Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ làm các dịch vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán; trong đó hoạt động tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất mang lại lợi nhuận chính nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với một ngân hàng thương mại. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là vấn đề vô cùng quan trọng giúp ngân hàng thương mại đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất.

Thực tế trong thời gian qua, môi trường hoạt động tín dụng gặp nhiều khó khăn khi nền kinh tế gặp khủng hoảng, đại dịch Covid-19 khiến các doanh nghiệp trong nước phải tạm dừng hoạt động để chống dịch, vì vậy hoạt động tín dụng nhất là tín dụng doanh nghiệp đối mặt với mức độ rủi ro lớn. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành các chính sách quản lý chặt chẽ mức tăng trưởng dư nợ cho vay hằng năm của các Ngân hàng thương mại nhằm thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát khiến nguồn thu nhập từ hoạt động cho vay đối với khách hàng bị chậm lại.

Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn để duy trì và phát triển, do vậy, việc phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp không phải là ưu tiên số một trong định hướng hoạt động của Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam cũng như các Ngân hàng thương mại nói chung. Với thị trường nhiều tiềm năng như dân số đông khoảng 90 triệu dân, kết cấu dân số trẻ, thu nhập ngày một cải thiện, phong cách tiêu dùng hiện đại, việc phát triển tín dụng khách hàng cá nhân là sự lựa chọn khôn ngoan của các ngân hàng lúc này đặc biệt là những ngân hàng quy mô không lớn như Eximbank. Thực tế cho thấy thị trường tín dụng cá nhân tạo ra một nền tảng khách hàng vững chắc, ổn định và giúp phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng, đồng thời tạo cơ hội tốt trong bán chéo các sản phẩm dịch vụ khác đặc biệt trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại. Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định, chắc chắn và đem lại rủi ro thấp nếu so với đối tượng khách hàng là doanh nghiệp. Vì vậy, hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân là giải pháp hữu hiệu nhằm phân tán rủi ro, mở rộng đối tượng khách hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần đa dạng hóa hoạt động của Ngân hàng thương mại. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Với chiến lược cơ cấu lại để phát triển, Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã xây dựng và triển khai dự án “New Eximbank” (bắt đầu từ tháng 1 năm 2017). Eximbank đã thay đổi chiến lược kinh doanh theo hướng tăng cường tương tác từ Hội sở chính đến hệ thống mạng lưới trên cả nước; chú trọng và đẩy mạnh huy động vốn thông qua kênh tiền gửi để cải thiện tốc độ tăng trưởng tiền gửi nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng tín dụng (Năm 2018, Eximbank là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tiền gửi nhanh và xếp thứ 10 trong số các ngân hàng thương mại Việt Nam về hiệu quả huy động tiền gửi trên vốn chủ sở hữu; đạt 9.4 lần theo báo cáo tài chính quý IV/2018). Cùng với việc tăng cường huy động vốn thì hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng của Eximbank cũng được đẩy mạnh.

Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân là điều rất cần thiết, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong điều kiện hiện nay, đảm bảo lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Hiện nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình đã xây dựng được mối quan hệ tốt với khách hàng trong việc cho vay, tuy nhiên vẫn gặp phải những khó khăn nhất định ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.

Hiểu được những khó khăn, thách thức mà Eximbank chi nhánh Ba Đình đang phải đối mặt, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình” để nghiên cứu trong luận văn này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Ngành Tài Chính Ngân Hàng

2. Tổng quan các nghiên cứu về đề tài

Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng là một trong những nội dung quan trọng trong bất kỳ một ngân hàng thương mại nào, do đó đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín dụng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong nghiệp vụ cấp tín dụng tại các ngân hàng. Tại Việt Nam, khi chuyển sang cơ chế thị trường, các ngân hàng thương mại đứng trước những khó khăn và thách thức không nhỏ trong hoạt động giữa cơ chế cũ và cơ chế mới, trong đó có những vấn đề trong công tác quản trị tính hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng đặc biệt là tín dụng cá nhân. Để khắc phục những khó khăn và thách thức đó, cấp quản lý của các ngân hàng thương mại đã và đang quan tâm phân tích, đánh giá tính hiệu quả trong nghiệp vụ tín dụng nhằm hạn chế những rủi ro cấp tín dụng và đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho các ngân hàng. Vì vậy trong những năm gần đây có khá nhiều công trình nghiên cứu sâu về tính hiệu quả của hoạt động tín dụng và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng, đồng thời đưa ra các giải pháp giúp nâng cao về mặt nghiệp vụ đối với hoạt động cấp tín dụng, tiêu biểu trong số đó có một số công trình nghiên cứu như sau: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu, Học viện tài chính (2015) đã đặt trọng tâm ở việc làm rõ các khái niệm, bản chất, các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động tín dụng, thực trạng của hiệu quả hoạt động tín dụng đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp ở góc độ quy mô hoạt động, hệ thống thông tin, chính sách đầu tư và tiềm lực nguồn vốn.

Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các Ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiên Phong, Học viện Ngân hàng (2008) đã chỉ rõ những vấn đề cơ bản trong hiệu quả hoạt động tín dụng của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam hiện nay tuy nhiên luận văn chưa cập nhật được môi trường kinh doanh ngân hàng trong các năm gần đây cũng như chưa tập trung thích đáng tới các nội dung trong quản trị Ngân hàng thương mại hiện đại đã có tác động đáng kể tới hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân trong đó có đối tượng được đề cập đến ở đề tài của luận văn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Luận văn Thạc sỹ Kinh tế “Giải pháp phát triển hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Sài Gòn” của tác giả Triều Mạnh Đức, Đại học Kinh tế tp. Hồ Chí Minh (2009) đã đưa ra được những lí luận cơ bản về hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng cá nhân tại một Ngân hàng thương mại, đồng thời luận văn chỉ rõ được những thành tựu cũng như mặt hạn chế còn tồn tại của hoạt động tín dụng cá nhân.

Luận văn Thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Đăk Lăk” của tác giả Phạm Trường Giang, Đại học Kinh tế Quốc dân (2014) đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hiệu quả tín dụng cá nhân và vận dụng vào việc đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng của BIDV chi nhánh Đăk Lăk, từ đó đưa ra những giải pháp, chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại chi nhánh.

Các luận văn trên đã làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về lý luận trong hoạt động tín dụng và tín dụng cá nhân tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đi sâu vào phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân ở các ngân hàng thương mại và qua đó chỉ ra những ưu nhược điểm cũng như những vấn đề tồn tại trong công tác cấp tín dụng, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân và nghiệp vụ tín dụng nói chung. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa tập trung cập nhật được môi trường kinh doanh ngân hàng trong những năm gần đây hơn nữa cũng chưa tập trung thích đáng trong lĩnh vực quản trị ngân hàng thương mại hiện đại có tác động đáng kể tới nghiệp vụ nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Mỗi nghiên cứu đã phản ánh được cơ bản trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng và tín dụng cá nhân, cũng là lĩnh vực mà tác giả đang nghiên cứu. Tuy nhiên, đề tài về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình trong giai đoạn từ 2016 đến 2020 là chưa từng được nghiên cứu; do vậy đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu có sự độc lập nhất định, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trước đó.

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn của tác giả có kế thừa, chọn lọc những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nhưng đồng thời cũng có những điểm mới đó là gắn với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra là nghiên cứu về tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình giai đoạn 2016-2020 và qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị trong nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại đơn vị trong nền kinh tế mở cửa với nhiều cơ hội phát triển kinh tế nói chung và phát triển hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng, đồng thời luận văn cũng chỉ rõ những thách thức mà ngân hàng phải đối mặt trong bối cảnh đại dịch toàn cầu gây tác động không nhỏ tới hoạt động cấp tín dụng. Ngoài ra, nội dung luận văn có tham khảo các quy định, quy trình và báo cáo của Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình và các cơ sở pháp lý là các Quyết định của Luật các tổ chức tín dụng và các Quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như một số các quy định pháp luật khác.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích và đánh giá thực trạng, tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank chi nhánh Ba Đình.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  • Làm rõ những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại.
  • Làm rõ thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank chi nhánh Ba Đình giai đoạn từ năm 2016-2020.
  • Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank chi nhánh Ba Đình.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu và phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank chi nhánh Ba Đình.

4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Không gian nghiên cứu: nghiên cứu hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank chi nhánh Ba Đình

Thời gian nghiên cứu: số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ năm 2016 đến năm 2020.

5. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, đánh giá, mô tả và khái quát đối tượng nghiên cứu.

Đối với phương pháp so sánh: đây là phương pháp rất phổ biến để phân tích hoạt động kinh doanh. Phương pháp này được sử dụng trên cơ sở 3 nguyên tắc:

Lựa chọn tiêu chuẩn so sánh : tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được lựa chọn làm căn cứ so sánh, được gọi là gốc so sánh. Tuỳ theo mục đích của nghiên cứu mà chọn gốc so sánh thích hợp. Các gốc so sánh có thể là: Tài liệu năm trước, các mục tiêu dự kiến, các chỉ tiêu trung bình của ngành, khu vực kinh doanh…

Điều kiện so sánh: để phép so sánh có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng phải đồng nhất. Điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế cần được quan tâm cả về thời gian và không gian.

Kỹ thuật so sánh: để đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu thường sử dụng những kỹ thuật so sánh sau: So sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối, so sánh bằng số bình quân, so sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung.

Đối với phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập các thông tin liên quan đến cơ sở lý thuyết của đề tài, kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài, các chủ trương chính sách liên quan đến đề tài và các số liệu thống kê. Các bước nghiên cứu tài liệu thường trải qua 3 bước: thu thập tài liệu, phân tích tài liệu và trình bày tóm tắt các nội dung nghiên cứu trước đó.

6. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục bảng, hình vẽ, biểu đồ, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại
  • Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam chi nhánh Ba Đình

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại

1.1.1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân

Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại xuất phát từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa và thiếu hụt vốn diễn ra thường xuyên giữa các chủ thể trong nên kinh tế.

