Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
“Trong chương này sẽ đề cập đến thực trạng về tỷ lệ an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Tiếp theo tác giả sẽ nêu ra các kết quả phân tích thống kê mô tả của các biến trong mô hình, phân tích tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc cũng như tương quan giữa các biến độc lập với nhau. Kế đó tác giả sẽ tiến hành kiểm định để chọn ra mô hình nghiên cứu phù hợp. Sau khi đã“xác định được mô hình nghiên cứu tác giả sẽ tiến hành thảo luận với kết quả đã nghiên cứu và cũng từ mô hình được lựa chọn đề tài sẽ xác định được các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn cũng như mức độ tác động của từng yếu tố đó đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.”
4.1. THỰC TRẠNG TỶ LỆ AN TOÀN VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2021
Quy mô về vốn tự có cũng như đảm bảo sử dụng hiệu quả của các đồng vốn luôn được nhà đầu tư cũng như nhà quản trị ngân hàng đặt lên hàng đầu. Trong Hiệp ước Basel cũng có quy định rõ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tăng từ 8% của Basel I đến 9% của Basel II. Tại Việt Nam tính đến 31/12/2020 đã có 18 ngân hàng TMCP đạt chuẩn Basel II tuy nhiên chỉ có 6 ngân hàng đã hoàn thành được 3 trụ cột của Basel II còn 12 ngân hàng còn lại chỉ mới dừng lại ở bước đo lường và đảm bảo được mức an toàn vốn tối thiểu trong khi trụ cột 2 của Basel II được xem là trụ cột khó khăn nhất vì phải xây dựng được quy trình đánh giá nội bộ về mức độ đủ vốn (ICAAP) của ngân hàng đó. Về mặt pháp lý NHNN cũng ban hành các Thông tư số 41/2016/TT-NHNN và Thông tư 13/2018/TT-NHNN hướng dẫn cũng như quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9%. Trong thông tư 13 cũng yêu cầu các ngân hàng cải thiện hoạt động“quản lý rủi ro, phù hợp với yêu cầu của Basel II và có thể áp dụng các thông lệ tiên tiến về quản lý rủi ro của các”nước trên thế giới. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Nhìn vào hình 4.1 bên dưới ta thấy CAR trong giai đoạn 2010 – 2021 giảm dần qua các năm đến 2020 và có tăng nhẹ vào năm 2021. Tuy nhiên các mức tỷ lệ này đều nằm trên mức quy định tối thiểu của NHNN (9%), cụ thể năm 2010 là 16.71% và giảm về mức 10.94% vào năm 2020 nhưng sau đó có sự tăng nhẹ lên 11.41% vào năm 2021.
Hình 4.2. Tỷ lệ an toàn vốn trung bình năm của các ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010 – 2021
4.2. THỐNG KÊ MÔ TẢ
Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ BCTN, BCTC của 31 ngân hàng TMCP trong thời gian 12 năm từ năm 2010 đến năm 2021, với tổng cộng có 372 quan sát. Bảng dưới đây chỉ ra kết quả thống kê mô tả của mô hình nghiên cứu.
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến
| Variable | Obs | Mean | Std. Dev. | Min | Max |
| CAR | 372 | 0.1405646 | 0.0744877 | 0.0854 | 0.987 |
| SIZE | 372 | 18.79628 | 1.126168 | 15.92274 | 21.28954 |
| ROA | 372 | 0.0100239 | 0.0082237 | -0.0599291 | 0.036526 |
| NIM | 372 | 0.0304272 | 0.0130099 | -0.0075 | 0.1102389 |
| NPL | 372 | 0.018247 | 0.0057925 | 0.0018317 | 0.0538911 |
| LOA | 372 | 0.5525486 | 0.1343292 | 0.1448259 | 0.7881 |
| FDR | 372 | 0.0203096 | 0.0302324 | 0.002102 | 0.1363747 |
| GDP | 372 | 0.0571694 | 0.0144026 | 0.0258 | 0.0708 |
| INF | 372 | 0.0548833 | 0.0474463 | 0.0063 | 0.1868 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata
Đối với quy mô ngân hàng (SIZE): Dựa vào bảng trên cho thấy quy mô ngân hàng có mức độ biến động trong khoảng từ giá trị 15.92 tới giá trị 21.29 trong đó giá trị trung bình của cỡ mẫu là 18.80 tương ứng với độ lệch chuẩn là 1.12. Từ năm 2010 đến 2021 các ngân hàng đều có xu hướng tăng về quy mô với giá trị lớn nhất là hơn 1.72 triệu tỷ đồng của ngân hàng BIDV vào năm 2021 và thấp nhất thuộc về ngân hàng BVB với 15 nghìn tỷ đồng vào năm 2012. Trong giai đoạn nghiên cứu thì tất cả ngân hàng TMCP đều chú trọng việc mở rộng thị trường bằng cách tăng độ phủ nhận diện về thương hiệu, làm mới hình ảnh cũng như mở rộng mạng lưới giao dịch trên toàn quốc. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Đối với tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Qua bảng trên cho thấy biến ROA có giá trị trung bình là 1.17%, tỷ lệ này thấp nhất ở mức -5.99% và cao nhất ở mức 3.65% cho thấy khoảng cách của việc tạo ra lợi nhuận khi sử dụng đồng vốn đầu tư vào tài sản của các ngân hàng TMCP. Cụ thể thì TCB vào năm 2021 có ROA cao nhất là 3.65% và TPB vào năm 2011 có tỷ lệ ROA thấp nhất là -5.99%. Với giai đoạn nghiên cứu của bài là từ năm 2010 đến 2021 thì ROA có độ lệch chuẩn 0.85% cho thấy việc chỉ số này tại các ngân hàng TMCP khá đồng đều và từ năm 2019 đến nay một số ngân hàng đã tiến hành chuyển đổi phương thức kinh doanh đó là chuyển từ việc tập trung cho kênh kinh doanh truyền thống cho vay sang phương thức kinh doanh hiện đại, có lợi nhuận nhiều hơn từ việc thu phí dịch vụ, ứng dụng công nghệ hiện đại trong việc kinh doanh từ việc mở tài khoản thanh toán, thẻ tín dụng, cho vay nhanh trên các ứng dụng… Cũng nhờ việc thay đổi nhanh và ứng dụng công nghệ mới mà TCB trong năm 2021 đã có mức tăng ROA cao nhất toàn ngành ngân hàng là 3.65% cho thấy hoạt động kinh doanh hiệu quả và khả năng quản lý tài sản của ngân hàng này rất tốt. Mặt khác những ngân hàng có quy mô nhỏ, quản trị điều hành chưa tốt, giảm sức cạnh tranh trên thị trường cộng với nợ xấu gia tăng nên đã có kết quả kinh doanh rất thấp dẫn đến ROA giảm sút thậm chí âm điển hình là TPB có mức ROA -0.0599291 vào năm 2011.
Đối với biên lãi ròng (NIM): Dựa vào bảng trên cũng cho thấy biên lãi ròng của các ngân hàng TMCP dao động từ mức thấp nhất là -0.75% vào năm 2011 của TPB và lớn nhất là VPB vào năm 2019 với 11.02%. Vào năm 2011, do sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu từ năm 2008, các chỉ số về tài chính của TPB đều không tốt, khả năng cạnh tranh cũng như quản trị điều hành yếu kém của ngân hàng nên NIM của ngân hàng này -0.0075. Biên lãi ròng trung bình là 3.04% và độ lệch chuẩn là 1.30%.
Đối với tỷ lệ nợ xấu (NPL): Trung bình tỷ lệ nợ xấu đạt 1.82% với độ lệch chuẩn 0.58%. Nhìn chung tỷ lệ nợ xấu qua từng năm đều đang được các ngân hàng cố gắng duy trì ở mức an toàn nhưng đáng chú ý vào năm 2020 thời điểm sau khi Covid bùng phát tỷ lệ này tăng nhanh. Trong thời gian từ 2010 đến 2021 thì NHNN cùng với Chính phủ đã tiến hành các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu và tái cấu trúc cả hệ thống ngân hàng. Cùng với việc phê duyệt ban hành các đề án như “ Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 -2015”, đề án “Thành lập Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD Việt Nam” hay đề án “ Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” cũng đã giúp cho cả hệ thống ngân hàng và cụ thể là các ngân hàng TMCP có được những biện pháp phù hợp để xử lý được nợ xấu của ngân hàng mình.
