Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 11/01/2016, Việt Nam chính thức gia nhập thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đó là ngày đánh dấu mốc quan trọng trong việc hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước được thể hiện thông qua các hiệp định song phương và đa phương về thương mại quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã kí kết với các nước trên thế giới và tổ chức hải quan thế giới (WCO). Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và sự phát triển nhanh của nền kinh tế thì nhiệm vụ của ngành Hải quan Việt Nam càng ngày càng trở nên phức tạp như các vấn đề liên quan đến hàng rào kĩ thuật, buôn lậu, gian lận thương mại,… Đứng trước nhiệm vụ khó khăn và thách thức đó, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Và thực tế, qua nhiều năm nay cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hải quan luôn là nhiệm vụ hàng đầu của ngành hải quan Việt Nam.
Triển khai ứng dụng hải quan điện tử (HQĐT) là một trong những chiến lược cải cách và hiện đại hóa hải quan. Thủ tục HQĐT giúp ngành Hải quan chuyển từ quản lý giao dịch trực tiếp sang giao dịch gián tiếp; từ xử lý thủ công trên giấy tờ sang xử lý trên máy tính, công tác lưu trữ hồ sơ giấy giảm đáng kể, tiết kiệm chi phí. Mặt khác, thủ tục HQĐT được thực hiện trên nền tảng quản lý rủi ro, kiểm tra trọng tâm, trọng điểm nên tập trung được nhiều nguồn lực vào các trường hợp nghi ngờ có gian lận thương mại, vận chuyển hàng cấm, hàng lậu…
Đối với doanh nghiệp, áp dụng thủ tục HQĐT sẽ tiết kiệm đáng kể thời gian, chi phí giao dịch. Qua đó doanh nghiệp nâng cao tính cạnh tranh, giảm giá thành sản phẩm. Việc thực hiện thủ tục HQĐT cũng góp phần quan trọng hình thành môi trường thương mại điện tử; thúc đẩu các thành phần kinh tế tham gia cùng Chính phủ xây dựng và cung cấp các dịch vụ gia tăng về thương mại điện tử. Thủ tục HQĐT tạo động lực cho các cơ quan bộ, ngành đẩy nhanh tốc độ cải cách hiện đại hóa, điện tử hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý, góp phần thực hiện mục tiêu hiện đại hóa chung của đất nước.
Thủ tục HQĐT khẳng định sự ưu việt của phương pháp quản lý mới hiện đại, đủ sức thay thế một cách thuyết phục phương pháp quản lý truyền thống, là tiền đề để các cơ quan, tổ chức thuộc mọi thành phần học hỏi và mạnh dạn đổi mới, nâng cao trình độ của Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, trên thực tế việc triển khai thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng vẫn tồn tại một số khó khăn, hạn chế cần được khắc phục nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới.
Xuất phát từ tầm quan trọng và thực tế khách quan của việc thực hiện thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan Hải Phòng nên tác giả chọn vấn đề “Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế. Mục tiêu chính của đề tài này là nêu rõ thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, các tồn tại, vướng mắc và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả của HQĐT nhằm đáp ứng với tình hình thực tiễn công tác của Cục Hải quan Hải Phòng, từ đó giảm bớt áp lực công việc, đảm bảo cân bằng giữa tạo thuận lợi thương mại với kiểm soát chặt chẽ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học về triển khai thực hiện thủ tục HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu, luận văn hướng đến những mục tiêu cụ thể sau:
- Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ hơn nhận thức, lý luận, cơ sở pháp lý của thủ tục HQĐT, làm rõ những khác biệt về thủ tục hải quan theo phương thức thủ công và thủ tục HQĐT, nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện thủ tục HQĐT của một số nước.
- Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng của việc thực hiện thủ tục HQĐT đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, khó khăn vướng mắc và nguyên nhân cần khắc phục.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục HQĐT đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng và Việt Nam trong những năm tới và đưa ra những kiến nghị cần thiết để thực hiện giải pháp đó.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu liên quan đến thủ tục HQĐT. Công tác ứng dụng, triển khai thực hiện thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan Hải Phòng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật về thủ tục HQĐT và thực trạng thực hiện thủ tục HQĐT tại Cục Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2021-2025, trên cơ sở đó nghiên cứu đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động thủ tục HQĐT trong thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thủ tục HQĐT. Xem xét đối tượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm toàn diện, phát triển và hệ thống
- Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu thứ cấp cần thiết phục vụ cho đề tài được thu thập từ nguồn: Cục Hải quan Hải Phòng.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp thống kê kinh tế, tổng hợp và phân tích số liệu.
- Tổng hợp số liệu: Dùng phương pháp phân tổ để hệ thống hoá các số liệu thu thập được phù hợp với mục đích nghiên cứu của đề tài. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
- Phân tích số liệu: Vận dụng các phương pháp phân tích thống kê kinh tế, tổng hợp và phân tích các số liệu thu thập được.
5. Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn nhận thức, lý luận, cơ sở pháp lý của thủ tục HQĐT.
Phân tích thực trạng, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng trong thời gian tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận chung về hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- Chương II: Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng.
- Chương III: Giải pháp hoàn thiện thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Cục Hải quan Hải Phòng.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ TRONG THÔNG QUAN HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm và sự cần thiết của việc ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm
Theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan số 54/2023/QH13 ngày 23/6/2023: Thông quan là việc hoàn thành các thủ tục hải quan để hàng hóa được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc đặt dưới chế độ quản lý nghiệp vụ hải quan khác.
Để có thể hiểu tổng quát về việc thông quan hàng hóa, chúng ta cần hiểu về thủ tục hải quan.
Theo công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung một số điều về đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan thì định nghĩa thủ tục hải quan như sau: “Thủ tục hải quan là tất cả những công việc mà những người liên quan và cơ quan hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật hải quan”. [17, tr.10]
Theo quy định tại Điều 4 Luật Hải quan Số 54/2023/QH13 ngày 23/6/2023 thì chỉ ra khái niệm rõ ràng hơn: “Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”. [9, tr.27] Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
- Các công việc đối với người khai hải quan như sau:
Người khai hải quan phải tiến hành khai, nộp tờ khai hải quan và xuất trình chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, trong trường hợp thực hiện thủ tục HQĐT thì người khai hải quan được khai và gửi hồ sơ hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan mà không cần phải gặp trực tiếp cán bộ hải quan để thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải.
Sau đó người khai hải quan đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm được quy định cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải.
Cuối cùng, người khai hải quan có trách nhiệm nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
- Các công việc đối với công chức hải quan như sau:
- Công chức hải quan tiếp nhận và đăng kí hồ sơ hải quan, trường hợp thực hiện thủ tục HQĐT thì việc tiếp nhận và đăng kí hồ sơ được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan.
- Sau đó kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải trong trường hợp cần thiết.
- Sau thực hiện kiểm tra thành công công chức hải quan tiến hành thu thuế và các khoản phí khác theo quy định của pháp luật
- Cuối cùng cán bộ hải quan đưa ra quyết định việc thông quan hàng hóa, phương tiện vận tải.
Trước đây, thủ tục hải quan được thực hiện hoàn toàn theo phương thức truyền thống tức là dựa vào các mẫu hồ sơ giấy có sẵn và bán truyền thống tức là kết hợp cả truyền thống và điện tử. Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và thương mại điện tử, ngành hải quan chủ trương thực hiện chiến lược hiện đại hoá ngành hải quan, một trong những chiến lược đó là thực hiện thủ tục hải quan bằng phương tiện điện tử. Tất cả các công việc mà người khải hải quan và công chức hải quan phải trực tiếp gặp nhau để thực hiện thủ tục theo phương thức thủ công trước đây đều được thay thế bằng việc sử dụng hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan.
Tổ chức hải quan thế giới không có khái niệm về thủ tục HQĐT, khái niệm “thủ tục HQĐT” chỉ được sử dụng ở văn bản hướng dẫn của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính và gần đây mới được chính thức đưa vào văn bản cấp Nghị định, cụ thể là tại Điều 3 Nghị định 87/2021/NĐ-CP ngày 23/10/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục HQĐT đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại: “Thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan”.[8, tr.15]
Do đó, theo nghĩa hẹp: Thủ tục HQĐT là việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) để thông quan tự động. Tuy có khác nhau về phạm vi, mức độ ứng dụng CNTT, thủ tục HQĐT có một số đặc điểm chung như sau: Ứng dụng mạnh mẽ CNTT, phù hợp với trình độ phát triển CNTT của quốc gia; trao đổi, chia sẻ thông tin dữ liệu điện tử giữa các bên liên quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử như: Các bộ quản lý chuyên ngành, các ngành (Ngân hàng, Bảo hiểm, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thuộc Chính phủ…), các hãng vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK)…; cung cấp các dịch vụ điện tử cho người khai hải quan như: Dịch vụ khai báo điện tử, dịch vụ thanh toán điện tử, thông quan điện tử…
Theo nghĩa rộng: Thủ tục HQĐT là thủ tục hải quan theo đó cơ quan hải quan áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại, ứng dụng CNTT và trang thiết bị hiện đại để cung cấp các dịch vụ về thông quan hải quan cho người khai hải quan, phương tiện, hành khách xuất cảnh, nhập cảnh và các bên có liên quan khác.
Xét về vị trí, vai trò thì HQĐT là một bộ phận của Chính phủ điện tử, với chức năng thực hiện việc tự động hóa tất cả các loại hình thủ tục và các chế độ về hải quan như kiểm soát hàng hóa, các quy trình xử lý thủ tục hải quan và giám sát hàng quá cảnh,…với những chức năng của cơ quan hải quan thông qua việc áp dụng kỹ thuật quản lý hải quan hiện đại vào tất cả các khâu nghiệp vụ hải quan. Hệ thống HQĐT được kết nối với các bộ phận khác của Chính phủ điện tử, mà thực tế chính là một cổng điện tử của hải quan đã được kết nối với các cổng điện tử của cơ quan Nhà nước khác. Hệ thống thủ tục HQĐT được xây dựng và thực hiện dựa trên các quy định của Luật giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin, các chính sách phát triển CNTT, lộ trình thực hiện ứng dụng của Chính phủ điện tử và kết hợp theo quy trình nghiệp vụ đơn giản, hài hòa và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực hải quan. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Hiện nay các nước trên thế giới thường không đề cập đến khái niệm thủ tục HQĐT mà đề cập đến khái niệm Hệ thống thông quan tự động hóa hải quan (Customs Automation System). Đây là hệ thống gồm nhiều chương trình ứng dụng CNTT để xử lý các nghiệp vụ hải quan và các chương trình hỗ trợ cho công tác nghiệp vụ hải quan như chương trình ứng dụng để quản lý hàng hóa đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ hải quan,…
Như vậy với việc kết hợp ứng dụng CNTT và các chuẩn mực, thông lệ quốc tế trong lĩnh vực hải quan thì thủ tục HQĐT sẽ có những ưu điểm mà thủ tục hải quan thủ công thông thường không có được. Do vậy khi thực hiện thông quan điện tử sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo nguồn thu ngân sách cho nhà nước. Điều này đóng vai trò quan trọng trong quá trình hiện đại hóa hải quan, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, đáp ứng được các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2. Sự cần thiết của việc ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Thứ nhất, xuất phát từ hội nhập kinh tế thế giới, thương mại quốc tế phát triển nên lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải, hoạt động xuất cảnh và nhập cảnh tăng nhanh. Vì thế lượng công việc cần phải giải quyết của ngành hải quan là rất lớn. Nếu thực hiện theo phương thức hải quan thủ công truyền thống tức là thực hiện các công việc liên quan đến thủ tục hải quan bằng giấy có khung mẫu sẵn thì khó có thể hoàn thành công việc của ngành. Trước áp lực đó, việc ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là cấp thiết hơn bao giờ hết.
Thứ hai, xuất phát từ việc cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Để hòa nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ Việt Nam bắt buộc phải thực hiện các văn bản kí kết theo các hiệp định song phương, đa phương với các nước trên thế giới và tổ chức hải quan thế giới (WTO), các công ước quốc tế, nhất là công ước Kyoto sửa đổi bổ sung một số điều về thủ tục trong lĩnh vực hải quan. Theo Nghị quyết số 25/NQ-CP và số 68/NQ-CP của Chính phủ, ngành đã đặt ra nhiệm vụ và yêu cầu phải đơn giản hoá thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan với mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện Chiến lược phát triển ngành Hải quan đến năm 2029 (theo Quyết định số 448/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/03/2020) và việc thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó có việc thực hiện cơ chế hải quan một cửa ASEAN đã đặt ra yêu cầu cần khẩn trương đẩy nhanh hơn việc áp dụng thủ tục HQĐT chính thức từ năm 2021 trở đi.
Mặt khác, hiện nay hầu hết hải quan các nước trên thế giới đều thực hiện ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu nhập, khẩu để thúc đẩy tiến độ hiện đại hóa hải quan. Vì thế khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thương mại quốc tế phát triển thì việc ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sẽ là tất yếu.
Thứ ba, xuất phát từ kết quả của việc thí điểm thực hiện thủ tục HQĐT theo quyết định số 149/2014/QĐ-TTg và quyết định số 103/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian vừa qua đã cho thấy: hiện nay ngành đã có đủ cơ sở thực tiễn để khẳng định thực hiện ứng dụng thủ tục HQĐT là hướng đi đúng đắn trong việc hiện đại hóa hải quan và cần ứng dụng rộng rãi thủ tục HQĐT trên cả nước trong thời gian tới.
Thứ tư, xuất phát từ việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa nói riêng và trên thị trường quốc tế nói chung.
Theo phương thức hải quan thủ công truyền thống thì thủ tục hải quan rất phức tạp và cồng kềnh, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và chi phí để thực hiện thủ tục hải quan. Để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp cụ thể như thủ tục hải quan đơn giản hài hòa, công khai minh bạch, tiết kiệm thời gian và chi phí. Ngoài ra doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận được với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi khi tham gia trên thị trường tế. Với những lợi ích to lớn trên thì doanh nghiệp sẽ ứng dụng HQĐT khi làm thủ tục hải quan là điều tất yếu.
1.2. Nội dung ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Điều 3 Nghị định 08/2024/NĐ-CP ngày 21/1/2024 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan, Điều 6 Thông tư 38/2024/TT-BTC Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu có giải thích từ ngữ và quy định các đối tượng tham gia:
“Thủ tục HQĐT” là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
“Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan” là hệ thống do Tổng cục Hải quan quản lý cho phép cơ quan hải quan thực hiện thủ tục HQĐT, kết nối, trao đổi thông tin về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu với các Bộ, ngành có liên quan.
Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác sử dụng Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan (gọi tắt là Hệ thống).
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp, trao đổi thông tin liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa với cơ quan hải quan thông qua Hệ thống theo quy định của pháp luật hiện hành.
Các đối tượng được truy cập và trao đổi thông tin với Hệ thống.
- Công chức hải quan
- Người khai hải quan
Tổ chức cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng đã được cơ quan hải quan công nhận Các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến cấp phép, quản lý chuyên ngành hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
Các cơ quan theo dõi quản lý thuế, quản lý giá đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Tổ chức tín dụng đã ký thỏa thuận thu nộp thuế, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước liên quan đến hoạt động XNK với Tổng cục Hải quan; các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thực hiện việc bảo lãnh số tiền thuế phải nộp cho người khai hải quan
- Các doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi
- Các tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Tổng cục Hải quan.
Hệ thống khai HQĐT là hệ thống cho phép người khai hải quan thực hiện việc khai HQĐT, tiếp nhận thông tin, kết quả phản hồi của cơ quan hải quan trong quá trình thực hiện thủ tục HQĐT.
Ngành hải quan đã có chủ trương thực hiện ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu với 06 nội dung chính sau: Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Một là, thực hiện ứng dụng HQĐT bằng các phương tiện điện tử thông qua hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan:
Dựa vào các phương tiện điện tử, các hệ thống mạng máy tính được kết nối mạng và các hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, người khai hải quan có thể tự mình hoặc thuê các đại lý hải quan tiến hành thực hiện khai hải quan điện tử bất kỳ nơi nào thuận tiện và bất kỳ thời gian nào với các phương tiện như máy tính để bàn, máy tính xách tay, điện thoại di động với công nghệ cao,…Không chỉ thế người khai hải quan có thể theo dõi tình hình thông tin thông quan của lô hàng thông qua mạng máy tính được kết nối với hệ thống điện tử của hải quan.
Quy trình thủ tục HQĐT kể từ khi triển khai thí điểm theo quyết định Số: 149/2014/QĐ-TTg ngày 20/06/2014 của Thủ tướng chính phủ cho đến nay có nhiều thay đổi, phù hợp với các quy định hiện hành. Hiện tại, quy trình thực hiện thủ tục HQĐT đối với hàng hóa XNK theo Quyết định 1966/QĐ-TCHQ ngày 10/07/2024 của TCHQ gồm 05 bước:
- Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra, đăng ký, phân luồng tờ khai (quy định tại Điều 6 Quyết định 1966/QĐ-TCHQ):
- Bước 2: Kiểm tra hồ sơ hải quan (quy định tại Điều 7 Quyết định 1966/QĐ-TCHQ):
Kiểm tra hồ sơ hải quan là việc thực hiện kiểm tra chi tiết, toàn bộ các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 38/2024/TT-BTC.
- Bước 3: Kiểm tra thực tế hàng hóa (Quy định tại Điều 8 Quyết định 1966/QĐ-TCHQ)
- Bước 4: Kiểm tra hoàn thành nghĩa vụ về thuế, phí, lệ phí (Quy định tại Điều 9 Quyết định 1966/QĐ-TCHQ
- Bước 5: Quản lý, hoàn chỉnh hồ sơ (Quy định tại Điều 10 Quyết định 1966/QĐ-TCHQ)
Hai là, khi thực hiện khai báo HQĐT thì hồ sơ HQĐT sẽ được bảo đảm nguyên vẹn, có dạng khuôn chuẩn chung của ngành hải quan, và có giá trị pháp lý như hồ sơ hải quan bằng giấy.
Hồ sơ HQĐT bao gồm có tờ khai HQĐT và các chứng từ đi kèm với tờ khai theo quy định, các chứng từ đi kèm tờ khai HQĐT có thể ở dạng điện tử hoặc ở dạng văn bản bằng giấy và chứng từ HQĐT có giá trị để làm thủ tục HQĐT như chứng từ bằng văn bản giấy được sử dụng theo phương thức hải quan truyền thống trước đây.
Khi lập chứng từ HQĐT cần lưu ý đảm bảo phản ánh nguyên vẹn nội dung của chừng từ. Đây là điều chú ý đối với các doanh nghiệp, khi thực hiện khai báo HQĐT cần phải khai báo chính xác, phù hợp với khung mẫu sẵn của Tổng cục hải quan, tránh gây ra tình trạng khai báo sai xót, thiếu chính xác.
Để đảm bảo quá trình quản lý rủi ro (QLRR), các chứng từ đi kèm tờ khai HQĐT có thể không phải nộp hoặc phải xuất trình, phải nộp cho cán bộ công chức hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan trong các trường hợp cần thiết.
Ba là, thực hiện các quy định đối với người khai hải quan trong việc tự kê khai và tự nộp thuế, các khoản lệ phí khác theo quy định của pháp luật hải quan: Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Người khai HQĐT là những người trực tiếp khai HQĐT, có thể là chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu kể cả thương nhân nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật hoặc người được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy quyền theo quy định của Luật doanh nghiệp hoặc có thể là tổ chức được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác.
Người khai hải quan có trách nhiệm thực hiện khai hải quan trên hệ thống máy tính được kết nối với hệ thống dữ liệu của hải quan. Đồng thời với việc hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan được kết nối với với các hệ thống của ngân hàng, kho bạc Nhà nước thì người khai hải quan có thể thực hiện việc thanh toán các khoản tiền thuế XNK cũng như các khoản lệ phí khác theo quy định dưới hình thức điện tử bất kể thời gian nào. Khi người khai hải quan làm thủ tục thanh toán tại bất kỳ ngân hàng nào đã được kết nối mạng với cơ quan hải quan thì hệ thống sẽ tự động chuyển tiền từ tài khoản của họ sang tài khoản của hải quan hoặc chuyển trực tiếp đến kho bạc nhà nước.
Bốn là, trên cơ sở hồ sơ HQĐT được doanh nghiệp gửi tới thì cơ quan hải quan tiến hành thực hiện thủ tục HQĐT và đưa ra quyết định thông quan hoặc đưa ra quyết định kiểm tra hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và từ các kênh thông tin khác.
Hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan sẽ tự động phân tích hồ sơ hải quan. Những lô hàng thuộc diện miễn kiểm tra thì sau khi chủ hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế và các khoản lệ phí khác theo quy định đối với lô hàng đó, thì hệ thống sẽ gửi thông báo thông quan cho người khai hải quan, sau đó người khai hải quan sẽ nhận thông báo thông quan và đến thẳng nơi lưu giữ lô hàng đó để làm thủ tục nhận hàng. Trường hợp lô hàng phải kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa thì cơ quan hải quan sẽ quyết định thông quan trên hệ thống xử lý dữ liệu điện tử sau khi có kết quả kiểm tra thực tế phù hợp với yêu cầu thông quan.
Năm là, ngành hải quan quy định nội dung thủ tục HQĐT được thực hiện căn cứ trên cơ sở Luật hải quan, các luật quy định về thuế và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết các luật về thuế, luật giao dịch điện tử và các văn bản quy phạm hướng dẫn thi hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia kí kết với các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế như WCO, WTO,…
Sáu là, thực hiện ứng dụng HQĐT với các Cục, Chi cục hải quan qua từng giai đoạn sao cho phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực, hoạt động của các đơn vị đó.
1.3. Những tác động của việc ứng dụng hải quan điện tử trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
1.3.1. Đối với doanh nghiệp
Một là, quy trình thủ tục HQĐT đơn giản hài hòa và thống nhất, phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế sẽ góp phần làm giảm thời gian thông quan hàng hóa cụ thể hiện nay thời gian chỉ còn từ 3 đến 5 phút, giảm chi phí và tiết kiệm thời gian và nhân lực cho doanh nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp không phải đến trụ sở của cơ quan hải quan như theo phương thức hải quan truyền thống trước đây mà có thể tự khai tại bất cứ địa điểm nào có máy tính kết nối mạng và được thông quan ngay đối với lô hàng được xếp vào trường hợp được miễn kiểm tra hồ sơ giấy và miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, đối với trường hợp này doanh nghiệp chỉ cần đến gặp cán bộ hải quan để đóng dấu hoàn thành thủ tục hải quan và thông quan hàng hóa XNK. Trường hợp đối với những hàng hóa thuộc luồng vàng và đỏ thì thủ tục hải quan cũng không phức tạp. Doanh nghiệp có thể tải mẫu đơn đăng kí trên các website của Tổng cục hải quan và sau ba ngày sẽ được cấp giấy xác nhận kèm theo tài khoản và mã truy cập của hệ thống khai báo HQĐT. Khi đến nộp hồ sơ thì các dữ liệu thông tin về lô hàng đã được xác định trước, vì thế doanh nghiệp sẽ mất ít thời gian chờ đợi để làm thủ tục thông quan lô hàng. Việc này giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí và thời gian đi lại làm thủ tục hải quan, thông qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo được niềm tin của doanh nghiệp tới các chính sách, giải pháp của ngành hải quan nói riêng và của Nhà nước nói chung. Được sự ủng hộ của doanh nghiệp cũng chính là thành công của cơ quan hải quan trong việc đẩy nhanh tiến độ ứng dụng HQĐT, hiện đại hóa ngành hải quan.
Hai là, với hệ thống máy tính được kết nối với hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan thì doanh nghiệp có thể chủ động được thời gian đăng kí tờ khai trên hệ thống dữ liệu điện tử của hải quan, chủ động trong việc sắp xếp thời gian nhận và xuất hàng hóa vì doanh nghiệp có thể đăng kí tờ khai bất cứ lúc nào chứ không bắt buộc phải đăng kí vào khung giờ hành chính theo phương pháp thủ công truyển thống như trước kia.
Ba là, nhờ ứng dụng thủ tục hải quan hiện đại, nên doanh nghiệp thuận lợi trong việc tiếp cận với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Điều này tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp khi làm ăn kinh doanh với các đối tác nước ngoài và mở rộng thị trường quốc tế. Bởi vì khi tham gia trên thị trường quốc tế thì doanh nghiệp bắt buộc phải nắm được các Luật lệ, thông tục của các nước trên thế giới, nhờ đó mà có thể đẩy nhanh tiến độ ký kết hợp đồng, hợp tác làm ăn.
Bốn là, một số trường hợp đặc biệt được tạo thuận lợi như trường hợp đối với những doanh nghiệp là thương nhân được ưu tiên đặc biệt còn được hưởng những lợi ích như được sử dụng tờ khai hải quan tạm để giải phóng hàng, được hoàn thành thủ tục thông quan trên cơ sở sử dụng tờ khai điện tử một lần/một tháng cho tất cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thường xuyên với cùng một đối tác và cùng một loại hình xuất khẩu, nhập khẩu, đã được giải phóng hàng theo các tờ khai tạm và được kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa tại trụ sở của thương nhân ưu tiên đặc biệt hoặc tại địa điểm khác do thương nhân ưu tiên đặc biệt đăng ký và được cơ quan hải quan chấp nhận, được thực hiện thủ tục HQĐT trong thời gian 24giờ /ngày và 7ngày/tuần. Đây là chính sách tích cực của cơ quan Nhà nước động viên và khích lệ doanh nghiệp tham gia ứng dụng thủ tục HQĐT và nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực hải quan.
1.3.2. Đối với cơ quan hải quan Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Một là, việc ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ hải quan có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ cao đáp ứng được khối lượng công việc lớn trong thời kì hội nhập kinh tế, đồng thời có tinh thần và thái độ phục vụ doanh nghiệp đúng với tác phong của hải quan Việt Nam văn minh, lịch sự, có kỷ cương, kỷ luật và trung thực. Trong năm 2020, Tổng cục hải quan đã đưa ra tuyên ngôn phục vụ khách hàng nhằm hiện đại hóa hải quan với phương châm “ Hải quan Việt Nam chính xác- minh bạch- hiệu quả” thể hiện sự cam kết của ngành hải quan đối với xã hội để đảm bảo thuận lợi, đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan đối với các hoạt động thương mại quốc tế, đầu tư, du lịch quốc tế,… cụ thể:
- Hải quan Việt Nam chuyên nghiệp: Được thể hiện qua sự nhiệt tình, tận tụy với công việc, thông thạo nghiệp vụ và xử lý công việc tuân thủ đúng quy trình, thủ tục quy định, văn minh lịch sự trong hoạt động công tác và ứng xử.
- Hải quan Việt Nam minh bạch: Xây dựng hệ thống thủ tục hải quan tuân thủ chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đồng thời ngành bố trí tiếp nhận đầy đủ, phản hồi nhanh chóng và giải quyết khẩn trương các ý kiến đóng góp, khiếu nại của doanh nghiệp, các nhân, các tổ chức trên cả nước và thực hiện cơ chế đảm bảo sự giám sát của khách hàng đối với hoạt động nghiệp vụ hải quan.
- Hải quan Việt Nam hiệu quả: Cụ thể ngành hải quan phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa, giảm thiểu chi phí hành chính và thời gian thông quan, đảm bảo yêu cầu quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan và quản lý sự tuân thủ pháp luật hải quan một cách hiệu quả đến các đơn vị hải quan, các cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động trong lĩnh vực hải quan.
Hai là, ứng dụng HQĐT trong ngành hải quan là việc đưa phương thức quản lý tiên tiến, hiện đại, từ xử lý thủ tục hành chính chủ yếu là thủ công trên giấy tờ sang xử lý trên hệ thống thông tin của hải quan giúp thay đổi nhận thức của cán bộ công chức hải quan và khẳng định việc cải cách hiện đại hóa là xu thế tất yếu để phát triển, hiện đại hoá cơ quan hải quan nói riêng, bộ máy nhà nước nói chung. Từ đó cán bộ công chức hải quan có nghị lực phấn đấu và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của ngành.
Ba là, thực hiện ứng dụng HQĐT trong thông quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giúp cho các hoạt động nghiệp vụ hải quan được thực hiện hiệu quả và chính xác cao hơn. Do đó, cán bộ công chức hải quan dễ dàng thực hiện xử lý nghiệp vụ nhanh chóng hơn theo phương thức truyền thống. Như thế, dù khối lượng công việc lớn và xu hướng càng ngày càng gia tăng thì ngành hải quan vẫn đảm bảo hoàn thành công việc tốt nhất
1.4. Khái niệm về chuẩn mực hải quan hiện đại và điều kiện áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử
1.4.1. Khái niệm chuẩn mực hải quan hiện đại
1.4.1.1. Khái niệm chuẩn mực hải quan Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Việc đánh giá đối với bất cứ quá trình hoặc sự vật nào đều đòi hỏi phải có những chuẩn mực với định nghĩa rõ ràng và có thể thông qua các chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng được. Tùy theo độ phức tạp của đối tượng đánh giá mà chuẩn mực có thể ít hay nhiều, nhưng thường đều là một bộ chuẩn mực.
Với hoạt động hải quan, bộ chuẩn mực của từng quốc gia có thể có những khác biệt do đặc điểm quản lý của mỗi nước; các chuẩn mực có thể xây dựng ở cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cao hơn nữa chuẩn mực được phổ biến và các nước thừa nhận là của chuẩn mực quốc tế.
Khái niệm chuẩn mực hải quan được WCO nêu ra trong công ước Kyoto 1999 “Chuẩn mực được hiểu như một quy định mà việc thi hành nó được thừa nhận là cần thiết để đạt được mục đích hài hòa và đơn giản hóa các thủ tục và thông lệ hải quan”. [19, tr.35]
Từ khái niệm này của WCO và nội dung về chuẩn mực quốc tế do các tổ chức UN, WTO quy định, trong luận văn này tác gải khái quát đầy đủ hơn về chuẩn mực hải quan như sau:
“Chuẩn mực hải quan là tất cả các quy định mang tính pháp lý, quy chuẩn trong hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia với nhau và giữa quốc gia với tổ chức liên quan về thủ tục hải quan được các tổ chức quốc tế ban hành và các quốc gia thành viên chấp thuận để thực hiện theo”.
Các chuẩn mực hải quan thường được nghiên cứu, thảo luận rất công phu giữa các thành viên của WCO, WTO, UN…Cuối cùng, khi đã đạt được sự nhất trí cao, các chuẩn mực được phê chuẩn và công bố dưới dạng văn bản “công ước”, “hiệp định” gọi chung là các điều ước quốc tế.
Tại các văn bản đó, trong khi nhiều chuẩn mực có tính bắt buộc phải thực thi đối với các tổ chức thành viên, thì nhiều chuẩn mực khác lại chỉ có tính khuyến khích thực hiện. Tuy nhiên, dù bắt buộc hay khuyến khích thực thi thì mỗi quốc gia thành viên đều phải nội luật hoá các chuẩn mực đã được công bố trong các điều ước quốc tế.
Với mỗi quốc gia, việc nội luật hoá các điều ước quốc tế đều mang tính chất là những cam kết của quốc gia đó đối với việc thực thi các chuẩn mực quốc tế trong hệ thống pháp luật của mình. Tuy nhiên, việc giám sát thực thi các chuẩn mực đó lại là vấn đề để ngỏ trong những cam kết song phương, đa phương, khu vực đối với mỗi quốc gia dưới các hình thức văn bản “hiệp định”, “thoả thuận”, “nghị định thư”, “công hàm”, “bản ghi nhớ”.
Trong trường hợp của Việt Nam, theo kết quả rà soát của Tổng cục Hải quan về nội luật hoá trong lĩnh vực hải quan, đến năm 2025 Việt Nam đã nội luật hoá trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của mình được 168 chuẩn mực.
Tính theo số lượng văn bản quy phạm pháp luật, việc nội luật hoá các tiêu chuẩn đó bao gồm: 25 văn bản nội luật hóa hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN; 19 văn bản nội luật hoá quy định của WTO về chính sách thương mại hàng hoá; 18 văn bản nội luật hoá quy định tại Hiệp định trị giá GATT; 6 văn bản nội luật hoá quy định của WTO về chống bán phá giá, chống trợ cấp và biện pháp tự vệ; 4 văn bản nội luật hoá hiệp định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
1.4.1.2. Khái niệm chuẩn mực hải quan hiện đại
Nội dung chuẩn mực hải quan bao quát tất cả các quy chuẩn cho cả thủ tục hải quan truyền thống, thủ tục HQĐT và đều được các quốc gia thành viên thừa nhận trên đây thì chuẩn mực hải quan hiện đại là một trong số chuẩn mực hải quan khi thực hiện áp dụng bắt buộc cần phải có điều kiện là dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT và giao dịch điện tử, trên môi trường Internet trong quản lý hải quan.
Như vậy, chuẩn mực hải quan hiện đại sẽ bao hàm về quy tắc của hoạt động hải quan với hai trụ cột CNTT, giao dịch điện tử. Các trụ cột này có quan hệ mật thiết với nhau và được phát triển, hoàn thiện ở trình độ cao thành một hệ thống hải quan tự động hóa hoàn toàn. Theo đó, chuẩn mực hải quan hiện đại thuộc các chuẩn mực hải quan nhưng đòi hỏi phải “tự động hóa” từng phần hoặc toàn phần trong các hoạt động hải quan.
Dựa trên khái niệm chuẩn mực hải quan được nêu trong công ước Kyoto và bản chất của các điều kiện áp dụng, tác giả đưa ra định nghĩa khái quát về chuẩn mực hải quan hiện đại như sau: “Chuẩn mực hải quan hiện đại là chuẩn mực về hải quan được thực hiện dựa trên ứng dụng CNTT, tự động hóa, giao dịch điện tử trong môi trường internet để thực hiện thủ tục HQĐT”.
Theo kinh nghiệm của hải quan các nước có trình độ quản lý hải quan hiện đại và kết quả rà soát, phân tích hệ thống các điều ước, công ước, cam kết quốc tế về hải quan đã được các tổ chức WCO, WTO, UN ban hành, tác giả rút ra danh mục 12 chuẩn mực hải quan hiện đại mang tính phổ quát, cần thiết, được nhiều nước áp dụng trong xây dựng và triển khai HQĐT gồm: tự động hoá; khai báo trước; thông quan trước; áp dụng quản lý rủi ro tự động; giảm chứng từ thương mại; xác định xuất xứ tự động; tính trị giá tự động; áp thuế tự động; nộp thuế tự động; thông quan tự động; trao đổi thông tin điện tử; giảm chi phí.
Đây là 12 chuẩn mực hải quan hiện đại khi thực hiện thành công sẽ làm tiền đề, nền tảng cho việc hoàn thiện HQĐT theo hướng hiện đại và phát triển trình độ quản lý nhà nước về hải quan ở trình độ cao hơn.
1.4.1.3. Tiêu chí đánh giá về chuẩn mực hải quan hiện đại
Để có căn cứ xem xét mức độ thực hiện các nội dung chuẩn mực hải quan hiện đại trong quá trình thực hiện HQĐT cần phải có bộ tiêu chí để làm thước đo. Hiện nay, tùy theo từng quốc gia hay các tổ chức quốc tế sẽ xây dựng cho mình một số tiêu chí để phục vụ cho từng mục đích đánh giá của mình.
Tuy nhiên, về mặt chung nhất để đánh giá mức độ áp dụng 12 chuẩn mực hải quan hiện đại trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử thì các tổ chức WCO, WTO, UN đã đưa ra các tiêu chí cho các nước tham khảo, xây dựng dưới đây:
Bảng 1.1: Một số tiêu chí đánh giá mức độ áp dụng các chuẩn mực HQĐT trong thực hiện thủ tục HQĐT
Những tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá trên đây một mặt có tính chất ổn định để có thể so sánh được giữa các năm, nhưng cũng có thể phải sửa đổi, bổ sung, thay thế cho phù hợp với sự phát triển trên thực tiễn của ngành hải quan mỗi nước và quốc tế. Trong những năm gần đây, Ngân hàng thế gới (WB) và Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) thường đưa ra báo cáo “Doing bussiness” hàng năm cho toàn cầu và các quốc gia về nội dung tiêu chí đánh giá về mức độ tạo thuận lợi thương mại, tạo giá trị và năng lực cạnh tranh; mặc dù đây không phải là báo cáo chuyên đề về hải quan, nhưng dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá nội dung các về chuẩn mực về hải quan trong tạo thuận lợi cho thương mại.
1.4.2. Điều kiện áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong thực hiện thủ tục hải quan điện tử Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Để thực hiện chuẩn mực hải quan hiện đại trong áp dụng thủ tục HQĐT cần có những điều kiện bảo đảm đó là:
Thứ nhất, điều kiện tiên quyết là phải có quyết tâm chính trị lớn của cấp lãnh đạo quốc gia về hội nhập kinh tế quốc tế. Điều kiện này đòi hỏi phải có những quyết định về chủ trương từ các cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước để thực hiện ký kết các văn kiện gia nhập và tham gia các chuẩn mực hải quan hiện đại. Đồng thời, khi lãnh đạo quốc gia sẽ ban hành các văn bản về chính sách, pháp luật để nội luật hóa các chuẩn mực hải quan hiện đại vào thực hiện trong hoạt động kinh tế xã hội, an ninh, chính trị, ngoại giao đất nước.
Thiếu quyết tâm chính trị này, mỗi quốc gia sẽ không có được sự đồng thuận xã hội và không huy động được sức mạnh tổng hợp của mình để thực hiện các chuẩn mực này một cách hiệu lực và hiệu quả.
Thứ hai, đầu tư nguồn lực thỏa mãn các nhu cầu cần thiết về xây dựng luật pháp, công nghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực để áp dụng HQĐT. Điều kiện này vừa đòi hỏi phải có nguồn tài lực đủ để đầu tư cho các nhu cầu xây dựng và phát triển hiện đại hoá hải quan, đặc biệt về hạ tầng kỹ thuật – công nghệ, nhân lực cho áp dụng HQĐT. Đồng thời, vừa phải có quy hoạch, kế hoạch, lộ trình hợp lý cho việc thực hiện đầu tư.
Thứ ba, sự hợp tác đầy đủ và cùng chia sẻ giữa cơ quan nhà nước trong đó cơ quan hải quan với các doanh nghiệp XNK. Sự hợp tác mật thiết này hết sức quan trọng vừa để đảm bảo sự thành công trong triển khai, đồng thời phản biện trung thực và chính xác nhất chính sách chưa phù hợp cần thay đổi.
Thứ tư, sự tham gia hợp tác của doanh nghiệp XNK trong việc đầu tư về tài chính, nguồn lực, hạ tầng CNTT trong quá trình triển khai thủ tục HQĐT áp dụng các chuẩn mực hải quan hiện đại.
1.5. Các yếu tố tác động đến áp dụng thủ tục hải quan điện tử theo các chuẩn mực hải quan hiện đại
1.5.1. Nhóm yếu tố bên ngoài
1.5.1.1. Yếu tố quốc tế
Thứ nhất, xu thế và sức ép của hội nhập quốc tế.
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế (trong đó có kinh tế quốc tế) đang là xu hướng tất yếu không thể đảo ngược trong thời đại ngày nay. Theo đó, toàn cầu hoá và hội nhập tiếp tục được phát triển mạnh mẽ về tốc độ, quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp.
Các công ty xuyên và đa quốc gia có vai trò ngày càng lớn, quá trình quốc tế hoá sản xuất, phân phối và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Việc tham gia vào chuỗi sản xuất, hệ thống phân phối và chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để các nền kinh tế hoạt động theo hướng hiệu quả và bền vững. Sự tuỳ thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến.
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ sâu rộng, đòi hỏi một quốc gia khi phải tham gia vào các tổ chức, hiệp hội, diễn đàn trên tất cả mọi lĩnh vực với trọng tâm là các trụ cột về kinh tế và an ninh. Nội dung hợp tác của hai trụ cột này luôn đòi hỏi và yêu cầu hải quan đặt ở vị trí trung tâm, như cầu nối các hoạt động kinh tế, đầu tư và đảm bảo an ninh trong dây chuyên cung ứng hàng hóa toàn cầu. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Do vậy, sức ép của hội nhập luôn đặt ra cho từng quốc gia phải tham gia ký kết và tuân thủ thực hiện các điều ước với các hiệp định, hiệp ước quốc tế khi thực hiện giao thương, mở cửa nền kinh tế.
Đối với các nước ASEAN nằm trong vị trí Đông Nam Á là nơi trung tâm của hoạt động hợp tác kinh tế của các diễn đàn APEC, ASEM, ASEAN+3, ASEAN+6…đang dần hình thành các cộng đồng kinh tế mở. Điều này vừa là cơ hội to lớn cho Việt Nam một quốc gia thành viên, nhưng cũng là sức ép đòi hỏi phải tham gia ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại – thuế quan mà vai trò tuân thủ thực hiện hệ thống chuẩn mực về tạo thuận lợi và kiểm soát xuất nhập hàng hóa của cơ quan hải quan luôn được đặt lên hàng đầu.
Như vậy, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, bên cạnh tạo cho các quốc gia cơ hội, thuận lợi mới để phát triển, nhưng cũng tạo ra thách thức và sức ép buộc các quốc gia phải cải cách mạnh mẽ bên trong cả về phía nhà nước, doanh nghiệp và người dân để có quyền tham gia vào cuộc chơi, sân chơi, luật chơi, kiểu chơi chung theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Trong những điều kiện mới này, để thuận lợi hoá thương mại đầu tư, một trong những vấn đề phải thay đổi và cải cách mạnh mẽ đó là các thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục hải quan theo hướng tiện lợi, công khai, công bằng, minh bạch và không có con đường nào tối ưu hơn là phải thực hiện theo các chuẩn mực hải quan hiện đại.
Thứ hai, sự giúp đỡ, hỗ trợ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các đối tác hợp tác.
Việc thực hiện cải cách, đổi mới các hoạt động của hải quan theo hướng áp dụng HQĐT theo các chuẩn mực hải quan hiện đại không chỉ bằng quyết tâm, nhấn mạnh “khẩu hiệu”, “ phong trào”, “thành tích”, mà phải có nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn lực tài chính và nguồn nhân lực có tâm và trình độ. Đây là những khó khăn không nhỏ đối với các quốc gia đang phát triển, mới gia nhập sân chơi khu vực và toàn cầu (trong đó có Việt Nam).
Tuy nhiên, thực tế đã chỉ ra rằng không ít các quốc gia (Hàn quốc, Singapore) do tích cực cải cách bên trong để tham gia tốt vào quá trình hội nhập nên đã nhận được sự giúp đỡ, trợ giúp không nhỏ của các quốc gia đối tác, của các tổ chức quốc tế về các mặt, đặc biệt về tài chính, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực và đã tạo đà, sức bật mới cho sự phát triển và đã có nhiều thành công, trong đó có việc áp dụng các chuẩn mực hải quan hiện đại.
1.5.1.2. Yếu tố quốc gia Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Sự quyết tâm không chỉ bằng ý chí mà còn bằng các nguồn lực, các điều kiện khác của nhà nước, chính phủ, các bộ ngành, các doanh nghiệp trong việc thực hiện hội nhập và cam kết hội nhập nhằm tạo ra động lực mới cho sự phát triển đất nước.
Chính sự quyết tâm cải cách bên trong theo luật quốc tế, thông lệ quốc tế và các cam kết quốc tế đã thoả thuận và ký đòi hỏi nhà nước, trong đó có chính phủ phải sửa đổi, hoàn thiện và ban hành kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và minh bạch hệ thống các văn bản pháp quy có liên quan, phải có đầu tư nguồn lực tài chính đủ để tạo ra cơ sở vật chất. Kỹ thuật công nghệ thích ứng cho việc áp dụng theo các chuẩn mực hải quan hiện đại vào HQĐT.
Đồng thời cũng phải có sự hỗ trợ để ngành hải quan sớm có được đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng để có thể đảm đương được việc áp dụng thủ tục QHĐT theo hướng hiện đại. Không có sự quyết tâm và tạo điều kiện của Nhà nước và các tổ chức trên thì ngành hải quan cũng không thể áp dụng tốt các chuẩn mực hải quan hiện đại trong thực tiễn.
Nói một cách khác, nếu không có sự quyết tâm và trợ giúp của nhà nước và của các ngành, các cấp thì việc chuyển từ việc áp dụng thủ tục hải quan truyền thống sang HQĐT theo các chuẩn mực hải quan hiện đại sẽ diễn ra hết sức chậm và mặt trái, tiêu cực vẫn phát sinh, thậm chí gia tăng gây bức xúc trong xã hội và tổn thất không nhỏ cho các bên cả về phía nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
1.5.2. Nhóm yếu tố bên trong (thuộc về cơ quan hải quan)
1.5.2.1. Tư duy nhận thức và quan điểm của lãnh đạo ngành hải quan về áp dụng thủ tục hải quan điện tử theo các chuẩn mực hải quan hiện đại
Nếu lãnh đạo ngành nhận thức đúng tầm quan trọng của vấn đề này và với quyết tâm cao, đầu tư thoả đáng… thì sẽ thúc đẩy việc sớm áp dụng có hiệu quả. Ngược lại, sẽ cản trở làm chậm tiến độ, lộ trình áp dụng HQĐT.
Việc áp dụng HQĐT hay nói gọn hơn là việc áp dụng CNTT trong quản lý của các cơ quan hải quan tại các Cục, Chi cục trên phạm vi cả nước, đòi hỏi phải có cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, cũng như của các Cục, Chi cục hải quan thuận tiện và hiện đại. Chỉ trên cơ sở đó, việc ứng dụng các phần mềm của hải quan trong quản lý sẽ thuận lợi như tốc độ đường truyền nhanh, nhiều doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc với hải quan điện tử cũng như cập nhật được các chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua mạng xã hội. Điều này tạo điều kiện cho cơ quan hải quan cũng như doanh nghiệp thực hiện các thủ tục được nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà nước và doanh nghiệp.
Đồng thời có điều kiện thuận lợi trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát được tình hình xuất, nhập khẩu theo hệ thống thông tin dữ liệu, hạn chế được tình hình gian lận thương mại. Đáp ứng các yêu cầu này, ngành hải quan nói chung, lãnh đạo ngành hải quan nói riêng phải nhận thức đúng vấn đề trên và phải tập trung đầu tư đồng bộ trong toàn ngành để sớm đáp ứng các yêu cầu áp dụng HQĐT theo chuẩn lực hải quan hiện đại. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
1.5.2.2. Cơ cấu bộ máy, trình độ tổ chức
Để thực hiện đúng và có hiệu quả HQĐT theo hướng tuân thủ các chuẩn lực hải quan hiện đại phục vụ cho công tác quản lý thương mại nói chung, thương mại quốc tế nói riêng của ngành hải quan, cần phải có bộ máy quản lý chặt chẽ từ trung ương đến địa phương. Tại Cục hải quan các tỉnh, thành phố phải áp dụng HQĐT để góp phần quản lý có hiệu quả các hoạt động thương mại theo quy trình nghiệp vụ mà Tổng cục Hải quan đã đề ra. Đây là cơ quan trực tiếp quản lý Cục hải quan các tỉnh, thành phố. Cục hải quan các tỉnh, thành phố quản lý trực tiếp các chi cục trên địa bàn quản lý của mình. Các chi cục là nơi các doanh nghiệp XNK làm các thủ tục hải quan theo đúng quy định của hải quan.
Vì vậy, chính sự quản lý và mức độ áp dụng HQĐT sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động XNK của doanh nghiệp, trong số đó có thời gian làm thủ tục và các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để hoàn thiện các thủ tục liên quan đến hoạt động XNK của mình và do đó bộ máy tổ chức tốt, HQĐT được áp dụng tiện lợi sẽ tạo điều kiện cho hoạt động quản lý, kiểm tra, giám sát xuất nhập khẩu được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác, phòng chống được gian lận thương mại, thông quan nhanh hàng hoá, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
1.5.2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ khoa học công nghệ của cơ quan hải quan
Cơ sở hạ tầng, các máy móc thiết bị được sử dụng tại các cơ quan hải quan là điều kiện cực kỳ quan trọng đối với các cán bộ, công chức làm việc, thực hiện các công việc chuyên môn của mình. Khi được trang bị các thiết bị, máy móc hiện đại sẽ giúp cơ quan hải quan tiết kiệm được thời gian xử lý các công việc, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan nhanh, thông quan hàng hoá kịp thời.
Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, các cơ quan hải quan đang thực hiện HQĐT đang rất cần có hệ thống máy vi tính hiện đại, được kết nối mạng Internet có đường truyền nhanh, ít trục tặc nhằm phục vụ việc khai HQĐT của doanh nghiệp và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu hệ thống máy tính và sự kết nối mạng không tốt hay bị trục trặc, tất yếu sẽ dẫn đến hệ thống truyền dữ liệu bị ách tắc, gây khó khăn cho việc thực hiện các HQĐT và quản lý của ngành hải quan.
1.5.2.4. Nguồn nhân lực của các cơ quan hải quan
Trong điều kiện hiện nay, đổi mới hoạt động cũng như nâng cao năng lực cho lực lượng hải quan trong tác quản lý hải quan, phòng chống buôn lậu là vấn đề tất yếu nhằm đảm bảo vừa thuận tiện cho hoạt động thương mại, vừa đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của quản lý hải quan. Đáp ứng yêu cầu này, việc thực hiện HQĐT theo hướng áp dụng các chuẩn mực hải quan hiện đại chính là cải cách các thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, thực hiện hải quan “một cửa” tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại phát triển.
Muốn thực hiện tốt các vấn đề này, đội ngũ hải quan phải đáp ứng đủ về số lượng, đặc biệt là với chất lượng ngày càng cao. Chỉ có như vậy mới có thể áp dụng tốt CNTT, những thành tựu mới và ngày càng hiện đại vào công tác quản lý và giám sát các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được giao cho ngành hải quan. Để sớm có được nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của ngành, bên cạnh sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, ngành hải quan phải chủ động trong bố trí nguồn lực để đầu tư trang thiết bị ứng dụng CNTT đồng bộ với yêu cầu đào tạo cán bộ có tính chuyên nghiệp cao và tinh gọn biên chế bộ máy.
1.6. Kinh nghiệm thực hiện thủ tục hải quan điện tử của một số nước trên thế giới. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
1.6.1. Công tác ứng dụng thủ tục hải quan điện tử của Hải quan Singapore
Trong cộng đồng hải quan, Hải quan Singapore được nhìn nhận là một trong những cơ quan đứng đầu trong tạo điều kiện thuận lợi nhất cho thương mại đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát hải quan chặt chẽ.
Để có được đánh giá như vậy, trong nhiều năm qua Hải quan Singapore thực hiện các chiến lược, kế hoạch hành động cũng như đề ra được một lộ trình hiện đại hoá một cách hợp lý và phù hợp với sự phát triển của quốc gia cũng như quốc tế.
Cũng như hầu hết các chiến lược hiện đại hoá của Hải quan các nước trên thế giới, điểm chung trong các trong chiến lược, kế hoạch này là tập trung vào việc triển khai áp dụng nhiều kỹ thuật hiện đại, nhất là là CNTT nhằm cải cách hoạt động quản lý của cơ quan hải quan, đặc biệt là trong công tác thông quan hàng hoá và phân loại hàng hoá. Chính CNTT đã góp một phần rất lớn trong việc thay đổi một phương pháp quản lý hải quan theo hướng mới đó là chuyển từ việc xử lý các giao dịch dựa trên giấy tờ sang xử lý các giao dịch điện tử, điều này cũng đã cho phép Hải quan Singapore vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình với một nguồn lực hạn chế.
Với nhận thức tiến trình tin học các qui trình nghiệp vụ, thủ tục hải quan là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có các bước đi thích hợp, không thể hoàn thành trong một thời gian ngắn và càng không thể tách rời với chiến lược, kế hoạch công nghệ thông tin của quốc gia, Hải quan Singapore đã chia lộ trình áp dụng CNTT theo từng giai đoạn khác nhau, phù hợp với chiến lược phát triển CNTT của quốc gia. Với cách thức thực hiện như vậy đã cho phép hải quan Singapore tận dụng được nhiều cơ hội, nhiều lợi thế như: sự ủng hộ từ các chính phủ, sự nhận thức thống nhất và phối hợp tốt trong các cơ quan chính phủ về vấn đề hỗ trợ, trao đổi thông tin thông tin, sự ủng hộ và tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, hạ tầng về CNTT…
Bên cạnh đó, để đảm bảo luôn cập nhật được các thành tựu hiện đại nhất của CNTT và đảm bảo tính chuyên nghiệp trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT cho ngành hải quan, thiết kế triển khai phần mềm ứng dụng… Hải quan Singapore đã thực hiện theo cơ chế thuê các công ty CNTT trong và ngoài tham gia dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của hải quan. Có thể kể đến một số ứng dụng CNTT tiêu biểu mà Hải quan Singapore hợp tác với các đối tác bên ngoài để xây dựng và đã đưa vào ứng dụng như:
Hệ thống thông quan điện tử: Hệ thống thông quan điện tử của Hải quan Singapore được thiết kết xây dựng và triển khai theo mô hình tập trung bao gồm thành phần chính: một để phục vụ cho việc giao tiếp với bên ngoài (do công ty CrimsonLogic quản lý) và một để phục cho công tác quản lý của cơ quan hải quan sử dụng mạng (do công ty National Computer System xây dựng).
Bên cạnh đó, trong nỗ lực tiếp tục rút ngắn hơn nữa thời gian thông quan, Hải quan Singapore ban hành các qui định và xây dựng các hệ thống CNTT cho phép tiếp nhận trước các thông tin liên quan đến hàng hoá XNK từ doanh nghiệp. Điều này cho phép Hải quan có nhiều thới gian và thông tin hơn để phân tích, đánh giá về lô hàng từ đó có thể quyết định thông quan ngay (đối với các lô hàng thuộc luồng xanh) hay tiến hành kiểm tra thực tế (đối với những lô hàng thuộc luồng đỏ) khi hàng vừa đến cảng, vì vậy rút ngắn được thời gian thông quan. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Hệ thống thông quan trước đối với vận chuyển hàng chuyển phát nhanh: Hệ thống này ra đời năm 1994 nhằm thúc đẩy thông quan trước đối với vận chuyển hàng hoá chuyển phát nhanh đường hàng không. Với hệ thống này, các công ty chuyển phát nhanh theo đường hàng không có thể chuyển các thông tin bằng điện tử tới Hải quan và nhận hướng dẫn kiểm tra trước thông quan và kết quả này nhanh hơn so với thông quan qua cửa khẩu.
Hệ thống thông quan điện tử đối với Container: Hải quan áp dụng hệ thống thông quan điện tử cho container ở tất cả các cửa khẩu từ tháng 8/1999. Với hệ thống này, những người vận chuyển không cần xuất trình bản copy cứng của giấy phép thông quan hàng hoá cho Hải quan, và kết quả đã rút ngắn được thời gian thông quan.
Hệ thống xác định mục tiêu trọng điểm: Việc xác định mục tiêu trọng điểm hàng hoá XNK do hệ thống này thực hiện. Hệ thống này được kết nối với các hệ thống của các cơ quan có liên quan khác để thực hiện việc trao đổi các thông tin phục vụ cho việc phân luồng dữ liệu khai hải quan. Trong hệ thống này đã được thiết lập các tiêu chí lựa chọn, theo định kỳ hoặc trong trường hợp cần thiết hải quan sẽ thiết lập hay thay đổi các tiêu chí này để đảm bảo luôn phù hợp với tình hình thực tế của hoạt động XNK, bên cạnh đó trên hệ thồng còn lưu giữ các thông tình báo phục vụ cho công tác phân tích dữ liệu kiểm tra thông quan hàng hoá. Các dữ liệu khai hải quan của các nhà nhập khẩu, xuất khẩu khi chuyển đến (qua hệ thống Tradenet) sẽ được hệ thống phân luồng kiểm tra dựa trên việc so sánh với các tiêu chí cũng các thông tin tình báo hải quan sau đó truyền kết quả cho các đơn vị Hải quan tại các cửa khẩu để quyết định về hình thức, mức độ kiểm tra hàng hoá hay thông quan ngay. Hiện nay, trung bình các lô hàng được thông quan trong vòng 10 phút.
Hệ thống nộp thuế và lệ phí điện tử: Theo qui định của Singapore việc nộp thuế hải quan và các khoản lệ phí khác được thực hiện trên cơ sở tự khai, tự tính và tự nộp. Nhà nhập khẩu, xuất khẩu sẽ thực hiện việc khai hải quan, tự tính thuế và tự nộp thuế và các loại lệ phí khác quan hệ thống liên ngân hàng tại hệ thống máy tính được kết nối với hệ thống TradeNet, khoảng vài phút sau sẽ nhận được thông báo cụ thể về thông tin liên quan đến thông quan lô hàng, trong trường hợp lô hàng được thông quan thì lệnh thông quan sẽ được gửi đến hệ thống máy tính của nhà nhập khẩu/xuất khẩu, trong trường hợp ngược lại thì hệ thống gửi một thông báo nêu rõ lý do từ chối hay các yêu cầu cung cấp thêm các số liệu cần thiết.
1.6.2. Hệ thống thông quan NACCS của Hải quan Nhật Bản
Để đạt được mục tiêu hiện đại hoá tất cả quy trình nghiệp vụ hải quan, Hải quan Nhật Bản đã phải nỗ lực từng bước khắc phục những khó khăn và cản ngại. Một trong những điều mà Hải quan Nhật Bản coi trọng trong quá trình hiện đại hoá là ứng dụng toàn diện quy trình tin học vào công tác nghiệp vụ, trong đó trọng tâm là hệ thống thông quan điện tử NACCS.
Hải quan Nhật Bản tiến hành đề án tin học hoá ngành hải quan bắt đầu từ năm 1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS), xử lý các vấn đề liên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hoá. Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc tiến đến mục tiêu chính của Hải quan Nhật Bản là thiết lập dịch vụ thông quan “một cửa” cho khách hàng.
Theo quy định chung đối với hàng hóa XNK, việc khai báo thực hiện qua Hệ thống thông quan tự động NACCS. Hệ thống NACCS được vận hành như sau: Đầu tiên người khai thuê sẽ nhập dữ liệu thông tin cần thiết để khai báo về lô hàng XNK bằng máy vi tính của mình. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Sau khi xử lý thông tin, hệ thống sẽ “chạy” và tự động hiện ra những quy định hiện hành có liên quan, tự động tính ra số thuế phải nộp… để hoàn thiện tờ khai và in nội dung đó ngay tại máy tính trạm của người sử dụng. Sau đó, một chuyên gia về hải quan (là người được cơ quan Hải quan cấp chứng nhận và làm việc trong công ty khai thuê, không phải công chức hải quan) xác nhận và chuyển tờ khai này tới cơ quan Hải quan qua hệ thống. Hệ thống NACCS sẽ tự động lựa chọn cách thức, quy trình kiểm tra dựa trên khai báo.
Có 3 hình thức kiểm tra hải quan: kiểm tra đơn giản, kiểm tra chứng từ và kiểm tra thực tế hàng hóa. Đối với hình thức kiểm tra đơn giản, cơ quan Hải quan sẽ chấp nhận cho hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ngay lập tức, đó là đối với các trường hợp hàng hóa miễn thuế; thuế đã được nộp qua tài khoản điện tử hoặc được chấp nhận nợ thuế.
Đối với hình thức thứ 2 (kiểm tra chứng từ), người XNK phải xuất trình một bản photocopy tờ khai cho cơ quan Hải quan cùng với các chứng từ cần thiết như invoice… Việc kiểm tra chứng từ do công chức hải quan thực hiện, sau đó hàng hóa XNK khai báo được chấp thuận (đối với hàng có thuế, sau khi việc nộp thuế được xác nhận). Lệnh chấp nhận thông quan sẽ được cung cấp cho máy tính trạm của người nhập khẩu hoặc người khai thuê.
Đối với hình thức thứ 3 (kiểm tra thực tế hàng hóa), thủ tục như đối với hình thức thứ 2, nhưng công chức hải quan sẽ tiếp tục kiểm tra thực tế hàng hóa sau khi đã kiểm tra chứng từ. Cơ quan Hải quan có thể kiểm tra thực tế hàng hóa tại: nơi lưu giữ hàng hóa; lấy mẫu về kiểm tra; kiểm tra trong khu vực kiểm tra hải quan. Khi hoàn thành việc kiểm tra, hàng hóa sẽ được chấp nhận thông quan thực sự, riêng đối với hàng NK có thuế, chỉ sau khi doanh nghiệp nộp thuế.
Theo thống kê của Hải quan Nhật Bản, có khoảng 70% lượng hàng hóa XNK áp dụng hình thức kiểm tra đơn giản, 25% lượng hàng hóa kiểm tra hồ sơ, còn lại chỉ có 5% hàng hóa phải kiểm tra thực tế.
Cuộc cách mạng tin học hoá trong Hải quan Nhật Bản mang lại lợi ích không chỉ đối với ngành Hải quan mà còn cả đối với cả giới doanh nghiệp.
Việc áp dụng tin học hoá của Hải quan Nhật Bản thực sự nhảy vọt trong tiến trình cải cách, hiện đại hoá. Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiện nay được coi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liên quan khác phát triển hệ thống tin học của mình.
1.6.3. Các ứng dụng tự động hóa của hải quan Thái Lan Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Để triển khai thực hiện chiến lược tự động hóa, hải quan Thái Lan đã triển khai một loạt các hệ thống EDI sau đây:
Thanh toán điện tử (e-Payment): giúp các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động XNK có thể thực hiện việc thanh toán các khoản tiền thuế cũng như các khoản thu khác theo quy định dưới hình thức điện tử. Hiện nay, đã có 9 ngân hàng tham gia vào hệ thống này.
Lược khai điện tử đối với hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa bằng đường hàng không (e-Manifest): giúp các công ty hàng không giảm thời gian xử lý hàng hóa xuất khẩu bằng đường hàng không đồng thời giảm thiểu các giấy tờ không cần thiết khác. Các công ty hàng không chỉ cần truyền các thông tin hàng hóa đến cơ quan HQ qua hệ thống EDI. Sau khi hàng hóa được chuyển vào máy bay, máy tính sẽ tự động in ra hóa đơn và chuyển đến cơ quan hải quan.
Lược khai điện tử đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa bằng đường biển: cho phép các hãng vận tải biển truyền các thông tin hàng hóa và các thông báo về các chuyến hàng đến trong vòng 48 giờ kể từ khi tàu đến cảng. Ngay sau đó, hệ thống EDI của hải quan sẽ tiếp nhận và tự động trả lời đến các hệ thống của các hãng vận tải và lúc này hàng có thể được phép dỡ khỏi tàu, giảm thiểu các loại giấy tờ không cần thiết.
Lược khai điện tử đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa bằng đường biển (e-Container): giúp tăng nhanh quá trình dỡ hàng và kiểm tra hàng, giảm bớt tình trạng tắc nghẽn tại bãi container. Các công ty XNK có thể nộp các bản sao giai đoạn kiểm tra cuối cùng. Giai đoạn thử nghiệm của dự án được thực hiện tại cảng Bangkok và Laem Chabang.
Hiện nay, Hải quan Thái Lan đang tiếp tục thực hiện một dự án mới (2013-2015) nhằm chuyển đổi từ hệ thống đóng sang hệ thống mở, tuân theo các chuẩn mực quốc tế. Hệ thống này có thể kết nối với tất cả các bên có liên quan như cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ trong nước và quốc tế bằng nhiều phương tiện khác nhau (Single Window – một cửa). Mọi dữ liệu do các cơ quan này cung cấp sẽ được dùng chung cho tất cả các cơ quan khác, không phải chờ đợi, mất thời gian và tốn kém chi phí. Vừa qua, hệ thống Single Window đã được các quốc gia trong ASEAN nhất trí lựa chọn và triển khai trong toàn khu vực thông qua Hiệp định khung E-ASEAN.
Trước mắt, trong giai đoạn thử nghiệm, Ủy ban quốc gia về nâng cao năng lực Thái Lan và các đơn vị hải quan biên giới đã lựa chọn một điểm tiếp nhận và xử lý dữ liệu liên quan đến việc thông quan hàng hóa. Điểm này do cơ quan hải quan quản lý và kết hợp với sự kiểm soát của các bộ ngành có liên quan. Cùng thời gian này, hệ thống đăng ký điện tử được triển khai để cung cấp ứng dụng trực tuyến cho các doanh nghiệp thông qua internet.
1.7. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Hải quan Việt Nam
Từ kinh nghiệm của Thái Lan, Singapore và Nhật Bản trên đây có thể rút ra một số bài học thành công và không thành công cho Hải quan Việt Nam.
1.7.1. Bài học thành công
Bài học thứ nhất, khi thực hiện HQĐT cần phải có kế hoạch tổng thể và kế hoạch đó phải được dựa trên kết quả đánh giá trình độ phát triển CNTT, trình độ quản lý của nhà nước và mức độ sẵn sàng thực hiện của doanh nghiệp. Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa các trụ cột hải quan – doanh nghiệp, hải quan – hải quan trong triển khai thực hiện HQĐT sẽ là nền tảng vững chắc cho một kế hoạch thành công.
Bài học thứ hai, tăng tiến độ đồng bộ hóa giữa HQĐT với chính phủ điện tử để thực hiện các kết nối tự động giữa hải quan với các tổ chức liên quan trong các bộ, ngành, địa phương. Kinh nghiệm này của các nước trên đã cho thấy mặc dù hải quan có thể đi trước một bước về thực hiện “điện tử hoá” trong hoạt động quản lý nhà nước của mình, nhưng không thể đi trước thêm bước nữa nếu các ngành khác trong quản lý nhà nước vẫn thực hiện các thủ tục hành chính theo phương thức thủ công, truyền thống.
Bài học thứ ba, cân nhắc áp dụng khi xây dựng, phát triển hệ thống thông quan điện tử tự động phải áp dụng các nội dung chuẩn mực hải quan hiện đại và luôn có sự cập nhật sau theo lộ trình vào các hệ thống thông quan điện tử để kịp thời nâng cấp đáp ứng yêu cầu thực tiễn trở thành hệ thống xử lý điện tử thông minh linh hoạt không bị lạc hậu phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trong bối cảnh khu vực và quốc tế hiện nay.
Bài học thứ tư, tập trung xây dựng, thu thập nguồn thông tin tình báo hải quan và mở rộng áp dụng kỹ thuật QLRR tự động cho từng nghiệp vụ hải quan của cả ba khâu trước – trong – sau thông quan hàng hóa.
1.7.2. Bài học chưa thành công Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
Bài học thứ nhất, tiếp nhận xử lý thông tin khai báo thủ tục HQĐT phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống VAN.
Việc phụ thuộc hoàn toàn trong tiếp nhận thông tin khai báo từ doanh nghiệp đến cơ quan hải quan bằng một hệ thống VAN duy nhất của tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài dẫn đến tình trạng có giai đoạn độc quyền và thu phí dịch vụ cao (trung bình 2USD/1 tờ khai), dẫn tới doanh nghiệp từ bỏ khai báo HQĐT chuyển một phần sang khai báo thủ công dẫn đến khó khăn trong quản lý cho cả hải quan và doanh nghiệp.
Từ bài học này, để quá trình triển khai HQĐT Việt Nam theo hướng áp dụng các chuẩn mực hải quan hiện đại tránh thất bại, cần thực hiện:
Quá trình xây dựng chính sách, cơ sở pháp lý: Hải quan Việt Nam phải xác lập và công bố hệ thống tiêu chuẩn dữ liệu trong kết nối, tiếp nhận HQĐT trên cơ sở bộ chuẩn dữ liệu mở của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) đã ban hành, làm căn cứ cho các doanh nghiệp và cơ quan liên quan tiến hành xây dựng hệ thống phần mềm quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, thực hiện HQĐT. Đồng thời chính sách này phải cho phép doanh nghiệp và các cơ quan liên quan được quyền lựa chọn nhiều phương án kết nối với cơ quan hải quan để thực hiện HQĐT.
Hải quan Việt Nam khi xây dựng hệ thống CNTT triển khai HQĐT: cần phải tiến hành cấu trúc, mở rộng hệ thống theo hướng mở, để tạo điều kiện kỹ thuật cho phép doanh nghiệp được quyền chủ động lựa chọn công nghệ khai báo qua nhiều hình thức mạng Internet, VAN, vệ tinh… Nhằm đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp cũng như mức độ tương thích công nghệ về kỹ thuật khai báo HQĐT; điều này sẽ tạo tiền đề để nâng cao trình độ HQĐT theo chuẩn mực hải quan hiện đại; để tiến tới mục tiêu cho phép doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan XNK hàng hóa, phương tiện vận tải ở “mọi lúc – mọi nơi – mọi phương tiện”.
Bài học thứ hai, áp dụng nguyên mẫu nội dung các chuẩn mực không phù hợp với thực tiễn hệ thống cơ sở pháp lý và thông lệ ngoại thương của quốc gia.
Hệ thống chuẩn mực hải quan được các tổ chức WCO, WTO, UN xây dựng dựa trên đặc điểm chung nhất giữa các quốc gia trong tập quán, thông lệ thương mại chung. Trong giai đoạn đầu Hàn Quốc và Nhật Bản áp dụng theo nguyên mẫu trong khi điều kiện về pháp lý và CNTT và tập quán văn hóa quản lý chưa theo kịp đã dẫn đến thất bại trong chuyển đổi thủ tục hải quan thủ công sang điện tử. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
- Kinh nghiệm từ bài học này Hải quan Việt Nam trong quá trình triển khai HQĐT, cần phải triển khai:
Khi nội luật hóa, xây dựng cơ sở pháp lý HQĐT Hải quan Việt Nam phải tiến hành: đánh giá đầy đủ toàn diện thực trạng hệ thống pháp lý hiện hành của Việt Nam, đánh giá các yếu tố tác động trực tiếp và các điều kiện về khả năng thực thi các chuẩn mực trong điều kiện của quốc gia.
Xác định rõ phạm vi nội dung, lộ trình cho từng giai đoạn với bước đi phù hợp trong ứng dụng nội luật hóa từng chuẩn mực hải quan hiện đại vào hệ thống văn bản pháp lý quy định HQĐT của Việt Nam; bao gồm các luật chuyên ngành (hải quan, thuế XNK, thương mại, CNTT…) để đảm bảo sự phù hợp, khả thi, hợp hiến, hợp lý của các quy định pháp lý.
Rà soát, đánh giá mức độ tương thích và khả năng sẵn sàng của các điều kiện cần thiết về: con người, cơ sở hạ tầng, trình độ công nghệ của quốc gia khi tiến hành áp dụng chuẩn mực vào thực tiễn. Từ đó làm căn cứ đưa ra các giải pháp, bước đi phù hợp khả thi hướng tới chuẩn mực hải quan hiện đại.
Quá trình áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại vào thực hiện HQĐT: cho phép cơ quan hải quan dựa vào tình hình thực tiễn, trình độ của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, năng lực đáp ứng của cán bộ hải quan để triển khai phạm vi áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại trong từng giai đoạn cụ thể.
Thực hiện HQĐT theo hệ thống các chuẩn mực hải quan hiện đại là hướng đi cho tất cả các nước trong đó có Việt Nam, tuy nhiên quá trình ứng dụng này cần phải xây dựng lộ trình, bước đi phù hợp với khả năng đáp ứng của quốc gia trong từng giai đoạn để đảm bảo mục tiêu thành công hướng tới công tác quản lý hải quan hiện đại đến năm 2029.
Kết luận Chương 1
Nghiên cứu về thủ tục HQĐT học viên đã bắt đầu xuất phát từ khung lý thuyết các khái niệm cơ bản để hiểu rõ bản chất của vấn đề nghiên cứu về hải quan, thủ tục hải quan, thủ tục HQĐT.
Học viên đã luận giải sâu về lý thuyết những yếu tố tác động đến quá trình áp dụng chuẩn mực hải quan hiện đại vào triển khai HQĐT như: yếu tố bên ngoài (của quốc gia, quốc tế), yếu tố bên trong (nhận thức, bộ máy tổ chức, kỹ thuật khoa học công nghệ, nguồn lực). Từ đó nêu ra những quan điểm mới về lý thuyết các khái niệm thủ tục HQĐT, chuẩn mực hải quan hiện đại.
Thủ tục HQĐT là vấn đề mới ở Việt Nam nhưng đã được quốc tế ứng dụng từ lâu, đã có hơn 90 nước trên thế giới đã thực hiện; do đó học viên đã chọn một số quốc gia để nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng và triển khai thủ tục hải quan điện tử. Tiêu biểu là Singapore, Nhật Bản, Thái Lan là những quốc gia có nền giao thương và tập quán văn hóa quản lý nhà nước gần gũi với Việt Nam, đồng thời cũng là quốc gia có công nghệ quản lý hải quan hiện đại phù hợp để Hải quan Việt Nam tiếp thu. Từ kinh nghiệm các nước, tác giả đã rút ra 4 bài học thành công và 2 bài học không thành công cho Hải quan Việt Nam để định hướng khi thực hiện hoàn thiện HQĐT. Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng thủ tục hải quan điện tử trong thông quan

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Đẩy mạnh thực hiện hải quan điện tử trong thông quan […]