Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quan điểm, phương hướng và Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn 2040 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
4.1. NHỮNG NHÂN TỐ MỚI ẢNH HƯỞNG TỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TỈNH VĨNH PHÚC
4.1.1. Bối cảnh mới của đất nước và ảnh hưởng
Nhìn tổng thể bối cảnh trong nước, Vĩnh Phúc và các tỉnh, thành phố khá có những thuận lợi cơ bản:
Trước hết, đó là sự ổn định về chính trị – xã hội, đường lối mới của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế một cách tương đối hiệu quả.
Trong gần 30 năm đổi mới, cả nước nỗ lực đẩy mạnh CNH, HĐH, mà trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những trọng tâm. Cơ cấu ngành kinh tế đã có bước chuyển dịch đáng kể. Các vùng kinh tế đều phát triển. Nước ta vừa xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, vừa hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Các cơ sở quan trọng của nền kinh tế đã và đang được tích cực xây dựng như năng lượng, vật liệu, cơ khí, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật…. Nền kinh tế đang được cơ cấu lại, tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và có xu hướng ổn định, cơ cấu ngành kinh tế đã có những thay đổi tích cực theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thể chế kinh tế thị trường đang tiếp tục được đổi mới và hình thành đồng bộ Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thay cho cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nguyên tắc thị trường, hạch toán kinh tế thay cho nguyên tắc bao cấp trong phân bố nguồn nhân lực, điều tiết các quan hệ kinh tế và các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các loại thị trường đang hình thành và phát triển; thị trường lao động, thị trường tài chính – tiền tệ, thị trường bất động sản, thị trường chứng khóa….
Hệ thống pháp lý phục vụ cho các hoạt động của nền kinh tế đang được bổ sung và hoàn thiện: Luật doanh nghiệp, luật thuế, luật đất đai. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Quan hệ kinh tế đối ngoại được tiếp tục cũng cố và mở rộng thể hiện bằng việc Việt Nam tích cực hội nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới; gia nhập WTO, tham gia tích cực trong việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN, thúc đẩy quan hệ với các nền kinh tế lớn như Nhật Bản, Trung Quốc, Mỹ, EU… Chính sách mở cửa nền kinh tế đã tạo điều kiện huy động các nguồn lực từ bên ngoài như: Khoa học công nghệ, vốn, tri thức, thị trường…. kết hợp với các nguồn lực trong nước thúc đẩy nền kinh tế trong nước hướng vào tăng trưởng xuất khẩu.
Việt Nam có nhiều nguồn lực, trong đó có những lợi thế so sánh làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược cơ cấu ngành, đảm bảo cho sự tăng trưởng nhanh, chuyển đổi cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực như: Về triển vọng, Việt Nam có điều kiện mở rộng và ổn định thị trường, thu hút các nguồn đầu tư lớn.
Tuy nhiên, đất nước ta cũng đang phải đối mặt với các thách thức lớn:
- Năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế, của các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế
- Hệ thống pháp luật và các cơ chế, chính sách chưa thực sự chặt chẽ; năng lực cải cách thể chế theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư là khó khăn lớn
- Chất lượng nguồn lực thấp đang là một cản trở để thu hút đầu tư nước ngoài hay nhận các dự án có sử dụng công nghệ cao
- Việc tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước còn hạn chế, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo; …
4.1.2. Điểm xuất phát mới về kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc
Trong những năm qua, nền kinh tế của Vĩnh Phúc luôn tăng trưởng đạt mức cao. Cơ cấu kinh tế của toàn tỉnh trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp – xây dựng, dịch vụ và nông – lâm nghiệp; từng bước chuyển dịch theo hướng dịch vụ – công nghiệp, xây dựng và nông – lâm nghiệp trong những năm 20 của thế kỷ XXI; Trong tương lai, Vĩnh Phúc sẽ còn tăng trưởng mạnh hơn nữa và sẽ trở thành một tỉnh công nghiệp.
- Cơ sở kinh tế vững chắc, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội toàn vùng có sự cạnh tranh cao;
- Giữ mức độ tăng trưởng nhanh, ổn định;
- Mức thu nhập bình quân hàng năm sẽ đảm bảo các điều kiện an sinh xã hội.
4.2. QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TỈNH VĨNH PHÚC Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
4.2.1. Một số quan điểm và phương hướng cơ bản
- Quan điểm
Xuất phát từ bối cảnh trong nước, quốc tế và điều kiện thực tiễn của tỉnh, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh phải quán triệt một số quan điểm sau đây:
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải đảm bảo ổn định chính trị xã hội và phát triển bền vững. Cơ cấu ngành thay đổi về chất lượng dựa trên cơ sở đổi mới công nghệ sâu hơn và nhanh hơn nhằm tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập khẩu, đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành, những lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ, về cơ cấu ngành, tạo tốc độ tăng trưởng cao, tăng giá trị gia tăng, nhất là những sản phẩm dịch vụ chủ lực. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc về giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo, chống tụt hậu.
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu. Chiến lược tăng trưởng nhanh, bền vững, lấy tăng trưởng xuất khẩu làm động lực chủ yếu vừa là đòi hỏi khách quan, vừa có khả năng thực hiện ở nước ta. Bắc Giang muốn có tăng trưởng nhanh, cần hướng hoạt động kinh tế của đất nước vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xuất khẩu. Bởi vì tăng trưởng theo hướng xuất khẩu về thực chất là thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, nhằm phát triển nền kinh tế nhanh và hiệu quả, thoát khỏi tình trạng tụt hậu, rút ngắn con đường đi lên nền kinh tế hiện đại và chủ động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế và khu vực.
Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài tỉnh. Vĩnh Phúc đang được đánh giá là tỉnh có lợi thế về lực lượng lao động đông đảo, giá rẻ, vị trí địa lý thuận lợi…. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Vĩnh Phúc cần dựa trên những lợi thế này để huy động các nguồn lực bên ngoài về vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tạo dựng năng lực nội dung để nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm, ngành hàng và của cả nền kinh tế tỉnh. Đồng thời, Vĩnh Phúc cần có những chiến lược để phát huy tiềm năng về trí tuệ, từng bước hướng tới chủ động về khoa học kỹ thuật, quản lý sản xuất kinh doanh, bắt nhịp với xu thế phát triển chung của cả nước và thế giới. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải nhằm mục tiêu tạo ra nhiều việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Mục tiêu chung là cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, mà trước hết là những người lao động. Vĩnh Phúc là một tỉnh đông dân cư, có kết cấu dân số trẻ, áp lực về việc làm rất lớn, do đó giải quyết việc làm là một thách thức gay gắt trong thời gian tới đối với tỉnh. Giải quyết việc làm cũng là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của các tầng lớp dân cư.
Phát triển đa dạng các ngành nghề, trong đó phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động là một hướng chính của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong tỉnh. Phát triển cơ cấu ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động gắn với phát triển trung tâm công nghiệp, dịch vụ khắp các địa phương trong tỉnh. Tuy nhiên, thông thường, những ngành nghề sử dụng nhiều lao động thì công nghệ lại không cao, khó có thể đưa nền kinh tế đi theo hướng nền kinh tế tri thức. Để giải quyết mâu thuẫn này, quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế còn phải kết hợp chú trọng sử dụng nguồn lao động có chất lượng cao, bằng việc phát triển các ngành có sức cạnh tranh cao nhằm hội nhập kinh tế có hiệu quả.
Thứ năm, phát triển dịch vụ, du lịch bền vững, phù hợp với chiến lược tổng thể phát triển dịch vụ của Việt Nam đến năm 2030; vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng; phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc và quy hoạch phát triển của ngành, các lĩnh vực. Phát triển dịch vụ, du lịch theo hướng văn minh, hiện đại, hội nhập khu vực quốc tế, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.
Tạo bước đột phá về phát triển các ngành dịch vụ, trên cơ sở khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của mỗi ngành, mỗi địa phương, trong đó, tập trung phát triển mạnh dịch vụ du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ đem lại giá trị gia tăng cao, phục vụ trực tiếp cho khu vực sản xuất; các ngành dịch vụ lợi ích công cộng, xã hội; coi trọng và khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ khác.
Thứ sáu, đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch, nhất là nguồn vốn. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật kết nối với các khu dịch vụ, du lịch; các công trình lớn, quan trọng, tạo điểm nhấn của tỉnh, trên cơ sở đầu tư có trọng tâm, trọng điểm cho từng giai đoạn. Xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển các ngành dịch vụ công cộng, xã hội và các loại hình dịch vụ khác.
Trên đây là một số quan điểm chủ yếu cần quán triệt trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiện hiện nay.
- Phương hướng Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Trong gần 30 năm qua, nhất là từ khi tái lập tỉnh tới nay, trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tỉnh Vĩnh Phúc đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện của địa phương, đề ra nhiều chủ trương, phương hướng, cơ chế chính sách khá toàn diện trên mọi lĩnh vực tạo tiền đề và thúc đẩy CNH, HĐH, đưa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành càng hiệu quả hơn. Trong giai đoạn tới, Vĩnh Phúc cần thực hiện những phương hướng cơ bản dưới đây.
Một là, quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phải đi trước một bước; phát triển nhanh, mạnh công nghiệp để công nghiệp là nền tảng của nền kinh tế và tăng thu ngân sách; phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.
Hai là, cần tập trung phát triển công nghiệp và coi công nghiệp là nền tảng nhằm tạo sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, kích thích các ngành dịch vụ, nông nghiệp phát triển, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn. Đảm bảo đủ các yếu tố cơ bản của tỉnh công nghiệp vào năm 2025, trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại vào năm 2030.
Ba là, phát triển các ngành dịch vụ vừa làm đòn bẩy kinh tế, vừa tạo ra tăng trưởng kinh tế. Phát triển dịch vụ, du lịch bền vững, tạo bước đột phá về phát triển các ngành dịch vụ và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch.
Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải từng bước xây dựng các khu công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ du lịch tập trung để thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Nông thôn là địa bàn rộng lớn, có nhiều tiềm năng về các nguồn lực, trên cơ sở quy hoạch tổng thể, chiến lược kinh tế – xã hội của tỉnh, cần xây dựng các khu công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch tập trung để thúc đẩy sự phân công lao động xã hội nhanh chóng. Các khu công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, du lịch tập trung có tác dụng thúc đẩy kinh tế – xã hội ở một vùng nông thôn nhất định phát triển
Năm là, trong đào tạo nguồn nhân lực, tỉnh cần xác định lấy nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông làm nền tảng, lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động chất lượng cao làm khâu đột phá; lấy nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị là nhân tố quyết định sự thành công.
4.2.2. Các nhóm giải pháp chủ yếu Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
4.2.2.1. Nhóm giải pháp dài hạn
4.2.2.1.1. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh
Từ khi tái lập tỉnh tới nay, Vĩnh Phúc luôn quan tâm tới công tác lập, quản lý, thực hiện quy hoạch, nhất là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội. Xác định quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp quan trọng trong toàn bộ quy trình CNH, HĐH nền kinh tế của tỉnh, coi công tác quy hoạch là nhiệm vụ trọng tâm và phải đi trước, quy hoạch làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm, hàng năm và lựa chọn các chương trình, dự án đầu tư của tỉnh, đưa quy hoạch thật sự đóng vai trò định hướng cho sự nghiệp CNH, HĐH. Tầm quan trọng, ý nghĩa của quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp CNH, HĐH đã được tỉnh Vĩnh Phúc xác định trong các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII xác định: “Thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về quy hoạch”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV nêu rõ: “Tập trung làm tốt công tác quy hoạch, bao gồm cả quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị, các quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch chi tiết, đưa công tác quy hoạch đi trước một bước. Việc lập quy hoạch phải đi dôi với điều chỉnh và cập nhật quy hoạch, nâng cao chất lượng quy hoạch, đồng thời tăng cường công tác quản lý thực hiện quy hoạch”. Đến Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XV tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch, tăng cường công tác xây dựng quy hoạch, tăng cường công tác quản lý quy hoạch. Triển khai thực hiện có hiệu quả các quy hoạch đã được phê duyệt”.