Đối với tỷ lệ cho vay (LOA): Với kết quả từ bảng trên cho thấy tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản của các ngân hàng TMCP Việt Nam trung bình đạt 55.25% với độ lệch chuẩn 13.43%. Nhìn chung tỷ lệ cho vay qua từng năm có xu hướng tăng, trong đó ngân hàng có tỷ lệ cho vay trên tiền gửi cao nhất là BID vào năm 2020 với tỷ lệ là 78.81% và thấp nhất là TPB vào năm 2011 với tỷ lệ 14.48%. Qua đó cho thấy tài sản của ngân hàng chủ yếu sử dụng vào việc cho vay và lãi từ cho vay đang là nguồn chính tạo ra thu nhập từ lãi cho các ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Ngoài ra từ năm 2019 đến 2021 thì tỷ lệ cho vay có xu bị chững lại. Một yếu tố tác động làm giảm tỷ lệ cho vay là sự suy thoái kinh tế toàn cầu và đại dịch Covid 2019. Tuy nhiên thu nhập từ lãi vay của đa số các ngân hàng TMCP vẫn là nguồn thu nhập chính, do đó các ngân hàng TMCP vẫn cần tập trung cao về tăng trưởng tín dụng và chất lượng cũng như danh mục cho vay của ngân hàng.
Đối với khả năng thanh khoản (FDR): Khả năng thanh khoản trung bình đạt 2.03% với độ lệch chuẩn 3.02%. Với mức chênh lệch rất thấp cho thấy không có khoảng cách lớn giữa các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu này. Khả năng thanh khoản là khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được tức thời nhu cầu thanh toán, ứng, rút tiền mặt của khách hàng. Do đó tất cả các ngân hàng đều đánh giá chỉ số này là một chỉ số cực kì“quan trọng của ngân hàng thường ngày của mình vì nếu thanh khoản của ngân hàng tốt đồng nghĩa với việc ngân hàng đó có thể giảm thiểu được các nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình.
Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): Dựa vào kết quả nghiên cứu từ bảng trên cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021 khá ổn định với độ lệch chuẩn chỉ ở mức 1.44%. Giá trị trung bình của chỉ số này là khoảng 5.17%, giá trị cao nhất là vào năm 2018 với mức 7.08% và giá trị này thấp nhất vào năm”2021 với mức 2.58%. Chỉ số GDP không chỉ của Việt Nam mà cả toàn cầu bị giảm mạnh là do bị ảnh hưởng từ đại dịch Covid 19 và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai từ 2019. Trong giai đoạn này hàng loạt các nền kinh tế lớn trên thế giới rơi vào tình trạng bất ổn và kéo dài liên tục vào các năm sau đó.
Đối với lạm phát (INF):“Lạm phát bình quân tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2021 là 5.48% với độ lệch chuẩn ở mức 4.74%, là một mức biến động khá lớn trong giai đoạn này. Năm 2011 là năm có mức lạm phát cao nhất với giá trị là 18.68% và năm 2015 là năm có mức lạm phát thấp nhất với giá trị là 0.63%. Tuy vậy trong giai đoạn nghiên cứu này tỷ lệ lạm phát đa số có mức ổn định qua các năm, từ 2015 trở đi đều duy trì ở mức dưới 4%. Với việc duy trì ổn định về tỷ lệ lạm phát cũng giúp cho không chỉ nền kinh tế vĩ mô hoạt động ổn định và phát triển mà còn giúp cho các cơ quan quản lý có các chính sách phù hợp giúp cho tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP được duy trì ở mức an toàn và ngày càng được cải thiện hơn.
4.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
4.3.1. Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu
Bảng 4.2: Ma trận tương quan các biến trong mô hình
| CAR | SIZE | ROA | NIM | NPL | LOA | FDR | |
| CAR | 1.0000 | ||||||
| SIZE | -0.2427 | 1.0000 | |||||
| ROA | -0.0167 | 0.0476 | 1.0000 | ||||
| NIM | 0.0456 | 0.0028 | 0.6089 | 1.0000 | |||
| NPL | -0.2054 | -0.0156 | 0.0190 | 0.0293 | 1.0000 | ||
| LOA | -0.1336 | 0.4831 | 0.1523 | 0.2082 | 0.0811 | 1.0000 | |
| FDR | 0.3511 | -0.0067 | -0.0335 | 0.0056 | -0.1125 | 0.0597 | 1.0000 |
| GDP | -0.0118 | -0.1713 | -0.1939 | -0.0888 | 0.0817 | -0.0951 | -0.0839 |
| INF | 0.1549 | -0.2380 | -0.0032 | 0.0363 | -0.0781 | -0.5078 | -0.0106 |
| Biến | GDP | INF | |||||
| GDP | 1.0000 | ||||||
| INF | 0.1300 | 1.0000 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata
Dựa vào kết quả của bảng về ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình, ta có thể thấy các biến độc lập bao gồm: biên lãi ròng (NIM), khả năng thanh khoản (FDR), tỷ lệ lạm phát (INF) có tác động cùng chiều đến biến phụ thuộc tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Bên cạnh đó các biến độc lập như: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ cho vay trên trên tổng tài sản (LOA), tăng trưởng kinh tế (GDP) thì lại cho kết quả tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR).”
- Tương quan giữa từng biến độc lập với biến phụ thuộc (CAR)
Cũng dựa vào bảng trên ta có thể thấy biến độc lập SIZE có kết quả tương quan âm với biến phụ thuộc CAR là -0.2427, điều này cho ta thấy quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Với hàm ý rằng nếu quy mô ngân hàng càng lớn thì tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng ngày càng giảm và ngược lại nếu quy mô ngân hàng càng nhỏ thì sẽ làm tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng ngày càng tăng. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Bảng trên cũng cho thấy biến độc lập ROA có kết quả tương quan âm với biến phụ thuộc CAR là -0.0167, điều này cho thấy tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Với hàm ý rằng nếu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cao thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ bị giảm và ngược lại nếu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bị giảm đi thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ có xu hướng tăng lên.”
Từ bảng trên ta thấy biến độc lập NIM có kết quả tương quan dương với biến phụ thuộc CAR là 0.0456, điều này cho thấy biên lãi ròng có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Từ kết quả đó hàm ý rằng nếu biên lãi ròng tăng lên sẽ làm cho tỷ lệ an toàn vốn tăng lên đồng thời nếu biên lãi ròng giảm thì cũng làm cho tỷ lệ an toàn vốn bị giảm theo.
Đối với biến độc lập NPL thì bảng trên cho kết quả tương quan âm với biến phụ thuộc CAR là -0.2054, điều này cho thấy tỷ lệ nợ xấu đang có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Với ý nghĩa đó thì nếu tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng TMCP ngày càng tăng thì tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP ngày càng giảm đi và ngược lại nếu các ngân hàng kiểm soát được tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp nhất cũng đồng nghĩa với tỷ lệ an toàn vốn ngày càng cao.
Với kết quả trên thì biến độc lập LOA có tương quan âm với biến phụ thuộc CAR là -0.1336, điều này cũng cho thấy tỷ lệ cho vay có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Với hàm ý rằng nếu các ngân hàng càng gia tăng về cho vay thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ bị giảm đi ngược lại nếu ngân hàng kiểm soát tỷ lệ cho vay ở một mức tương đối thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ càng được đảm bảo.
Cũng giống như biến độc lập NIM thì biến độc lập FDR cũng có kết quả tương quan dương với biến phụ thuộc CAR là 0.3511, kết quả này cho thấy khả năng thanh khoản có tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Với hàm ý rằng nếu khả năng thanh khoản của các ngân hàng TMCP càng được đảm bảo thì tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng đó càng tăng. Và ngược lại nếu ngân hàng có tính thanh khoản thấp thì tỷ lệ an toàn của ngân hàng đó cũng bị giảm theo.
Từ kết quả của bảng trên ta thấy biến độc lập GDP có tương quan âm với biến phụ thuộc CAR là -0.0118, điều này cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Với ý nghĩa là khi nền kinh tế có mức tăng trưởng cao thì tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng có”xu hướng giảm và ngược lại nếu trong bối cảnh nền kinh tế có mức tăng trưởng thấp các ngân hàng có xu hướng sẽ tăng tỷ lệ an toàn vốn để ngăn ngừa các biến cố rủi ro từ thị trường.