Theo Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định, khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, theo quan điểm này tín dụng có ba nội dung chủ yếu đó là tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả.

Theo luật của các tổ chức tín dụng năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức hay cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Theo Nguyễn Thị Mùi (2006), có nhiều cách định nghĩa nhưng tín dụng ngân hàng thường chứa đựng ba nội dung chính như sau: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

  • Thứ nhất: Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn
  • Thứ hai: Sự chuyển nhượng này mang tính thời hạn
  • Thứ ba: Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro.

Trên cơ sở định nghĩa tín dụng ngân hàng nêu trên và xét trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm các cá nhân và hộ gia đình có chứng nhận đăng ký kinh doanh cá thể, từ đó đưa ra định nghĩa tín dụng khách hàng cá nhân như sau:

Tín dụng khách hàng cá nhân là hình thức mà trong đó ngân hàng thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống và sản xuất kinh doanh dưới hình thức cá thể hoặc hộ kinh doanh cá thể. Tín dụng khách hàng cá nhân có đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho việc kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình (Lê Văn Tề, 2013).

Trên thế giới, tín dụng khách hàng cá nhân được phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, tín dụng khách hàng cá nhân hay cho vay cá nhân chỉ bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 90, thời gian đầu các sản phẩm còn sơ sài, đơn điệu. Tuy nhiên những năm gần đây, tín dụng khách hàng cá nhân có xu hướng bùng nổ cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thời kỳ mở cửa và hội nhập. Việt Nam có dân số hơn 90 triệu dân với kết cấu dân số trẻ, thu nhập ngày càng cao, nhu cầu tiêu dùng và mua sắm ngày càng lớn; điều này mang lại cơ hội và tiềm năng để các ngân hàng thương mại phát triển tín dụng khách hàng cá nhân.

1.1.2. Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

  • Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn:

Trên thực tế, các khoản vay của tín dụng khách hàng cá nhân thường hướng đến hai đối tượng chủ yếu là cho vay hộ gia đình để bổ sung vốn sản xuất kinh doanh và cho vay tiêu dùng như mua xe, sửa nhà, xây nhà. Tuy nhiên, do năng lực của khách hàng vay bị hạn chế về tài sản đảm bảo, năng lực tài chính, nguồn trả nợ và qua đánh giá tính phù hợp của nhu cầu vốn nên các khoản vay hướng đến khách hàng cá nhân thường có quy mô nhỏ lẻ (Hồ Diệu, 2009).

Số lượng khách hàng cá nhân lớn do đối tượng là các cá nhân trong xã hội bao gồm cả người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao. Mặt khác, do nhu cầu vay của các cá nhân trong xã hội rất phong phú và đa dạng nên số lượng các khoản vay cá nhân thường lớn.

  • Cho vay cá nhân thường tiềm ẩn nhiều rủi ro:

Theo giáo trình Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của tác giả Nguyễn Văn Tiến (2010), rủi ro thứ nhất khi cho vay đối tượng này là rủi ro do thông tin bất đối xứng. Với khách hàng doanh nghiệp, việc thu thập thông tin là tương đối dễ dàng do có rất nhiều nguồn cung cấp như báo cáo tài chính, bảng xếp hạng tín dụng, tình hình niêm yết chứng khoán, thậm chí là các mối quan hệ với đối tác của công ty, tình hình nộp thuế… nhưng với khách hàng cá nhân việc thu đánh giá năng lực khách hàng gặp nhiều khó khăn khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên thiếu chính xác. Hơn hết, nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân là thu nhập hàng tháng của khách hàng, do vậy, nếu người vay gặp phải các rủi ro bất ngờ dẫn đến việc mất khả năng thanh toán thì rõ ràng ảnh hưởng rất lớn đến việc trả nợ cho ngân hàng.

Rủi ro thứ hai là rủi ro tác nghiệp. Do đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân là khoản vay nhỏ nhưng số lượng lớn nên để đảm bảo đúng tiến độ và nhu cầu vay của khách hàng thì bản thân nhân viên của ngân hàng phải tiến hành thẩm định nhanh chóng nhưng như phân tích ở trên, việc thẩm định khách hàng cá nhân thường gặp thông tin bất đối xứng nên công tác thẩm định gặp nhiều khó khăn và có thể trở nên thiếu chính xác.

  • Chi phí để phát triển cho vay cá nhân thường tốn kém:

Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là phân bố rộng và đối tượng nhiều nên thường gây tốn kém chi phí cho ngân hàng như chi phí bán hàng bao gồm tiếp thị quảng cáo, in tờ rơi, chi phí cho nhân lực, chi phí quản lý như điện nước, văn phòng….

1.1.3. Phân loại tín dụng khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

1.1.3.1. Phân loại theo tính chất của tài sản thế chấp

Tín dụng có tài sản đảm bảo: là khoản vay được đảm bảo bằng tài sản hoặc giấy tờ có giá hoặc được bảo lãnh từ bên thứ ba. Tài sản đảm bảo hoặc bảo lãnh của bên thứ ba thực chất là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm được nguồn dự phòng khi nguồn thu chính từ khách hàng bị thiếu hụt, tạo áp lực trả nợ cho khách hàng; từ đó giảm thiểu rủi ro không cần thiết cho ngân hàng.

Tín dụng không có tài sản đảm bảo (tín chấp): là khoản vay được đảm bảo bằng uy tín của khách hàng với ngân hàng. Thông thường hình thức cấp tín dụng này được áp dụng với một số nhóm đối tượng cụ thể hoặc các khách hàng có giao dịch thường xuyên và uy tín với ngân hàng.

1.1.3.2. Phân loại theo thời gian vay vốn

Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn tới 12 tháng. Với tín dụng khách hàng cá nhân thì tín dụng ngắn hạn là hình thức đem lại không nhiều rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn thường có ít biến động xảy ra với khách hàng và nếu có thì ngân hàng cũng có thể dự báo trước được.

Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Đối với cá nhân, tín dụng trung hạn thường phục vụ các nhu cầu vay vốn tương đối lớn như mua ô tô, xây sửa nhà….

Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn được cấp khi cá nhân có khoản vay lớn, chủ yếu để phục vụ cho nhu cầu mua sắm nhà cửa, đất đai… Thông thường tín dụng dài hạn thường tiềm ẩn nhiều rủi ro.

1.1.3.3. Phân loại theo mục đích vay vốn Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Thông thường nếu phân loại theo mục đích vay vốn thì tùy theo các chương trình của từng ngân hàng khác nhau mà có những khoản vay khác nhau, thường rất đa dạng, phong phú và đáp ứng được hầu hết các nhu cầu vay thuộc mọi tầng lớp của khách hàng.

Phân loại theo hình thức này chủ yếu gồm các loại sau:

Cho vay tiêu dùng: đây là hình thức có nhu cầu vay vốn nhiều nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi, sinh hoạt gia đình để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhóm khách hàng thuộc loại này là những người có thu nhập ổn định, thông thường họ là những công nhân viên chức có hưởng lương.

Cho vay bất động sản: cho vay bất động sản là sản phẩm dành cho các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu mua, sửa chữa nhà ở của khách hàng. Hình thức cho vay này thường được cấp hạn mức tín dụng cao hơn và thời gian cho vay dài hơn cho vay tiêu dùng.

Cho vay sản xuất kinh doanh: đây là sản phẩm cho vay nhằm bổ sung nguồn vốn cho cá nhân, hộ gia đình kinh doanh cá thể để sản xuất kinh doanh. Đây là đối tượng có nhu cầu vay vốn khá lớn tuy nhiên cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất là do nguồn vốn cho vay hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của khách hàng.

Cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp: là hình thức cho vay tập trung vào các ngành nghề như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản. Hình thức cho vay này khuyến khích bà con nông dân chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ để sang một mô hình sản xuất lớn hơn phục vụ cho thị trường rộng hơn.

1.1.3.4. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản vay

Hình thức này có tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Tín dụng trực tiếp: là hình thức ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếp cho ngân hàng.

Ưu điểm của hình thức tín dụng này là rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng, quyết định cho vay hay không hoàn toàn do ngân hàng quyết định. Khi khách hàng quan hệ trực tiếp với ngân hàng sẽ giúp cho ngân hàng có cơ hội bán chéo thêm nhiều sản phẩm khác; như vậy quyền lợi của cả hai bên đều được thỏa mãn trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp.

Tín dụng gián tiếp: là hình thức ngân hàng cấp tín dụng qua một bên trung gian ủy thác. Đối với khách hàng cá nhân, trung gian ủy thác có thể là nhà bán lẻ hàng hóa, dịch vụ. Theo hình thức này ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng với chính nhà cung cấp; trên cơ sở đó nhà cung cấp sẽ bán chịu hàng hóa cho người tiêu dùng. Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng và nhà cung cấp nêu rõ các điều kiện về việc bán chịu cho khách hàng.

1.1.3.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay

Tín dụng trả góp: theo hình thức tài trợ này, người vay trả nợ cho ngân hàng gồm cả gốc và lãi theo nhiều lần, theo những định kỳ nhất định do ngân hàng quy định. Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với những khách hàng mà thu nhập định kỳ không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay.

Tín dụng hoàn trả một lần: đây là hình thức hoàn trả mà theo đó số tiền vay của khách hàng sẽ được thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc điểm của các khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian cho vay ngắn.

1.1.4. Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân

1.1.4.1. Đối với nền kinh tế Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Nâng cao hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội: tín dụng trong nước là kênh phân phối có hiệu quả nguồn vốn của xã hội, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi có hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao; góp phần tạo nên sự năng động của đồng tiền trong nền kinh tế.

Kích cầu cho nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất trong nước: tín dụng khách hàng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để người dân có thể thỏa mãn được nhu cầu của chính bản thân nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Cũng thông qua tín dụng khách hàng cá nhân mà người dân có thêm nguồn vốn để sản xuất kinh doanh từ đó thúc đẩy sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người lao động và giúp ổn định về mặt xã hội.

1.1.4.2. Đối với ngân hàng

Xây dựng và củng cố thương hiệu cho ngân hàng: do đặc điểm của khách hàng cá nhân là phân bố rộng khắp và thuộc mọi tầng lớp trong xã hội nên việc phát triển khách hàng cá nhân sẽ giúp cho hình ảnh, thương hiệu của ngân hàng được biết đến rộng khắp.

Góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng: cùng với tín dụng doanh nghiệp, tín dụng khách hàng cá nhân cũng là nguồn thu chính trong cơ cấu doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng; hơn hết, tín dụng khách hàng cá nhân còn giúp cho ngân hàng bán chéo được các sản phẩm như tiết kiệm, thẻ…; từ đó cũng làm tăng doanh thu cho ngân hàng về mảng dịch vụ.

Phân tán rủi ro cho ngân hàng: do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng đông nhưng quy mô của các khoản vay nhỏ nên việc một hay một số cá nhân không trả được nợ cũng không ảnh hưởng nhiều đến tình hình hoạt động của ngân hàng.

1.1.4.3. Đối với khách hàng

Thông qua tín dụng khách hàng cá nhân, khách hàng có thêm nguồn vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng sản xuất giúp tăng thu nhập cho bản thân. Cũng nhờ tín dụng khách hàng cá nhân mà khách hàng có thể thỏa mãn được nhu cầu tiêu dùng của mỗi cá nhân.

1.2. Hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại hiện nay đều có một cơ chế quản lý khác nhau, chính vì vậy trong mỗi giai đoạn phát triển của ngân hàng sẽ có những mục tiêu khác nhau. Tuy nhiên các ngân hàng thương mại đều có một xu hướng chung là tối đa hóa lợi nhuận và để đạt được mục tiêu này, các ngân hàng phải đề ra chiến lược kinh doanh để kịp thích ứng với biến động của thị trường.

Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất của một ngân hàng thương mại, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn lợi nhuận của ngân hàng, vì vậy ngân hàng thương mại luôn phải đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng cá nhân nói riêng.

Theo Nguyễn Tiên Phong (2008): “Tính hiệu quả trong hoạt động tín dụng được hiểu là mức độ hữu ích của sản phẩm so với giá trị sử dụng của nó hay còn gọi là lợi nhuận thu được sau kinh doanh, thể hiện ở sự khai thác nguồn lực và chi phí trong quá trình cấp tín dụng nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng mà ngân hàng đề ra.

Hiệu quả tín dụng ngân hàng thể hiện tương quan giữa các kết quả hoạt động tín dụng với một mức chi phí thực hiện hoạt động tín dụng nhất định. Hoạt động tín dụng càng hiệu quả thì các kết quả tín dụng mà ngân hàng đạt được càng lớn ứng với một cơ sở vật chất, số lượng lao động và lượng nguồn vốn đầu vào nhất định. Tuy nhiên, khác với hoạt động sản xuất kinh doanh khác, sản phẩm tín dụng không cho ra kết quả ngay khi ngân hàng bán sản phẩm tín dụng cho khách hàng, ngân hàng chỉ thu được chi phí đã bỏ ra và có lãi khi khách hàng kết thúc việc sử dụng khoản tín dụng được cấp, do vậy doanh thu và lãi tại một thời điểm chưa phản ánh đúng kết quả của hoạt động tín dụng. Ngoài ra, trong hiệu quả hoạt động tín dụng, trước tiên ngân hàng thương mại cần phải hoàn thành được mục tiêu đề ra, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có tính hiệu quả tuy nhiên không phải lúc nào để đạt được hiệu quả cũng là giảm đi chi phí mà là sử dụng những chi phí đó như thế nào, có những chi phí không cần thiết phải giảm đi nhưng có những chi phí phải tăng lên vì việc tăng chi phí sẽ giúp cho ngân hàng hoàn thành mục tiêu tốt hơn. Mục tiêu trong cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại thường thể hiện ở doanh số cho vay, tỉ lệ nợ quá hạn và nợ xấu, doanh số thu nợ… còn chi phí trong cấp tín dụng ngoài chi phí vận hành (chi trả lương, mặt bằng…) chủ yếu là số tiền lãi phải trả cho người cho vay (ở đây là lãi huy động) và số tiền phải trích lập dự phòng rủi ro cho hoạt động tín dụng.

Hiệu quả tín dụng còn là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa ngân hàng – khách hàng vay vốn- nền kinh tế xã hội, cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng cần phải xem xét cả ba khía cạnh là ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế (Nguyễn Thị Thu, 2015). Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Hiệu quả tín dụng đứng trên góc độ của khách hàng

Hiệu quả tín dụng có nghĩa rằng hoạt động tín dụng phải phù hợp với mục đích, nhu cầu sử dụng của khách hàng, với quy mô, kỳ hạn, chi phí hợp lý, cho phép khách hàng phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có nguồn trả nợ cho ngân hàng.

Hiệu quả tín dụng đứng trên góc độ của ngân hàng

Hiệu quả tín dụng đòi hỏi các hoạt động tín dụng ngân hàng phải đem lại mục tiêu lợi ích kinh tế nhất định nhưng đồng thời phạm vi, mức độ, giới hạn, cơ cấu tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh, vấn đề thanh khoản và cạnh tranh của ngân hàng, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.

Hiệu quả tín dụng đứng trên góc độ của nền kinh tế

Tín dụng phục vụ sản xuất lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác được khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế và ổn định vĩ mô.

Hiệu quả tín dụng ngân hàng cả ba góc độ này có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau. Nếu hiệu quả tín dụng ngân hàng chỉ được xem xét ở góc độ ngân hàng, không phù hợp với đặc trưng, nhu cầu của khách hàng thì hiệu quả đó sẽ chỉ là ngắn hạn hoặc thiếu tính khả thi. Khi các đơn vị kinh doanh không tồn tại và phát triển được, hệ thống ngân hàng không thu hồi được các khoản cho vay, thì nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng thu hẹp, trì trệ, chứ không nói đến vấn đề phát triển.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

1.2.2.1. Tính đa dạng của sản phẩm Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Đây là chỉ tiêu thể hiện sự tập trung phát triển tín dụng khách hàng cá nhân, qua đó phản ánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong lĩnh vực này. Nguồn lực của ngân hàng bao gồm nguồn lực về con người, nguồn lực về nguồn vốn cho vay… Sự đa dạng hóa sản phẩm cần phải thực hiện trong mối tương quan với các nguồn lực hiện có của ngân hàng; nếu không, việc triển khai quá nhiều sản phẩm có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải nguồn lực. Mặt khác, nếu nguồn lực ngân hàng có mà sản phẩm lại nghèo nàn dẫn đến tình trạng lãng phí nguồn lực và tính cạnh tranh của sản phẩm không cao.

Nhu cầu khách hàng ngày càng đa dạng nên việc phát triển sản phẩm tín dụng là điều tất yếu; tuy nhiên, việc phát triển sản phẩm tín dụng phải phù hợp với các nguồn lực hiện có để đảm bảo tính cạnh tranh của ngân hàng.

1.2.2.2. Dư nợ cho vay

Dư nợ cho vay là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản mà ngân hàng cần phải thu về. được tính theo thời điểm, tức là số dư cuối kỳ tính toán. Đây là tổng số tiền cho vay đối với khách hàng còn phải thu hồi tại một thời điểm. Dư nợ cho vay càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng thực sự phát triển.

1.2.2.3. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu

Theo Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN, các khoản dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng được phân loại từ nhóm 1 đến nhóm 5 như sau:

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn hoặc các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày và các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì TCTD phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 và các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng cho vay.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn và các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.

Trong đó, các khoản nợ được phân loại từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ quá hạn, từ nhóm 3 đến nhóm 5 được xem là nợ xấu.

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh rõ nhất về chất lượng cho vay của ngân hàng. Mức độ an toàn của hoạt động cho vay cũng được phản ánh qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn này, theo thông lệ quốc tế thì chỉ tiêu này dưới 5% thì chất lượng cho vay tốt. Do đó, đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của các Ngân hàng thương mại.

Công thức tính:

Chỉ tiêu này phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồi được. Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đã quá hạn, đây chỉ là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.

Công thức tính: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Bên cạnh chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình chất lượng cho vay tại ngân hàng. Chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng cho vay tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý cho vay của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay.

Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân hàng: có bao nhiêu đồng đang bị phân loại vào nợ quá hạn, nợ xấu trên 100 đồng cho vay. Tỷ lệ này càng cao thì Ngân hàng thương mại càng gặp khó khăn trong kinh doanh vì có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận, thể hiện chất lượng cho vay thấp và ngược lại. Cả hai chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai tỷ lệ là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị khoản nợ quá hạn, trong khi đó tỷ lệ đầu tư rủi ro xem xét món vay mà phát sinh nợ quá hạn.

Hai chỉ tiêu này đều chịu ảnh hưởng của chính sách xoá nợ của ngân hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập quỹ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báo định kỳ về những món vay không đủ khả năng thu hồi, để tránh tình trạng trong một lúc ngân hàng phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng.

1.2.2.4. Tỷ lệ trích lập phòng ngừa rủi ro tín dụng.

Công thức tính:

Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dự nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Tỷ lệ trích lập quỹ phòng ngừa rủi ro của ngân hàng càng cao hay số tiền trích lập quỹ dự phòng rủi ro càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ của ngân hàng chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng càng thấp vì tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể chỉ tính dựa trên dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5. Nhóm nợ càng cao thì tỷ lệ được trích lập càng lớn. Một ngân hàng có dự phòng rủi ro càng cao thì chi phí hoạt động của ngân hàng này càng lớn, làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng.

1.2.2.5. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn cho vay là chỉ tiêu đo lường tốc độ luân chuyển vốn cho vay của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm.

Công thức tính:

Trong đó, dư nợ bình quân được tính theo công thức:

Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn của ngân hàng cho vay được bao nhiều lần trong năm, cho ta biết khách hàng có khả năng hoàn trả nợ vay đúng hạn hoặc trước hạn hay không. Số vòng quay càng lớn chứng tỏ nguồn vốn của ngân hàng luân chuyển nhanh, sử dụng vốn hiệu quả. Đây là một chi tiêu mà các Ngân hàng thương mại thường tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn cho vay và chất lượng cho vay trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nếu vòng quay vốn càng lớn thì ngân hàng sẽ có số vốn lớn và từ đó mà thu lãi được từ vốn vay cũng cao hơn. Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng vốn hiệu quả hơn. Khả năng quay vòng vốn cho vay càng nhanh, ngân hàng càng có thể đáp ứng được nhiều và kịp thời nhu cầu cho vay khách hàng có nhu cầu về vốn. Do vậy, chỉ tiêu này càng cao kết hợp với các chỉ tiêu khác dẫn đến hoạt động cho vay của ngân hàng tốt.

1.2.2.6. Chỉ tiêu hiệu quả hoạt động sử dụng vốn

Công thức tính:

Hiệu suất sử dụng vốn càng cao thể hiện ngân hàng càng quan tâm và ưu tiên cho vay đối với các khách hàng của mình. Mặt khác, nếu tỷ lệ này quá cao thì rủi ro cho ngân hàng cũng theo đó mà tăng lên. Vì vậy, việc mở rộng dư nợ cho vay cần có các biện pháp kiểm tra, giám sát, thẩm định, quản lý chặt chẽ, phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban liên quan để hạn chế rủi ro cho ngân hàng, duy trì và nâng cao hiệu quả cho vay của ngân hàng.

1.2.2.7. Tỷ lệ lãi của tín dụng khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, cứ một đồng vốn đầu tư vào hoạt động tín dụng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng mà cao thì chứng tỏ hoạt động tín dụng mang lại hiệu quả cao, chất lượng hoạt động tín dụng có tốt thì hiệu quả của hoạt động tín dụng mới cao được. Nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp đó cũng không có ý nghĩa. Chất lượng hoạt động tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.

1.2.2.8. Tỷ trọng lãi của tín dụng khách hàng cá nhân so với tín dụng nói chung

Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng thu lãi từ tín dụng thì có bao nhiêu đồng tín dụng khách hàng cá nhân mang lại. Chỉ tiêu này cho biết hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân góp bao nhiêu vào tổng số lãi từ hoạt động cho vay. Tỷ trọng này còn giúp ngân hàng xây dựng định hướng phát triển hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân cho phù hợp với ngân hàng.

1.2.2.9. Hệ số thu nợ

Công thức tính hệ số thu nợ như sau:

Hệ số thu nợ = Doanh số thu nợ / Doanh số cho vay

Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của một Ngân hàng thương mại, nó phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn.

1.2.2.10. Tỷ lệ lãi cận biên (NIM)

Hệ số NIM (Net Interest Margin) là sự chênh lệch phần trăm giữa thu nhập lãi và chi phí lãi phải trả của ngân hàng, cho biết hiện các ngân hàng đang thực sự hưởng chênh lệch lãi suất giữa hoạt động huy động và hoạt động tín dụng là bao nhiêu.

Cách tính: NIM = Thu nhập lãi thuần / Tài sản sinh lãi

Trong đó:

  • Thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa “thu nhập lãi và thu nhập tương tự” và “chi phí lãi và chi phí tương tự”
  • Tài sản sinh lãi bao gồm Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước + Tiền gửi lại các TCTC khác
  • Chứng khoán đầu tư + Cho vay khách hàng

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng khách hàng cá nhân Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

1.2.3.1. Nhân tố khách quan

Theo Ngô Thị Bích Ngọc (2012): “Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng khách hàng cá nhân chủ yếu là các yếu tố về môi trường kinh tế xã hội, pháp luật, các đối thủ cạnh tranh của ngân hàng.”

Về môi trường kinh tế xã hội:

Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng lớn đến tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng khách hàng cá nhân nói riêng. Một môi trường kinh tế, xã hội ổn định khiến người dân có tâm lý yên tâm hơn về thu nhập của mình trong tương lai dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của họ sẽ tăng lên; do đó ngân hàng có thêm tiềm năng để phát triển tín dụng khách hàng cá nhân. Ngược lại, kinh tế suy thoái, xã hội rối ren, người dân chỉ mong muốn đảm bảo được mức sống ở thời điểm hiện tại mà không có nhu cầu vay mượn để thỏa mãn các nhu cầu cao hơn do e ngại khả năng trả nợ của bản thân trong tương lai, điều này gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng nói chung.

Về môi trường pháp luật: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Mội trường pháp luật ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Một hệ thống pháp luật chặt chẽ, minh bạch sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, hoạt động của các ngân hàng được diễn ra một cách thông suốt, hạn chế những rủi ro không đáng có, góp phần nâng cao được hiệu quả tín dụng. Nếu những văn bản luật không rõ ràng, chặt chẽ, có nhiều khe hở sẽ gây ra nhiều tổn thất cho các bên tham gia.

Một hệ thống pháp lý ổn định, thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng thương mại xây dựng được đường lối phát triển theo quỹ đạo ổn định, ngăn chặn kịp thời những rủi ro, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng; đồng thời các cơ quan chức năng có thể kiểm tra kiểm soát và ổn định tiền tệ quốc gia.