Như vậy, vấn đề quy hoạch đã được đề cập nhiều trong các Nghị quyết Đại hội của tỉnh. Để đưa những Nghị quyết đó thành hiện thực cần làm những công việc sau:
Đối với công tác lập quy hoạch: Cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng quy hoạch, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình triển khai, thẩm định quy hoạch. Tăng cường công tác tham vấn, lấy ý kiến cộng đồng và các chủ thể tham gia trong quá trình lập quy hoạch, đặc biệt là sự tham gia của các nhà khoa học có kinh nghiệm về lĩnh vực quy hoạch. Triển khai đồng bộ việc lập các quy hoạch phân khu đô thị, quy hoạch xây dựng vùng theo quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung, cập nhật các loại quy hoạch cho phù hợp với thực tế phát triển của đất nước, vùng và của tỉnh. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách cho quy hoạch.
Thường xuyên cập nhật, rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế.
Lựa chọn đơn vị tư vấn có năng lực trong và ngoài nước để thực hiện công tác lập quy hoạch. Làm tốt công tác phản biện trong quá trình thẩm định quy hoạch. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
- Bố trí vốn kịp thời cho công tác lập quy hoạch.
Đối với công tác tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch: Tổ chức triển khai thực hiện theo đúng các quy hoạch đã được phê duyệt. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với quy hoạch, trong đó nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch. Tăng cường công tác kiểm tra quá trình thực hiện quá trình quy hoạch, trong đó tập trung vào các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm được xác định trong quy hoạch và các dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu: “ Phấn đấu đến năm 2025 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp, trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 20 của thế kỷ XXI” như mục tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 cũng như trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV tỉnh Vĩnh Phúc đã đề ra.
Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng giúp các dự án được triển khai đúng tiến độ. Cần thống nhất với người dân về giá bồi thường. Giải quyết việc làm cho người dân tại các địa phương có đất bị thu hồi. Tiếp tục triển khai chủ trương giao đất dịch vụ tạo việc làm cho các hộ có đất bị thu hồi.
Để đảm bảo tính chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội, việc quy hoạch các vùng cần phát huy được lợi thế phát triển của các vùng, từ đó sẽ thúc đấy các ngành kinh tế phát triển
- Một là, quy hoạch vùng phát triển nông nghiệp
Xây dựng quy hoạch phát triển nông nghiệp phải vừa đảm bảo an ninh lương thực, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân vừa tạo ra sản phẩm hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Với điều kiện tự nhiên như Vĩnh Phúc cần quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng nông nghiệp như sau:
- Vùng nông nghiệp miền núi: Có diện tích tự nhiên 79.915,2 ha, trong đó đất nông nghiệp 28.418,3 ha, đất lâm nghiệp 29.116,2 ha, dân số khoảng 401.300 người. Vùng nông nghiệp miền núi gồm 61 đơn vị hành chính cấp xã. Đây là vùng có quỹ đất lớn phù hợp cho cả phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt khu vực này có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa cho phép phát triển đa dạng các loại hình du lịch, xây dựng các khu vui chơi giải trí. Đối với vùng nông nghiệp miền núi, cần tập trung phát triển chăn nuôi, phát triển các loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp theo mô hình nông – lâm kết hợp, trang trại tổng hợp. Phát triển các loại thủy sản truyền thống ở ao hồ, đầm nhỏ, mặt nước các công trình thủy lợi. Mở rộng mô hình chăn nuôi có tính đặc thù như: các hồi ở Tam Đảo núi, dế ở Tam Quan – Tam Đảo, rắn ở Vĩnh Tường… Khuyến khích trồng cây thức ăn gia súc, cây dược liệu, cây có củ – quả đặc sản, đưa giống cây trồng mới, nhất là cây ăn quả có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.
Khuyến khích các chủ thể sản xuất đầu tư xây dựng các mô hình chăn nuôi gia trại, trang trại bò thịt, bò sữa, lợn siêu nạc, gà quy mô vừa và lớn theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp. Riêng đối với đàn gà phát triến mạnh hình thức nuôi gà thả vườn theo phương thức VACR, phát triển mô hình nông – lâm kết hợp. Coi việc trồng các loại cây bản địa là cơ sở để giữ và phát triển rừng, khuyến khích trồng các loại cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán cây lâm nghiệp để tăng thu nhập cho người dân.
Vùng nông nghiệp đô thị: Vùng này có diện tích 26.140,97 ha, trong đó đất nông nghiệp 16.635,03 ha, đất lâm nghiệp 116,79 ha, dân số khoảng 349.266 người, gồm 36 đơn vị hành chính cấp xã. Vùng nông nghiệp đô thị bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp cả trong và ngoài đô thị. Hình thành các trang trại đa mục đích và hệ thống các vườn cây tại các vùng trong và lân cận thành phố, thị xã. Tập trung phát triển các loại cây lương thực, rau, hoa, các cây cho củ quả chất lượng cao như: cà chua, bắp cải, su hào, đậu đỗ, bầu bí, dưa chuột bao tử, dưa hấu, ngô ngọt, rau gia vị, hoa cải đường, đỗ quyên… Mở rộng phát triển các loại cây cảnh như: si, xanh, đa, lộc vừng, hoa sữa, cau lùn… Khuyến khích nuôi các con đặc sản như nhím, ba ba… quy mô nhỏ theo quy trình kỹ thuật cao. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Căn cứ từng khu vực trong vùng có thể phát triển các loại hình sản xuất nông nghiệp sau: nông nghiệp xanh, nông nghiệp phục vụ khách sạn, nông nghiệp thu ngoại tệ, nông nghiệp du lịch, nông nghiệp sinh thái.
Vùng nông nghiệp thâm canh ở đồng bằng: vùng này có diện tích tự nhiên 21.896,2 ha, trong đó đất nông nghiệp 15.808,2 ha, dân số khoảng 266.434 người. Đây là vùng sản xuất hàng hóa lớn của tỉnh, vùng này sản xuất lương thực, thực phẩm cho thị trường ngoài tỉnh.
Tập trung phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm trên cơ sở đẩy mạnh thâm canh lúa, ngô đạt năng xuất cao, hình thành các vùng lúa chất lượng cao như lúa nếp, lúa thơm các loại, vùng thâm canh lúa cao sản, vùng trồng dâu nuôi tằm và cỏ phục vụ chăn nuôi. Phát triển và mở rộng mô hình chăn nuôi bò thịt chất lượng cao, lợn siêu nạc, gà quy mô hộ và trang trại.
Hình thành các mô hình trang trại nuôi trồng thủy sản gắn với nuôi lợn, vịt và trồng cây ăn quả.
Tổ chức sản xuất gắn với thị trường, trong vùng hình thành các cụm, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp chính xác để tạo khối lượng nông sản hàng hóa lớn, có chất lượng cao. Đầu tư xây dựng vùng sản xuất rau, hoa, quả sạch – an toàn cung cấp cho tiêu dùng và chế biến cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh, thành phố trong nước. Việc xây dựng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chính xác không những là nơi tạo khối lượng sản phẩm sạch, cao cấp mà còn là nơi tham quan học tập, đào tạo, chuyển giao khoa học – công nghệ cho nông dân.
Mỗi vùng có đặ thù riêng và vị trí khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu là trở thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung của tỉnh. Do vậy, trong quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội đặc biệt coi trọng yếu tố hài hòa giữa các khu vực kinh tế, trong đó để nông nghiệp phát triển bền vững, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội cần phải duy trì diện tích trồng lúa từ 33.500 – 35.000 ha. Đồng thời, tỉnh cần phải có chính sách cụ thể để giữ đất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa, hạn chế tối đa sử dụng đất trồng lúa để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và phát triển dịch vụ.
- Hai là, quy hoạch vùng phát triển công nghiệp Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Quy hoach phát triển công nghiệp theo hướng củng cố các khu công nghiệp hiện có, khảo sát và đưa công nghiệp về nông thôn để giảm áp lực cho các khu công nghiệp tập trung hiện nay. Trong khảo sát lập dự án cần tính toán kỹ quỹ đất cho phát triển và mở rộng khu công nghiệp nhưng không ảnh hưởng đến diện tích đất sản xuất nông nghiệp, môi trường sinh thái của từng vùng.
Đối với vùng miền núi: có diện tích lớn, địa hình đồi, gò nhiều, nền đất tốt cho phép xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển các khu – cụm công nghiệp, tránh sự tập trung quá mức vào vùng đô thị, vùng đồng bằng.
Đối với vùng đô thị: Đây là vùng có cơ sở hạ tầng tốt, vị trí thuận lợi. Đây sẽ là vùng chi phối sự phát triển kinh tế – xã hội của cả tỉnh, do vậy vùng này phát triển toàn diện các lĩnh vực, trong đó lấy công nghiệp là trọng tâm.
Đối với vùng đồng bằng: Đây là vùng được coi là vựa thóc của tỉnh nên phát triển nông nghiệp được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh đó, phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề truyền thống, hình thành các nghề mới.
Tuy nhiên, cần xác định việc phát triển các cụm công nghiệp – các làng nghề tiểu thủ công nghiệp là hạt nhân trong quá trình hình thành các thị trấn, thị tứ, thúc đẩy dịch vụ phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông nghiệp.
Trong quy hoạch vùng phát triển nông nghiệp và công nghiệp cần chú ý đảm bảo tính liên hoàn giữa sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Chẳng hạn như: Sự quy hoạch này phải đảm bảo thuận lợi cho sự liên kết giữa việc hình thành vùng nguyên liệu, khu công nghiệp và khu thương mại dịch vụ tiêu thụ sản phẩm.
4.2.2.1.2. Tăng cường huy động các nguồn lực cho phát triển và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh theo hướng bền vững
Thứ nhất, khai thác những tiềm năng được coi là thế mạnh mà tỉnh có như nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiêu biểu là khu du lịch Hồ Đại Lải, Tam Đảo, Tây Thiên. Đây sẽ là nơi thu hút đầu tư phát triển du lịch và dịch vụ. Đồng thời là điểm vẫy gọi các nhà đầu tư có nhu cầu tham gia.
Tăng cường khai thác nguồn lực từ đất, trong đó đẩy mạnh công tác đấu giá đất thương phẩm tại các dự án đô thị trên địa bàn nhằm tạo nguồn cho đầu tư kết cấu hạ tầng. Rà soát lại các dự án phát triển đô thị, nhà ở thương mại kém hiệu quả, không đáp ứng được năng lực tài chính để triển khai theo tiến độ đã đăng ký, đề xuất thu hồi chuyển cho nhà đầu tư có năng lực thực sự nhằm khai thác triệt để nguồn thu từ tiền sử dụng đất.
Thứ hai, phát huy nguồn lực con người. Có thể thấy nguồn lực con người ở Vĩnh Phúc nhìn chung là dồi dào và giá rẻ, con người Vĩnh Phúc cần cù, có khả năng sáng tạo, nắm bắt công nghệ nhanh…
Nguồn nhân lực có vai trò quyết định trong quá trình lao động sản xuất, trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đào tạo nguồn nhân lực được coi là khâu quyết định triển vọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút ngắn” và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đảm bảo về số lượng và chất lượng, được đào tạo ở những nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có cơ cấu phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Để phát huy thế mạnh và khắc phục hạn chế về nguồn nhân lực trong tỉnh, Vĩnh Phúc cần thực hiện tốt chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình để đảm bảo về tốc độ tăng dần số và số lượng lao động hợp lý.
Để tạo ra nguồn lực có chất lượng cao, cần đặc biệt coi trọng công tác giáo dục – đào tạo trên mọi phương diện vì giáo dục là quốc sách. Giải quyết tốt vấn đề giáo dục – đào tạo, không chỉ đào tạo được đội ngũ người lao động có đủ năng lực, có tay nghề, làm chủ khoa học và công nghệ, có khả năng lãnh đạo và quản lý… trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế ngày nay mà còn cân đối được giữa cung và cầu lao động trên từng lĩnh vực, ngành nghề, vùng miền, từ đó giải quyết tốt vấn đề lao động và việc làm. Không những vậy, làm tốt giáo dục thế hệ trẻ cũng đồng nghĩa với việc góp phần giảm tệ nạn xã hội, ngăn chặn đạo đức xã hội xuống cấp và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đưa đất nước ngày càng phát triển.