Với biến độc lập INF thì có tương quan dương với biến phụ thuộc CAR là 0.1549, kết quả này cho thấy lạm phát của nền kinh tế có tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP, đồng nghĩa với việc nếu tỷ lệ lạm phát càng cao thì có thể làm cho tỷ lệ an toàn vốn tăng lên ngược lại nếu tỷ lệ lạm phát ở mức thấp thì có thể làm cho tỷ lệ an toàn vốn bị giảm theo.
- Tương quan giữa các biến độc lập
Tương quan giữa các biến độc lập dùng để chỉ mối quan hệ giữa hai biến trong mô hình nghiên cứu. Trị tuyệt đối của hệ số càng lớn thì hai biến càng tương quan mạnh với nhau theo chiều mà dấu thể hiện và theo Kennedy (2008) chỉ ra rằng hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình sẽ xuất hiện khi giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan cao hơn 0.9. Tuy nhiên qua kết quả của Bảng 4.2 cho thấy không có giá trị tuyệt đối của hệ số tương quan nào lớn hơn 0.9. Vì vậy ta có thể kết luận rằng các biến trong mô hình nghiên cứu là phù hợp và không có biến nào bị loại khỏi mô hình nghiên cứu.”
4.3.2. Kết quả các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM
CARi,t = 0 + 1 SIZEi,t+ 𝛽2 ROAi,t + 3 NIMi,t + 𝛽4 NPLi,t+ 5 LOAi,t + 6FDRi,t +7 LGDPi,t + 8 INFi,t + i,t
Bảng 4.3: Kết quả các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM
| Pooled OLS | FEM | REM | ||||
| CAR | Coef | p>|𝑡| | Coef | p>|𝑡| | Coef | p>|𝑧| |
| SIZE | -0.0149845 | 0.001 | -0.0255296 | 0.000 | -0.0181706 | 0.000 |
| ROA | -0.3268759 | 0.029 | 0.0313401 | 0.064 | -0.1846777 | 0.084 |
| NIM | 0.365476 | 0.039 | 0.3521368 | 0.019 | 0.3411125 | 0.059 |
| NPL | -2.115102 | 0.006 | -2.516667 | 0.001 | -2.241008 | 0.003 |
| LOA | 0.0047726 | 0.013 | 0.0721782 | 0.016 | 0.0275723 | 0.062 |
| FDR | 0.8085109 | 0.000 | 0.7772932 | 0.000 | 0.7934103 | 0.000 |
| GDP | -0.1172557 | 0.0710 | -0.1676642 | 0.058 | -0.1305712 | 0.071 |
| INF | 0.1515389 | 0.0163 | 0.1871537 | 0.021 | 0.1658624 | 0.030 |
| _cons | 0.4322976 | 0.000 | 0.5989636 | 0.000 | 0.4814811 | 0.000 |
| Số quan sát | 372 | 372 | 372 | |||
| R-squared | 0.5216 | |||||
| R-squared (overall) | 0.5069 | 0.5197 | ||||
| Adj R- squared | 0.5946 | |||||
| Prob>F | 0.0000 | |||||
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Mô hình Pooled OLS: Dựa vào bảng 4.3, kết quả hồi quy mô hình OLS có R2 hiệu chỉnh cho thấy mô hình có tác động đến CAR là 59.46%. Với kết quả đó cho ta thấy mô hình có 8 biến SIZE, ROA, NIM, NPL, LOA, FDR, GDP và INF với hệ số β lần lượt là -0.0149; -0.3268; 0.3654; -2.1151; 0.0047; 0.8085; -0.1172; 0.1515 tác động đến tỷ lệ an toàn vốn với ý nghĩa thống kê trong đó có 4 biến tác động cùng chiều và 4 biến tác động ngược chiều”với CAR. Cũng từ kết quả hồi quy trên cho thấy có 2 biến là SIZE và FDR tác động ở mức ý nghĩa thống kê là 1%; ROA, NIM, LOA, INF tác động ở mức ý nghĩa thống kê là 5% còn lại 2 biến NPL và GDP tác động đến CAR ở mức ý nghĩa thống kê là 10%. Mô hình có giá trị P-value là 0.0000 nhỏ hơn α = 5% vì vậy mô hình này được chấp nhận.
Mô hình Pooled FEM: Dựa vào bảng trên cũng cho thấy có các biến SIZE, ROA, NIM, NPL, LOA, FDR, GDP và INF với“hệ số β lần lượt là”-0.0255; 0.0313; 0.3521; -2.5166; 0.0721; 0.7773; -0.1676; 0.1872 đều có ý nghĩa thống kê đến CAR trong đó có 5 biến tác động cùng chiều và 3 biến tác động ngược chiều đến CAR.“Ngoài ra, kết quả hồi quy theo mô hình này cũng cho thấy”các biến là SIZE, NPL, FDR tác động đến CAR có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; NIM, LOA, INF tác động đến CAR có ý nghĩa thống kê ở mức 5%; ROA và GDP tác động đến CAR có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. Mô hình có giá trị R2 là 0.5069 và P-value là 0.0000 < α = 5% vì thế mô hình này được chấp. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Mô hình Pooled REM: Thông qua bảng trên cho thấy có các biến SIZE, ROA, NIM, NPL, LOA, FDR, GDP và INF với“hệ số β lần lượt là”-0.0181; -0.1846; 0.3411; -2.2410; 0.0275; 0.7934; -0.1305; 0.16598 tác động đến CAR có ý nghĩa thống kê trong đó có 4 biến tác động cùng chiều với CAR và 4 biến tác động ngược chiều với CAR. Ngoài ra, kết quả hồi quy của mô hình cũng cho thấy biến SIZE và FDR tác động CAR với mức ý nghĩa thống kê là 1%; NPL và INF tác động đến CAR với mức ý nghĩa thống kê là 5% còn các biến ROA, NIM, LOA, GDP thì tác động đến CAR với mức ý nghĩa thống kê là 10%. Mô hình này cũng giải thích được 51.97% cho tỷ lệ an toàn vốn.
4.3.3. So sánh giữa các mô hình Pooled OLS, FEM, REM Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
- Đầu tiên là so sánh giữa hai mô hình Pooled OLS và FEM
Tác giả sẽ sử dụng kiểm định F để tiến hành so sánh giữa 02“mô hình Pooled OLS và FEM để xem mô hình nào là phù hợp hơn với nghiên cứu. Khi thực hiện kiểm định F tác giả sẽ sử dụng với giả thuyết như sau:
- H0: Lựa chọn mô hình Pooled OLS
- H1: Lựa chọn mô hình FEM
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định F
| F test that all u_i=0: F(19, 212) = 1.81 | Prob > F = 0.0238 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata
Từ kết quả của bảng 4.4 cho thấy Prob = 0.0238 nhỏ hơn α = 5% do đó giả thuyết H0 bị bác bỏ hay là giả thuyết H1 được chấp nhận. Vì vậy theo kiểm định F với mức ý nghĩa là 5% thì mô hình hồi quy FEM phù hợp hơn“mô hình hồi quy Pooled OLS.”
- Thứ hai là so sánh giữa hai mô hình REM và FEM
Theo nội dung đã được đề cập trong chương 3 thì để kiểm định mô hình nào phù hợp và đáng tin cậy hơn giữa 2 mô hình hồi quy FEM và REM, thì tác giả sẽ tiến hành thực hiện kiểm định Hausman với cặp giả thuyết như sau:
- H0: Lựa chọn mô hình REM
- H1: Lựa chọn mô hình FEM.”
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman
| Test: Ho: difference in coefficients not systematic |
| chi2(8) = (b-B)'[(V_b-V_B)^(-1)](b-B)= 7.33 |
| Prob>chi2 = 0.5010 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
“Dựa vào kết quả của kiểm định Hausman trên cho thấy với P-value = 0.5010 > α = 5% vì thế chấp nhận giả thuyết H0 tức là với mức ý nghĩa là 5% thì giữa 2 mô hình hồi quy REM và FEM tác giả nhận thấy REM là mô hình hồi quy phù hợp và đáng tin cậy hơn. Do đó mô hình được lựa chọn là mô hình hồi quy tác động cố định REM.”
Kết luận: Sau khi tác giả thực hiện so sánh 03 mô hình là Pooled OLS, REM và FEM dựa trên cơ sở kiểm định F và kiểm định Hausman, thì nghiên cứu chọn mô hình REM để xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng TMCP Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta cần thực hiện kiểm tra mô hình hồi quy này có thực sự phù hợp đồng thời cũng cần kiểm định thêm một số khuyết tật có thể xảy ra của mô hình này.”