Về đối thủ cạnh tranh:

Đối thủ cạnh tranh luôn là nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hoạt động kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế. Trong lĩnh vực ngân hàng thì cạnh tranh về lãi suất, sản phẩm, chính sách tín dụng… sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.

Về năng lực tài chính và thói quen tiêu dùng của người dân:

Năng lực tài chính là nhân tố quyết định hạn mức cho vay và là điều kiện tiên quyết khi xét duyệt hồ sơ. Ngoài ra thói quen tiêu dùng, vay mượn tại các vùng miền cũng khác nhau; điều đó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển tín dụng.

1.2.3.1.Nhân tố chủ quan

Luận văn Thạc sỹ của Ngô Thị Bích Ngọc- Đại học Kinh tế quốc dân (2012) đã chỉ rõ rằng các nhân tố chủ quan xuất phát từ chính nội tại của ngân hàng, đây là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của một ngân hàng trên thị trường. Cụ thể như sau:

Chiến lược cho vay của ngân hàng:

Đây là điều kiện tiên quyết để phát triển tín dụng khách hàng cá nhân. Trong kế hoạch phát triển của các ngân hàng thường xem nhẹ chiến lược để phát triển nhóm khách hàng cá nhân làm đối tượng tiềm năng của riêng ngân hàng mình. Tín dụng khách hàng cá nhân là một phần quan trọng trong hoạt động của ngân hàng; vì vậy định hướng chiến lược của mỗi ngân hàng là tập trung vào bán buôn, tập trung vào bán lẻ hay tiến hành song song sẽ quyết định khả năng phát triển tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng đó. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Chiến lược kinh doanh có thể là đường lối, phương hướng hoạt động của một ngân hàng, mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh khác nhau. Chiến lược kinh doanh quyết định quy mô, cơ cấu, chính sách tín dụng và hướng phát triển các sản phẩm tín dụng trong ngân hàng.

Chính sách tín dụng của ngân hàng là hệ thống những quy trình, quy định của các sản phẩm tín dụng cá nhân. Chính sách tín dụng của ngân hàng vạch ra hướng phát triển và khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ khi triển khai từng sản phẩm. Chính sách tín dụng rõ ràng, ổn định sẽ giúp cho nhân viên thuận lợi hơn trong việc chào bán sản phẩm tới khách hàng.

Tính cạnh tranh của sản phẩm:

Hiện nay, các ngân hàng buộc phải cạnh tranh lẫn nhau để tồn tại và phát triển. Muốn tồn tại và phát triển thì những yếu tố nội lực từ chính ngân hàng luôn là nền tảng; còn để tạo ra thương hiệu, vị thế của mình thì các ngân hàng cần tạo ra sự khác biệt từ chính sản phẩm mình mang tới cho khách hàng. Mỗi ngân hàng cần tạo ra được sự khác biệt vượt trội trong chính sách tín dụng, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng mục tiêu so với các đối thủ khác. Chính yếu tố khác biệt này đã làm nên tính đa dạng trong các sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân của mỗi ngân hàng và góp phần tích cực trong công cuộc phát triển tín dụng cá nhân của mỗi ngân hàng.

Trong tín dụng khách hàng cá nhân thì sự phong phú về sản phẩm là thực sự cần thiết bởi nhu cầu của người dân ngày càng phong phú, nếu ngân hàng thiết lập được các bộ sản phẩm cho đầy đủ các loại tầng lớp trong xã hội, không để trống bất kỳ một phân khúc nào thì khả năng phát triển tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng đó ngày càng cao và được nhiều người biết đến.

Uy tín và năng lực tài chính của ngân hàng: Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

Năng lực tài chính là một trong những thế mạnh của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh. Môt ngân hàng có năng lực tài chính tốt sẽ có nguồn lực để phát triển hoạt động kinh doanh, tạo được sự tin tưởng từ khách hàng. Uy tín của ngân hàng được đánh giá thông qua một quá trình hoạt động lâu dài. Uy tín không phải là yếu tố bền vững mà rất cần sự nỗ lực không ngừng của ngân hàng để giữ gìn và phát huy.

Chất lượng đội ngũ nhân sự:

Nguồn lực con người là rất quan trọng mà bất kì một doanh nghiệp hay tổ chức nào cũng phải quan tâm. Một đội ngũ nhân sự giỏi sẽ giúp cho ngân hàng kinh doanh hiệu quả khi cho vay mà lại tránh được nhiều rủi ro trong quá trình triển khai cho vay.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã nghiên cứu những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại, tín dụng và hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại, đây là nhân tố quan trọng đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho bản thân các Ngân hàng thương mại. Đồng thời, chương 1 nêu rõ các chỉ tiêu, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại nói chung. Qua đó trang bị được các kiến thức cơ bản, những cơ sở lý luận chung giúp cho việc nhìn nhận và đánh giá được đầy đủ, chính xác về thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần Eximbank chi nhánh Ba Đình sẽ được đề cập trong chương 2 của luận văn. Đồng thời tạo tiền đề cho việc đề xuất những giải pháp phù hợp, mang tính khả thi cao góp phần nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân, đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh ổn định, phát triển bền vững và có hiệu quả. Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng KH cá nhân tại Eximbank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại Eximbank […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537