Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3.1.1. Khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai 

Trên cơ sở Luật Đất đai năm 2013, các văn bản hướng dẫn thi hành, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 347/TB-VPCP ngày 27 tháng 8 năm 2014 về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trên cơ sở bộ thủ tục hành chính do Bộ Tài nguyên và môi trường công bố, theo báo cáo từ các địa phương, đến nay có 63/63 tỉnh, thành phố công bố bộ thủ tục hành chính tại địa phương. Cải cách hành chính trong lĩnh vực đất đai được coi trọng, từng bước đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Pháp luật về đất đai hiện hành quy định phân cấp hầu hết các thẩm quyền thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… cho địa phương. Tại Trung ương chỉ thực hiện một số thủ tục liên quan đến chấp thuận chủ trương chuyển mục đích đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ; giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng và cấp Chứng chỉ định giá đất. Đã quy định cụ thể nơi nộp hồ sơ và trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính thông qua bộ phận một cửa hoặc Trung tâm hành chính công của tỉnh; quy định rõ thời gian không quá 03 ngày sau khi có kết quả giải quyết thủ tục hành chính phải trả kết quả cho tổ chức, cá nhân, trừ thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính; quy định thời gian thực hiện và các thủ tục cụ thể. Trung ương và nhiều địa phương đã chú trọng thực hiện quyết liệt việc xây dựng, rà soát và công bố bộ thủ tục hành chính về đất đai theo hướng đơn giản hoá, dễ hiểu, dễ thực hiện, giảm tối đa chi phí, thời gian và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Kết quả rà soát sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành, số lượng thủ tục hành chính đã giảm 30 thủ tục đối với nơi đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp; giảm 9 thủ tục đối với nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai một cấp. Bên cạnh đó, trong quá trình thực thi Luật Đất đai, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai đã sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục liên quan đến giao đất, cho thuê đất, đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo hướng bãi bỏ những thủ tục, công việc không cần thiết; rút ngắn thời gian thực hiện; giảm số lượng bộ hồ sơ phải nộp, quy định cung cấp thông tin, luân chuyển hồ sơ giữa cơ quan đăng ký và cơ quan thuế, kho bạc trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; không yêu cầu nhà đầu tư phải nộp trích lục bản đồ địa chính; liên thông thủ tục thẩm định nhu cầu sử dụng đất; thẩm định điều kiện giao đất cho thuê đất đối với các dự án đầu tư. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Triển khai trên thực tế, “thời gian thực hiện các thủ tục cơ bản được bảo đảm đúng quy định và giảm so với trước đây, đạt 90 – 95% so với quy định; tình trạng tồn đọng hồ sơ quá hạn đã cơ bản chấm dứt. Trong điều kiện việc cấp Giấy chứng nhận lần đầu đã cơ bản hoàn thành, để tạo sự chủ động, tránh áp lực lên bộ máy hành chính nhà nước, Chính phủ đã quy định cho phép các Văn phòng đăng ký đất đai được thực hiện dịch vụ đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận theo nhu cầu của người dân, doanh nghiệp” [10]. Đây là minh chứng cho nhận định công tác quản lý và sử dụng đất còn tồn tại, hạn chế về một số mặt như: quy hoạch sử dụng đất chưa đảm bảo tính đồng bộ, tổng thể, hệ thống, chất lượng chưa cao, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững, thực hiện chưa nghiêm; việc tiếp cận đất đai của tổ chức, cá nhân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số thông qua giao đất, cho thuê đất còn bất cập; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có nơi chưa đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân; thị trường Quyền sử dụng đất phát triển chưa ổn định; cải cách hành chính trong quản lý đất đai, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; tài chính đất đai và giá đất chưa phản ánh đúng thực tế thị trường; năng lực Quản lý nhà nước về đất đai chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin đất đai chưa được hoàn thiện; xu thế thoái hóa, ô nhiễm đất, xâm nhập mặn diễn ra ở nhiều nơi, diễn biến phức tạp, dẫn đến mất đất, giảm độ màu mỡ, thoái hóa đất, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông, lâm nghiệp và đời sống của người dân; nguồn lực đất đai chưa được khai thác, phát huy đầy đủ và bền vững; khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn nhiều nhưng việc xử lý còn hạn chế [11].

Việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý, điều hành của chính quyền các cấp trên lĩnh vực đất đai có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, chưa đáp ứng yêu cầu, chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hoàn thành công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về đất đai được tổ chức theo mô hình mới còn bất cập; nhiều cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về đất đai chưa được đào tạo, tập huấn, cập nhật thường xuyên các quy định pháp luật liên quan về đất đai nên thực hiện còn lúng túng, chậm trễ hoặc thực hiện không đúng quy định. Đa số ở cấp xã cán bộ làm công tác địa chính còn bất cập về trình độ, năng lực chuyên môn, thiếu kinh nghiệm và am hiểu về lịch sử, nguồn gốc, quá trình sử dụng đất; một số cán bộ còn có biểu hiện gây khó khăn, sách nhiễu trong quá trình giải quyết các thủ tục xin cấp giấy. Một số cán bộ cơ sở không hướng dẫn thủ tục cụ thể cho người dân khi làm hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dẫn đến người dân không hiểu hết quyền lợi của mình nên một thời gian sau khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại xảy ra tranh chấp. Công tác đo đạc diện tích trước đây thực hiện bằng phương pháp thủ công, hiện nay đo bằng máy dẫn đến chênh lệch diện tích đất,… Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền, giữa các cơ quan chuyên môn cùng một cấp trong giải quyết hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhất là các hồ sơ tồn đọng còn hạn chế; phối hợp giải quyết các vướng mắc phát sinh đối với việc giao đất lâm nghiệp theo dự án 1/10.000 chưa tốt. Người dân, chủ sử dụng đất chưa ý thức được quyền lợi của việc được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa tự giác thực hiện trách nhiệm, chậm trễ trong kê khai, đăng ký; nhiều trường hợp còn biểu hiện trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước trong thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.1.2. Tạo thuận lợi cho giao dịch quyền sử dụng đất của người dân

Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền: “chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực; trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên”.

Đất đai và nhà ở là những tài sản có giá trị lớn, vì thế các giao dịch quyền sử dụng đất đều cần phải được xem xét, tìm hiểu kĩ lưỡng trước khi thực hiện để tránh được những rủi ro, tranh chấp không đáng có cho người mua và người bán. Cụ thể Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 thì người sử dụng đất được thực hiện các giao dịch Quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: “(i) Có Giấy chứng nhận; (ii) Đất không có tranh chấp; (iii) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; (iv) Trong thời hạn sử dụng đất”.

Có thể thấy, Luật Đất đai 2013 quy định cụ thể các quyền của cá nhân, tổ chức sử dụng đất, trong đó có các quyền về giao dịch đối với Quyền sử dụng đất. Bên cạnh Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự và các văn bản khác có liên quan cũng quy định khá cụ thể về cách thức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người, tổ chức sử dụng đất.

Tuy nhiên hiện nay, để thực hiện các giao dịch liên quan đến Quyền sử dụng đất, người dân cần đến làm thủ tục tại nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau như công chứng (hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã), thuế, văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất… Điều này dẫn đến việc cá nhân, tổ chức phải mất nhiều thời gian do phải tìm hiểu và đi lại tại nhiều cơ quan để làm thủ tục hành chính kéo theo các chi phí tăng lên. Hiệu quả Quản lý nhà nước về các giao dịch Quyền sử dụng đất chưa cao, có thể lọt những hành vi vi phạm pháp luật như lừa đảo về quyền sử dụng, giấy tờ giả, che giấu tranh chấp tài sản, trốn thuế. Bên cạnh đó,  nếu người dân không tìm hiểu kỹ các thông tin về đất chuẩn bị mua, kiểm tra xem đất đã đủ điều kiện để được giao dịch theo quy định của pháp luật thì người mua sẽ phải đối diện với các rủi ro thường gặp như:

  • Không làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đất không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Khó thực hiện các giao dịch lại nhà, đất cho người khác;
  • Việc xây mới, cải tạo, sửa chữa rất khó khăn đối với trường hợp phải cấp Giấy phép xây dựng;
  • Không được đền bù khi nhà nước thu hồi đất;
  • Dễ xảy ra tranh chấp dẫn đến hợp đồng mua bán nhà, đất bị vô hiệu.

Khi các bên có tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp, Tòa án tuyên bố giao dịch quyền sử dụng đất giữa người mua và người bán vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và xem xét lỗi của các bên làm cho việc chuyển nhượng vô hiệu để cân nhắc việc bồi thường giữa các bên với nhau. Điều này khiến cho các bên, nhất là người mua phải tốn kém về thời gian, tiền của để theo đuổi vụ kiện.

 Chính vì vậy, việc tạo ra hành lang pháp lý đảm bảo cho các giao dịch Quyền sử dụng đất của người dân cần đặc biệt quan tâm, khi có đầy đủ các hành lang pháp lý cũng như việc Cơ quan nhà nước quản lý chặt chẽ trong việc đảm bảo các giao dịch Quyền sử dụng đất của người dân khi đó người dân mới có thể yên tâm khi thực hiện các giao dịch về Quyền sử dụng đất.

3.1.3. Bảo đảm công khai, minh bạch thông tin giúp quản lý đất đai hiệu quả hơn Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trong quá trình thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tình trạng vi phạm thời hạn giải quyết, cấp đất không đúng diện tích theo thực tế (thừa hoặc thiếu), không đúng đối tượng, xác định thời hạn, nguồn gốc sử dụng đất không chính xác; có trường hợp cấp giấy nhưng không có ranh giới, mốc giới cụ thể, không có trích đo vị trí thửa đất; xác định nghĩa vụ tài chính, miễm/giảm tiền đối với người sử dụng đất, thu phí, lệ phí liên quan chưa đúng quy định vẫn xảy ra nhiều. Việc thực hiện quy trình xét giao đất chưa thật sự công khai, minh bạch; hoạt động của hội đồng tư vấn xét cấp đất, xác định nguồn gốc đất tại một số nơi còn bất cập, cụ thể:

“Giữa quản lý, sử dụng đất của người dân trên thực tế với hồ sơ quản lý của Cơ quan nhà nước chưa thống nhất làm phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh về hành vi hành chính trong quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đặc biệt có trường hợp cấp giấy làm phát sinh đơn thư khiếu nại, khởi kiện kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất. Tại nhiều nơi có tình trạng chính quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho hộ gia đình theo quy định pháp luật trước đây khi thực hiện các dự án về phát triển rừng (cấp bìa trắng để thực hiện dự án PAM từ năm 1993 trở về trước) sau đó cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất cho người khác sử dụng đất (người thứ hai) nhưng không thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trước đó nên đã xảy ra nhiều tranh chấp, yêu cầu về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng. Chỉ tính từ năm 2011 đến nay, tòa án 2 cấp đã xét xử hủy 55 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ở cấp tỉnh trong số 59 vụ án hành chính, dân sự thụ lý đã chấp nhận hủy 33 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (60%)” [16].

Theo Trần Thị Thu Hà, “đối với các quy định hiện hành của pháp luật đất đai về đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cần phải được tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận các thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất cũng như về tình trạng pháp lý của từng khu đất, thửa đất, chủ thể của các quyền chiếm hữu, quản lý, sử dụng, hưởng hoa lợi từ đất đai và tài sản gắn liền với đất”. Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi và an toàn pháp lý cho các giao dịch đất đai và tài sản gắn liền với đất (chuyển đổi, sang nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp, góp vốn…) trong cơ chế thị trường. Đảm bảo tính minh bạch, khách quan và dân chủ, mà trong đó việc đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là quyền quan trọng và cơ bản trong các quyền được pháp luật ghi nhận và bảo hộ đối với chủ thể sử dụng đất. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Yêu cầu đặt ra hiện nay là cần phải công khai, minh bạch quy trình, trình tự và thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân được biết, được bàn, được tham gia trực tiếp vào hoạt động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thông qua hoạt động này, người dân được hiểu rõ “quyền lợi và nghĩa vụ” của mình, từ đó, sẽ có ý thức và trách nhiệm cùng với Nhà nước trong việc thực hiện tốt và có hiệu quả việc cấp cần phải công khai, minh bạch quy trình, trình tự và thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân được biết, được bàn, được tham gia trực tiếp vào hoạt động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất[3].

3.1.4. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đáp ứng giai đoạn chuyển đổi số và xây dựng chính phủ điện tử

Yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, triển khai xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số và nền kinh tế số ở Việt Nam, trong đó có hoạt động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là rất quan trọng và cần thiết. Theo thông tin từ Bộ Tài nguyên và môi trường, năm 2022, Bộ tập trung xây dựng và ban hành Kế hoạch cải cách hành chính chung năm 2022 của Bộ theo Quyết định số 2612/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính năm 2022 trong đó bao gồm 81 nhiệm vụ, hoạt động cải cách hành chính bao quát 7 nội dung về cải cách hành chính. Triển khai xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai Quốc gia là chủ trương hoàn toàn đúng và cần thiết, góp phần tạo sự minh bạch, tránh rủi ro về mặt pháp lý, giúp các giao dịch về đất đai trở nên mịnh bạch, các Cơ quan nhà nước thuận tiện trong công tác quản lý và các nhà đầu tư yên tâm trong việc đầu tư. Ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đối số là điều kiện bảo đảm cho việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được triển khai thuận tiện, dễ dàng, tránh gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, từng bước hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đất đai nói chung và trong việc đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói riêng.

Tiến tới việc thay thế toàn bộ các loại giấy tờ có liên quan về đất đai và tài sản gắn liền với đất phát sinh và tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử để thống nhất quản lý bằng một loại giấy tờ thống nhất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Như thế có nghĩa là, hoạt động cấp giấy phải được triển khai đơn giản, thuận lợi, dễ dàng, tránh gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Các điều kiện về cấp giấy hay điều kiện càng dễ thì thời gian cấp sẽ nhanh. Tuy nhiên, nếu giảm thiểu các yếu tố cấp vệ cho người sử dụng đất và đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước hoặc giản đơn các điều kiện xem xét cấp chấp hành pháp luật không cao. Theo đó, cần tiếp tục cải cách toàn diện các thủ tục hành chính về cấp giấy, thay đổi lề lối làm việc, thái độ làm việc của cán bộ khi thực hiện hoạt động này.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

3.2.1. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người dân

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên trên thực tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng để pháp luật đi vào đời sống, phát huy vai trò, giá trị của mình. Để bảo đảm thực hiện tốt công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cần nhiều biện pháp đồng bộ của các cấp, các nghành, các tổ chức, cá nhân. Việc thường xuyên và đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật sâu rộng hơn tới các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước nhất là Luật Đất đai, về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất với nội dung thiết thực, với hình thức phù hợp sẽ làm chuyển biến mạnh mẽ của ý thức tuân thủ pháp luật, tuyên truyền, phổ biến để mọi tổ chức và người dân hiểu biết, nhận thức đầy đủ về trình tự thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, về cấp giấy CNQSDĐ, về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho… quyền sử dụng đất, về thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng đất, về thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, về khiếu nại, tố cáo. Từ đó tự giác không vi phạm pháp luật trong sử dụng đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất; xác định công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất là quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của các hộ sử dụng đất phải thực hiện.