4.3.4. Kiểm định các khuyết tật trong mô hình
Trong các mô hình hồi quy thì các khuyết tật thường tồn tại là hiện tượng phương sai sai số thay đổi, hiện tượng tự tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến. Nếu trong mô hình nghiên mà tồn tại các khuyết tật thì mô hình sẽ cho ra các kết quả hồi quy không có ý nghĩa thống kê và không đáng tin cậy. Do đó cần thực hiện một số kiểm định sau đây nhằm mục đích phát hiện các khuyết tật trong mô hình để từ đó có hiệu chỉnh bằng mô hình hồi quy tốt hơn bao gồm các kiểm định sau: một là dùng kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) để xác định mối tương quan giữa các biến, hai là dùng kiểm định Wooldridge”để xác định hiện tượng tự tương quan, ba là tiến hành kiểm định Modified Wald test để xem về sự đồng“nhất của phương sai.”
4.3.3.1. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến
| Variable | VIF | 1/VIF |
| ROA | 1.65 | 0.606605 |
| NIM | 1.69 | 0.593006 |
| LOA | 1.83 | 0.545117 |
| INF | 1.41 | 0.708149 |
| GDP | 1.10 | 0.908079 |
| SIZE | 1.37 | 0.732529 |
| NPL | 1.03 | 0.967288 |
| FDR | 1.03 | 0.969681 |
| Mean VIF | 1.39 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
“Theo Nguyễn Đình Thọ (2011) thì hệ số phóng đại VIF của một biến độc lập nào đó >10 thì biến này được xem là có hiện tượng đa cộng tuyến cao. Từ kết quả kiểm tra đa cộng tuyến của bảng 4.6 cho thấy, các biến có hệ số phóng đại VIF có giá trị trung bình là 1.39 và đều nhỏ hơn 10. Vì vậy mô hình trên không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.”
4.3.3.2. Kiểm định hiện tượng tự tương quan
Để kiểm tra hiện tượng tự tương quan của mô hình tác giả sẽ tiến hành thông qua kiểm định Wooldridge với cặp giả thuyết như sau:
- H0 : Không có hiện tượng tự tương quan
- H1 : Có hiện tượng tự tương quan
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Wooldridge
| H0: no first-order autocorrelation |
| F( 1, 19) = 9.205 |
| Prob > F = 0.0068 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata
Sau khi tiến hành kiểm định Wooldride, Bảng 4.7 cho giá trị P-value = 0.0068 < 5% nên với mức ý nghĩa là 5% ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1, điều này chứng minh là mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan.”
Như vậy mô hình hồi quy tác động cố định REM có hiện tượng tự tương quan
4.3.3.3. Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi
Để kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi tác giả sẽ sử dụng kiểm định Modified Wald test với cặp giả thuyết như sau:
- H0: Không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi
- H1: Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Modified Wald test
| Modified Wald test for groupwise heteroskedasticity in fixed effect regression model |
| H0: sigma(i)^2 = sigma^2 for all i |
| chibar2(01) = 2.43 |
| Prob > chibar2 = 0.0597 |
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata
Bảng trên cho thấy kiểm định Modified Wald test cho kết quả Prob >chi2 = 0.0597. Do đó, với mức ý nghĩa α là 5% và P-value = 0.0597 > 0.05 nên chấp nhận H0 bác bỏ H1, điều này có nghĩa là mô hình không tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi.”
4.4. ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH THEO PHƯƠNG PHÁP FGLS Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Vì trong mô hình nghiên cứu đang tồn tại hiện tượng tự tương quan do đó để khắc phục khuyết tật này tồn tại trong mô hình thì tác giả tiến hành ước lượng mô hình bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS với lệnh xtgls và thêm lựa chọn orr(ar1).
Bảng 4.9: Kết quả ước lượng FGLS
| Mô hình FGLS Biến độc lập | ||||
| Hệ số β | Sai số chuẩn | P- value | ||
| SIZE | -0.0110848*** | 0.002378 | 0.000 | |
| ROA | -0.336954** | 0.2851909 | 0.037 | |
| NIM | 0.3106876* | 0.1847173 | 0.093 | |
| NPL | -1.124986** | 0.4029833 | 0.005 | |
| LOA | -0.0372774* | 0.0216161 | 0.085 | |
| FDR | 0.3905351*** | 0.0934438 | 0.000 | |
| GDP | 0.1242545** | 0.1510004 | 0.011 | |
| INF | 0.0071474* | 0.0508658 | 0.088 | |
| CONSTANT | 0.3589516*** | 0.0431257 | 0.000 | |
| Prob > Chi2 | 0.0000 | |||
| Số biến quan sát | 372 | |||
| Số nhóm | 31 | |||
| ***,** và * lần lượt chỉ mức ý nghĩa thống kê là 1%, 5% và 10% | ||||
Nguồn: Kết quả xử lý qua phần mềm Stata Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Dựa kết quả vào bảng 4.9, sau khi thực hiện FGLS để khắc phục khuyết tật đang tồn tại trong mô hình thì cho kết quả Pro > Chi2 = 0.000, tức là có“mức ý nghĩa thống kê là 1%,”do đó kết quả ước lượng hồi quy của mô hình là phù hợp và đạt hiệu quả cao.
Vì vậy phương trình hồi quy sẽ có kết quả như sau: CAR = 0.5113 – 0.0110SIZE – 0.3369ROA + 0.3106NIM – 1.1249NPL – 0.0372LOA + 0.3905FDR + 0.1242GDP + 0.0071INF + ε
“Trong đó có 2 biến gồm SIZE và FDR có tác động đến tỷ lệ CAR với mức ý nghĩa thống kê 1% (cụ thể SIZE có tác động ngược chiều đến CAR và FDR tác động cùng chiều đến CAR). Ngoài ra với mức ý nghĩa thống kê 5% thì có 3 biến tác động đến CAR là ROA, NPL và GDP (cụ thể là ROA và NPL tác động ngược chiều còn GDP tác động cùng chiều đến CAR). Các biến còn lại là NIM, LOA, INF thì tác động đến CAR với mức ý nghĩa thống kê là 10% trong đó NIM và INF thì tác động cùng chiều còn LOA thì tác động ngược chiều.”
4.5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
“Sau khi tác giả tiến hành thực hiện các bước nghiên cứu cũng như kiểm định từng mô hình và khắc phục các khuyết tật tồn tại trong mô hình thì tác giả đã đưa ra được mô hình nghiên cứu”như sau:”
Mô hình được xác định là : CARit= 0.35895 – 0.01108 SIZE – 0.3369 ROA + 0.31068 NIM – 1.12498 NPL – 0.03727 LOA + 0.39053 FDR + 0.12425 GDP + 0.00714 INF
Bên dưới là Bảng 4.10, bảng này tóm tắt kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu, tổng hợp các kỳ vọng về chiều hướng tác động của từng yếu tố đồng thời xác định được chiều hướng tác động thực tế của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.
Bảng 4.10: Tóm tắt kết quả
| Tên biến | Dấu kỳ vọng | Dấu thực tế | Mức ý nghĩa | Kiểm định giả thuyết |
| SIZEi,t | – | – | 1% | Chấp nhận |
| ROAi,t | + | – | 5% | Chấp nhận |
| NIMi,t | + | + | 10% | Chấp nhận |
| NPLi,t | – | – | 5% | Chấp nhận |
| LOAi,t | – | – | 10% | Chấp nhận |
| FDRi,t | + | + | 1% | Chấp nhận |
| GDPi,t | + | + | 5% | Chấp nhận |
| INFi,t | – | + | 10% | Chấp nhận |
Nguồn: Tác giả tổng hợp Theo kết quả được tổng hợp ở bảng 4.11 và bảng 4.10, tác giả nhận thấy rằng:
Thứ nhất, quy mô ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn vì biến SIZE có giá trị P-Value = 0.000 nên chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê là”1% đồng thời hệ số hồi quy âm là -0.0110848 nghĩa là khi quy mô ngân hàng tăng một đơn vị thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ giảm đi 0.0110848%. Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với các nghiên cứu của Võ Hồng Đức và cộng sự (2014); Trần Đức Minh và Lữ Phi Nga (2018); Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019); Đỗ Hoài Linh và cộng sự (2019); Pham Thi Xuan Thoa và cộng sự (2020); Hung Phuong Vu và Ngoc Duc Dang (2020). Xác định biến SIZE có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hang TMCP.“Điều này có thể lý giải là do các ngân hàng có tổng tài sản lớn tức là quy mô ngân hàng càng lớn thì”càng nắm nhiều tài sản đặc biệt là những tài sản có giá trị lớn đồng thời rủi ro đi kèm cao hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn. Vì vậy các ngân hàng này thường có tỷ lệ an toàn vốn thấp và ngược lại các ngân hàng có quy mô nhỏ thì có xu hướng đẩy cao tỷ lệ an toàn vốn hơn để ngăn ngừa rủi ro cho ngân hàng mình.
