dần được ổn định. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
5.2.2. Gia tăng vốn chủ sở hữu
Luận văn đã chứng minh thực nghiệm cho thấy tỷ lệ VCSH có tác động cùng chiều đến hiệu quả HĐKD của các NHTMCP Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu thì ROA càng tăng khi VCSH càng lớn, do đó khuyến nghị tăng tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản để bảo đảm khả năng tự chủ tài chính, giảm thiểu RR của các NHTMCP. Mục đích của việc tăng VCSH đối vối các ngân hàng là để đầu tư cơ sở hạ tầng như: xây dựng trụ sở, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin, mở rộng phạm vi hoạt động… và để tăng năng lực tài chính, đảm bảo khả năng cạnh tranh và đáp ứng các quy định nghiêm ngặt về vốn theo thông lệ quốc tế.
Trong đó phải kể đến việc phát hành thêm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đối với các NHTM đã lên sàn giao dịch. Điều này vừa giúp cho các ngân hàng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô các sản phẩm của ngân hàng, tạo uy tín và sự tin tưởng của khách hàng,
Nâng cao chất lượng quản trị để giảm chi phí hoạt động nhằm tăng LN. Vì chính việc tăng LN sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cổ đông khi được hưởng cổ tức nhiều hơn. Từ đó tạo ra niềm tin với họ và sẽ muốn duy trì số cổ phần trong ngân hàng hay mua thêm cổ phiếu của các NHTM.
5.2.3. Giảm tỷ lệ nợ xấu hay tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Theo kết quả nghiên cứu thì biến NPL tác động ngược chiều đến cả ROA và ROE. Qua đó cần phải giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu đến mức thấp nhất bằng cách:
Thứ nhất, các NHTM để xử lý nợ xấu dứt điểm và có hiệu quả trên cơ sở gắn liền trách nhiệm của cá nhân liên quan đến cho vay, ngân hàng cho vay cần tiến hành kiểm tra, đánh giá các khoản vay để xác định rõ nguyên nhân. Kiểm tra, sắp xếp lại các khoản nợ bằng cách phân tích thực trạng các món nợ quá hạn, nợ tiềm ẩn rủi ro và các khoản nợ đã được xử lý rủi ro để đánh giá khả năng thu hồi nợ. Việc sắp xếp lại các khoản nợ phải dựa trên tính khả thi các dự án, phương án kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức. Đối với các dự án có tính khả thi cao, ngân hàng có thể giãn nợ, gia hạn nợ cho doanh nghiệp, tổ chức. Ngân hàng cần phải kiểm tra thường xuyên thực trạng tài sản đảm bảo và tài sản thế chấp để có phương án xử lý và thu hồi nợ. Hoặc có thể bán nợ xấu cho công ty quản lý tài sản (VAMC), xử lý triệt để nợ xấu, giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro. Đối với những món nợ xấu cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay kinh doanh bất động sản có tài sản thế chấp, các ngân hàng cần có biện pháp xử lý kiên quyết bằng nguồn lực nội tại; bao gồm chế tài đối với các cá nhân có liên quan.
Thứ hai, các NHTM nên có tăng cường kiểm soát nội bộ, đảm bảo thực hiện đúng quy trình; xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả, tăng cường công tác giám sát đối với quản trị rủi ro. Gắn kết trách nhiệm vật chất đối với các cá nhân có quyền phê duyệt các quyết định có rủi ro. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Thứ ba, nâng cao chất lượng nhân sự. Để hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng thông qua việc nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng. Cùng với việc không ngừng nâng cao trình độ và chất lượng nhân sự, NHTM cần có những chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao và giữ chân được đội ngũ nhân sự giỏi đang có. Đặc biệt xây dựng và quán triệt đạo đức nghề nghiệp làm đầu với mọi đối tượng, đồng thời gắn kết quả thưởng cho nhân viên với chất lượng tín dụng để nâng cao trách nhiệm.
5.2.4. Đa dạng hóa thu nhập thông qua đa dạng hóa hoạt động kinh doanh
Luận văn đã chứng minh đa dạng hóa thu nhập tăng làm tăng hiệu quả HĐKD nên cần có giải pháp làm tỷ lệ đa dạng hóa thu nhập tăng có tác động làm tăng hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn. NHTMCP có thể tăng cường các hoạt động đa dạng hóa các nguồn thu nhập bằng cách đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có cũng như phát triển các dịch vụ mới. Đa dạng hóa và hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có là điểm mạnh và mũi nhọn để phát triển dịch vụ ngân hàng. Hiện nay, cần chú trọng các sản phẩm công nghệ cao đem đến nhiều tiện ích cho khách hàng và gia tăng tính bảo mật thông tin trong các giao dịch tài chính.
5.2.5. Kiểm soát tốt các yếu tố vĩ mô
Hiệu quả HĐKD ngân hàng theo kết quả nghiên cứu tỷ lệ thuận với tỷ lệ lạm phát, điều này cho thấy khi lạm phát gia tăng các ngân hàng đã áp dụng lãi suất quá cao từ đó thu được LN lớn. Với việc lãi suất cao như vậy rất dễ xảy ra tình trạng mất khả năng trả nợ của bên vay từ đó phát sinh nợ xấu lại làm giảm đi LN của ngân hàng do đó việc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng luôn là mục tiêu điều hành chính sách của chính phủ đặc biệt trong những năm gần đây, NHNN cần điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô gắn với nâng cao chất lượng tín dụng.
5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
5.3.1. Hạn chế nghiên cứu
Dữ liệu từ BCTC: Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu thứ cấp được công bố từ BCTC của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2022 nên chắc chắn khó có thể tránh được những thiếu sót trong thu thập dữ liệu nghiên cứu và ảnh hưởng đến kết quả.
Một số biến độc lập trong mô hình bị đổi dấu so với kỳ vọng của tác giả và của một số nghiên cứu khác. Điều này xuất phát từ phía mẫu dữ liệu và điều kiện thực tế tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Hạn chế của tác giả là chưa thực hiện thêm hồi quy để xem xét tính vững của mô hình.
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Tác giả đã sử dụng một số biến khác để mô tả các yếu tố tác động đến tỉ suất sinh lời và được sử dụng làm các biến độc lập.
Thực hiện thêm một số hồi quy để kiểm tra tính vững của mô hình. Thu thập thêm đầy đủ dữ liệu nhằm phân tích hoàn chỉnh thực trạng thu nhập của các NHTMCP trên TTCK Việt Nam. Mở rộng phạm vi nghiên cứu cho tất cả NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam và một số NHTMCP trong khu vực, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
TÓM TẮT CHƯƠNG 5
Như vậy, chương 5 đã kết luận lại những kết quả nghiên cứu có được trong chương 4 về tác động của một số yếu tố đến TSSL của các NHTM Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số biện pháp đối trong việc phát triển thu nhập này đó là: Kiểm soát tăng trưởng quy mô ngân hàng, tăng VCSH, giảm tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng, quản lý chặt chẽ chi phí ngân hàng, đa dạng hóa thu nhập và kiểm soát các điều kiện vĩ mô. Theo dõi sát sao chính sách của NHNN để có kế hoạch thực hiện tăng trưởng tín dụng phù hợp với tình hình hoạt động của ngân hàng và mục tiêu chính sách của NHNN và kiến nghị với NHNN một số giải pháp để hỗ trợ phát triển hoạt động của các NHTM một cách bền vững, có hiệu quả. Tác giả cũng nêu một số hạn chế trong nghiên cứu của luận văn, những hạn chế này là cơ sở cho hướng phát triển tiếp theo của luận văn trong tương lai. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng […]