Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sự hưng thịnh hay thất bại trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc đáng kể vào chiến lược phát triển của quốc gia ấy, và ở đó vấn đề bao trùm là xây dựng và phát triển nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và bền vững. Điều này đòi hỏi phải xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các ngành kinh tế, giữa các vùng lãnh thổ và giữa các thành phần kinh tế.

Để có được cơ cấu kinh tế hợp lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại là một tất yếu khách quan. Ở Việt Nam, trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, vấn đề này thường được nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Mỗi sự tiến bộ của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng địa phương, ở các ngành sẽ thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế quốc dân chuyển sang một cơ cấu hợp lý, hiện đại và hiệu quả cao hơn.

Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội nên có điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, những vấn đề lớn đang đặt ra là: Cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh chuyển dịch như thế nào và có điểm gì khác biệt so với các địa phương khác trong nước? Vĩnh Phúc cần làm gì để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, phù hợp với lợi thế và đặc điểm của mình, với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với các nền kinh tế thị trường trong khu vực và trên thế giới?…

Là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, với những tiềm năng vốn có và vị trí chiến lược quan trọng, trong những năm đổi mới vừa qua, Vĩnh Phúc đã và đang đi vào quỹ đạo chung của cả nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đạt được những thành tựu đáng kể, có đóng góp nhất định vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù vậy, quá trình này cũng không ít hạn chế. Vì thế nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” là rất cần thiết. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc và định hướng phát triển tương lai

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc những năm gần đây, chỉ ra một số vấn đề cần giải quyết, luận văn đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp mới góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình tiếp tục đổi mới và phát triển của tỉnh Vĩnh Phúc.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã xác định, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

  • Tổng quan tình hình nghiên cứu; từ đó hệ thống hóa, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
  • Phân tích, đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình này.
  • Đề xuất một số giải pháp mới, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình phát triển của Vĩnh Phúc giai đoạn 2025 – 2030 và đặt trong tầm nhìn đến năm 2040.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Thời gian: Luận văn chỉ giới hạn khảo cứu, phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế chủ yếu và nội bộ các ngành đó (gồm công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024; định hướng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2040.

4. Những đóng góp mới của luận văn Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Đánh giá, phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và các nguyên nhân tương ứng.
  • Đưa ra một số đề xuất mới về quan điểm, phương hướng và hệ thống giải pháp góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2030 và đặt trong tầm nhìn đến năm 2040.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:

  • Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
  • Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
  • Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024
  • Chương 4: Quan điểm, phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn 2040 Chương 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH

1.1.  TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà sản xuất kinh doanh… quan tâm dưới nhiều góc độ và phạm vi khác nhau. Ở nước ta, trong những năm đổi mới vừa qua, đã có nhiều công trình dưới dạng sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí, luận văn, luận án… nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là nguồn tư liệu tham khảo rất quan trọng đối với đề tài luận văn. Dưới đây xin tổng quan về những công trình có quan hệ gần với luận văn.

  1. Bùi Tất Thắng, 2016, Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, HN: Nxb Khoa học xã hội. Cuốn sách này trình bày lí luận cơ bản về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở nước ta; phân tích thực trạng giai đoạn trước năm 2015, từ đó đã đề xuất quan điểm và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020.
  2. Bùi Tất Thắng và Bùi Huyền Linh, 2023, Dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam thời kỳ đến năm 2030, HN, Nxb Khoa học xã hội. Trong công trình này, các tác giả đã đề cập và luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng và ứng dụng khoa học dự báo kinh tế, đề xuất mô hình dự báo kinh tế cho Việt Nam, đưa ra dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam thời kỳ đến năm 2030 và một số hàm ý chính sách. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.
  3. Bùi Tất Thắng và các cộng sự, 1997, Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam, HN,Nxb Khoa học xã hội. Ở đây, các tác giả đã trình bày về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong một số mô hình công nghiệp hoá, chỉ ra khá rõ những nhân tố kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá.
  4. Công Văn Dị, 2018, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 6, trang 40 – 45. Tác giả đã đánh giá tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Việt Nam từ năm 1986 đến 2016: chuyển đổi theo hướng tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập quốc tế… Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành: nâng cao chất lượng các quy hoạch có liên quan đến cơ cấu ngành; tăng cường huy động vốn đầu tư; …
  5. Đặng Kim Oanh, 2015, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 6, trang 39 – 41. Trong bài viết này, tác giả đã trình bày đặc điểm vùng đất Vĩnh Phúc và những vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở đây theo hướng CNH, HĐH. Từ kết quả đạt được về chuyển dịch CCKT nông nghiệp, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc.
  6. Đặng Thị Kim Oanh, 2015, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận văn thạc sĩ, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn trình bày đặc điểm vùng đất Vĩnh Phúc và phân tích khá hệ thống những vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở đây theo hướng CNH, HĐH. Từ kết quả đạt được về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, rút ra một số bài học kinh nghiệm có liên quan của tỉnh Vĩnh Phúc.
  7. Đinh Thị Minh Lệ, 2012, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn trình bày những vấn đề lý thuyết chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và thực tiễn Đông Á. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong thời kỳ đổi mới và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
  8. Đỗ Hoài Nam, 1995 – 1996, Những biện pháp kinh tế, tổ chức chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp nhà nước, thực hiện tại Viện Kinh tế học – Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam). Đề tài luận giải một số vấn đề cơ bản về lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế. Phân tích thực trạng chuyển dịch ngành của nền kinh tế theo hướng CNH, HĐH đất nước ở giai đoạn trước năm 1996. Đề xuất các biện pháp kinh tế, tổ chức chủ yếu nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển ngành trọng điểm, mũi nhọn của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2015.
  9. Đỗ Hoài Nam, 1996, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển những ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam, HN, Nxb Khoa học Xã hội. Cuốn sách trình bày một số vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm thế giới về chuyển dịch cơ cấu ngành trong các nền kinh tế. Đặc điểm phát triển kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và tác động đến chuyển dịch cơ cấu của các nước đi sau trong khu vực. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.
  10. Lê Hiếu, 2018, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa công bố trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 146, trang 14 – 18.Trong bài viết này, tác giả đã khái quát những nét cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện những năm gần đây, gắn với đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước trong tiến trình CNH, HĐH và quá trình hội nhập, tập trung ưu tiên phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn. Tác giả nêu một số định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong giai đoạn tới: Đảm bảo tỉ lệ lao động 50% và công nghiệp dịch vụ 50%; ngành nông lâm: trồng trọt chiếm 60%, chăn nuôi chiếm 40% giá trị sản lượng toàn ngành…
  11. Lê Thị Hồng Khuyên, 2019, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, luận văn thạc sĩ, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo cách phân ngành của Việt Nam và của Liên Hợp Quốc; giới thiệu những chỉ tiêu và các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Trình bày những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở nước ta theo phân ngành của Việt Nam và của Liên Hợp Quốc trong quá trình đổi mới từ năm 1990 đến năm 2018. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp bao gồm: các giải pháp vĩ mô thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế (tạo môi trường chính trị, xã hội, pháp lí thuận lợi và ổn định; hoàn thiện công tác qui hoạch, kế hoạch; khai thác kênh huy động các nguồn lực cho phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; mở rộng thị trường…) và các giải pháp tập trung phát triển trong từng khu vực như: khu vực ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản và khai thác; khu vực ngành công nghiệp chế biến; khu vực ngành dịch vụ và xây dựng…nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong thời gian sắp tới.
  12. Lương Minh Cừ và cộng sự, 2022, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam theo hướng cạnh tranh đến năm 2030, Nxb Tp. Hồ Chí Minh. Cuốn sách giới thiệu khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay. Từ đó, tập trung nghiên cứu cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng cạnh tranh: Đánh giá hiện trạng và các giải pháp đã áp dụng, đề xuất chuyển đổi khu vực kinh tế và mô hình kinh tế nông nghiệp – nông thôn, tái cấu trúc doanh nghiệp…
  13. Nguyễn Cúc và cộng sự, 1997, Tác động của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, HN, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của những tác động kinh tế của Nhà nước trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đề xuất những giải pháp đổi mới và nâng cao hiệu quả tác động kinh tế của Nhà nước nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  14. Nguyễn Đình Dương, 2016, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô Hà Nội đến năm 2030, luận án tiến sĩ, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc Gia Hà Nội. Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chủ đề nghiên cứu, đánh giá những thành tựu và hạn chế cơ bản trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Hà Nội. Đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô đến năm 2030.
  15. Nguyễn Huy Cường, 2019, Huy động và sử dụng vốn đầu tư của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, luận án tiến sĩ kinh tế, thực hiện tại trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn huy động và sử dụng vốn đầu tư của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đánh giá thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị gắn với việc huy động và sử dụng vốn đầu tư của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
  16. Nguyễn Ngọc Thanh, 2019, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam trong quá trình đổi mới, công bố trên Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, số 284, trang 39 – 45. Tác giả đã trình bày tổng quan về cơ cấu kinh tế ngành và thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong quá trình đổi mới: Ngành nông, lâm, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ. Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.
  17. Nguyễn Thị Lan Hương, 2017, Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn: hiện trạng thời kỳ 1990 – 2015 và triển vọng đến năm 2025, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 11, trang 22- 37. Trong bài viết, tác giả đã khái quát hiện trạng cơ cấu lao động nông thôn thời kỳ 1990 – 2015, trong đó đi sát vào vấn đề việc làm, dân số, lực lượng lao động, chất lượng lao động. Dự báo chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn đến năm 2025 trên các mặt: dân số; cung lao động; việc làm theo ngành kinh tế, loại hình công việc, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật.
  18. Nguyễn Thị Lan Hương, 2017, Phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, công bố trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 10, trang 3 – 11. Ứng dụng phương pháp phân tích định lượng, tác giả đã đánh giá tác động của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng kinh tế và thông qua tác động của quá trình này tới tăng trưởng năng suất lao động xã hội. Đưa ra hai biện pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động, đóng góp vào tăng trưởng năng suất lao động xã hội: Ưu tiên phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; Tập trung đào tạo và đào tạo lại cho lao động nông nghiệp.
  19. Nguyễn Thị Minh, 2019, Chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 3, trang 17- 26. Đăng ở chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân tích định lượng về mối quan hệ giữa quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Phân tích sự dịch chuyển cơ cấu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990 – 2017, trong đó nhấn mạnh các vấn đề chưa hội nhập với kinh tế thế giới; Sự dịch chuyển của các nguồn lực giữa ba ngành sản xuất; Sự thay đổi trong mức thu nhập…Việt Nam cần có chính sách phù hợp nâng cao tính thông thoáng, công bằng, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế được nhanh và hiệu quả.
  20. Nguyễn Từ, 2017, Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn nhìn từ góc độ quản lý nhà nước đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 135, trang 29- 32 và trang 36. Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, kinh tế nông thôn, trong đó nhấn mạnh các vấn đề: Chậm, mang nhiều yếu tố tự phát; Các ngành phục vụ nông nghiệp chậm đổi mới; Thiếu liên kết với nông nghiệp, nông dân; Hiệu quả thấp, ảnh hưởng sử dụng nguồn lực, ách tắc tích tụ ruộng đất, sản xuất hàng hoá hiện tại; Sản xuất nhỏ manh mún, hàng hoá cạnh tranh kém. Đề xuất các giải pháp về quản lý nhà nước: Quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn; nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp; đưa KHCN ứng dụng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường chỉ đạo của Nhà nước (chính quyền địa phương).
  21. Phạm Thị Khanh và cộng sự, 2020, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững, HN, Nxb Chính trị quốc gia. Cuốn sách trình bày những vấn đề lí luận cơ bản, các nhân tố ảnh hưởng, kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững. Thực trạng và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam.
  22. Tập thể tác giả thuộc Viện Nghiên cứu kinh tế và Phát triển – trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2009, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới. Công trình này đã trình bày một số lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chỉ ra xu hướng vận động của quá trình chuyển dịch đặt trong điều kiện cụ thể của khu vực châu Á và thế giới.

Mỗi tác giả nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở một góc độ khác nhau nhưng đều xuất phát từ những lý luận về CDCCKT ngành, trên cơ sở những lý luận chung đó khai thác các nội dung CDCCKT, đồng thời đưa ra hệ thống giải pháp thúc đây CDCCKT và đây là nguồn tài liệu quan trọng có giá trị tham khảo rất bổ ích cho đề tài luận văn. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 – 2024.

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

1.2.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế

Thuật ngữ “cơ cấu” hay “cấu trúc” có nguồn gốc ban đầu từ chữ latinh “Structure”. Ban đầu “cơ cấu” được sử dụng trong kiến trúc, trong sinh vật học, dùng để chỉ cách tổ chức, điều chỉnh các tế bào động, thực vật. Sau đó, khái niệm cơ cấu được sử dụng trong nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân.

Vậy cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa các bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, khi nghiên cứu về cơ cấu của một đối tượng nào cần phải tiếp cận một cách có hệ thống đối với nó. (27, tr. 269 – 270).

Cơ cấu là thuộc tính mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng có. Đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem xét nó là một hệ thống phức tạp, có thể thấy rất nhiều bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành của chúng. Cơ cấu kinh tế phản ánh tính chất, trình độ, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong của một nền kinh tế. Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ không chỉ về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố hợp thành – biểu hiện sự tăng trưởng của hệ thống mà còn là những mối quan hệ cơ cấu về chất giữa các yếu tố – biểu hiện sự phát triển của hệ thống. Do vậy, cơ cấu kinh tế là phạm trù kinh tế, là nền tảng của cơ cấu xã hội và chế độ xã hội.

Đề cập tới vấn đề này, Các Mác cũng đã nói rằng: Cơ cấu là “một sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội” và “Cơ cấu kinh tế xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với một quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất”… Khái niệm cơ cấu kinh tế ở đây thể hiện thông qua tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Khái niệm này cho thấy cơ cấu kinh tế luôn luôn biến động gắn với sự thay đổi và phát triển không ngừng của bản thân các yếu tố, bộ phận trong nền kinh tế và những mối quan hệ giữa chúng.

Dưới góc độ Kinh tế học phát triển, cơ cấu kinh tế được hiểu là tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định. Cơ cấu kinh tế không chỉ thể hiện ở quan hệ tỷ lệ về mặt số lượng mà quan trọng hơn là mối quan hệ tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện mặt chất trong quá trình phát triển. Đánh giá sự phát triển kinh tế cần xem xét một cách toàn diện việc hình thành và chuyển dịch của các loại hình cơ cấu kinh tế. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về cơ cấu kinh tế.

Từ những phân tích trên, cơ cấu kinh tế có thể hiểu là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, thể hiện mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ, các thành phần kinh tế. Trong quá trình vận động của nền kinh tế, chúng có quan hệ tương tác lẫn nhau về số lượng, tỷ trọng và những điều kiện kinh tế – xã hội nhất định.

 Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hôi. Nó luôn biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện và việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế là một quá trình nhất định. Một cơ cấu kinh tế như thế nào, xu thế chuyển dịch của nó ra sao phụ thuộc vào những điều kiện khách quan về tự nhiên, kinh tế, xã hội và thể chế chính trị nhất định. Tương ứng với những điều kiện tự nhiên và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong một giai đoạn lịch sử nhất định, tất yếu có một cơ cấu kinh tế phù hợp.

1.2.1.2. Cơ cấu kinh tế ngành

Dựa vào những đặc trưng của các bộ phận cấu thành hệ thống và cách thức chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân, có thể chia cơ cấu kinh tế thành cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất, thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ lại được hình thành chủ yếu từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lý, còn cơ cấu thành phần kinh tế hình thành dựa trên chế độ sở hữu. Ba kiểu cơ cấu này là những nội dung quan trọng phản ánh tập trung trình độ phát triển của phân công lao động xã hội, trong đó cơ cấu ngành kinh tế giữ vai trò quyết định trong cơ cấu kinh tế vì nó được phát triển theo quan hệ cung – cầu, theo tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, nó đảm bảo sản xuất theo nhu cầu thị trường.

  • Vậy thế nào là cơ cấu kinh tế ngành?

Trong cuốn sách: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam” do Đỗ Hoài Nam (chủ biên), xuất bản năm 1996, trang 245 có viết: “Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân”.

Vậy cơ cấu kinh tế ngành là tổng thể hợp thành các ngành của nền kinh tế quốc dân trong mối quan hệ hữu cơ tương tác lẫn nhau cả về số lượng và chất lượng trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Cơ cấu ngành phần nào phản ánh trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành kinh tế là nét đặc trưng của các nước đang phát triển.

Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo 3 nhóm ngành chính:

  • Một là, nhóm ngành nông nghiệp. Trong nông nghiệp gồm 3 ngành nhỏ là nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.
  • Hai là, nhóm ngành công nghiệp, bao gồm công nghiệp và xây dựng.
  • Ba là, nhóm ngành dịch vụ gồm ngành thương mại, bưu điện và dịch vụ.

Trong quá trình hoạt động sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.

Với các nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp tương tự như Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp thường ở mức cao, từ 20 – 40% GDP. Trong khi đó ở các nước phát triển, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP chỉ chiếm từ 1 – 7%. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Trong quá trình phát triển, cơ cấu kinh tế ngành của mỗi quốc gia đều có sự chuyển đổi theo xu hướng chung là tỷ trọng nông nghiệp giảm, còn tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên.

1.2.1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

CDCCKT đã được nhiều tác giả bàn tới với những khái niệm khác nhau có liên quan đến nhau: “Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế”, “ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế”. Nhìn chung các quan niệm đều thống nhất xác định: CDCCKT ngành  là sự vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ, tương tác giữa chúng theo thời gian và không gian, dưới tác động của các yếu tố kinh tế – xã hội nhất định của trong nước và quốc tế.

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở tầm vĩ mô là một quá trình, trong đó bản thân các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và từng phân ngành của chúng vận động, phát triển dẫn đến sự thay đổi tương quan tỷ lệ giữa các ngành đã hình thành trước đó, cũng như mối quan hệ vốn đã tương đối ổn định của chúng. Đây không phải đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là sự biến đổi cả về mặt lượng và mặt chất trong nội bộ cơ cấu. Để xem xét số lượng các ngành tạo nên nền kinh tế và chất lượng mối quan hệ giữa chúng với nhau ra sao, người ta thường chia nền kinh tế thành các nhóm ngành để quan sát.

1.2.1.4. Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là tỷ trọng của ngành công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh, còn tỷ trọng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm.