“Thứ hai, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản cho biết tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản của ngân hàng, tỷ suất này dùng để đo lường hiệu quả của mỗi đồng tài sản của ngân hàng bỏ ra khi đưa vào kinh doanh. Kết quả chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Bài nghiên cứu của Phạm Thị Xuân Thoa và Nguyễn Ngọc Anh (2017) cũng chỉ ra kết quả tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Tuy nhiên trái với kỳ vọng ban đầu của tác giả là cùng chiều thì“kết quả hồi quy lại cho thấy tỷ suất lợi nhuận đang có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn nghĩa là”khi ROA tăng 1% thì CAR giảm 0.336954% và có P-value = 0.037 với mức ý nghĩa 5%.” Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Thứ ba, biên lãi ròng được tính bằng chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lời, với kết quả hồi quy mô hình được chấp nhận có giá trị P-Value = 0.093 < 0.1 và“biên lãi ròng tác động đến tỷ lệ an toàn vốn ở mức ý nghĩa thống kê là 10%.”Biến NIM này có hệ số hồi quy là 0.3106876 > 0 nên tương quan cùng chiều với CAR có nghĩa là cứ tăng 1 đơn vị thu nhập lãi thuần thì tỷ lệ an toàn vốn tăng 31.06876%. Trùng khớp với kỳ vọng ban đầu thì kết quả hồi quy cho thấy biên lãi ròng có tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP. Kết quả này cũng cùng quan điểm với các nghiên cứu trước đó Phạm Thị Xuân Thoa, Nguyễn Ngọc Anh (2017); Bahtiar Usman, Henny Setyo Lestari, Tiara Puspa (2019).
Thứ tư, nợ xấu/tổng dư nợ là tỷ lệ được các ngân hàng hiện nay đặt biệt quan tâm, tỷ lệ này dùng để chỉ các khoản nợ cho vay khách hàng đang đối diện với rủi ro cao trong việc thu hồi nợ gốc và lãi do khách hàng gặp khó khăn. Tỷ lệ này cũng cho biết hiệu quả của quy trình cho vay, chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng. Theo thống kê các bài nghiên cứu trước đây của tác giả thì chỉ có nghiên cứu Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) có đề cập đến yếu tố này nhưng không có ý nghĩ thống kê với CAR. Theo kết quả nghiên cứu trên thì với mức ý nghĩa 5% khi NPL tăng 1% thì CAR giảm -1.124986% và có P-value = 0.005. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Thứ năm, tỷ lệ cho vay là tỷ lệ được xác định giữa tổng dư nợ cho vay và tổng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ này dùng để đo lường sự tác động của các khoản cho vay với danh mục tài sản vốn mà ngân hàng đó đang nắm giữ. Khi tỷ lệ cho vay tăng lên có nghĩa là ngân hàng đang tập trung vào tăng trưởng tín dụng điều này cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ đối mặt hơn về rủi ro khi cho vay nhưng bên cạnh đó sẽ mang kèm lợi nhuận về cho ngân hàng cũng như những người gửi tiền. Kết quả bài nghiên cứu trên chỉ ra khi LOA tăng 1% thì CAR giảm -0.0372774% và có P-value = 0.085. Trong các nghiên cứu trước đây Bahtiar Usman và các cộng sự (2019); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020); Abdurrahman Setiawan và Susy Muchtar (2021) cũng cho kết quả tỷ lệ cho vay tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.
“Thứ sáu, thanh khoản là khả năng thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng khi đến hạn,“khả năng thanh khoản hay thường được gọi là tính thanh khoản của ngân hàng được thể hiện thông qua tỷ lệ giữa lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền so với tổng tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ. Nếu ngân hàng nào có được tỷ lệ này cao có nghĩa là khả năng thanh khoản càng được đảm bảo. Kết quả hồi quy cho thấy FDR có mối quan hệ cùng chiều với CAR vì biến FDR có giá trị P-Value = 0.000 nên chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê là 1%. Ngoài ra với hệ số hồi quy là 0.3905351 nghĩa là khi thanh khoản tăng“một đơn vị thì khi tỷ lệ an toàn vốn sẽ”tăng lên 0.390535%. Trùng khớp với kỳ vọng ban đầu là thanh khoản có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn thì trong các nghiên cứu trước đây của Võ Hồng Đức và các cộng sự (2014); Mehdi Mili và cộng sự (2017); Hung Phuong Vu & Ngoc Duc Dang (2020) cũng cho thấy thanh khoản tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn.”
Thứ bảy, tổng sản phẩm quốc nội cung cấp một bức tranh tổng quát về kinh tế của một quốc gia, được sử dụng để ước tính quy mô nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng. Kết quả hồi quy được chấp nhận với P-Value = 0.011 nên chấp nhận với“mức ý nghĩa thống kê”5% đồng thời hệ số hồi quy là 0.1242545 nghĩa là khi GDP tăng một đơn vị thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ tăng lên 0.1242545%. Kết quả nghiên cứu này đúng với chiều của kỳ vọng nghiên cứu.
Cuối cùng, tỷ lệ lạm phát được định nghĩa là sự tăng lên của mức giá hàng hoá và dịch vụ, và khi tỷ lệ này tăng quá cao nó có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của người dân. Kết quả hồi quy với P-Value = 0.088 nên ta chấp nhận với mức ý nghĩa thống kê 10% đồng thời hệ số hồi quy là 0.0071474 nghĩa là khi INF tăng một đơn vị thì CAR sẽ tăng lên 0.0071474%. Điều này được lý giải như sau: trong tình trạng nền kinh tế tăng trưởng thì luôn tồn tại một tỷ lệ lạm phát nhất định, có nghĩa là muốn có một nền kinh tế tăng trưởng tốt thì cần phải duy trì tỷ lệ lạm phát ở mức tối ưu. Bài nghiên cứu trước đây của Serhat Yuksel và Mustafa Ozsari (2017) cũng chỉ ra mối quan hệ tương quan cùng chiều của INF với CAR.
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Trong chương này tác giả đã thực hiện ước lượng, kiểm định và khắc phục các khuyết tật xảy ra trong mô hình nghiên cứu để từ đó xác định được các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn thông qua các số liệu thu thập từ 31 ngân hàng TMCP Việt Nam trong thời gian 2010 –2021.“Bằng phương pháp ước lượng FGLS, nghiên cứu đã kiểm định sự tác động cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đối với tỷ lệ an toàn vốn. Với kết quả từ bài nghiên cứu có được thì tất cả các biến đều tác động và có ý nghĩa thống kê đến tỷ lệ an toàn vốn đồng thời cũng tương đối đúng với chiều của kỳ vọng ban đầu tác giả đưa ra. Cụ thể, có bốn biến tương quan cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là biên lãi ròng (NIMi,t), khả năng thanh khoản (FDRi,t) tăng trưởng kinh tế (GDPi,t) và lạm phát (INFi,t) với mức ý nghĩa thống kê tương ứng là 1%, 5% và 10%. Trái ngược, bốn yếu tố còn lại bao gồm quy mô ngân hàng (SIZEi,t), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROAi,t), tỷ lệ nợ xấu (NPLi,t) và tỷ lệ cho vay (LOAi,t) có mối tương quan ngược chiều với CAR ở mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10%.
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Chương 5 cũng là chương cuối cùng của bài nghiên cứu. Trong chương 5 tác giả sẽ đưa ra các kết luận cũng như các gợi ý và khuyến nghị dựa trên các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Ngoài ra ở cuối chương tác giả cũng đề cập đến những điểm còn hạn chế cũng như nêu các hướng mở rộng cho những nghiên cứu lần sau.
5.1. KẾT LUẬN
Dựa vào cơ sở lý thuyết tổng quát về tỷ lệ an toàn vốn và các lý luận về các yếu tố tác động cũng như các nghiên cứu trước đó trong và ngoài nước trong chương 2. Những phương pháp nghiên cứu cùng các mô hình nghiên cứu được thực hiện ở chương 3. Đồng thời trong chương 4 tiếp tục thực hiện các phương pháp phân tích thông kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy để xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn cũng như mức độ tác động của các yếu tố đó đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2010 – 2021. Trong bài nghiên cứu của mình tác giả đã trả lời được các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra trong chương 1, cụ thể như sau:”
Câu hỏi thứ nhất: Các yếu tố nào tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam?