Phải bố trí sử dụng hợp lý hiệu quả nguồn nhân lực, để phát huy cao độ khả năng và nhiệt tình lao động của mọi người lao động. Thực tế là nhiều lao động có trình độ, được đào tạo ở trong và ngoài tỉnh, muốn về địa phương làm việc, nhưng không thể tìm kiếm được việc làm phù hợp với chuyên môn đào tạo của mình. Thực trạng đó, làm cho lao động đã được đào tạo sẽ ở lại công tác ở các địa phương khác, hoặc phải làm trái ngành nghề được đào tạo. Điều đó gây cho Vĩnh Phúc khó khăn trong việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh.
Thực tế số lao động tăng thêm, số lao động thất nghiệp của tỉnh lại chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, với chất lượng lao động thấp, khó có thể gia nhập vào những ngành kinh tế có trình độ cao. Vì vậy, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần phải phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp để thu hút lực lượng lao động này. Song song với quá trình trên, tỉnh cần có chính sách đào tạo nguồn lao động có chất lượng, nâng cao chất lượng cho lực lượng lao động, nhất là đối với khu vực nông thôn. Một thực tế là, những lao động được đào tạo lành nghề, có trình độ cao lại không muốn làm việc ở tỉnh, vì vậy, tỉnh cần có những chính sách “chiến lược đãi sỹ” thu hút lao động có trình độ về làm việc tại địa phương.
Thứ ba, cần cải thiện môi trường làm việc, có chế độ ưu đãi thích hợp để thu hút nhân tài và lao động kỹ thuật đến công tác và làm việc lâu dài tại tỉnh, đồng thời đẩy nhanh tốc độ đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ phù hợp với cơ cấu kinh tế – xã hội của tỉnh.
Thứ tư, một nguồn lực không thể không nhắc tới đó là nguồn vốn ngân sách nhà nước. Cần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn NSNN, tích cực tranh thủ khai thác các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương.
Đối với nguồn vốn chi đầu tư phát triển do địa phương quản lý có tính ổn định theo giai đoạn 5 năm, lập kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm, trong đó xác định những nhiệm vụ trọng tâm, mũi nhọn để ưu tiên vốn đầu tư, đảm bảo nguồn vốn cho công trình trọng điểm nhằm đẩy nhanh tiến độ, tạo điểm nhấn, tạo động lực thu hút đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội tỉnh. Thực hiện phân bổ vốn đầu tư một cách hiệu quả, tập trung, tránh dàn trải theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Đối với nguồn vốn bổ sung trong năm (nguồn vượt thu, thưởng vượt thu) để tập trung đầu tư cho các dự án trọng điểm, dự án hạ tầng kỹ thuật khung đô thị Vĩnh Phúc đã được hội đồng nhân dân tỉnh thông qua chương trình nhằm sớm hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, sớm đưa Vĩnh Phúc trở thành Thành phố trong những năm 20 của thế kỷ này.
Thứ năm, nguồn vốn viện trợ: Cần tranh thủ vận động các nguồn vốn viện trợ ODA để đầu tư kết cấu hạ tầng. Tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư, thu hút nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước vào đầu tư hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị trên địa bàn theo quy hoạch được duyệt.
4.2.2.1.3. Đổi mới cơ chế chính sách, tạo môi trường thể chế thuận lợi hơn cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh
Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành hiệu quả trong giai đoạn tới, tỉnh cần có cơ chế chính sách phù hợp, cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong điều kiên hiện nay. Tiếp tục rà soát hệ thống các chính sách đã ban hành đồng thời phân tích, điều chỉnh, bổ sung đảm bảo hình thành một hệ thống chính sách đồng bộ, hoàn chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh.
Đổi mới quy trình tổ chức thực hiện chính sách, tăng cường đánh giá kết quả thực thi các chính sách về phát triển kinh tế. Để có chính sách sát hợp với thực tiễn, cần thực hiện nghiêm việc đánh giá chính sách, sau đó tổng kết kết quả thực hiện nhằm đánh giá lại toàn bộ tiến trình triển khai chính sách.
Việc tổng kết phải đáp ứng các yêu cầu đó là đánh giá điều được của chính sách trên tất cả các phương diện. Đồng thời, đánh giá những cái sẽ mất mà chính sách đưa lại, đánh giá các tiềm năng chưa được huy động…
Thư hai, hoàn thiện bộ máy thực hiện chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả và mở rộng quyền phân cấp, giao quyền chủ động. Muốn tổ chức thực hiện chính sách phát triển các ngành kinh tế hiệu quả thì vấn đề về bộ máy và phân cấp thực hiện phải được đặc biệt quan tâm. Đảm bảo quản lý thống nhất chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, thanh tra. Đồng thời phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các Sở ban ngành, các cấp chính quyền trong việc thực hiện chính sách trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Phải đảm bảo tương giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, tổ chức, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác; phải ăn khớp giữa các ngành, lĩnh vực có liên quan.
Thứ ba, có cơ chế, chính sách khuyến khích tập trung ruộng đất một cách hợp lý để tạo vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Thời gian qua, công tác đồn điền, đổi thửa đã đưa lại tác dụng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho đưa máy móc vào cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, ruộng đất vẫn phân tán manh mún, sản xuất vẫn độc canh cây lúa, còn mang nặng tính tự cung tự cấp…. Để tiếp tục mở rộng sản xuất trên quy mô lớn, cần phải khuyến khích tập trung ruộng đất một cách hợp lý.
Thứ tư, tỉnh cần có cơ chế chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến nông sản và tiêu thụ sản phẩm. Công nghiệp chế biến nông sản góp phần rất quan trọng vào nâng cao chất lượng nông sản và bảo quản nông sản sau thu hoạch, do đó tỉnh cần có cơ chế chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp này, có như vậy mới khuyến khích họ đầu tư vào chế biến nông sản. Tỉnh cũng cần khuyến khích tư thương đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ cung cấp nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến nông sản và tiêu thụ đầu ra cho nông dân. Có như vậy mới đảm bảo cho sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định và bền vững.
Bên cạnh đó, tỉnh cần có cơ chế, chính sách, hỗ trợ các hộ tiếp cận với kỹ thuật, công nghệ, trình độ quản lý để kinh tế hộ, kinh tế trang trại trở thành các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các nông sản theo mô hình khép kín từ đầu vào đến đầu ra của sản xuất Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Thứ năm, nghiên cứu, ban hành các chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng tại các làng nghề, thúc đẩy các làng nghề phát triển. Vĩnh Phúc có một số làng nghề nổi tiếng cả nước, các làng nghề hiện khó khăn về kết cấu hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc… ảnh hưởng đến thị trường và quy mô sản xuất, từ đó cũng ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh.