Trong nội bộ ngành:

  • + Trong ngành nông nghiệp: Giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi.
  • + Trong công nghiệp: Tập trung công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp chế tạo cơ khí, điện tử
  • + Trong ngành dịch vụ: Đẩy mạnh lĩnh vực dịch vụ vận tải và du lịch

Từ những nội dung đã đề cập ở trên, có thể rút ra kết luận bước đầu về ý nghĩa của việc nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành:

Nhìn dưới góc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế. Ngược lại, trình độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế.

Mối quan hệ giữa chuyển dịch CCKT ngành với sự phát triển chung của nền kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ gắn với nó là sự phân bố các nguồn lực hạn hẹp của một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất – kinh doanh riêng. Sự chuyển dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn và chuyển dịch hợp lý cơ cấu ngành thể hiện được các lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ động tham gia thực hiện hội nhập có kết quả.

1.2.2. Những tiêu chí chủ yếu phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Để nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, người ta thường dựa vào một số tiêu chí sau:

1.2.2.1. Cơ cấu GDP

Tiêu chí GDP được khoa học kinh tế hiện đại sử dụng như một trong những thước đo khái quát nhất, phổ biến nhất để đo lường, đánh giá về tốc độ tăng trưởng, trạng thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.

Trong đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động cơ cấu ngành kinh tế và tỷ lệ phần trăm GDP giữa các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), là tiêu chí đầu tiên được dùng để đánh giá quá trình chuyển dịch của cơ cấu ngành của nền kinh tế. Cùng  với quá trình phát triển, tỷ lệ khu vực nông nghiệp có xu hướng chung ngày càng giảm, còn tỷ lệ khu vực phi nông nghiệp có xu hướng ngày càng tăng. Trong điều kiện khoa học công nghệ hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất.

Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, việc phân tích cơ cấu các phân ngành có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh cụ thể, sát thực khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế.

1.2.2.2. Cơ cấu lao động xã hội

Cơ cấu lao động làm việc trong nền kinh tế là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Lao động làm việc được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực, các ngành trong nền kinh tế; Một nền kinh tế chuyển dịch thành công không chỉ được phản ánh ở tỷ trọng giá trị trong các ngành sản xuất công nghiệp và dịch vụ tăng lên, mà cùng với sự tăng giá trị đóng góp của các ngành này trong GDP phải là số lượng lao động đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế.

Cơ cấu lao động phân theo ngành được các nhà kinh tế rất xem trọng và đánh giá cao vì chỉ tiêu này không chỉ phản ánh sát thực hơn mức độ chuyển biến sang một xã hội công nghiệp của một đất nước, mà còn ít bị ảnh hưởng bởi nhân tố ngoại lai hơn. Ở một số nền kinh tế, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực phi nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, nhưng trong cơ cấu GDP thì lĩnh vực phi nông nghiệp lại chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều. Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do sự méo mó về giá cả hoặc trong GDP có quá nhiều giá trị của nước ngoài, họ sẽ mang về nước họ. Vậy ở khía cạnh đó GDP không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.

1.2.2.3. Cơ cấu vốn đầu tư vào các ngành kinh tế

Với tư cách là cơ cấu phân bố nguồn lực xã hội vào các ngành kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư cũng là một tiêu chí quan trọng phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Ở từng giai đoạn phát triển khác nhau và ở các quốc gia khác nhau thì cơ cấu đầu tư vào các ngành kinh tế khác nhau. Quá trình công nghiệp hoá là quá trình mà vốn đầu tư có sự biến đổi về cơ cấu, chuyển từ tập trung chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp sang đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ; chuyển từ đầu tư vào sản xuất các sản phẩm phục vụ tiêu dùng trong nước là chủ yếu sang đầu tư vào sản xuất các sản phẩm phục vụ xuất khẩu… Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư vừa phản ánh sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế, đồng thời nó cũng thúc đẩy cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập nền kinh tế thế giới nên nó cũng được sử dụng như một công cụ để đánh giá xu hướng, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia trong tương lai.

1.2.2.4. Cơ cấu hàng xuất khẩu

Đây cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ thành công của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Hầu hết các quốc gia đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công nghiệp phát triển đều trải qua mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng xuất khẩu là: Từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp chế biến. Ban đầu là các sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thật thấp chuyển dần sang các loại sản phẩm sử dụng nhiều công nghệ kỹ thuật cao. Thông qua quá trình đó, sản phẩm của mỗi nước càng được hoàn thiện hơn và nâng cao chất lượng, xây dựng được thương hiệu cho sản phẩm. Vì vậy, cơ cấu hàng xuất khẩu là một trong những thước đo của sự thành công chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.

Tóm lại, để phân tích và đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, người ta dựa trên các tiêu chí chủ yếu là cơ cấu GDP, cơ cấu lao động, cơ cấu vốn đầu tư  và cơ cấu hàng xuất khẩu để xem xét. Chúng là cơ sở để đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước hay một địa phương, từ đó cho biết chất lượng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành có sự thay đổi như thế nào và đạt chất lượng ra sao. Ngoài ra, có thể tập hợp nhiều tiêu chí bổ trợ quan trọng khác như quan hệ giữa khu vực sản xuất vật chất và phi vật chất, những tiêu chí phản ánh quá trình chuyển giao công nghệ, sự cải thiện của quá trình hữu cơ, cơ cấu hàng nhập khẩu, cơ cấu trình độ lao động… Mỗi tiêu chí đều có những ý nghĩa trong quá trình phân tích sự phát triển nói chung của nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu mà lựa chọn và đề cập đến những chỉ tiêu nào cho phù hợp.

1.2.3. Các nhân tố chính ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một nước chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố. Tùy vào mục tiêu nghiên cứu và cách tiếp cận mà có cách đề cập khác nhau. Ở góc độ của CDCCKT ngành vĩ mô thì các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch được chia làm 3 nhóm cơ bản là: Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất, nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất và nhóm các nhân tố về cơ chế chính sách.

Chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình CCKT ngành  có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là cơ sở để tìm hiểu nguyên nhân của những thành tựu mà quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đạt được và những tồn tại trong quá trình này. Đây cũng là cơ sở để chỉ ra phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

1.2.3.1. Nhóm các nhân tố đầu vào của sản xuất

  • Các nguồn lực tự nhiên Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Các nguồn tự nhiên là nguồn lực do thiên nhiên ban tặng bao gồm: quy mô, chất lượng đất đai, địa hình, khí hậu, nguồn nước, vị trí đại lý khoáng sản… Nhóm yếu tố này quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng địa phương, chúng có mối quan hệ đan xen vào nhau, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến quá trình phát triển kinh tế của địa phương. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trước hết phải làm rõ các yếu tố này để từ đó nhìn nhận được vấn đề thuận lợi cũng như khó khăn trong suốt quá trình chuyển dịch.

Vị trí địa lý thuận lợi, cảnh quan, môi trường…là cơ sở để phát triển các ngành dịch vụ vận tải, du lịch….Tóm lại, tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế.

Nguồn lực tự nhiên là lợi thế so sánh, là cơ sở để đẩy mạnh một số ngành sản xuất, nhằm tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ, cung ứng vốn cho nền kinh tế, thực hiện nhập khẩu máy móc công nghệ hiện đại, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Vị trí địa lý là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc hình thành cơ cấu kinh tế. Một nước hay một vùng được đánh giá là có khả năng mở rộng thị trường, tiếp nhận các nguồn lực từ bên ngoài thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch hay không là phụ thuộc vào vị trí địa lý của nó. Với một vị trí địa lý bất lợi thì việc thu hút các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bên trong sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế, bởi nó là căn cứ cho việc bố trí ngành sản xuất.

Khí hậu thủy văn là nguồn tài nguyên liên quan và tác nhân ảnh hưởng đến các ngành kinh tế quốc dân. Đáng chú ý là trong sản xuất nông nghiệp, yếu tố này có ảnh hưởng tới mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi, năng xuất, chất lượng sản phẩm.

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: Đất đai, rừng, nguồn nước, khoáng sản…

Sự phân bổ và khai thác tài nguyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển các ngành kinh tế. Hiện nay, nguồn tài nguyên đang đứng trước nguy cơ khan hiếm và cạn kiệt. Đây là khó khăn, cũng là thách thức đối với quá trình tăng trưởng kinh tế, hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế. Con đường để khắc phục thực trạng này là dựa vào tiến bộ khoa học công nghệ, đồng thời tiến hành dò tìm, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và phát triển theo hướng kinh tế tri thức.

Có thể thấy rằng tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên phong phú, thuận lợi sẽ tạo điều kiện để phát tiển du lịch, ngư nghiệp, nông nghiệp… là cơ sở tự nhiên cho việc hình thành thế mạnh những vùng kinh tế và các ngành kinh tế khác nhau của đất nước. Sự đa dạng và phong phú của tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nhân tố phải tính đến trong quá trình hoạch định chiến lược cơ cấu.

Vậy các nguồn lực tự nhiên là nhân tố đầu tiên có ảnh hưởng mạnh tới thiên hướng tự nhiên của cơ cấu sản xuất của một nền kinh tế. Trong nhiều trường hợp chúng tạo nên cái mà các nhà kinh tế gọi là “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động quốc tế của các nền kinh tế. Song để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần tập trung nâng cấp khoa học – công nghệ và kỹ thuật nhằm chuyển từ cung cấp các sản phẩm thô sang các sản phẩm của công nghiệp chế biến.

  • Nguồn lực con người Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Nguồn nhân lực con người từ lâu được xem là yếu tố có ý nghĩa quyết định với quá trình sản xuất. Ở những thời điểm nhất định, việc phân bố nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu của nền kinh tế.

Nguồn nhân lực được xem trên các khía cạnh: quy mô nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và xu hướng biến đổi của nguồn nhân lực.

Quy mô nguồn nhân lực là số lượng lực lượng lao động của xã hội, biểu hiện ở một số người trong độ tuổi, có khả năng và sẵn sàng lao động. Quy mô nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng góp phần hình thành cơ cấu nền kinh tế. Để cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách có hiệu quả, trong một trình độ khoa học – công nghệ nhất định cần có một lực lượng lao động thích hợp. Nếu quy mô nguồn nhân lực quá nhỏ so với yêu cầu của nền kinh tế như vậy sẽ có một cơ cấu kinh tế với những ngành kinh tế sử dụng ít lao động. Ngược lại, nếu quy mô nguồn nhân lực quá lớn, “ dư thừa lao động”, sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế có khả năng toàn dụng lao động, với những ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động sẽ được ưu tiên phát triển. Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế đối ngoại, quy mô nguồn nhân lực không chỉ phụ thuộc vào dân số trong nước mà còn phụ thuộc vào sự di dân và di chuyển lao động quốc tế.

Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh ở các tố chất về sức khoẻ, phẩm chất đạo đức( tính cần cù, siêng năng, yêu lao động, có trách nhiệm với công việc,có tự trọng, có kỷ luật lao động…), trình độ tay nghề, kỹ năng lao động và kiến thức. Chất lượng nguồn nhân lực có ảnh hưởng lớn đến tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chất lượng nguồn nhân lực mà càng cao thì những ngành, những lĩnh vực đòi hỏi lao động đã qua đào tạo, có tay nghề càng cao có điều kiện phát triển. Trong các nhân tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực thì trình độ tay nghề, kỹ năng lao động và kiến thức có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mà thành tố này là chất lượng nguồn nhân lực là sản phẩm của quá trình giáo dục đào tạo. Đây cũng chính là lý do để nhiều nhà kinh tế cho rằng đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư không chỉ cho sự phát triển xã hội mà là đầu tư cho sự phát triển sản xuất kinh doanh.

Xu hướng thay đổi của nhân lực là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực, sự biến động này không phải lúc nào cũng phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế. Ở các nước phát triển, xu hướng lão hoá dân số đang diễn ra mạnh mẽ, còn ở các nước đang phát triển đang ở vào thời kỳ có mức tăng trưởng dân số cao, nhưng trình độ của nguồn nhân lực lại chưa cao. Ở mỗi nước cần có các biện pháp nhằm điều chỉnh xu hướng thay đổi nhân khẩu sao cho phù hợp với sự phát triển.

Dân số lao động được xem là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, nó có tác động mạnh tới quá trình hình thành và phát triển quan hệ công nghiệp – nông nghiêp – dịch vụ. Trong đó, lao động là một yếu tố sản xuất trực tiếp trong quá trình sản xuất. Tăng trưởng dân số thường được xem là nhân tố tích cực trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế. Một lực lượng lao động dồi dào có nghĩa là nguồn nhân lực sản xuất nhiều hơn trong khi đó dân số làm tăng tiềm năng của thị trường nội địa. Tuy nhiên, tốc độ tăng dân số có thể làm tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, gây áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và nếu khu vực nông nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tăng thêm do dân số tăng thì sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có tác dụng kích thích tăng trưởng các ngành, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và có ý nghĩa nâng cao chất lượng cơ cấu của nền kinh tế.

Sự tác động của nhân tố dân số và lao động lên quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét trên các mặt chủ yếu sau: Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Thứ nhất, kết cấu dân cư và trình độ dân trí, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới… là cơ sở quan trọng để phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh trong các ngành hoạt động, là nhân tố thúc đẩy tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong sản  xuất.

Thứ hai, quy mô dân số, kết cấu dân cư  và thu nhập của họ có ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu nhu cầu thị trường. Đó là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp và các ngành phục vụ tiêu dùng.

Thứ ba, sự phát triển các ngành nghề truyền thống trong công nghiệp cũng như trong các ngành kinh tế khác thường gắn liền với tập quán, truyền thống, phong tục cuả một địa phương. Sự phát triển và chuyển hóa các nghề này gắn chặt với đội ngũ nghệ nhân. Sản phẩm của các ngành nghề này hầu hết là các sản phẩm độc đáo, có ưu thế và được ưa chuộng trên thị trường quốc tế.

Nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người ở từng khác nhau sẽ có những tác động khác nhau lên CDCCKT ngành của địa phương đó.

  • Nguồn vốn

Vốn là chìa khóa cho mọi sự phát triển của bất kỳ một quốc gia nào. Quy mô vốn đầu tư luôn là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vốn để xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ, phát triển giáo dục, đầu tư cho sản xuất trong các ngành kinh tế… giúp cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Khi vốn đầu tư được tăng cường sẽ có tác dụng chuyển dịch lao động giữa các ngành. Tuy nhiên, đối với các nước đang và kém phát triển, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, lượng vốn đầu tư nhỏ là rào cản ngăn trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

Nguồn vốn phục vụ quá trình chuyển dịch quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế không chỉ được huy động từ trong nước mà còn được huy động từ nước ngoài. Trong điều kiện tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp thì các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài là động lực mạnh mẽ, tạo đà thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.

Vậy để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần phải huy động tối đa các nguồn vốn trong nước, bên cạnh đó cần thực hiện các biện pháp để thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.

  • Tiến bộ khoa học công nghệ và kết cấu hạ tầng

Nhân tố này có vai trò đặc biệt quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu kinh tế chỉ có thể chuyển dịch theo hướng hiện đại một cách nhanh chóng khi nền kinh tế đã có một tiềm lực khoa học công nghệ nhất định, có khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới. Việc ứng dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào sản xuất sẽ có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng xuất, chất lượng hiệu quả của các ngành. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ của công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi kĩnh vực sản xuất, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước vì thông tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh nhanh nhạy, hợp lý hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất được thay đổi phù hợp hơn với thị trường và lợi ích của từng nước. Tiến bộ khoa học, công nghệ không những chỉ tạo ra khả năng sản xuất mới, đẩy nhanh tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỷ trọng của chúng trong tổng thể nền kinh tế mà còn tạo ra những nhu cầu mới, đòi hỏi sự xuất hiện của một số ngành công nghiệp công nghệ tiên tiến như: Dầu khí, điện tử… Do đó, có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập, tiến bộ khoa học – công nghệ cho phép tạo ra sản phẩm mới chất lượng cao, chi phí kinh doanh hạ. Vì vậy, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Kết quả làm cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo hướng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu và hội nhập vào đời sống kinh tế khu vực và thế giới.

Kết cấu hạ tầng cũng đóng vai trò quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Muốn công nghiệp và dịch vụ phát triển thì đầu tiên phải có kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ. Kinh nghiệm của hầu hết các tỉnh có tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh ở Việt Nam đều cho thấy, cần có một kết cấu hạ tầng đồng bộ. Vậy muốn đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

1.2.3.2. Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất

Nếu như nhóm các yếu tố đầu vào phản ánh sự tác động của nguồn lực có thể huy động cho sản xuất và sự phân bổ của chúng vào những lĩnh vự kinh doanh khác nhau, thì nhóm các yếu tố đầu ra của sản phẩm quyết định xu hướng vận động của thị trường, nơi phát ra tín hiệu quan trọng bậc nhất dẫn dắt các luồng vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác được quyết định phân bố vào những lĩnh vực sản xuất nào và với quy mô bao nhiêu. Những nhân tố này bao gồm: Dung lượng thị trường, thói quen tiêu dùng, mức độ sẵn có và các khả năng thay thế của các loại sản phẩm, giá cả và chất lượng hàng hóa, dịch vụ…

  • Dung lượng thị trường

Thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu ngành. Bởi lẽ, thị trường là yếu tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất – kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp phải hướng ra thị trường, xuất phát từ quan hệ cung –  cầu hàng hóa trên thị trường để định hướng chiến lược và chính sách kinh doanh của mình. Sự hình thành và biến đổi nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thích ứng với điều kiện thị trường dẫn tới từng bước thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Bởi vậy, sự hình thành và phát triển đồng bộ các các loại thị trường trong nước (thị trường hàng hóa – dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học – công nghệ…) có tác động mạnh đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Độ lớn của dung lượng thị trường và xu hướng tiêu dùng là một trong những nhân tố có ý nghĩa lớn đối với sự di chuyển các nguồn lực được phân bổ vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau. Các nhà kinh doanh là những người phân tích rất kỹ quy mô và xu hướng vận động của thị trường khi quyết định đầu tư kinh doanh một loại sản phẩm nào đó. Thông thường, dung lượng thị trường (lượng cầu) được quyết định bởi quy mô dân số và mức thu nhập. Khi mức thu nhập của dân cư còn thấp, hầu hết nguồn thu nhập chỉ được dùng cho những mặt hàng thiết yếu, trước hết là lương thực, thực phẩm. Nhưng khi mức thu nhập của dân cư tăng lên, cơ cấu tiêu dùng của dân cư cũng bắt đầu có sự thay đổi theo hướng tỷ lệ chi tiêu cho mặt hàng tiêu dùng thiết yếu giảm đi tương đối, trong khi tỷ lệ chi tiêu cho những sản phẩm cao cấp hơn tăng lên. Chẳng hạn, theo quan sát của các nhà kinh tế, khi GDP/người đạt mức trên 1000USD/năm, những nhu cầu mua sắm các phương tiện đắt tiền như xe hơi, phương tiện nghe nhìn, trang bị nội thất nhà ở, du lịch, ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn… bắt đầu xuất hiện, làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng vốn trước đó tập trung cho những mặt hàng thiết yếu. Dấu hiệu chuyển dịch cơ cấu cầu có khả năng thanh toán có tác động dẫn dắt hướng đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư và vì thế, tác động không nhỏ đến sự hình thành cơ cấu kinh tế.

  • Thói quen tiêu dùng Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Đây là một nhân tố đầu ra quan trọng bởi nó là căn cứ giúp các nhà đầu tư hoạch định đưa ra chiến lược đầu tư có hiệu quả. Mỗi vùng hay địa phương tùy thuộc vào điều kiện sinh hoạt, tập quán hay thói quen sẽ có những nhu cầu về sản phẩm khác nhau. Nó như là đơn đặt hàng để các nhà đầu tư lựa chọn hình thức kinh doanh hoạt động phù hợp và có hiệu quả. Vì vậy, sự thỏa mãn của người tiêu dùng trở thành một trong những chỉ tiêu hình thành cơ cấu của nền kinh tế.

1.2.3.3. Các nhân tố thuộc cơ chế chính sách và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

Cùng với các nhân tố đầu vào và đầu ra của sản xuất thì nhân tố về cơ chế chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng, tác động mạnh đến xu hướng vận động của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Nó có thể là rào cản nếu như không phù hợp hoặc là động lực thúc đẩy mạnh mẽ cho quá  trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nếu như đó là cơ chế chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho người tham gia sản xuất kinh doanh được lựa chọn sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tại địa bàn đó.

Nhà nước đóng vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế, là nhân tố quan trọng của quá trình phát triển kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành nói riêng. Nhà nước đề ra phương hướng, mục tiêu cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tổ chức thực hiện các biện pháp để nền kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng đã định. Các chính sách của nhà nước như chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách đối ngoại… có tác động mạnh mẽ tới sự hình thành và phát triển của các phân ngành kinh tế nhất định. Chẳng hạn nhà nước có thể đưa ra các chính sách khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển đối với một số phân ngành hình thành nên một cơ cấu kinh tế theo hướng của Nhà nước.

Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố. Như chúng ta đã thấy các nhân tố luôn luôn vận động và thay đổi. Do đó, để có những đánh giá đúng mức về tác động của các nhân tố này thì cần đặt chúng trong hoàn cảnh hiện tại để xem xét xu hướng tác động. Mỗi nhân tố có vai trò nhất định và có những tác động khác nhau lên quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó vốn đầu tư là nhân tố trung tâm và quyết định nhất.

1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO TỈNH VĨNH PHÚC

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn kết với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, ở nước ta có nhiều tỉnh xuất phát từ nông nghiệp nhưng đã đạt được những thành tựu nhất định. Ở miền Bắc có thể nói tới như Bắc Ninh, Hưng Yên…; ở Miền Nam như Đồng Nai, Bình Dương… Tuy nhiên, cũng có những tỉnh tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm. Sự thành công vượt trội hay sự trì trệ, hạn chế của các tỉnh đều có những căn nguyên nhất định. Dù là thành tựu hay hạn chế đều là những bài học kinh nghiệm quý giá cho tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mình.

1.3.1. Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm trong hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng và hành lang kinh tế Nam Ninh – Singapore, nằm trong vùng quy hoạch Thủ đô Hà Nội, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và tam giác kinh tế phát triển năng động Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Từ năm 2016 tới nay, Bắc Ninh là một trong những tỉnh đi đầu về phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nhịp độ tăng trưởng bình quân là 14,1%/năm, gấp 1,8 lần so với mức bình quân của cả nước. Trong đó, nông nghiệp tăng lên 5,5%, công nghiệp và xây dựng tăng 19,5% (công nghiệp tăng 22%), dịch vụ tăng 14,8%.

Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh Bắc Ninh  giai đoạn 2016 – 2024

Cơ cấu ngành tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2018, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng vọt chiếm 56,45%, dịch vụ chiếm 28,3% và nông – lâm – thuỷ sản chiếm 15,3% trong GDP. Năm 2020, tăng trưởng tới 17.86%, đây là mức tăng trưởng cao nhất từ trước tới nay của tỉnh. Đặc biệt, với mức tăng trưởng 16,2% năm 2021- là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước.

Năm 2022, tổng sản phẩm trong tỉnh GDP đạt trên 13,607 tỷ đồng (đứng thứ 9 toàn quốc và thứ 2 khu vực đồng bằng sông Hồng), tương đương với tăng trưởng đạt 11,3%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 77,82%; dịch vụ 16,57%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản còn 5,61%. Năm 2022, GDP bình quân đầu người đạt 67,4 triệu đồng/năm (tương đương 3.211 USD) và nằm trong tốp thu nhập bình quân cao nhất cả nước.

Bước sang năm 2023, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2020 ước đạt 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2022. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước “nhảy vọt” với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2023 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2020); GDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 74,5%; dịch vụ là 19,5%; còn nông, lâm nghiệp và thuỷ sản là 6%.

Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành đã diễn ra mạnh mẽ. Có thể tóm lược trong bảng dưới đây:

Bảng 1.2: Hiện trạng cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016 – 2024

Về công nghiệp: Có tỷ trọng cao nên được coi là động lực quan trọng nhất trong phát triển kinh tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua. Khi tách tỉnh, Bắc Ninh là một tỉnh thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể, đa phần là làng nghề nhưng đến cuối năm 2022, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 5 cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua. Động lực cho tăng trưởng công nghiệp của Bắc Ninh tập trung ở các doanh nghiệp công nghệ cao như SamSung, Canon, Nokia. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Về nông nghiệp: Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng khá. Trồng trọt đã chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung và từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, năm 2016 giá trị sản xuất nông nghiệp/ha đạt 65,9 triệu đồng. Diện tích gieo trồng cây hàng năm ổn định ở mức 120 nghìn ha/năm, trong dó khoảng 86,5% cây lương thực; 9,9% cây thực phẩm; 3,6% cây công nghiệp. Đáng chú ý là bước đầu đã hình thành một số vùng sản xuất nông sản tập trung. Đến năm 2018, Bắc Ninh đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung, tỉnh đã có 13 vùng sản xuất lúa hàng hoá, 24 vùng sản xuất khoai tây, 26 vùng sản xuất rau xuất khẩu và một số vùng sản xuất hoa, cây cảnh; công tác đồn điền đổi thửa tiếp tục được chỉ đạo tạo điều kiện cho sản xuất hàng hoá tập trung và phát triển trang trại, đến nay toàn tỉnh có 1700 trang trại. Vùng sản xuất lúa tám xoan ở Quế Võ 9200 ha, vùng nếp Từ Sơn 1540 ha, vùng hoa, rau ven thị xã Bắc Ninh, Việt Hùng, Đảo Viên (Quế Võ); vùng bò sữa ở Cảnh Hưng, Tri Phương (Tiên Du).

Năm 2022, sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vượt qua khó khăn về thời tiết, dịch bệnh để phát triển ổn định. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2022 ước 2.653,7 tỷ đồng (giá CĐ 1994), đạt 97,9% kế hoạch năm, tương đương năm 2021; trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp ước 2.334,6 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch năm. Cơ cấu trà, giống lúa ổn định, diện tích lúa lai chiếm 31,1%, lúa chất lượng cao chiếm 27%.

Về lâm nghiệp, toàn tỉnh đã trồng 400 nghìn cây phân tán, tăng 11,5%; trồng rừng mới 4,8 ha, tăng 26,3%; chăm sóc 143,6 ha rừng, tăng 10,5%; giá trị sản xuất ước 8,6 tỷ đồng (giá CĐ 1994).

Năm 2024, sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản tuy gặp nhiều khó khăn như diễn biến bất thường không thuận lợi cho sản xuất, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi luôn tiềm ẩn và có nguy cơ bùng phát, giá vật tư nông nghiệp ở mức cao, giá bán các loại sản phẩm không ổn định, một số loại sản phẩm thấp hơn giá thành sản xuất và kéo dài nhiều tháng (nhất là sản phẩm ngành chăn nuôi),… đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân. Song sản xuất nông nghiệp là một trong những vụ được mùa; Chăn nuôi không có dịch bệnh xảy ra, trồng rừng đạt kết quả cao, sản xuất thủy sản phát triển ổn định. GTSX (giá SS 2020) ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn có mức tăng trưởng khá (tăng 3,1%) so với cùng kỳ năm 2023, đạt 58% kế hoạch.

Về dịch vụ: Phát triển theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân. Hoạt động thương mại diễn ra sôi nổi, đảm bảo lưu thông hàng hoá, vật tư trong và ngoài tỉnh. Du lịch đã có nhiều cố gắng, kết quả năm sau cao hơn năm trước. Riêng năm 2018, tăng so với năm 2017 là 25,8%. Vận tải hành khách và hàng hoá đều tăng, bình quân 11,1%/năm. Bưu chính viễn thông tăng trưởng khá cao, năm 2016 đạt 17,2 máy cố định/100 dân. Nhập khẩu tăng bình quân 24%/năm, cơ cấu hàng nhập khẩu tăng nhóm tỷ trọng hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất, máy móc, thiết bị, giảm nhóm hàng tiêu dùng.

Năm 2022, hoạt động thương mại, dịch vụ thu kết quả khá: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ ước 26.184 tỷ đồng, đạt 97% kế hoạch năm, tăng 18,6% so năm 2021. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11/2022 tăng 12,75% so với tháng 12/2021. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn ước 13,7 tỷ USD, đạt 144,4%, tăng 76,9% (trong đó, xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước 12,8 tỷ USD); Nhập khẩu ước 12,3 tỷ USD, đạt 136%, tăng 85,8%.

Năm 2024, các ngành dịch vụ đáp ứng tốt cho sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân. Giá trị sản xuất của 14 ngành dịch vụ đều có sự tăng trưởng; một số ngành có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao so với cùng kỳ như: Thương mại, sửa chữa, dịch vụ lưu trú và ăn uống, thông tin và truyền thông. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Cơ cấu hàng xuất khẩu đang thay đổi theo hướng tăng hàng hoá công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, giảm hàng nguyên liệu, hàng nông sản. Xuất khẩu giai đoạn 2015 – 2020 tăng 90,92%/năm. Năm 2021, giá trị xuất khẩu Bắc Ninh đạt 7,441 tỷ USD. Năm 2022, giá trị xuất khẩu của Bắc Ninh đạt 13,7 tỷ USD đã đưa Bắc Ninh trở thành địa phương xuất khẩu thứ 2 cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, xuất khẩu Bắc Ninh chiếm tới 12% giá trị xuất khẩu của cả nước. Quý 1/2023, xuất khẩu đạt 5.123 tỷ USD với tốc độ tăng tới 87,2% so với cùng kỳ năm trước và các thị trường xuất khẩu rộng lớn, đóng góp quan trọng vào quy mô và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh xuất siêu 180 triệu USD. Tính đến hết tháng 6 năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6 % so với cùng kỳ. Đây cũng là mức tăng cao hơn mức bình quân chung của 3 năm gần đó.

Về lĩnh vực đầu tư, từ năm 2017 đến cuối năm 2018, đây là giai đoạn bùng nổ FDI vào các khu công nghiệp Bắc Ninh. Kết quả là thu hút thêm 131 dự án, trong đó FDI có 79 dự án với số vốn 1.505,8 triệu USD và trong nước có 52 dự án, số vốn là 1.440 tỷ đồng tương đương 191 triệu USD.

Cuối năm 2018 đến năm 2020, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dòng vốn FDI vào các khu công nghiệp Bắc Ninh giảm đôi chút.

Tuy nhiên, cuối năm 2019, đầu năm 2020, thời kỳ hậu khủng hoảng và kinh tế thế giới được phục hồi. Giai đoạn này, dòng vốn FDI tuy có giảm song kết quả vẫn khả quan, hút được 72 dự án trong đó có 41 dự án FDI với số vốn 328 triệu USD và 31 dự án trong nước với số vốn 2.464 tỷ đồng, tương đương 137 triệu USD.

Năm 2021, Bắc Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 2 ở Việt Nam. Bắc Ninh đã thu hút được hầu hết các dự án công nghệ cao của cả nước như Canon, SamSung, Nokia…

Để đạt được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao, thời gian qua Bắc Ninh đã có những biện pháp thực hiện rất hiệu quả.

  • Thứ nhất, tỉnh đã khai thác được những lợi thế của mình đó là khai thác các ngành công nghiệp truyền thống, khai thác tốt nông nghiệp. Đây chính là điều mà nhiều tỉnh khác chưa làm được.

Đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ, lựa chọn công nghệ tiên tiến, đổi mới và hoàn thiện công nghệ các ngành nghề truyền thống, nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học xã hội vào quản lý, sản xuất và đời sống, từng bước tin học hoá công tác quản lý.

Đã chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá bằng cách đưa nhanh giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất. Phổ cập các biện pháp về công tác thú y, bảo vệ thực vật và chuyển giao những tiến bộ sản xuất đến hộ nông dân; từng bước ứng dụng được những thành tựu công nghệ sinh học vào sản xuất và bảo quản, chế biến để tăng giá trị nông sản, thực phẩm.

  • Thứ hai, tỉnh đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chương trình trọng điểm phát triển.

Phát triển mạnh, tăng nhanh giá trị sản lượng của tất cả các ngành nhưng bảo đảm cơ cấu hợp lý là tăng nhanh tỷ trọng hai ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu GDP. Riêng trong nông nghiệp, phấn đấu đưa chăn nuôi lên thành ngành chính. Hỗ trợ nông dân để nhanh chóng hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Các cấp, các ngành chủ động xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội trọng điểm của tỉnh như: Chương trình quy hoạch nông thôn mới, chương trình phát triển giao thông nông thôn, chương trình nâng cấp điện nông thôn, chương trình cấp nước sạch nông thôn, chương trình kiên cố hoá kênh mương, chương trình sản xuất và cung ứng giống cây, con mới chất lượng cao, chương trình phát triển hàng xuất khẩu, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, chương trình phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ.

  • Thứ ba, tỉnh tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội.

Phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cùng với Trung Ương đẩy nhanh, nâng cấp, mở rộng các tuyến tỉnh lộ, nâng cấp đường giao thông nông thôn.

Từng bước hiện đại hoá hệ thống bưu chính viễn thông, áp dụng hệ thống truyền số liệu và mạng máy tính chuyên ngành, bảo đảm khai thác có hiệu quả mạng đa dịch vụ.

Từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị và phúc lợi công cộng.

  • Thứ tư, có các chính sách hiệu quả huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.

Bắc Ninh đã tính toán kỹ nguồn vốn dự kiến cần thiết đầu tư cho từng giai đoạn phát triển của tỉnh. Tính toán lượng vốn tự có của địa phương và nguồn vốn cần thiết phải huy động từ ngoài tỉnh, từ đó xây dựng những biện pháp cụ thể để tăng cường huy động vốn.

  • Thứ năm, Bắc Ninh rất chú trọng việc mở rộng thị trường.

Quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với quá trình mở rộng thị trường, bao gồm; thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường công nghệ, thị trường vốn, thị trường sức lao động và thị trường bất động sản.

Mở rộng thị trường trong nước, thị trường sang các nước: Trung Quốc, ASEAN, các nước SNG, khu vực Đông Nam Á, Tây Âu và Mỹ…

Mở rộng thị trường nông thôn, tăng quy mô thị trường nội địa theo hướng đa dạng hoá, sử dụng các biện pháp thích hợp để kích thích sức mua của dân nhất là ở vùng nông thôn như: Cấp tín dụng để xây dựng nhà ở, mua trang thiết bị kỹ thuật; ứng trước, bán chịu hàng hoá cho nông dân.

  • Thứ sáu, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần.

Giải phóng và phát huy tối đa tiềm năng của dân cho đầu tư phát triển, vừa làm giàu cho gia đình, vừa làm giàu cho đất nước.

Tranh thủ mọi cơ hội thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực bên ngoài và gắn kết với các nguồn lực trong tỉnh dưới các hình thức đa dạng và thuận lợi cho nhà đầu tư.

Đẩy mạnh cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế quốc doanh, hợp tác xã. Tạo điều kiện phát huy tính năng động của cơ chế thị trường, phát huy tiềm năng của mọi cá nhân, tổ chức, mọi thành phần kinh tế.

  • Thứ bảy, cải cách bộ máy hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực quản lý, hỗ trợ mọi thành phần kinh tế phát triển.

Tiếp tục thực hiện cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo hướng tính gọn, hiệu quả. Tạo điều kiện thuận lợi cho từng cá nhân, hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.

Có chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên cán bộ, công chức, các doanh nhân. Thực hiện tốt chế độ tuyển dụng, nâng bậc, ngạch, chế độ tiền lương. Khuyến khích, tạo động lực cho công chức, viên chức nhà nước vươn lên hoàn thành mọi chức trách công vụ của mình. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Thứ tám, lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện kế hoạch một cách sát sao.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Phân công nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể cho từng ngành, từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực kinh tế. Thường xuyên kiểm tra, giám sát, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và điều chỉnh kịp thời kế hoạch từng quý, 6 tháng, hàng năm. Bám sát cơ sở, nắm bắt và khắc phục kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

1.3.2. Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên

Tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, là một trong 7 tỉnh, thành thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, có vị trí địa lý khá thuận lợi. Hiện nay, diện tích tự nhiên của tỉnh là 926 km², với mức dân số 1.145.600 người (2024). Hưng Yên có lực lượng lao động dồi dào trong đó có tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 49% (năm 2023), chủ yếu trình độ đại học, cao đẳng, trung học và công nhân kỹ thuật được đào tạo cơ bản. Trung bình hàng năm lực lượng lao động trẻ bổ sung khoảng trên 2 vạn người. Đây là nguồn lực cơ bản góp phần xây dựng và phục vụ sự nghiệp phát triển công nghiệp của tỉnh.

Từ khi tái lập tỉnh tới nay, tỉnh đã tích cực đầu tư cũng như thu hút đầu tư nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành để xây dựng Hưng Yên trở thành một tỉnh công nghiệp trước năm 2030. Với lợi thế gần thủ đô Hà Nội, nguồn lực dồi dào, giao thông thuận lợi nên Hưng Yên rất chú trọng tới thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp, dịch vụ, xem đây là điểm nhấn của tỉnh. Trong giai đoạn từ năm 2017 – 2020, Hưng Yên đã thu hút được nhiều dự án đầu tư với mức đầu tư lớn vào khu công nghiệp.

Bảng 1.3: Cơ cấu vốn đầu tư vào các khu vực kinh tế của tỉnh Hưng mạnh, hình thành ngành công nghiệp mũi nhọn cơ khí chế tạo công nghiệp phụ trợ.

Các dự án vào khu công nghiệp nhìn chung triển khai nhanh, đúng mục tiêu, tiến độ đăng ký và sử dụng đất hiệu quả.

Năm 2023, điểm sáng ở lĩnh vực thu hút đầu tư với việc thu hút được 84 dự án mới có tổng số vốn đăng ký gần 3.000 tỷ đồng và gần 130 triệu USD. Hưng Yên được Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế đánh giá là 1 trong 10 tỉnh, thành phố nằm trong top dẫn đầu về năng lực hội nhập kinh tế cấp địa phương.

Những năm qua, tỉnh luôn có tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao so với bình quân chung của cả nước, tạo sự chuyển dịch nhanh về cơ cấu kinh tế theo hướng công – nông nghiệp và dịch vụ. GDP của tỉnh trong giai đoạn (2016 – 2020) tăng trung bình 11,22%, thu nhập bình quân đầu người 20 triệu đồng/năm. Với cơ cấu 27%, lĩnh vực nông nghiệp của Hưng Yên phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, với khoảng 45% diện tích trồng lúa được canh tác các giống lúa chất lượng cao. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 20%/năm; dịch vụ tăng 15,1%/năm.

Cùng với việc tập trung phát triển kinh tế, việc đào tạo và phát huy nguồn lực con người rất được coi trọng, thực hiện tốt các chính sách xã hội, tỷ lệ hộ nghèo còn 3%; 85% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, nâng cao mức hưởng thụ các giá trị văn hóa, tinh thần của nhân dân. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Năm 2022, kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có nhiều khó khăn, thách thức; sản xuất kinh doanh đình trệ; giá cả thị trường, lãi suất tín dụng vẫn ở mức cao; sức mua hàng hoá tiêu dùng giảm mạnh, thiên tai dịch bệnh diễn biến phức tạp đã tác động xấu đến nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Song, với quyết tâm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; sự nỗ lực phấn đấu của các thành phần kinh tế cùng toàn thể nhân dân trong tỉnh đã đạt được kết quả tích cực. Tổng sản phẩm (GDP) tăng 7,71%; sản xuất nông nghiệp được mùa, giá trị sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản tăng 0,22%; sản xuất công nghiệp tăng 9,01%; dịch vụ tăng 11,5%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ tăng 20,25%; chỉ số giá tiêu dùng chung tăng 6,35%; GDP bình quân đầu người 28 triệu đồng; cơ cấu kinh tế nông nghiệp 20,84%, công nghiệp 47,48% và dịch vụ 31,67%; kim ngạch xuất khẩu 1.095 triệu đô la Mỹ. Tổng vốn huy động cho đầu tư phát triển toàn xã hội 17.481 tỷ đồng, tăng 15,93% so năm 2021. Có được kết quả như vậy là nhờ sự nỗ lực phấn đấu hết mình của các tầng lớp nhân dân; sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành đã góp phần tích cực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2022.

Theo báo cáo của UBND tỉnh Hưng Yên trình tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa XV, sáng 2/12/2023 cho thấy tổng sản phẩm GDP của tỉnh năm 2023 tăng 7,1%. Trước đó, mục tiêu được đặt ra trong năm 2023 là GDP của Hưng Yên tăng trưởng từ 8-8,5%. Trong khi chỉ tiêu này chưa đạt được, các chỉ tiêu thành phần đều suy giảm. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp giảm nhẹ 0,16% trong khi mục tiêu đề ra là tăng trưởng 1-1,5%.

Ngành công nghiệp tuy đã trên đà phục hồi nhưng tăng trưởng chậm, đạt 7,3% (kế hoạch là tăng 11-12%). Thương mại, dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng khá với mức 12,2%, xấp xỉ mức kế hoạch đề ra tăng 13-14%.

Một số nguyên nhân của tình trạng một số chỉ tiêu kinh tế không đạt kế hoạch là do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế và do chưa lường hết khó khăn nên khi xây dựng chỉ tiêu kế hoạch còn cao. Sự suy giảm trong nông nghiệp là do lúa vụ mùa trỗ đúng dịp mưa bão kéo dài, sản lượng nhãn giảm so với năm trước.

Xét toàn bộ nền kinh tế của tỉnh Hưng Yên thì tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong tổng sản phẩm của tỉnh đã giảm dần, tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng. Sự thay đổi đó phù hợp với xu hướng biến đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Xét cơ cấu nội bộ ngành, những năm qua cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng tỷ trọng rau quả, cây công nghiệp, chăn nuôi thủy sản; giảm tỷ trọng cây lương thực.

Nhiều mô hình sản xuất hiệu quả. Theo đánh giá của ngành nông nghiệp tỉnh Hưng Yên, từ năm 2018 đến nay tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành về giá trị sản xuất đạt 5,4%, giá trị gia tăng đạt 3,7%. Từ những chủ trương, định hướng phù hợp trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh, ở nhiều địa phương đã hình thành vùng chuyên canh cho hiệu quả cao, cung cấp sản lượng nông nghiệp dồi dào cho thị trường tiêu dùng và chế biến. Diện tích lúa được giữ ổn định khoảng 81 nghìn ha/năm. Do có lợi thế gần với thủ đô Hà Nội và một số đô thị lớn khác, cây rau màu đã và đang trở thành sản phẩm mũi nhọn của tỉnh, có giá trị hàng hóa cao, phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, chế biến và xuất khẩu.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây ăn quả cho hiệu quả cao, khẳng định được thương hiệu như: Nhãn, vải, cam, quýt, chuối… Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Từ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã hình thành những vùng chuyên canh sản xuất nông sản với quy mô, sản lượng lớn, thu hút được nhiều doanh nghiệp, khách hàng ký hợp đồng thu mua sản phẩm, hình thành thị trường tại chỗ.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhanh. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân trong năm năm 2016 – 2020 đạt 21%/năm, năm 2020 giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 20 nghìn tỷ đồng; đóng góp tích cực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân sách  tỉnh.

Các ngành nghề và nhóm hàng sản xuất công nghiệp ngày càng đa dạng hơn so với trước từ công nghiệp nặng như: cơ khí, luyện kim cho đến các ngành công nghiệp nhẹ như công nghiệp dệt may. Hình thành một số nhóm – ngành công nghiệp được coi là thế mạnh như: dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng, sắt thép và chế biến thực phẩm.

Đặc biệt sản xuất công nghiệp đã tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước để tái đầu tư phát triển xã hội. Điều này góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung trong tỉnh, làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và thương mại – dịch vụ; đưa giá trị sản xuất công nghiệp chiếm gần 50% trong cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế.

Hoạt động thương mại và dịch vụ được thúc đẩy và tập trung hướng vào đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống. Giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân đạt trên 15%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 20,5%/năm. Năm 2017, giá trị các ngành dịch vụ đạt 5.271 tỷ đồng. Dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông được mở rộng. Doanh thu của dịch vụ vận tải hành khách tăng bình quân đạt 14%.

Hưng Yên đang làm tốt công tác đầu tư và giải quyết các vấn đề xã hội nhằm xây dụng một tỉnh phát triển với cơ cấu kinh tế hợp lý.

  • Những năm qua, Hưng yên đã đạt được những thành tựu đáng kể trên là do:

Một là, cơ chế chính sách phát triển đúng đắn, phù hợp, thị trường sản xuất mở rộng, khơi dậy được tiềm năng trong nhân dân và phát huy được tiềm năng của tỉnh, coi trọng việc sản xuất và chế biến tại chỗ… Nhờ vậy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trên địa bàn nông thôn phát triển.

Hai là, có nhiều chính sách ưu đãi, tạo điều kiện cho việc đầu tư vào các khu công nghiệp tỉnh và đưa các dự án vào hoạt động, từ đó tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho công nhân, góp phần năng cao đời sống và tăng thu ngân sách nhà nước. Đồng thời, tỉnh đã nhanh chóng cải tiến thủ tục đầu tư và xây dựng, giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ nhiều dự án quan trọng và các công trình trọng điểm.

Ba là, khuyến khích hỗ trợ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề. Khôi phục các làng nghề truyền thống và hiện các nghề thủ công nghiệp như thêu ren, chạm bạc, mộc mỹ nghệ, gốm sứ, mây tre đan… đã hoạt động trở lại.

Bốn là, tỉnh khuyến khích, hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ và định hướng nghiên cứu triển khai vào các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, môi trường để khai thác tiềm năng nông nghiệp của tỉnh.

1.3.3. Một số vấn đề rút ra có giá trị tham khảo cho tỉnh Vĩnh Phúc Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Từ kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên, có thể rút ra một số bài học cho tỉnh Vĩnh Phúc:

  • Phải có chiến lược quy hoạch sản xuất phù hợp với lợi thế của tỉnh, phù hợp với yêu cầu thị trường trong và ngoài tỉnh. Mở rộng sản xuất những ngành mà tỉnh có lợi thế so sánh (ví dụ như ngành du lịch), thúc đẩy ngành mũi nhọn. Xây dựng được kế hoạch và chương trình trọng điểm cho từng giai đoạn phát triển.
  • Tăng cường đầu tư cho phát triển kết cấu kinh tế – xã hội: Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, thuỷ lợi… thu hút đầu tư, mở rộng thị trường cho hàng hoá trong tỉnh.
  • Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư.
  • Tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ở trong và ngoài tỉnh, khai thông thị trường xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài.
  • Khai thác và sử dụng hợp lý quỹ đất đai, đầu tư cải tạo để tăng diện tích đất cho nông nghiệp, chuyển đổi đất trồng lúa, màu hiệu quả thấp sang trồng các loại cây có hiệu quả kinh tế cao. Khuyến khích nông dân dồn điền đổi thửa để tạo thành những khu sản xuất tập trung để phát triển kinh tế.
  • Chú trọng công tác đào tạo và phát huy nguồn lực con người, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn.

Như vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một yêu cầu đối với mỗi địa phương. Việc chuyển dịch cơ cấu này cần dựa trên tiềm năng và lợi thế sẵn có của từng địa phương, lấy yếu tố thị trường làm mục tiêu. Từ đó, xác định mục tiêu và phương hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát huy lợi thế cao nhất của tỉnh mình.

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

2.1. Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn

Để khảo cứu đối tượng và đạt được những mục đích đã lựa chọn, dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa, phương pháp thống kê, thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp dự báo…

  • Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.

Đây là phương pháp luận đặc trưng trong các công trình nghiên cứu khoa học đặc biệt là khoa học xã hội, làm cơ sở trong nghiên cứu của toàn bộ luận văn. Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Vĩnh Phúc và đưa ra các nhóm giải pháp chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch trong tiến trình CNH, HĐH. Muốn vậy phải có những đánh giá trung thực, khách quan về quá trình chuyển dịch đó. Để có được kết quả nghiên cứu khách quan, toàn bộ luận văn đã tuân thủ yêu cầu của phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử.  Vì vậy, các số liệu sử dụng trong luận văn gắn liền với logic lịch sử và được đánh giá trên cơ sở duy vật biện chứng.

Để đánh giá được kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn từ năm 2016 – 2024, góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng các giải  pháp để thúc đẩy quá trình chuyển dịch đó, tác giả đã nghiên cứu tình hình chuyển dịch cơ cấu ngành của cả một giai đoạn này, đưa ra những con số phát triển cụ thể của từng ngành để có những đánh giá trung thực và chuẩn xác nhất.

  • Phương pháp logic kết hợp lịch sử

Đây là phương pháp căn cứ vào tiến trình lịch sử kết hợp với tư duy và suy luận logic để vạch ra quy luật tác động chi phối.

Trong chương 4, khi đánh giá về xu hướng chuyển dịch cơ cấu GDP, cơ cấu lao động… qua các năm, tác giả căn cứ số liệu thống kê qua các năm để phân tích. Từ đó, đưa ra kết luận về xu hướng chuyển dịch đó diễn ra như thế nào và do yếu tố chủ yếu nào chi phối.

  • Phương pháp trừu tượng hóa

 Là phương pháp loại bỏ khỏi quá trình và hiện tượng được nghiên cứu những yếu tố ngẫu nhiên và tạm thời hoặc không cần thiết để tách ra những quá trình và hiện tượng vững chắc, ổn định, điển hình trong các quá trình và hiện tượng đó. Nhờ vậy mà nắm được bản chất của quá trình và hiện tượng đó.

Các dữ liệu cũng số liệu cụ thể trong toàn bộ luận văn và cách triển khai luận văn luôn luôn tuân thủ theo nguyên tắc là lựa chọn những yếu tố, chi tiết điển hình và tiêu biểu nhất. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở chương 3, tác giả chỉ đề cập tới các nhân tố cơ bản nhất mà không phải là tất cả, loại bỏ những nhân tố ít tác động, những nhân tố mang tính tạm thời.

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp này dựa trên những nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng những cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu. Để thực hiện nhiệm vụ làm rõ cơ sở lý luận của luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu, phân tích tổng hợp những tài liệu lý luận có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trên cơ sở đó, khái quát hóa, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong ở tỉnh Vĩnh Phúc.

  • Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý thông tin

Đây là phương pháp thu thập thông tin dữ liệu, tóm tắt, tổng hợp thông tin nhằm hỗ trợ quá trình tìm hiểu về một vấn đề hoặc đối tượng nào đó.

Đối với luận văn này, phương pháp thống kê được thiết kế dùng chủ yếu cho phần kinh nghiệm thực tế ở chương 3, mục 3.2 và toàn bộ chương 4.

Trong chương 3, mục 3.2, nhằm tổng kết những kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Hưng Yên, tác giả đã dùng phương pháp thống kê các số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP, cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế, cơ cấu lao động… Thông qua các con số này, tác giả có những đánh giá tổng quát về thành tựu cũng như hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Vĩnh Phúc như tại sao các tỉnh đó lại có những thành công như vậy hoặc trả lời cho câu hỏi những khó khăn họ gặp phải cần giải quyết như thế nào, nó có giống với tỉnh Vĩnh Phúc không.

Ở chương 4, các số liệu liên quan tới tốc độ tăng trưởng GDP, tác giả đã thu thập và tổng hợp các số liệu về GDP của tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời, phương pháp này còn được sử dụng trong thống kê các số liệu liên quan đến cơ cấu lao động theo ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Không chỉ vậy, trong quá trình đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh, phương pháp này rất hữu hiệu để liệt kê các số liệu có liên quan thể hiện qua các bảng đánh giá, so sánh.

 Để có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực, luận văn đã tiến hành thu thập những thông tin liên quan tới nhiệm vụ của đề tài. Những số liệu luận văn thu thập được chủ yếu là số liệu thứ cấp như niêm giám thống kê, các báo cáo, các công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế. Từ đó đưa ra những bảng số liệu về cơ cấu từng ngành kinh tế.

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp và so sánh – đối chiếu

Phân tích nghĩa là trình bày, giảng giải làm sáng tỏ chi tiết vấn đề. Trên cơ sở phân tích các số liệu thống kê, tài liệu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, tác giả phân tích, đánh giá xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc qua các năm và trả lời tại sao nó chuyển dịch tại sao như vậy.

Phương pháp phân tích được dùng xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn nhằm giúp người đọc có cái nhìn cụ thể về các vấn đề. Phương pháp tổng hợp được dùng sau khi đã tiến hành phân tích nhằm khái quát lại vấn đề.

Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp chủ đạo luôn được kết hợp cùng nhau trong toàn bộ luận văn, làm cho bài viết được logic. Đặc biệt, hai phương pháp này rất hữu hiệu trong phân tích số liệu thống kê.

Phương pháp so sánh đối chiếu dùng để đối chiếu các sự vật, việc với nhau giúp người đọc có được những hình dung cơ bản và dễ dàng nhận thức vấn đề hơn. Phương pháp này được dùng chủ yếu ở chương 4, khi so sánh các chỉ tiêu qua các năm. Từ đó biết được cơ cấu kinh tế như thế có phù hợp hay không hoặc sẽ cho thấy việc cần thay đổi cơ cấu ra sao hay nên tập trung vào ngành nào thì hơn… Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

Việc kết hợp các phương pháp này trong luận văn, đặc biệt là trong chương 4 sẽ giúp người đọc nắm bắt vấn đề mà tác giả đề cập. Sau khi đã dùng phương pháp thống kê, căn cứ vào các số liệu, dữ liệu thống kê có được, tác giả sử dụng các phương pháp này kết hợp để làm rõ hơn, cụ thể hơn ý nghĩa của các số liệu thống kê.

Ở mục 4.2.1. Cơ cấu GDP, tiểu mục 4.2.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô và 4.2.1.2. Cơ cấu nội bộ các khu vực ngành kinh tế của chương 4, mục 4.2.2. Cơ cấu lao động, tiểu mục 4.2.2.1. Cơ cấu lao động theo nhóm kinh tế và 4.2.2.2. Cơ cấu lao động theo khu vực, tác giả đã dùng phương pháp thống kê số liệu qua các năm và thể hiện trong bảng. Sau đó, phân tích các số liệu qua các năm đó, tính tỷ lệ phần trăm, thực hiện các phép tính so sánh, xem xét tỷ trọng các ngành thay đổi thế nào rồi tổng hợp lại và đưa ra nhận xét, đánh giá để thấy rõ thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang diễn ra. Từ đó làm cơ sở cho việc xác định giải pháp cho phù hợp.

2.2. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu

  • Địa điểm: Tỉnh Vĩnh Phúc
  • Thời gian thực hiện: Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2016 – 2024

2.3. Các công cụ được sử dụng

Các số liệu được thu thập chủ yếu là số liệu của Sở Lao động thương binh – Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, niên giám thống kê tỉnh Vĩnh Phúc… Bên cạnh những số liệu này, nguồn thông tin từ internet cũng được khai thác chọn lọc để đưa ra những số liệu cập nhật và chính xác nhất.

Sau khi thu thập các thông tin từ các nguồn, để đưa ra được kết quả thông qua số liệu các năm, đồng thời có sự so sánh cần sử dụng công cụ là các công thức tính toán để tính tỷ trọng của các ngành kinh tế. Luận văn: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Vĩnh Phúc.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537