“Đề tài nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết ban đầu và tiến hành nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam bao gồm 8 yếu tố trong đó có 6 yếu tố vi mô là các yếu tố nội tại của ngân hàng bao gồm: quy mô ngân hàng,“tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, biên lãi ròng, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ”nợ xấu và khả năng thanh khoản và 2 yếu tố vĩ mô của nền kinh tế là tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Qua kết quả nghiên cứu đã xác định được tất cả các yếu tố đó đều tác động đến tỷ lệ an toàn vốn với các mức ý nghĩa thống kê 1%, 5% và 10%.”
Câu hỏi thứ hai: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam như thế nào?
Để trả lời cho câu hỏi này tác giả đã tổng hợp nghiên cứu trong bảng 5.1 dưới đây:
Bảng 5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu
| Kí hiệu | Kỳ vọng về dấu | Kết quả | Mức ý nghĩa | Hệ số hồi quy |
| SIZEi,t | _ | _ | 1% | -0.0110848 |
| ROAi,t | + | _ | 5% | -0.336954 |
| NIMi,t | + | + | 10% | 0.3106876 |
| NPLi,t | _ | _ | 5% | -1.124986 |
| LOAi,t | _ | _ | 10% | -0.0372774 |
| FDRi,t | + | + | 1% | 0.3905351 |
| GDPi,t | + | + | 5% | 0.1242545 |
| INFi,t | _ | + | 10% | 0.0071474 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Theo kết quả của Bảng 5.1 thì xu hướng và mức độ tác động của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn được xác định như sau:
Quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thông kê 1% và đúng với chiều của kỳ vọng ban đầu.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thông kê là 5% và kết quả này trái với chiều của kì vọng ban đầu.
Biên lãi ròng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thống kê là 10% và cũng đúng chiều với kỳ vọng ban đầu.
Tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thông kê là 5% và cũng đúng với chiều ban đầu của kỳ vọng.
Tỷ lệ cho vay có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thông kê là 10% và kết quả này cũng phù hợp với chiều của kỳ vọng.
Khả năng thanh khoản có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thống kê là 1% và cho kết quả đúng với kỳ vọng của tác giả
Tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thống kê là 5% và đúng với kết quả ban đầu của kỳ vọng.
Tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn với mức ý nghĩa thông kê là 10% nhưng kết quả này trái với kỳ vọng ban đầu của tác giả.
Mức độ tác động đến tỷ lệ an toàn vốn nhiều nhất là“tỷ lệ nợ xấu, tiếp đến là khả năng thanh khoản, biên lãi ròng và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản. Còn các yếu tố khác có mức độ tác động tương đối thấp hơn.
Câu hỏi thứ ba: Những hàm ý chính sách liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam là gì?
Để trả lời cho câu hỏi thứ 3 này, tác giả sẽ trình bày một số hàm ý chính sách được nêu trong phần tiếp theo sau đây là phần 5.2.
5.2. HÀM Ý QUẢN TRỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
5.2.1. Gợi ý về quy mô ngân hàng
Kết quả nghiên cứu trong chương 4 đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Nếu quy mô của các ngân hàng càng được mở rộng thì tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng mình có khả năng bị giảm đi. Hiện nay trong bối cảnh nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cộng với việc sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càng ngày gia tăng cả về lượng và chất thì việc tăng hay giảm quy mô là điều các ngân hàng phải cân nhắc một cách thận trọng.”Mặt khác để tăng quy mô như thế nào là phù hợp vừa để đảm bảo an toàn vốn nhằm tăng độ nhận diện thương hiệu cũng như đảm bảo được hiệu quả kinh doanh là một bài toán không dễ với các nhà quản trị ngân hàng. Điều này đặt ra các nhà quản trị ngân hàng có nên tăng quy mô một cách ồ ạt, mở rộng mạng lưới chi nhánh hay phải có một chính sách quản lý quy mô hoạt động ngân hàng vừa đủ cũng như phù hợp với tình hình hiện tại vừa để tận dụng lợi thế nhờ quy mô nhằm nâng cao sức mạnh thị trường của mình và vừa đảm bảo được an toàn đồng vốn cho ngân hàng.”
Cơ quan quản lý hoạt động ngân hàng cụ thể tại Việt Nam là NHNN phải kiểm soát việc tăng vốn điều lệ và quyết định mở rộng quy mô thông qua việc mở rộng mạng lưới chi nhánh của các ngân hàng TMCP ở Việt Nam một cách sâu sát và chặt chẽ hơn nữa. Trong giai đoạn nghiên cứu kèm theo với việc thực hiện đề án tái cơ cấu lại hệ thống TCTD theo quyết định số số 254/QĐ-TTg thì các ngân hàng đã thực hiện việc tăng nhanh quy mô và năng lực tài chính.“Tuy nhiên việc gia tăng quy mô này đã gặp phải những tín hiệu tiêu cực như nợ xấu tăng cao từ việc tăng mạnh cho vay, việc mở rộng các chi nhánh phòng giao dịch làm tăng lượng nhân viên, chi phí cơ sở vật chất… dẫn đến chi phí hoạt động của ngân hàng tăng cao đồng thời làm cho lợi nhuận của ngân hàng bị giảm sút. Do đó, các ngân hàng TMCP cần đặc biệt quan tâm khi quy mô ngân hàng tăng thì phải đi kèm với việc năng lực quản trị của các nhà quản trị cần được cải thiện, cơ sở vật chất được nâng cấp cũng như các dịch vụ ngân hàng đi kèm cũng phải được nâng cao để đảm bảo được chất lượng dịch vụ ngân hàng.”Ngoài ra trong giai đoạn nghiên cứu thì cũng đã chứng kiến nhiều hoạt động sáp nhập từ các ngân hàng yếu kém vào các ngân hàng có năng lực quản trị cao hơn. Tuy nhiên các hoạt động tái cấu trúc này cần được các cơ quan quản lý cụ thể ở đây là NHNN phải giám sát một cách chặt chẽ tránh việc sau khi tái cấu trúc nhưng hoạt động vẫn không hiệu quả gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của cả hệ thống ngân hàng.
NHNN cũng cần phải đưa ra các tiêu chí, các hướng dẫn cũng như cả lộ trình cụ thể để yêu cầu các ngân hàng này sau khi đã được tái cấu trúc phải đạt được như thông tin ngân hàng phải minh bạch và rõ ràng, năng lực quản trị của các cấp quản lý ngân hàng đó phải được nâng cao, nhân viên cần được tái đào tạo và huấn luyện, hệ thống hoạt động và giám sát nội bộ phải được xây dựng lại một cách có bài bản,v.v để các ngân hàng từng bước đáp ứng được các yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.”Ngoài ra các nhà quản trị ngân hàng nắm bắt thông tin trong và ngoài nước, chắt lọc các thông tin thị trường tài chính đồng thời đưa ra các dự báo của mình về các rủi ro có thể xảy ra khi ngân hàng tiến hành tăng vốn điều lệ hay mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng mình về các tỉnh.”Trong việc mở rộng mạng lưới chi nhánh về thị trường mới cần quan sát và đánh giá về điều kiện vật chất như: địa hình, thời tiết, mật độ dân cư, hoạt động sản xuất vùng miền, địa điểm hoạt động, công nghệ hạ tầng, trang thiết bị. Hơn nữa hoạt động tuyển dụng nhân viên cần phải chú ý đến trình độ hay năng lực xử lý công việc, hoạt động đào tạo nhân viên có nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp. Mọi hoạt động tăng quy mô có thể giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả nhưng cũng gây cản trở cho việc tìm kiếm lợi nhuận của ngân hàng vì vậy các nhà quản trị nên có một chính sách phù hợp để vừa đảm bảo được tỷ lệ an toàn vốn cũng như lợi nhuận cho ngân hàng.”
5.2.2. Gợi ý về tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Các ngân hàng TMCP có thể tiến hành đẩy mạnh gia tăng lợi nhuận bằng các biện pháp như đẩy mạnh cho vay, đa dạng hóa trong nguồn thu nhập của mình như hoạt động thu phí.“Tuy nhiên, kết quả từ chương 4 cho thấy tỷ suất lợi nhuận này có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn tức là nếu gia tăng về“tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản sẽ làm giảm tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. Vì vậy bên cạnh hoạt động làm gia tăng lợi nhuận các ngân hàng cần thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro và giảm thiểu rủi ro cần thiết và có thể hạn chế cho vay những khoản vay có mức độ rủi ro cao.”Ngoài ra các ngân hàng TMCP cần chú trọng tăng thu nhập từ các sản phẩm, dịch vụ khác ngoài nguồn thu từ hoạt động tín dụng truyền thống và hoạt động đầu tư vì hoạt động tín dụng mặc dù là hoạt động chủ yếu và chiếm nguồn thu lớn trong nguồn thu nhập“của ngân hàng nhưng chứa đựng nhiều rủi ro.”Trong giai đoạn hiện nay các hoạt động dịch vụ với doanh thu ngoài lãi là hoạt động có thể mang lại nguồn thu nhập đáng kể mà ngân hàng có thể được kiểm soát như các dịch vụ như dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước, dịch vụ thu chi hộ, dịch vụ thẻ,v.v. Trong khoảng thời gian diễn ra dịch Covid thì việc giao dịch tại quầy diễn ra không được thuận lợi và Internet Banking hay Mobil Banking là một sự lựa chọn hàng đầu. Tại thời điểm đó ngân hàng nào có sức mạnh công nghệ nổi trội sẽ có doanh thu và hiêu quả lợi nhuận trên đồng vốn tốt hơn. Do đó bên cạnh chú trọng về lợi nhuận, doanh thu thì ngân hàng cũng cần đổi mới hơn về công nghệ, chú trọng đào tạo nhân viên hiệu quả, giảm các chi phí hoạt động không cần thiết sẽ tối ưu hóa được lợi nhuận cũng như đảm bảo được an toàn vốn của ngân hàng.
5.2.3 Gợi ý về biên lãi ròng
Kết quả nghiên cho thấy biên lãi ròng có tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng TMCP Việt Nam. Việc tạo ra doanh thu là một công việc quan trọng hàng đầu của nhà quản trị ngân hàng. Doanh thu ngân hàng có thể đến từ hoạt động lãi và hoạt động phi lãi. Đối với doanh thu từ hoạt động lãi chính là hoạt động tín dụng thì bên cạnh việc tăng trưởng về tín dụng qua từng năm thì luôn tiềm ẩn các rủi ro kèm theo. Đối với doanh thu từ hoạt động phi lãi tức là các hoạt động thu từ phí thì ngân hàng luôn chú trọng đầu tư vào hình ảnh chuyên nghiệp, dịch vụ khách hàng tận tâm. Tuy nhiên biên lãi ròng là lợi nhuận sau thuế tính trên mỗi đồng doanh thu, muốn biên lãi ròng càng cao thì bên cạnh việc tăng doanh thu thì chi phí cần được tối ưu hóa ở mức thấp nhất. Để giảm thiểu chi phí“hoạt động của ngân hàng mình, các nhà quản trị có thể tối ưu”hóa vận hành với việc sử dụng các kỹ thuật công nghệ ngân hàng hiện đại, tận dụng các cơ hội và giá trị của chuyển đổi số, nâng cao chất lượng nhân sự thay cho số lượng nhân sự đông đảo như hiện nay bằng cách thường xuyên tổ chức các lớp huấn luyện, tái đào tạo nhân sự đồng thời giảm thiểu các chi phí đầu tư theo mô hình ngân hàng truyền thống như trước đây.
5.2.4. Gợi ý về tỷ lệ nợ xấu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Kết quả nghiên cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động ngược chiều với tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Tức là tỷ lệ an toàn vốn được gia tăng khi tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng càng giảm. Để làm giảm tỷ lệ nợ xấu thì“các ngân hàng xây dựng quy trình cho vay”và thẩm định tài sản chặt chẽ. Bên cạnh việc tăng trưởng về tín dụng thì việc xây dựng một quy trình giám sát tín dụng chặt chẽ là một điều rất cần thiết. Để xây dựng được quy trình này ngân hàng cần đưa ra các tiêu chuẩn cũng như bộ xếp hạng tín nhiệm phù hợp với từng phân khúc khách hàng cụ thể. Ngoài ra để có thể giảm thiểu về nguy cơ nợ xấu các ngân hàng cần nâng cao khâu thẩm định hồ sơ tín dụng, đào tạo thường xuyên các nghiệp vụ liên quan đến khâu thẩm định hồ sơ khách hàng cho nhân viên, giám sát các khâu trước, trong và sau khi cho vay đến từng khách hàng nhằm đảm bảo các khoản vay đã giải ngân đúng với mục đích sử dụng để từ đó có kế hoạch thu hồi vốn trước hạn nếu xảy ra nguy cơ nợ xấu. Việc“nâng cao chất lượng các khoản cho vay có thể giúp ngân hàng tăng lợi nhuận bên cạnh đó giúp ngân hàng kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, giảm tỷ lệ nợ xấu giúp cho tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng được tăng lên.”
5.2.5. Gợi ý về tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ cho vay có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam.“Việc tăng trưởng tín dụng là một mục tiêu quan trọng của các ngân hàng trong thời gian vừa qua, tuy nhiên việc tăng nóng tín dụng là một trong những nguyên nhân làm giảm mất an toàn vốn vì hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro nếu các ngân hàng không có các công cụ kiểm soát chặt chẽ sẽ có nguy cơ mất vốn.”Bằng chứng cho thấy trong giai đoạn nghiên cứu một số ngân hàng đã rơi vào diện kiểm soát đặc biệt, phải chịu mua lại với giá 0 đồng hay phải sáp nhập với các ngân hàng khác do không đảm bảo được hiệu quả hoạt động của ngân hàng mình và gây ảnh hưởng xấu đến“hệ thống ngân hàng cũng như cả hệ thống tài chính nói chung.”Do đó ngân hàng cần kiểm soát hoạt động cho vay chặt chẽ và đồng bộ trên toàn hệ thống ngân hàng mình.
Ngoài ra nhu cầu vay vốn của khách hàng ngày càng nhiều, ngân hàng muốn tìm kiếm lợi nhuận thì cần phải vừa đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường nhưng cũng cần đảm bảo an toàn đồng vốn của các nhà đầu tư và người gửi tiền.
5.2.6. Gợi ý về khả năng thanh khoản
Kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng thanh khoản có tác động cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP“Việt Nam. Điều này có nghĩa rằng các ngân hàng TMCP có tính thanh khoản cao thì tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo. Do đó các ngân hàng có thể quản trị tỷ lệ an toàn vốn hiệu quả bằng cách tăng tỷ lệ các tài sản có khả năng thanh khoản. Vì nếu các tài sản của ngân hàng đều có khả năng thanh khoản cao thì ngân hàng đó có thể đảm bảo được việc thanh toán, ứng hay rút tiền của người gửi tiền, từ đó giúp cho hoạt động của ngân hàng đảm cũng giúp cho người gửi tiền an tâm khi tiền của họ được gửi vào một nơi uy tín và có lãi. Ngoài ra nếu một ngân hàng có khả năng thanh khoản cao thì không chỉ đảm bảo được các hoạt động kinh doanh thường ngày của ngân hàng mình mà có thể giúp cho hệ thống ngân hàng được vận hành một cách trơn tru đồng thời giảm nguy cơ rủi ro nếu môi trường kinh doanh gặp khủng hoảng. Vì vậy các ngân hàng cần xem lại cơ cấu về tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng mình đã phù hợp chưa, có cần cấu trúc lại không? ngoài ra ngân hàng cũng xem lại nguồn vốn tiền gửi và cho vay trên thị trường có được đảm bảo khi ngân hàng cần rút về hay không? Rất nhiều câu hỏi được đặt ra cho các nhà quản trị về thanh khoản. Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá hay điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực nhạy cảm nhiều rủi ro như chứng khoán, bất động sản thì ngân hàng cần phải tiến hành đảm bảo được tỷ lệ dự trữ an toàn.”Ngoài ra, ngân hàng cần xây dựng quy trình và đánh giá rủi ro một cách chuyên nghiệp bằng cách đánh giá hoạt động thường xuyên và định kì, việc chủ động kiểm toán nội bộ định kì và xây dựng chính sách quản lý rủi ro là công việc cần được các nhà quản trị đặt lên hàng đầu. Vì kinh doanh có lợi nhuận nhưng không kiểm soát được các hoạt động rủi ro thì cũng xem phải thiết lập từng quy trình một cách cụ thể để từ đó xác định rủi ro, đo lường các rủi ro có thể xảy ra để từ đó đưa ra các biện pháp rủi ro nhằm giảm thiểu nguy cơ về mức thấp nhất có thể xảy ra cho ngân hàng mình.
5.2.7. Gợi ý về tăng trưởng kinh kế Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Bài nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam. Thông thường trong một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế phát triển ổn định và bền vững sẽ giúp cho các doanh nghiệp cũng như các ngân hàng diễn ra các hoạt động kinh doanh được một cách thuận lợi, tạo ra các cơ hội kinh doanh và đầu tư có hiệu quả.”Doanh nghiệp và ngân hàng luôn là đối tác của nhau và luôn gắn liền với nhau trong tất cả các hoạt động kinh doanh của cả hai. Nếu doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả và phát triển bên vững thì cũng giúp các ngân hàng tồn tại và hoạt động được hiệu quả, ổn định và an toàn. Mặc dù biến vĩ mô này thường nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản trị ngân hàng nhưng gần như trong các chính sách kinh doanh của mình thì các nhà quản trị luôn luôn chủ động tìm hiểu thông tin, cân nhắc, thận trọng và dự báo các nguy cơ mà ngân hàng mình sẽ gặp phải nếu có sự thay đổi của nền kinh tế hay những nguy cơ về sự sụt giảm về“tăng trưởng kinh tế thế giới.”Vì vậy, bài nghiên cứu cũng đưa ra các gợi ý cho các nhà quản trị ngân hàng là bên cạnh nhiệm vụ tăng cường năng lực quản lý kinh doanh, các ngân hàng TMCP cần phải quan tâm, thường xuyên đánh giá theo dõi và dự báo tình hình biến động các chỉ số vĩ mô trong tương lai để chủ động ứng phó với các cú sốc của nền kinh tế. Từ đó, đưa ra các chính sách kinh doanh linh hoạt hơn để đạt được lợi nhuận kì vọng cũng như đảm bảo được an toàn vốn cho ngân hàng của mình.
5.2.8. Gợi ý về lạm phát
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam tức là tỷ lệ lạm phát tăng có thể giúp cho“tỷ lệ an toàn vốn được tăng lên. Mặc dù cũng giống như GDP thì lạm phát là một yếu tố vĩ mô nằm ngoài tầm kiểm soát của các ngân hàng. Tuy nhiên cần nhận thấy rằng nếu tỷ lệ lạm phát tăng quá cao sẽ gây ra rất nhiều nguy cơ xấu cho nền kinh tế. Do đó mặc dù là một yếu tố vĩ mô nhưng tại Việt Nam NHNN đã điều hành thận trọng, sử dụng linh hoạt hay đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm góp phần kiểm soát lạm phát khoảng”4,5%. Để từ đó ổn định được kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng; điều tiết tiền tệ hợp lý, điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với tình hình thị trường, diễn biến kinh tế vĩ mô và mục tiêu chính sách tiền tệ.
5.3. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO
5.3.1. Hạn chế của đề tài
Trong bài nghiên cứu của mình tác giả đã tập trung nghiên cứu và phân tích các yếu tố tác động cũng như đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến tỷ lệ an toàn của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2021. Dựa trên các cơ sở lý thuyết về tỷ lệ an toàn vốn và trên cơ sở nghiên cứu, phân tích định lượng, tác giả cũng đã đưa ra những hàm ý chính sách liên quan đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP Việt Nam một cách chi tiết nhất. Tuy nhiên vì thời gian nghiên cứu cũng như kinh nghiệm nghiên cứu của tác giả còn hạn chế nên dù đã có rất nhiều cố gắng trong việc hoàn thành bài nghiên cứu nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót.”
Vì có một số ngân hàng không công bố đầy đủ thông tin về tỷ lệ an toàn vốn trên các báo cáo tài chính của mình. Ngoài ra vì có nhiều vụ sáp nhập hay được mua lại với giá 0 đồng trong giai đoạn nghiên cứu nên có một số ngân hàng mới thành lập sau này. Ngoài ra,“nguồn dữ liệu thứ cấp được nghiên cứu trong bài được thu thập từ các BCTN và BCTC đã kiểm toán của từng ngân hàng TMCP. Vì vậy nếu các số liệu thống kê của ngân hàng chưa đáng tin cậy thì có thể dẫn kết kết quả ước lượng của mô hình có thể bị ảnh hưởng. Từ đó có thể làm có kết quả nghiên cứu của tác giả không đúng với thực tế.
Việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP trong giai đoạn 2010 – 2021 có thể chưa đồng nhất, vì vậy việc xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn giữa các ngân hàng có thể chưa chính xác hoàn toàn.“Trong giai đoạn nghiên cứu thì NHNN đã xây dựng lộ trình triển khai và thí điểm áp dụng chuẩn mực Basel II đối với 10 ngân hàng TMCP bao gồm các ngân hàng nằm trong danh sách nghiên cứu của bài nghiên cứu là Vietcombank, VietinBank, BIDV, MB, Sacombank, ACB, Techcombank, VPBank, VIB và MSB. Trong khi một số ngân hàng TMCP khác thì vẫn đang tính tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn mực của Basel I. Đồng thời nhiều ngân hàng đã được niêm yết trên 2 sàn chứng khoán là HoSE và HNX nhưng vẫn còn một số ngân hàng vẫn giao dịch trên sàn OTC.” Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
Trong mô hình nghiên cứu của mình tác giả nhận thấy vẫn còn thiếu sót và chưa đầy đủ các biến nghiên cứu. Các biến độc lập mà tác giả đã đưa vào trong mô hình nghiên cứu chưa phải là toàn bộ các biến tác động đến tỷ lệ an toàn vốn. Trong tỷ lệ an toàn vốn có thể còn nhiều yếu tố khác tác động mạnh hơn”mà tác giả chưa đưa ra được trong bài nghiên cứu của mình như: lãi suất thị trường, mức trung bình vốn của ngành, tỷ lệ tiền gửi, tỷ giá hối đoái,v.v”
Vì bản thân tác giả còn hạn chế ở nhiều khía cạnh như kiến thức chuyên sâu về ngành, kinh nghiệm nghiên cứu thực tế, thời gian xử lý,v.v nên nghiên cứu“chưa áp dụng những phương pháp đánh giá, phân tích và ước lượng dữ liệu chuyên sâu hơn.”
Trong các nguyên nhân dẫn đến bài nghiên cứu của mình chưa hoàn thiện và còn nhiều tồn tại thì cũng có những nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Vì vậy nhằm khắc phục những hạn chế mà tác giả đã nêu ở trên, thì bản thân tác giả cũng đề xuất một số giải pháp hoàn thiện bài nghiên cứu hơn hoặc cũng có thể áp dụng cho các bài nghiên cứu về sau thông qua mục tiếp theo.”
5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo
Trên cơ sở các hạn chế của nghiên cứu này, tác giả đề xuất cho bài nghiên cứu tiếp theo như sau:
Thứ nhất, điều chỉnh cỡ mẫu nghiên cứu
Về thời gian, trong tương lai các bài nghiên cứu có thể tăng số lượng năm được chọn để nghiên cứu.
Về không gian, trong tương lai các nghiên cứu có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu bao gồm NHTM sở hữu nhà nước, các ngân hàng có vốn 100% nước ngoài không chỉ vậy mà có thể tiến hành so sánh với các NHTM các nước trong khu vực ASEAN hay mở rộng hơn với khu vực Châu Á từ đó làm kết quả nghiên cứu sẽ có tính đại diện cao hơn.”
Thứ hai, mở rộng nội dung nghiên cứu
Về nội dung nghiên cứu,“trong tương lai các nghiên cứu có thể thực hiện theo hướng phân tích mở rộng thêm, có thể chọn thêm các yếu tố vi mô và vĩ mô”khác ảnh hưởng tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng TMCP để nâng cao tính phù hợp và tính đại diện của mô hình nghiên cứu.”
Thứ ba, phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, trong tương lai các nghiên cứu có thể sử dụng thêm mô hình hồi quy khác nhau để từ đó lựa chọn được mô hình hồi quy tối ưu hơn, hạn chế được các khuyết tật tồn tại trong mô hình nghiên cứu, kiểm soát được các yếu tố bên trong, xem xét thêm yếu tố độ trễ của dữ liệu giúp mô hình nghiên cứu đạt đến kết quả chính xác, phù hợp với thực tế và hiệu quả cao trong nghiên cứu.” Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến tỷ lệ an toàn vốn ở Ngân hàng […]