Có thể thấy rằng, công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật là khâu quan trọng đầu tiên, không thể thiếu được của quá trình thực hiện pháp luật. Pháp luật sau khi được ban hành nếu không được tuyên truyền phổ biến tới nhân dân để nắm bắt được tinh thần, nội dung của pháp luật thì chỉ là những quy định pháp luật nằm trên giấy, không đi vào cuộc sống được.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, nội dung bổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm: “Quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của Cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành”. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ quy định cho thấy, đất đai, trong đó có nội dung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nội dung cần được tuyên truyền cho người dân. Thực tiễn thực thi pháp luật đất đai cho thấy, người dân cần có nhận thức về pháp luật đất đai một cách đẩy đủ, hiểu rõ hơn về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật. Công tác tuyên truyền trong cộng đồng dân cư phải được tiến hành thường xuyên, liên tục bằng nhiều cách thức, nhiều kênh thông tin khác nhau, nhất là quy định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; về cơ chế, chính sách tài chính đất đai, giá đất; về đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận và các thủ tục hành chính, dữ liệu, thông tin đất đai; về thương mại hóa quyền thuê đất hàng năm và lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất; về chế độ, quản lý sử dụng các loại đất… Nội dung phổ biến, tuyên truyền pháp luật cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân cần tập trung vào các vấn đề như là: Điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;  Trình tự, thủ tục, nhất là các giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất đai, giao dịch, nhất là giao dịch bằng giấy viết tay hoặc thoả thuận bằng lời nói trong các giai đoạn trước đây; Thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Chính vì vậy, tuyên truyền phổ biến pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào đời sống xã hội, là một mắt xích quan trọng trong quá trình tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là điều kiện để bảo đảm cho việc thực thi pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hiệu quả.

3.2.2. Tăng cường tính minh bạch, công khai trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gắn với quản lý tập trung, thống nhất toàn bộ đất đai trên địa bàn thành phố Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Trần Thị Thu Hà, đối với các quy định hiện hành của pháp luật đất đai về đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong giai đoạn hiện nay ở nước ta cần phải được tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận các thông tin về đất đai và tài sản gắn liền với đất cũng như về tình trạng pháp lý của từng khu đất, thửa đất, chủ thể của các quyền chiếm hữu, quản lý, sử dụng, hưởng hoa lợi từ đất đai và tài sản gắn liền với đất. Điều này nhằm tạo điều kiện thuận lợi và an toàn pháp lý cho các giao dịch đất đai và tài sản gắn liền với đất (chuyển đổi, sang nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp, góp vốn…) trong cơ chế thị trường. Đảm bảo tính minh bạch, khách quan và dân chủ, mà trong đó việc đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là quyền quan trọng và cơ bản trong các quyền được pháp luật ghi nhận và bảo hộ đối với chủ thể sử dụng đất [14].

Để thực hiện giải pháp tăng cường tính minh bạch, công khai trong cấp GCNQSDĐ gắn với quản lý tập trung, thống nhất toàn bộ đất đai trên địa bàn TP. HCM, trước hết xác định công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cần bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất toàn bộ đất đai trong phạm vi cả nước bằng hệ thống Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Chính quyền TP. HCM cùng với Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để thuận lợi, dễ dàng trong công tác quản lý theo hướng từng bước hiện đại hoá công tác quản lý đất đai, hướng tới việc thay thế toàn bộ các loại giấy tờ tồn tại qua nhiều thời kỳ lịch sử để thống nhất quản lý bằng một loại giấy tờ thống nhất là GCNQSDĐ.

Bên cạnh đó, chính quyền TP. HCM cần phải công khai, minh bạch quy trình, trình tự và thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân được biết, được bàn, được tham gia trực tiếp vào hoạt động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thông qua hoạt động này, người dân được hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó, sẽ có ý thức và trách nhiệm cùng với Nhà nước trong việc thực hiện tốt và có hiệu quả việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3.2.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chuyên nghiệp, trách nhiệm và có đạo đức Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thực thi pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là lĩnh vực hoạt động đặc thù do Cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền thực hiện. Dù là Cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền thì cũng đều phải thông qua những cá nhân con người cụ thể – đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có chức năng, thẩm quyền áp dụng pháp luật. Chất lượng, hiệu quả thực thi pháp luật của đội ngũ này phụ thuộc phần lớn vào trình độ tri thức, hiểu biết pháp luật và kĩ năng nghiệp vụ của họ. Trong số nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, khiếm khuyết trong hoạt động thực thi pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nước ta hiện nay thì thiếu kiến thức pháp luật và yếu về kĩ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Đảng ta đã nhận định: “năng lực pháp luật thể chế, quản lí, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu… Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đưa đạt được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới của đất nước. Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Cải cách tư pháp còn chậm, chưa đồng bộ. Công tác điều tra giam giữ, truy tố, xét xử trong một số trường hợp chưa chính xác, án tồn động, án bị hủy, bị cải sửa còn nhiều”. Chính vì vậy, việc tăng cường giáo dục pháp luật, bồi dưỡng kĩ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật là một biện pháp hết sức quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm theo từng giai đoạn cụ thể.