4.2.2.1.4. Tăng cường phối hợp phát triển giữa tỉnh Vĩnh Phúc với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Xây dựng kế hoạch phối, kết hợp với các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng trong phát triển kết cấu hạ tầng, xây dựng các tour du lịch, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, khai thác hệ thống thủy nông, chuyển giao công nghệ…
Các tỉnh trong vùng có những thế mạnh khai thác trong phát triển kinh tế xã hội, có thể phối hợp với Vĩnh Phúc để khai thác tốt thế mạnh của các thế mạnh của tỉnh. Đồng thời việc phối hợp với các tỉnh trong vùng cũng tạo điều kiện để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa trong tỉnh, tạo đà để hàng hóa trong tỉnh vươn xa ra thị trường trong nước và xuất khẩu. Vĩnh Phúc có thể phối hợp với Bắc Ninh để phát triển các cụm khu công nghiệp và phát triển du lịch của tỉnh… Để có được sự phối hợp trong phát triển kinh tế, tỉnh cần có quy hoạch xây dựng phát triển hệ thống giao thông thuận tiện, có hệ thống nhà hàng, khách sạn đạt tiêu chuẩn và có các sản phẩm dịch vụ kèm theo phong phú.
4.2.2.1.5. Đầu tư phát triển mạnh khoa học kỹ thuật và bảo vệ môi trường
Khoa học công nghệ vốn được coi là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thực trạng khoa học công nghệ của nền kinh tế Vĩnh Phúc chưa cao, ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng sản phẩm và sức năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất ra trong tỉnh. Để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỉnh cần:
Thứ nhất, lựa chọn hướng phát triển khoa học công nghệ thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu ngành kinh tế. Ở góc độ toàn diện nền kinh tế quốc dân, Đảng ta đã chủ trương có bốn chương trình ưu tiên về công nghệ là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa và công nghệ vật liệu mới. Trong điều kiện là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lực hạn hẹp, chưa thể triển khai đồng thời cả bốn chương trình bởi vậy phải cân nhắc lựa chọn thứ tự ưu tiên cho phù hợp. Trước mắt, tỉnh cần tập trung cho nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ có khả năng khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu là sản phẩm nông nghiệp, sử dụng nhiều lao động nhằm khai thác thế mạnh của tỉnh. Nâng cao chất lượng của các công trình khoa học, gắn phát triển khoa học, công nghệ với sản xuất; ứng dụng nhanh các thành tựu của khoa học – kỹ thuật và tin học vào sản xuất và các lĩnh vực khác như: Quản lý, điều hành… Ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong các khâu chế biến nông thủy sản và các ngành công nghiệp chế tác khác. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Thứ hai, tăng cường gắn kết hoạt động khoa học công nghệ với hoạt động kinh tế theo quan hệ thị trường. Đây là giải pháp tốt nhất để khoa học – công nghệ thực sự là lực lượng sản xuất trực tiếp đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành. Để gắn kết giữa khoa học công nghệ và hoạt động kinh tế thực sự theo cơ chế thị trường cần có những chuyển biến cụ thể sau: Các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ và các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực sự trở thành những chủ thể tham gia trên thị trường khoa học, công nghệ; ký kết hợp đồng nghiên cứu giữa cơ quan khoa học với doanh nghiệp.
Thứ ba, có cách chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho việc nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và cho các doanh nghiệp đầu tư đưa các công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất. Công nghệ mới thường có chi phí lớn về vốn, có nhiều rủi ro. Để đẩy nhanh hoạt động nghiên cứu và triển khai cần có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Thứ tư, xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất, kinh doanh giỏi, có hiệu quả kinh tế cao, những cá nhân có những sáng chế có khả năng áp dụng vào sản xuất hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực nông – ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Thực tế kinh nghiệm của nhiều địa phương trên cả nước cho thấy, những tấm gương làm kinh tế giỏi là mô hình mẫu và hỗ trợ nhân dân ở các địa phương phát triển kinh tế đã đưa lại hiệu quả rất cao
Thứ năm, có các biện pháp quản lý, khuyến khích các doanh nghiệp, làng nghề đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn, lỏng, khí trước khi thải ra môi trường. Thực tế cho thấy sự phát triển của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thường kéo theo sự ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới khả năng phát triển bền vững. Để phát triển bền vững, tỉnh cần quan tâm phát triển công nghệ xử lý chất thải.
4.2.2.2. Nhóm giải pháp ngắn hạn và trung hạn
4.2.2.2.1. Lựa chọn các ngành cần tập trung phát triển, trong đó ưu tiên ngành tạo nhiều việc làm, đồng thời lựa chọn hợp lý những phương hướng phát triển đột phá trong các ngành gắn với lợi thế so sánh của tỉnh…
Để đạt được mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp, Vĩnh Phúc đặt ra mục tiêu lớn, đến năm 2025 công nghiệp – xây dựng sẽ chiếm 62,7% trong cơ cấu kinh tế, thương mại – dịch vụ chiếm 30,6%, nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 6,7%. Theo đó, tỉnh cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, công nghiệp cơ khí chế tạo như láp ráp ôtô, xe máy, các ngành phụ trợ như sản xuất phụ tùng, linh kiện ôtô, xe máy, phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục duy trì phát triển ngành dệt may, giày dép để trở thành ngành trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh. Duy trì và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chủ lực như dệt may, giày dép, linh kiện, thiết bị điện tử, sản phẩm gỗ…
Trong nông nghiệp, với tiềm năng và lợi thế của tỉnh, có thể lựa chọn phát triển chăn nuôi, trong đó đặc biệt quan tâm tới chăn nuôi lợn, bò sữa và sản xuất rau là các ngành hàng chủ lực cần tập trung đầu tư phát triển trở thành ngành hàng có tính cạnh tranh cấp vùng trên cơ sở những lợi thế sau: Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Chăn nuôi lợn: Ngành hàng lợn ở Vĩnh Phúc có nhiều điểm mạnh và cơ hội tiềm năng để phát triển. Thứ nhất, đã tạo được uy tín với thị trường do chất lượng đàn lợn thịt tốt (đa số là lợn có tỉ lệ máu ngoại cao) và con giống có chất lượng tốt. Thứ hai, cơ sở chăn nuôi quy mô lớn ngày càng phát triển và thể hiện tính cạnh tranh cao (kỹ năng nuôi, chất lượng đàn lợn, kiểm soát dịch bệnh tốt). Thứ ba, vị trí địa lý và điều kiện giao thông thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm. Thứ tư, có đội ngũ thương lái thu gom lợn đông đảo, góp phần quan trọng trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Thứ năm, nguồn lực đất đai ở khu vực trung du, miền núi khá dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu mở rộng chăn nuôi, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh. Thứ sáu, việc kiểm soát dịch bệnh tốt giảm rủi ro sản xuất và thương mại sản phẩm.
Chăn nuôi bò sữa: Ngành hàng bò sữa ở Vĩnh Phúc có lợi thế vùng do: Lợi nhuận từ chăn nuôi bò sữa rất cao so với các ngành nông nghiệp khác, người dân sẵn sàng mở rộng sản xuất; tính cạnh tranh của sữa tương đương với các tỉnh có chăn nuôi bò sữa phát triển (thành phố Hồ Chí Minh) trong khi có tiềm năng để tăng năng suất sữa còn lớn; còn có quỹ đất có thể chuyển đổi phục vụ chăn nuôi bò sữa; có thị trường đầu ra cho sản phẩm(Theo dự báo của Bộ Công thương, đến năm 2030 nếu Việt Nam có 500 ngàn bò sữa thì sản lượng sữa trong nước mới đáp ứng được 38% tổng nhu cầu nội địa); có lợi thế so sánh với các ngành chăn nuôi khác trong tỉnh. Một số loại đất chuyển sang trồng cỏ nuôi bò mang lợi nhuận cao hơn các cây trồng khác; đã hình thành vùng chăn nuôi có quy mô lớn thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp; đã hình thành nên đội ngũ nông dân chăn nuôi bò sữa có kinh nghiệm; giao thông từ vùng sữa sang Ba Vì, trung tâm chăn nuôi bò sữa và chế biến của vùng, thuận lợi, thời gian vận chuyển ngắn. Mục tiêu tổng quát là phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Vĩnh Phúc trở thành một ngành kinh tế quan trọng, có lợi thế cạnh tranh góp phần vào tăng trưởng nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nông dân cải thiện chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030: Phát triển đàn bò cả về số lượng và chất lượng, đàn bò sữa đạt 13.000 con; chất lượng đàn bò sữa được cải thiện; năng suất sữa/bò của một chu kỳ khai thác sữa đạt 6 tấn; 100% sữa đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; 300 cơ sở chăn nuôi đạt tiêu chuẩn cơ sở chăn nuôi an toàn (chiếm khoảng 15% tổng cơ sở chăn nuôi); 90% sữa được tiêu thụ thông qua hợp đồng liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp; 10% sữa được chế biến tại cơ sở chế biến sữa của tỉnh (Hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ).
Rau: Ngành hàng rau của Vĩnh Phúc có cơ hội và tiềm năng phát triển bởi các lợi thế về năng suất, khí hậu, đất đai, hệ thống giao thông và hệ thống phân phối.
Đối với ngành dịch vụ, trong những năm qua du lịch đang được lựa chọn phát triển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh bởi Vĩnh Phúc được biết đến là tỉnh có nhiều tài nguyên và tiềm năng để phát triển du lịch. Thuộc vùng Đông Bắc Bắc Bộ, Vĩnh Phúc có vị trí thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế và dịch vụ. Nằm kề với cảng hàng không quốc tế Nội Bài, một trong 2 cảng hàng không lớn nhất cả nước. Vĩnh Phúc gần với điểm đầu của quốc lộ 18 nối với Quảng Ninh, là cánh cửa mở ra biển để phát triển các ngành kinh tế cũng như dịch vụ du lịch. Đặc biệt, Vĩnh Phúc có lợi thế lớn nhờ giáp ranh với Thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá và cũng là trung tâm du lịch lớn của cả nước. Ngoài giao thông đường bộ và đường sắt, Vĩnh Phúc là địa phương có hệ thống sông khá dày đặc với hai con sông lớn là sông Hồng và sông Lô, đây là một thế mạnh có thể phát triển các tour du lịch hấp dẫn với việc xây dựng các bến thuyền du lịch ở những địa điểm thích hợp. Những thuận lợi về giao thông sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển du lịch, dịch vụ của tỉnh.
Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc bộ Văn Lang thời các Vua Hùng dựng nước, trong dòng chủ lưu lịch sử phát triển dân tộc. Trải qua quá trình phát triển thăng trầm của lịch sử cho đến ngày nay, trên địa bàn tỉnh có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn phong phú mang giá trị cao như: Khu Di tích Danh thắng Tây Thiên, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, thiền viện Trúc Lâm Tuệ Đức, đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn, tháp Bình Sơn – chùa Vĩnh Khánh, chùa Hà Tiên, cụm đình Hương Canh, đình Thổ Tang, Khu Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu… các lễ hội truyền thống (lễ hội Tây Thiên, lễ hội Chọi trâu, lễ hội đền Thính…); các làn điệu dân ca, dân vũ độc đáo (hát Trống Quân, hát Soọng cô, hát Sịnh ca…) và các sản phẩm thủ công, làng nghề truyền thống (làng gốm Hương Canh, làng mộc Thanh Lãng, làng rắn Vĩnh Sơn, làng rèn Lý Nhân, nghề đá Hải Lựu…); trò chơi dân gian đặc sắc cùng nhiều món ăn đặc sản mang đậm màu sắc địa phương của Vĩnh Phúc cũng là sức hút du khách.
4.2.2.2.2. Tạo đột phá phát triển trong từng ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh
- Các giải pháp phát triển nông nghiệp trên địa bàn Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
(1). Tăng cường đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp, nông thôn và đẩy mạnh việc đưa cơ khí hoá vào sản xuất nông nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông sản để tiêu thụ sản phẩm cho nông dân và nâng cao chất lượng sản phẩm.
(2). Tiếp tục đầu tư cho các công trình thuỷ nông, kiên cố hoá kênh mương, các công trình phục vụ phòng chống bão lụt và hạ tầng kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
(3). Ưu tiên đầu tư từ ngân sách tỉnh cho việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ sinh học, hình thành các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, hỗ trợ nông dân tìm kiếm thị trường, đầu tư thỏa đáng cho đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề cho nông dân, tăng cường đầu tư cung cấp thông tin cho nông dân.
(4). Tăng cường quản lý nhà nước về giống cây trồng, vật nuôi, đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm.
(5). Khuyến khích nông dân dồn ghép ruộng đất, dồn điền đổi thửa hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo luật đất đai để tạo thành các khu sản xuất tập trung; kiện toàn hệ thống hợp tác xã.
(6). Thu hút cá nhân trong và ngoài nước đấu thầu quyền sử dụng đất. Đưa cơ chế, chính sách mới trong nông nghiệp để tạo cho nông dân cơ hội phát triển như: Nông dân được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất vào dự án đầu tư. Có cơ chế và cải tiến cơ chế hỗ trợ, cho vay để nông dân có vốn phát triển sản xuất.
- Các giải pháp phát triển công nghiệp trên địa bàn
(1). Tập trung đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển công nghiệp, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp. Thu hút mọi hình thức đầu tư, khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp. Phối hợp với Trung ương và tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện các dự án giao thông quốc gia trên địa bàn, thúc đẩy đầu tư hoàn thiện hệ thống giao thông trong tỉnh, nhằm từng bước hình thành đồng bộ hệ thống giao thông kết nối trong và ngoài tỉnh, tạo nền tảng cho phát triển công nghiệp.
(2). Thu hút đầu tư có chọn lọc theo hướng ưu tiên các dự án kỹ thuật cao, các dự án thân thiện môi trường, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sản phẩm xuất khẩu đồng thời với việc tạo lập thương hiệu sản phẩm công nghiệp.
(3). Khuyến khích và tạo điều kiện thuân lợi nhất cho đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước, trong đó có đầu tư nước ngoài. Đẩy mạnh công tác hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp nông thôn.
(4). Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất có trình độ tay nghề phù hợp, ưu tiên phát triển đội ngũ lao động có trình độ cao để tiếp thu và tiến tới làm chủ công nghệ. Mở rộng hợp tác đào tạo lao động với các địa phương trong vùng, đặc biệt là Hà Nội và cả hợp tác với quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh.
(5). Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư, thương mại để thu hút vốn đầu tư và tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm công nghiệp của tỉnh. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
(6). Tư vấn, giúp các doanh nghiệp phát triển thương hiệu, ứng dụng công nghệ mới, tìm kiếm thị trường, tổ chức các lớp tập huấn về phát triển thương mại điện tử, xúc tiến thương mại, tổ chức hội chợ.
- Các giải pháp phát triển dịch vụ trên địa bàn
(1). Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; khuyến khích đầu tư vào phát triển các khu vui chơi giải trí hiện đại; thực hiện xã hội hóa đầu tư phát triển du lịch.
(2). Tăng cường công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hoạt động du lịch. Tập trung vào: các kỹ năng về tổ chức quản lý các tour, tuyến du lịch; đào tạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh và tiếng Trung… nhằm đảm bảo nguồn nhân lực tốt cho phát triển du lịch (các giải pháp cụ thể được trình bày chi tiết trong nội dung về phát triển giáo dục và đào tạo).
(3). Đẩy mạnh chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch: Tập trung xúc tiến quảng bá theo chiến dịch trọng điểm, phù hợp định hướng phát triển sản phẩm, thương hiệu du lịch của tỉnh; xây dựng cơ chế hợp tác trong và ngoài ngành, đẩy mạnh xã hội hóa xúc tiến quảng bá du lịch; tận dụng tối đa sức mạnh truyền thông, huy động sự hợp tác của các cơ quan đại diện ngoại giao tại các nước, truyền thông qua các mạng xã hội.
(4). Tăng cường liên kết, phối hợp với các địa phương trong vùng trong thực hiện quy hoạch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, xúc tiến đầu tư, xây dựng thương hiệu du lịch. Hình thành các tuor, tuyến du lịch liên vùng, tỉnh và hướng tới hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch.
Tập trung xây dựng quy hoạch các huyện Tam Đảo, Sông Lô, Vĩnh Yên, Bình Xuyên, Phúc Yên trở thành các vùng dịch vụ, du lịch trọng điểm của tỉnh. Trên cơ sở quy hoạch, các huyện, thành phố, thị xã: Tam Đảo, Sông Lô, Vĩnh Yên, Bình Xuyên, Phúc Yên lập đề án phát triển các lĩnh vực du lịch, thương mại cụ thể để tập trung đầu tư, chủ động quỹ đất, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển dịch vụ, du lịch. Tiến hành cải tạo, nâng cấp, mở rộng các khu du lịch, các điểm du lịch, các trung tâm thương mại hiện có. Hình thành và phát triển các trung tâm dịch vụ, các khu du lịch, vui chơi, giải trí, thương mại mới mang tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta và trên thế giới không phải là đề tài mới, tuy nhiên trong quá trình thực hiện đổi mới nền kinh tế và hội nhập kinh tế khu vực, quốc tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề đa dạng, phức tạp liên quan đến sự phát triển kinh tế – xã hội. Hơn nữa, với một tỉnh có vị thế quan trọng góp phần lớn đối với sự phát triển của của đất nước cùng nhiều tiềm năng đang được khai thác thì quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Vĩnh Phúc ngày càng được hoàn thiện hơn và có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước.
Cơ cấu kinh tế Vĩnh Phúc đang chuyển dịch tương đối nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ trọng công nghiệp tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm là sự chuyển dịch đúng hướng và tích cực.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp để thúc đẩy sự tăng trưởng, phát triển nền kinh tế. Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng lý luận chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế làm công cụ phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và trong nội bộ từng ngành thông qua các số liệu đã thống kê của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2016 đến nay. Trên cơ sở đó, để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại, luận văn đã đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản góp phần thực hiện đổi mới nền kinh tế có hiệu quả. Luận văn: Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