Để bảo đảm thực thi pháp luật nói chung và pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải tổ chức một cách khoa học, có sự phân công rõ ràng về chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan chuyên môn, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn, cản trở lẫn nhau trong công việc. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên môn phải đảm bảo tính năng đông, chủ động, sáng tạọ, sự độc lập của mỗi cơ quan, mỗi bộ phận, đông thời phải đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, tổ chức, bộ phận trong quá trình thực hiện và tổ chức thực thi pháp luật. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, thông thạo công việc mà họ đảm nhận, có ý thức kỷ luật đối với công việc, công vụ mà mình có trọng trách phải thực hiện. Tránh tình trạng trì trệ, quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, thờ ơ hoặc lãnh đạm với nhân dân, với tài sản của nhà nước. Ngoài ra, sự hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm công tác, đạo đức, văn hóa ứng xử,.. của cán bộ, công chức cũng là những yếu tố bảo đảm cho tính thực hiện và áp dụng pháp luật được hiệu quả pháp luật đi vào đời sống của mỗi người. Công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, giáo dục đạo đức, lối sống phong cách làm việc; xây dựng quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ công chức, công chức địa chính trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai, cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất đáp ứng yêu cầu thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu, giúp việc cho ủy ban nhân dân, trước hết và chủ yếu là cấp xã, phường, thị trấn về công tác quản lý đất đai. Đây là giải pháp căn bản, quan trọng vì đất đai thuộc trách nhiệm quản lý trực tiếp của chính quyền cấp xã, mọi thủ tục hành chính về đất đai đều bắt đầu từ cấp xã, giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, trước hết cũng bắt đầu từ cấp xã và thực tế cũng cho thấy vi phạm pháp luật trong quản lý đất đai trước hết và chủ yếu là ở cấp xã. Nếu năng lực của đội ngũ công chức địa chính được nâng lên thì công tác thống kê, đăng ký đất đai sẽ tốt hơn, hồ sơ địa chính sẽ đầy đủ và chuẩn hơn. Khi đó, sẽ hạn chế được sai sót trong việc xác định nguồn gốc, quá trình sử dụng đất; xác định ranh giới, diện tích, loại đất; hạn chế sai sót khi thu hồi đất, khi lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; hạn chế sai sót khi lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều đó đồng nghĩa với việc tranh chấp, khiếu kiện về đất đai sẽ ngày càng giảm.

Vì vậy, theo tác giả để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm về số lượng và chất lượng, nhiệt tình, trách nhiệm với công việc là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các giải pháp cần tập trung thực hiện là:

  • Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn cho lực lượng cán bộ địa chính, bảo đảm tính ổn định, chuyên nghiệp.
  • Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, nâng cao nghiệp vụ về đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho công chức địa chính các phường cũng như nắm bắt các nghị định mới về quản lý đất đai để hướng dẫn người sử dụng đất thực hiện các công việc cần thiết để tạo điều kiện giao lưu, học hỏi kinh nghiệm giữa các công chức, viên chức với nhau.
  • Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả việc luân chuyển cán bộ địa chính giữa các phường để tạo ra sự đồng đều về trình độ giữa các cơ quan.
  • Tăng cường ý thức trách nhiệm công vụ của công chức địa chính phường không được buông lỏng quản lý, ỷ lại trách nhiệm cho phòng thông qua việc không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức, trách nhiệm công vụ của công chức, viên chức trên cơ sở gắn trách nhiệm công vụ của công chức với việc đánh giá, phân loại công chức cuối năm.
  • Tăng cường tập huấn kỹ năng giao tiếp, ứng xử của công chức, viên chức nói chung và công chức phụ trách công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói riêng.
  • Thiết lập kênh thông tin để tiếp nhận và xử lý kịp thời các phản ánh kiến nghị của các cá nhân, tổ chức trên địa bàn quận. Xử lý nghiêm minh các cá nhân, cơ quan vi phạm trong quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Kết luận Chương 3 Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của nguồn lực đất đai đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để kịp thời điều chỉnh về lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại quá trình thực thi pháp luật về đất đai đặc biệt là trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất đang gặp phải nhiều trở ngại khó khăn do sự bất cập, hạn chế và sự thiếu tính đồng bộ thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật.

Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thể thiếu giải pháp về hoàn thiện pháp luật về đất đai. Bên cạnh đó, chủ thể áp dụng pháp luật là Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân mang quyền lực nhà nước đều thực hiện dưới vai trò của đội ngũ công chức, viên chức trong hệ thống đó, vì vậy ngoài việc hoàn thiện pháp luật nói chung thì cần phát huy vai trò tích cực của đội ngũ này trong hoạt động áp dụng pháp luật.

Trên cơ sở các định hướng của Đảng và nhà nước, định hướng của Ủy ban nhân dân TP. HCM về quản lý đất đai cũng như hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại TP. HCM trong thời gian tới. Cụ thể:

Một là, Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người dân

Hai là, Tăng cường tính minh bạch, công khai trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gắn với quản lý tập trung, thống nhất toàn bộ đất đai trên địa bàn thành phố

Ba là, Xây dựng đội ngũ công chức, viên chức thực hiện công tác cấp GCNQSDĐ chuyên nghiệp, trách nhiệm và có đạo đức

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Có thể thấy ngày nay khi mà quỹ đất trống ngày càng hạn hẹp, đồng nghĩa giá trị đất lại ngày càng tăng, dẫn đến các tranh chấp đất đai là không thể tránh khỏi. Hiện tượng này xảy ra ở địa mọi địa phương và đặc biệt là ở các thành phố lớn trong đó có TP. HCM. Nguyên nhân xuất phát từ những hạn chế, bất cập trong chính sách, pháp luật về đất đai, sự chồng chéo, chưa thống nhất giữa Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Từ đó có thể thấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đóng vai trò rất quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử dụng đất. Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đât, Nhà nước có thể xác nhận các Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất của người dân. Người dân có thể an tâm sử dụng, cải tạo trên mảnh đất của mình. Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với mảnh đất và các tài sản liên quan quan trọng trong quản lý đất đai.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cở sở pháp lý để nhà nước công nhận và bảo hộ Quyền sử dụng đất của người dân. Đây cũng là căn cứ để xây dựng các quyết định về đăng kí, theo dõi biến động, kiểm soát các giao dịch đất đai. Xác định nghĩa vụ nghĩa vụ tài chính của người sử dụng, giúp cho họ được đền bù thỏa đáng khi đất bị thu hồi. Ngoài ra, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn là bằng chứng để xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp liên quan đất đai. Giúp nhà nước kiểm soát được việc mua bán, giao dịch trên thị trường và nguồn thu tài chính. Đây cũng là cơ sở để Nhà nước quản lý việc thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,… đối với thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tạo điều kiện để chủ sở hữu thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp Quyền sử dụng đất; góp vốn bằng Quyền sử dụng đất. Nhờ đó, các cá nhân, hộ gia đình có thể yên tâm sử dụng và đầu tư trên mảnh đất của mình. Cuối cùng, tạo tiền đề để phát triển kinh tế xã hội.

Do đó, việc nghiên cứu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo pháp luật Việt Nam qua thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất góp phần ổn định đời sống, kinh tế, xã hội của nhân dân đồng thời giúp cơ quan Quản lý nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò Quản lý nhà nước về đất đai của mình. Luận văn: Giải pháp về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tài sản đất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *