Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thái Nguyên là một trong số các đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý nằm ở vùng Đông Bắc. Về tiềm năng, Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như sắt, than đá, đá vôi,… Về nhân lực, tỉnh cũng là một trong số các địa phương tập trung đông dân cư từ nhiều vùng miền (chủ yếu là các tỉnh vùng trung du, miền núi phía Bắc), có đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước giàu kinh nghiệm, cũng là một trong số các địa phương phát triển nhất về giáo dục và đào tạo (sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, trình độ phát triển kinh tế- xã hội vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng, phúc lợi xã hội dành cho người dân trên địa bàn thành phố còn thấp do cơ sở hạ tầng kém phát triển, đặc biệt đối với các vấn đề về môi trường, trong đó nhức nhối nhất là môi trường nước và vấn đề thoát nước thải trên địa bàn thành phố.

Theo điều tra khảo sát cũng như quan sát thực tế, toàn địa bàn thành phố thường xuyên xảy ra tình trạng úng ngập ở nhiều điểm có đông dân cư sinh sống (9 phường trọng điểm), thời gian ngập lâu, độ ngập sâu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của nhân dân. Trước thực trạng đó, dựa trên sự đề xuất của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Nguyên với Chính phủ, Chính phủ Việt Nam đã ký kết với Chính phủ Cộng hòa Pháp Nghị định thư Pháp- Việt 1998 nhằm vay vốn ODA để hỗ trợ tỉnh Thái Nguyên thực hiện dự án thoát nước và xử lý nước thải trên địa bàn thành phố. Theo kế hoạch phê duyệt năm 2000, dự án dự kiến đi vào vận hành từ năm 2008, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan khiến tiến độ thi công các công trình xây dựng bị kéo dài dẫn đến dự án bị chậm tiến độ và liên tục phải nâng tổng mức đầu tư (lần 1 năm 2007, lần 2 năm 2010), gây thiệt hại cho ngân sách cũng như không đảm bảo được mục tiêu dự án đề ra.

Xuất phát từ thực tiễn, việc nghiên cứu, tìm hiểu những nguyên nhân gây chậm tiến độ thi công các công trình xây dựng của dự án và tìm giải pháp cho thực trạng đó là điều hết sức cần thiết. Do đó, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng tại Ban quản lý dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên” làm luận văn thạc sĩ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đánh giá thực trạng quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý tiến độ thi công đối với các công trình xây dựng thuộc dự án.

Đề xuất một số giải pháp đối với Ban quản lý dự án nhằm hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công các công trình xây dựng của dự án Thoát nước và xử lý nước thải Thành phố Thái Nguyên.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng: Công tác quản lý của Ban quản lý dự án đối với tiến độ thi công các công trình xây dựng trong Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên.

3.1 Về phạm vi:

Phạm vi về không gian: Các vấn đề liên quan đến tình hình thi công công trình xây dựng trên địa bàn thực hiện dự án, bao gồm 9 khu vực trọng điểm của thành phố: phường Quang Trung, Quán Triều, Quang Vinh, Đồng Quang, Phan Đình Phùng, Hoàng Văn Thụ, Trưng Vương, Gia Sàng, Túc Duyên.

Phạm vi về nội dung: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Dự án thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên bao gồm: Bộ máy quản lý tiến độ thi công dự án;Lập kế hoạch tiến độ thi công;Triển khai hỗ trợ tổ chức thi công;Kiểm soát tiến độ thi công;Điều chỉnh tiến độ thi công. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tiến độ thi công nhìn từ môi trường bên trong và môi trường bên ngoài của Ban quản lý dự án.

3.2 Phạm vi về thời gian:

  • Số liệu sơ cấp được tiến hành thu thập qua phiếu điều tra về tình hình quản lý tiến độ thi công của Ban quản lý dự án từ tháng 6 đến tháng 9 năm 2016
  • Số liệu thứ cấp: được thu thập, tổng hợp trong giai đoạn 2010- 2015.

4. Ý nghĩa khoa học của luận văn/Những đóng góp mới

Nghiên cứu, tìm hiểu các hạn chế còn tồn tại về cơ chế quản lý tiến độ thi công công trình của Ban quản lý dự án, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp đối với Ban quản lý dự án nhằm hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công, hướng tới giải quyết sự chậm trễ, kéo dài tiến độ thi công các công trình xây dựng của dự án Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên.

Đóng góp mới: Xác định mối tương quan giữa chậm tiến độ thi công và chậm tiến độ dự án, đề xuất những giải pháp đối với Ban quản lý dự án nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công công trình xây dựng, hướng tới đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đầu tư sử dụng Ngân sách Nhà nước, từ đó giúp tiết kiệm cho Ngân sách, tăng hiệu quả kinh tế- xã hội.

5. Bố cục của luận văn Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn được trình bày như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án
  • Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 3: Thực trạng quản lý tiến độ thi công Dự án Thoát nước và xử lý nước thải Thành phố Thái Nguyên của Ban quản lý dự án
  • Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án

1.1.1. Công trình xây dựng và tiến độ thi công công trình xây dựng

  • Khái niệm công trình xây dựng

Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. “Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình khác”[16].

“Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình”[16].

  • Đặc điểm của công trình xây dựng

Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước. Hơn thế, đầu tư XDCB gắn liền với ứng dụng các công nghệ hiện đại, do đó góp phần thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất, có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích lũy nói riêng cùng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB.

So với các ngành sản xuất khác, sản phẩm XDCB – công trình xây dựng – có những đặc điểm kinh tế – kỹ thuật đặc trưng, được thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây dựng và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành.

Đặc điểm của công trình xây dựng là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn, đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng phát triển của xã hội để tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một công trình xây dựng cần phải phù hợp với văn hóa dân tộc. Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia như tháp Effel của Pháp, tượng nữ thần tự do của Mỹ, chùa Một Cột của Việt Nam,… Chất lượng của các công trình xây dựng có tính chất đặc thù trên là điều luôn cần được lưu tâm, nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình mà còn cả sự an toàn đối với người sử dụng. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Công trình xây dựng mang tính tổng hợp, phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Các công trình xây dựng rất đa dạng nhưng lại có tính độc lập, mỗi công trình có thiết kế kỹ thuật riêng, sử dụng công nghệ riêng, dự toán riêng. Công trình phát huy hiệu quả sử dụng tại nơi xây dựng. Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng.

Thời gian thi công công trình xây dựng thường kéo dài, phụ thuộc quy mô và tính chất kỹ thuật phức tạp của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công có những công việc khác nhau, thêm vào đó, các giai đoạn thi công phần lớn được tiến hành ngoài trời nên chịu tác động lớn của các yếu tố thời tiết và môi trường. Điều này đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những yếu tố tác động này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng của nó tới tiến độ thi công.

Công trình xây dựng là đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng. Các công trình được coi như tiêu thụ trước khi xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thỏa thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hóa của công trình xây dựng không được thể hiện rõ bởi vì công trình xây dựng là hàng hóa đặc biệt.

1.1.1.3. Vai trò của công trình xây dựng trong phát triển hạ tầng cơ sở

Công trình xây dựng là sản phẩm được thực hiện thông qua quá trình xây dựng cơ bản, là một nội dung chủ yếu của phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở, được thực hiện sau công tác quy hoạch của vùng, miền, địa phương. Tùy vào mục tiêu chiến lược mà từng vùng, miền, địa phương đặt ra, công tác xây dựng cơ sở hạ tầng cần phải đảm bảo được các yêu cầu đề ra trong quy hoạch phát triển hạ tầng cơ sở. Do đó, công trình xây dựng có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định bộ mặt, tính có ích của hệ thống cơ sở hạ tầng trong mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của vùng, miền, địa phương đó.

Dựa vào tính chất, chức năng, công trình cơ sở hạ tầng được chia làm 3 loại: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội, cơ sở hạ tầng môi trường.

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: là các công trình xây dựng phục vụ cho sản xuất, nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội như đường giao thông, hệ thống điện, mạng lưới thông tin liên lạc,…

Cơ sở hạ tầng xã hội: là các công trình xây dựng phục vụ công ích, cải thiện, có vai trò nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn xây dựng công trình như bệnh viện, trường học, công viên,…

Cơ sở hạ tầng môi trường: là các công trình xây dựng phục vụ mục đích bảo vệ môi trường sinh thái cũng như môi trường sống của người dân như các công trình thoát nước, xử lý nước thải, rác thải,…

Các cơ sở hạ tầng là kết quả của hoạt động đầu tư phát triển nên mang trọn vẹn đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển:

Cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, hoạt động thu hồi được thực hiện trực tiếp qua vận hành công trình hoặc gián tiếp qua các hoạt động khác liên quan đến công trình.

Thời kỳ đầu tư kéo dài, tính từ khi bắt đầu khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đi vào hoạt động.

Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: bắt đầu từ khi công trình đi vào hoạt động đến khi hết hạn sử dụng, đào thải công trình. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Các kết quả đầu tư được phát huy và sử dụng ngay tại địa bàn xây dựng, ví dụ đường giao thông, hệ thống thoát nước, hệ thống cảng biển,…

Thời gian khê đọng vốn dài, hoạt động đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro: hầu hết các hoạt động đầu tư phát triển kéo dài từ vài năm đến vài chục năm, các rủi ro thường xảy ra khi thời gian thực hiện đầu tư bị kéo dài so với kế hoạch như thất thoát vốn đầu tư, trượt giá thiết bị, nguyên- vật liệu khiến nâng tổng mức đầu tư,…

1.1.2. Quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án

1.1.2.1. Khái niệm quản lý tiến độ thi công

Thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình.

Tiến độ thi công (TĐTC) là một sơ đồ bố trí tiến trình thực hiện các hạng mục công việc nhằm xây dựng công trình theo hợp đồng thi công đã ký giữa chủ đầu tư và nhà thầu thi công.

Kế hoạch tiến độ thi công công trình xây dựng là bản kế hoạch xác định trình Tác giả các công việc xây dựng cơ bản, thời gian thi công từng hạng mục và toàn bộ thời gian cần thiết để hoàn thành công trình xây dựng.

Kế hoạch tiến độ thi công công trình xây dựng (sau đây gọi tắt là tiến độ thi công) là một loại “sơ đồ” quy định rõ trình tự bắt đầu và kết thúc thực hiện từng hạng mục công việc của một dự án hay công trình xây dựng. Bản chất của tiến độ là kế hoạch thời gian, do đó, tiến độ thi công công trình xây dựng được xem xét qua đại lượng thời gian. Đó là khoảng thời gian tính từ khi bắt đầu khởi công xây dựng đến khi hoàn thiện và nghiệm thu, sử dụng công trình. Tiến độ thi công công trình được lập song song với quá trình lập tiến độ thực hiện dự án, phản ánh đầy đủ tính phức tạp của tiến trình thực hiện một dự án hay công trình xây dựng, đã xem xét một cách tổng hợp về các mặt: công nghệ – kỹ thuật, tổ chức, tài chính, hiệu quả kinh tế và vệ sinh – an toàn lao động.

Vai trò của kế hoạch tiến độ thi công là rất lớn, góp phần không nhỏ thực hiện các mục tiêu của dự án“Chất lượng- Thời gian- An toàn- Hiệu quả”. Thể hiện qua các đặc điểm sau:

  • Việc chậm trễ trong quá trình thực hiện tiến độ sẽ ảnh hướng rất lớn đến chi phí và hiệu quả đầu tư;
  • Kế hoạch tiến độ là cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát, điều hành sản xuất và quản lý công trình xây dựng;
  • Kế hoạch tiến độ là định hướng, là căn cứ cho hoạt động quản lý và chỉ đạo các chủ thể tham gia thực hiện dự án;

Chủ đầu tư cần tiến độ để cân đối tổng thể kế hoạch của mình, chuẩn bị tiền vốn để đáp ứng nhu cầu của nhà thầu. Nhờ có kế hoạch tiến độ mà chủ đầu tư lựa chọn phương án bỏ vốn một cách hiệu quả hơn và có kế hoạch giám sát, giao nhận và thanh quyết toán kịp thời cho nhà thầu; Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Nhà thầu có kế hoạch tiến độ để chỉ đạo và điều hành thi công đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong hợp đồng, đồng thời là cơ sở để nhà thầu lên kế hoạch huy động vốn và đưa ra các biện pháp nhằm giảm chi phí, rút ngắn thời hạn, đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường và nhằm mục tiêu có lãi;

Với cơ quan quản lý nhà nước, kế hoạch tiến độ là cơ sở khoa học để các cơ quan có thẩm quyền luận chứng, đánh giá, thẩm định và xét duyệt phương án thiết kế công trình và chuẩn bị thi công công trình.

Xuất phát từ đặc điểm của tiến độ thi công, công tác quản lý tiến độ thi công có ý nghĩa hết sức quan trọng trong mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư.

Khái niệm quản lý tiến độ thi công:

Quản lý tiến độ thi công là một nội dung nghiệp vụ của quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng.Hoạt động quản lý tiến độ thi công gắn liền với các công đoạn từ thành lập bộ máy, lên kế hoạch dự án, tổ chức đấu thầu thi công, giám sát, kiểm soát và điều chỉnh tiến độ thi công của các nhà thầu để phân tích, đánh giá, khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thi công nhằm đảm bảo tiến độ thi công nằm trong kế hoạch tiến độ đã đề ra.

Quản lý tiến độ thi công thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình có những quy định pháp lý và chuyên môn, nghiệp vụ cần phải tuân theonhư sau [7]:

Công trình xây dựng trước khi triển khai phải có tiến độ thi công xây dựng. Tiến độ thi công xây dựng công trình do nhà thầu lập phải phù hợp với tiến độ tổng thể của dự án được chủ đầu tư chấp thuận.

Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm.

Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát thi công xây dựng và các bên có liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công  xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng thể của dự án.

Trường hợp xét thấy tiến độ tổng thể của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư quyết định điều chỉnh tiến độ tổng thể của dự án, trên cơ sở điều chỉnh tiến độ thi công của từng gói thầu công trình xây dựng và các gói thầu khác. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

1.1.2.2. Chủ thể quản lý tiến độ thi công là Ban quản lý dự án

Xuất phát từ thực tiễn và mục tiêu nghiên cứu, đề tài xác định nhóm các chủ thể tham gia thực hiện quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng bao gồm Nhà thầu xây dựng- Ban quản lý dự án- Chủ đầu tư- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mỗi chủ thể có chức năng, nhiệm vụ, vai trò riêng trong thực hiện nội dung quản lý nhà nước đối với tiến độ dự án cũng như tiến độ thi công công trình xây dựng thuộc dự án. Luận văn tập trung nhấn mạnh, nghiên cứu vai trò của Ban quản lý dự án trong điều hành dự án, quản lý tiến độ dự án tổng thể và tiến độ thi công các công trình xây dựng thuộc dự án.

  • Khái niệm:

Ban quản lý dự án (BQLDA) là đơn vị được chủ đầu tư lựa chọn thành lập để giúp chủ đầu tư quản lý, điều hành các công việc liên quan đến dự án với các chức năng, quyền hạn, trách nhiệm do chủ đầu tư phân giao.

  • Đặc điểm của Ban quản lý dự án:
  • Ban quản lý dự án là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư, do chủ đầu tư trực tiếp thành lập hoặc được giao quản lý.
  • Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án do chủ đầu tư quy định và phân quyền.
  • Ban quản lý dự án có thể có tư cách pháp nhân riêng hoặc sử dụng tư cách pháp nhân của chủ đầu tư để tổ chức quản lý thực hiện dự án.

Theo Nghị định 59/2015/NĐ-CP, hình thức tổ chức Ban quản lý dự án bao gồm Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực và Ban quản lý dự án một dự án. Điều 17 Nghị định này nêu rõ:

Đối với Ban quản lý dự án chuyên ngành và Ban quản lý dự án khu vực

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực (gọi tắt là Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án xây dựng) thể thực hiện chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ quản lý đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách.

Hình thức Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được áp dụng được áp dụng với các trường hợp:

  • Quản lý các dự án được thực hiện trong cùng một khu vực hành chính hoặc trên cùng một hướng tuyến;
  • Quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc cùng một chuyên ngành;
  • Quản lý các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay của cùng một nhà tài trợ có yêu cầu phải quản lý thống nhất về nguồn vốn sử dụng.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quy định.

  • Đối với Ban quản lý dự án một dự án Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Chủ đầu tư quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án để quản lý thực hiện dự án quy mô nhóm A có công trình xây dựng cấp đặc biệt, dự án áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học- Công nghệ xác nhận bằng văn bản, dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu bí mật nhà nước, dự án sử dụng vốn khác.

BQLDA đầu tư xây dựng một dự án là tổ chức sự nghiệp trực thuộc chủ đầu tư, có tư cách pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định để thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án được chủ đầu tư giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về hoạt động quản lý dự án của mình.

BQLDA đầu tư xây dựng một dự án phải có đủ điều kiện năng lực tại Khoản 3 Điều 64 Nghị định 59/2015/NĐ-CP, được phép thuê tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thực hiện một số công việc thuộc nhiệm vụ quản lý dự án của mình.

Chủ đầu tư quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức hoạt động của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án theo quy định tại Khoản 2 Điều 63 Luật Xây dựng 2014.

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, luận văn tập trung chủ yếu vào hình thức Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án (gọi tắt là Ban quản lý dự án) để làm rõ các chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Ban quản lý dự án trong công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng thuộc dự án.

BQLDA đầu tư xây dựng phải đáp ứng các điều kiện sau:

Có quyết định thành lập của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với BQLDA đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực hoặc của chủ đầu tư đối với Ban quản lý dự án do mình thành lập.

  • Có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng phù hợp với công việc quản lý dự án theo quy mô, loại dự án.
  • Có cơ cấu tổ chức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ quản lý dự án; có trụ sở, văn phòng làm việc ổn định.
  • Cá nhân đảm nhận chức danh giám đốc quản lý dự án, cá nhân trực tiếp tham gia quản lý dự án phải có chuyên môn phù hợp, được đào tạo, kinh nghiệm công tác và chứng chỉ hành nghề phù hợp với quy mô, loại dự án.

Vai trò, quyền hạn, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án trong quản lý hoạt động đầu tư:

BQLDA thay mặt chủ đầu tư thực hiện công tác quản lý với một phần hoặc toàn bộ dự án theo sự ủy quyền của chủ đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Dựa trên cơ sở hệ thống pháp luật của Việt Nam quy định về vấn đề quản lý dự án đầu tư, chủ đầu tư có 3 lựa chọn trong hình thực thực hiện, quản lý dự án đầu tư đó là: quản lý trực tiếp, thuê Tư vấn quản lý dự án, hoặc thành lập Ban quản lý dự án. Xuất phát từ thực tế và mục tiêu nghiên cứu, đề tài xác định tập trung vào vai trò của Ban quản lý dự án trong điều hành, quản lý dự án cũng như quản lý tiến độ thi công các công trình xây dựng thuộc dự án. Điều 36 Nghị định 16/2015/NĐ- CP về quản lý dự án quy định cụ thể các chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của Ban quản lý dự án như sau:

  • Thực hiện các thủ tục về giao nhận đất, xin cấp giấy phép xây dựng, chuẩn bị mặt bằng xây dựng và các công việc khác phục vụ cho việc xây dựng công trình. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.
  • Chuẩn bị hồ sơ thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình để chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt theo quy định.
  • Lập hồ sơ mời dự thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu.
  • Đàm phán, ký kết hợp đồng với các nhà thầu theo uỷ quyền của chủ đầu tư.
  • Thực hiện nhiệm vụ giám sát thi công xây dựng công trình khi có đủ điều kiện năng lực.
  • Nghiệm thu, thanh toán, quyết toán theo hợp đồng ký kết.
  • Quản lý chất lượng, khối lượng, tiến độ, chi phí xây dựng, an toàn và vệ sinh môi trường của công trình xây dựng.
  • Nghiệm thu, bàn giao công trình.
  • Lập báo cáo thực hiện vốn đầu tư hàng năm, báo cáo quyết toán khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng.

Ban Quản lý dự án được đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ điều kiện năng lực và được chủ đầu tư cho phép. Ban Quản lý dự án không được phép thành lập các Ban Quản lý dự án trực thuộc hoặc thành lập các đơn vị sự nghiệp có thu để thực hiện việc quản lý dự án.Ban Quản lý dự án được đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ điều kiện năng lực và được chủ đầu tư cho phép. Ban Quản lý dự án không được phép thành lập các Ban Quản lý dự án trực thuộc hoặc thành lập các đơn vị sự nghiệp có thu để thực hiện việc quản lý dự án.

Đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình quy mô lớn, phức tạp hoặc  theo tuyến thì Ban Quản lý dự án được phép thuê các tổ chức tư vấn để quản lý các dự án thành phần.

Ban Quản lý dự án được ký hợp đồng thuê cá nhân, tổ chức tư vấn nước ngoài có kinh nghiệm, năng lực để phối hợp với Ban Quản lý dự án để quản lý các công việc ứng dụng công nghệ xây dựng mới mà tư vấn trong nước chưa đủ năng lực thực hiện hoặc có yêu cầu đặc biệt khác.

Việc thuê tư vấn nước ngoài đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.

Trường hợp dự án thực hiện theo hình thức tổng thầu, ngoài việc phải thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại khoản 2 Điều này, Ban Quản lý dự án còn phải thực hiện các công việc sau:

Thoả thuận với tổng thầu về hồ sơ mời dự thầu, hồ sơ mời đấu thầu mua sắm thiết bị công nghệ chủ yếu và về chi phí mua sắm thiết bị thuộc tổng giá trị của hợp đồng.

Phê duyệt danh sách các nhà thầu phụ trong trường hợp chỉ định tổng thầu.

1.1.2.3. Mục tiêu quản lý tiến độ thi công của Ban quản lý dự án

Điều 31 Nghị định 59/2015/NĐ-CPquy định các nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động thi công xây dựng công trình bao gồm:

  • Quản lý chất lượng xây dựng công trình;
  • Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình;
  • Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình;
  • Quản lý chi phí xây dựng trong quá trình thi công xây dựng;
  • Quản lý hợp đồng xây dựng;
  • Quản lý an toàn lao động, môi trường xây dựng.

Đối với nội dung quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình, mục tiêu của việc lập và quản lý tiến độ là thiết lập trình Tác giả các nhiệm vụ theo mục tiêu đặt ra, phù hợp với điều kiện thực hiện cụ thể, những yêu cầu nhất định về nhân lực, thiết bị, vật tư, tài chính và quy định của pháp luật để hoàn thành dự án hay công trình với chất lượng tốt nhất, thời gian xây dựng ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Hoạt động quản lý nhắm tới việc đảm bảo tiến độ dự án, tiến độ thi công công trình xây dựng trên cơ sở phân tích, đánh giá thuận lợi cũng như khó khăn từ các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài trên quan điểm của Ban quản lý dự án.

Đối với trường hợp điều kiện thi công thuận lợi, hoạt động quản lý cần được thực hiện để xác định các yếu tố có ích cho việc đẩy nhanh tiến độ trên cơ sở đảm bảo chất lượng, giúp dự án hoàn thành vượt kế hoạch, tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả kinh tế – xã hội.

Đối với trường hợp hoạt động thi công gặp nhiều khó khăn dẫn đến chậm tiến độ, chủ thể quản lý cần thực hiện công tác quản lý nhằm tìm ra giải pháp khắc phục để giảm thiểu tối đa thiệt hại, đảm bảo tiến độ cũng như chất lượng các công trình xây dựng.

Theo một cách hiểu khác, tiến độ thi công các công trình xây dựng không khác biệt nhiều so với tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng giữa nhà thầu và chủ đầu tư. Về bản chất, tiến độ thi công công trình cụ thể hóa tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng. Trong hợp đồng xây dựng, nhà thầu và chủ thể quản lý thỏa thuận những hạng mục công trình cần thực hiện, phương án kỹ thuật, phương án tài chính đưa ra phải bám sát tổng dự toán và thiết kế tổng thể của toàn bộ dự án. Sự khác biệt giữa 2 nội dung quản lý trên nằm ở cấp độ, chủ thể, khách thể quản lý và các công việc cụ thể trong công tác quản lý:

Quản lý tiến độ dự án mang tính tổng quát, bao trùm đối với tiến độ của mỗi gói thầu: Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có kế hoạch tiến độ tổng thể, thiết kế tổng thể, và tổng dự toán. Đây là cơ sở để chủ đầu tư lập các gói thầu và mời thầu. Những nhà thầu trúng thầu buộc phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật, tài chính, phương án thực hiện hợp đồng. Chủ đầu tư (đại diện chủ đầu tư), lúc này, quản lý tiến độ dự án dựa trên quản lý tiến độ của hợp đồng xây dựng. Khách thể của hoạt động quản lý là các nhà thầu, đối tượng quản lý được xác định là các gói thầu.

Quản lý tiến độ hợp đồng xây dựng được cụ thể hóa bằng quản lý tiến độ thi công các hạng mục công trình nằm trong các gói thầu ký kết: Một dự án có thể có 1 hoặc nhiều gói thầu, các nhà thầu tham gia có thể bao gồm tổng thầu (thiết kế và thực hiện), nhà thầu chính, nhà thầu phụ tùy vào kế hoạch phân chia gói thầu của chủ đầu tư. Để đảm bảo tiến độ dự án đúng kế hoạch, chủ đầu tư (hoặc đại diện chủ đầu tư) cần quản lý các nhà thầu đảm bảo thực hiện đúng tiến độ các gói thầu (hợp đồng xây dựng).

Xét từ góc độ chủ thể quản lý dự án là Ban quản lý dự án, việc quản lý tiến độ dự án được thực hiện song song với quản lý tiến độ hợp đồng của các nhà thầu tham gia dự án thông qua quản lý tiến độ thi công các công trình xây dựng. Đồng thời,

BQLDA cũng chịu sự quản lý của chủ đầu tư/cơ quan chủ quản trong điều hành thực hiện dự án đầu tư, chịu trách nhiệm trong mọi vấn đề liên quan đến dự án được chủ đầu tư/cơ quan chủ quản ủy quyền. Với mô hình thực hiện dự án đầu tư có sự tham gia của Ban quản lý dự án, Ban quản lý dự án đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu của dự án vì là đơn vị trực tiếp thực hiện mọi công việc liên quan đến dự án. Việc kiểm soát tiến độ của một dự án tổng thể hoặc tiến độ của các công trình xây dựng thuộc dự án phụ thuộc rất nhiều vào năng lực quản lý của Ban quản lý dự án. Trong trường hợp Ban quản lý dự án được giao quyền làm chủ đầu tư, phạm vi của Ban quản lý dự án được mở rộng hơn, tuy nhiên vẫn nằm trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm mà cơ quan chủ quản giao phó. Ban quản lý dự án không quản lý tiến độ thi công trực tiếp thông qua giám sát từng hạng mục công trình, công trình về mặt kỹ thuật, thay vào đó, Ban quản lý dự án xây dựng cơ chế quản lý, giám sát, kiểm soát tiến độ thực hiện gói thầu của các nhà thầu tham gia dự án trên cơ sở quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Xuất phát từ các quan điểm trên, mục tiêu của quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng có sự trùng khớp với mục tiêu của quản lý tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng cũng như tiến độ thực hiện dự án, đó là hướng đến đảm bảo dự án, các công trình thuộc dự án được thực hiện đúng tiến độ kế hoạch đề ra, đảm bảo chất lượng theo thiết kế phê duyệt. 

1.1.2.4. Quy trình quản lý tiến độ thi công

Đối với mọi dự án đầu tư xây dựng công trình, thực hiện dự án trong một thời gian đã hoạch định là một trong những mục tiêu quan trọng nhất để đánh giá về tính hiệu quả mà dự án mang lại.

Quy trình quản lý tiến độ thi công là một quy trình khép kín, bắt đầu từ thời điểm chuẩn bị đầu tư xây dựng và kết thúc khi công trình được nghiệm thu, bàn giao, đưa vào sử dụng. Dựa trên “khung xương” là bảng phân công công việc toàn diện của dự án, các nhà quản lý có trách nhiệm phải đảm bảo các công việc được thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra. Khi thực hiện việc quản lý tiến độ thi công dự án, công trình thuộc dự án, nhà quản lý phải trả lời được các câu hỏi sau:

  • Thời gian cần thiết để hoàn thành toàn bộ dự án là bao nhiêu?
  • Điểm bắt đầu – kết thúc của mỗi công việc thuộc dự án?
  • Những công việc nào cần được ưu tiên tập trung nguồn lực để hoàn thành?

Những công việc nào cho phép có độ trễ?

  • So với kế hoạch tiến độ ban đầu, có thể rút ngắn thời gian hoàn thành dự án không? Nếu có thể thì thời gian được rút ngắn là bao lâu, bao gồm những công việc gì?

Sơ đồ 1.1 Quy trình quản lý tiến độ thi công dự án

1.1.2.5. Phương pháp quản lý tiến độ thi công

Để thực hiện quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng đảm bảo các mục tiêu đề ra, Ban quản lý dự án áp dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

  • Phương pháp hành chính Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

BQLDA đầu tư xây dựng là đơn vị được chủ đầu tư/cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư thành lập, thay mặt chủ đầu tư thực hiện việc quản lý, sử dụng phần vốn của nhà nước để thực hiện các dự án đầu tư xây dựng. Ban quản lý dự án có quyền và nghĩa vụ do chủ đầu tư/cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư quy định theo các quy phạm pháp luật. Do đó, tuy không phải là một cơ quan quản lý hành chính nhà nước nhưng Ban quản lý dự án vẫn có chức năng thực hiện quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực, chuyên môn được giao.Trong quá trình điều hành thực hiện dự án, Ban quản lý dự án thay mặt nhà nước làm việc với các đối tác trên tinh thần làm đúng – đủ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Tuy phạm vi áp dụng phương pháp này của Ban quản lý dự án là khá hạn chế, nhưng trong một số trường hợp cụ thể lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu của công tác quản lý. Đặc biệt, đối với những trường hợp các nhà thầu tham gia dự án cố tình làm sai các nguyên tắc, quy định của pháp luật trong lĩnh vực đầu tư xây dựng dự án, gây ảnh hưởng tới không chỉ tiến độ thi công công trình mà cả tổng thể dự án nói chung, trong phạm vi quyền lực được giao, Ban quản lý dự án có quyền cưỡng chế các nhà thầu thực hiện quyết định quản lý của mình. Trường hợp vượt quá thẩm quyền, Ban quản lý dự án có quyền kiến nghị phương án xử lý hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có liên quan tham gia phối hợp, thực hiện chức năng quản lý phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo tính răn đe, hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra. Ứng dụng trong công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng, Ban quản lý dự án có quyền ra quyết định hành chính trong một số trường hợp như đình chỉ thi công của nhà thầu, thay thế nhà thầu, thay đổi cơ cấu bộ máy tổ chức của Ban quản lý dự án,…nếu xét thấy với tình hình hoạt động thực tế, kết quả của công tác quản lý không đạt so với mục tiêu đề ra.

  • Phương pháp kinh tế

Phương pháp này được áp dụng với mục đích nhằm khuyến khích các đối tượng quản lý tự giác, chủ động hoàn thành tốt công việc được giao bằng những lợi ích kinh tế thiết thực. Quá trình điều hành, thực hiện, quản lý dự án, Ban quản lý dự án không phải là chủ thể thực hiện mọi công đoạn mang tính chất kỹ thuật, thay vào đó, Ban quản lý dự án là chủ thể thực hiện việc điều hòa, phối hợp hoạt động của bộ máy điều hành của Ban, đồng thời đại diện nhà nước để đàm phán, hợp tác kinh tế với các chủ thể kinh tế trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, phạm vi giới hạn là dự án đầu tư của Ban quản lý dự án.Áp dụng trong công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng, Ban quản lý dự án có thể tạo động lực, khuyến khích các đối tượng quản lý hoàn thành sớm công việc đã ký kết giữa các bên theo hợp đồng thương thảo, đổi lại, đối tượng quản lý sẽ được thưởng hoàn thành hợp đồng trước thời hạn. Phương pháp kinh tế có ý nghĩa rất lớn trong việc động viên, tạo động lực cho các chủ thể kinh tế tham gia dự án chủ động, tích cực hơn trong quá trình thực hiện hợp đồng, góp phần đẩy nhanh tiến độ của không chỉ công trình, hạng mục công trình mà còn cả tổng thể dự án.

Mỗi công trình xây dựng thuộc dự án trước khi triển khai đầu tư, xây dựng phải được lập kế hoạch tiến độ thi công phù hợp với tiến độ tổng thể của dự án đã được phê duyệt. Nhà thầu thi công xây dựng công trình có nghĩa vụ lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết của công trình đã trúng thầu, bố trí xen kẽ kết hợp các công việc cần thực hiện nhưng phải bảo đảm phù hợp với tiến độ tổng thể của dự án.Đối với mỗi nhà thầu thi công, các công trình xây dựng thuộc dự án là một dự án nhỏ, do nhà thầu chịu trách nhiệm gần như toàn diện. Công tác quản lý tiến độ thi công công trình được thực hiện trên cơ sở kế hoạch tiến độ do nhà thầu lập và có sự tham gia quản lý của nhiều đơn vị có liên quan,trong đó, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất là Ban quản lý dự án, các chủ thể quản lý khác bao gồm đơn vị tư vấn – giám sát, nhà thầu, các cơ quan nhà nước hữu quan.

Quá trình quản lý tiến độ dự án nói chung và quản lý tiến độ thi công công trình nói riêng, Ban quản lý dự áncó trách nhiệm căn cứ vào kế hoạch đấu thầu đã được phê duyệt phối hợp với các bên có liên quan như nhà thầu thi công, tư vấn – giám sát,…để tiến hành theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình. Căn cứ kết quả thực hiện xây dựng thực tế, Ban quản lý dự án có thể ra quyết định điều chỉnh trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Việc theo dõi, giám sát tiến độ công trình xây dựng được thực hiện thường xuyên, định kỳ theo ngày, tuần, tháng, quý và năm. Ban quản lý dự án có trách nhiệm phối hợp với tư vấn – giám sát tiến hành thanh tra, kiểm tra,báo cáo tiến độ của nhà thầu và so sánh tiến độ thực tế với tiến độ theo kế hoạch. Trường hợp xét thấy tổng tiến độ của dự án bị kéo dài thì chủ đầu tư phải báo cáo với cơ quan quản lý cấp cao hơn để đưa ra quyết định điều chỉnh tổng tiến độ của dự án.

1.1.2.6. Nội dung quản lý tiến độ thi công

a) Lập kế hoạch dự án tổng thể và từng gói thầu

  • Khái niệm và vai trò của kế hoạch tiến độ trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

Kế hoạch tiến độ thực hiện dự án là bản kế hoạch xác định trình Tác giả các công việc, thời gian thực hiện từng công việc và toàn bộ thời gian thực hiện dự án.

Kế hoạch tiến độ có vai trò hết sức quan trọng đối với việc xây dựng các nội dung kế hoạch khác và đến việc triển khai dự án: Trước hết kế hoạch tiến độ giúp người quản lý có được một sự hình dung tổng quát về toàn bộ công việc cần thực hiện và tiến trình thực hiện các công việc đó để hoàn thành mục tiêu dự án, làm cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch cung ứng và điều phối tài nguyên thực hiện dự án; làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đấu thầu triển khai, kế hoạch với các nhà thầu khác… Trong hệ thống kế hoạch dự án, kế hoạch tiến độ được xem là kế hoạch nền tảng và phải xác lập trước các nội dung kế hoạch khác.

  • Các công cụ xây dựng kế hoạch tiến độ

Biểu đồ Gantt

Biểu đồ Gantt của dự án được đánh dấu để biểu diễn rõ tiến triển thực tế tại thời điểm báo cáo.

Biểu đồ Gantt là phương pháp trình bày tiến trình thực tế cũng như kế hoạch thực hiện các công việc của dự án theo trình tự thời gian. Mục đích của Gantt là xác định một tiến độ hợp lý nhất để thực hiện các công việc khác nhau của dự án. Tiến độ này tuỳ thuộc vào độ dài công việc, những điều kiện ràng buộc và kỳ hạn phải tuân thủ.

Cấu trúc của biểu đồ:

  • Cột dọc trình bày công việc, thời gian tương ứng để thực hiện từng công việc. Được trình bày trên trục hoành.
  • Mỗi đoạn thẳng biểu hiện một công việc. Độ dài đoạn thẳng là độ dài công việc. Vị trí của đoạn thẳng thể hiện quan hệ thứ tự trước sau giữa các công việc. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Ví dụ biểu đồ Gantt cho chương trình bình thường của dự án M thể hiện trong hình 1.1 (Hình này được vẽ bằng phần mềm WinProject 5.0)

Biểu đồ Gantt có một số tác dụng sau:

  • Phương pháp biểu đồ Gantt dễ đọc, dễ nhận biết hiện trạng thực tế của từng nhiệm vụ cũng như tình hình chung của toàn bộ dự án.
  • Dễ xây dựng, do đó nó được sử dụng khá phổ biến.
  • Thông qua biểu đồ có thể thấy được tình hình nhanh chậm của các công việc, và tính liên tục của chúng. Trên cơ sở đó có biện pháp đẩy nhanh tiến trình, tái sắp xếp công việc để đảm bảo tính liên tục và tái phân phối lại nguồn lực cho từng công việc nhằm đảm bảo tính hợp lý.
  • Biểu đồ thường có một số ký hiệu riêng để nhấn mạnh những vấn đề liên quan đặc biệt đến công việc.
  • Đôi khi người ta xây dựng hai sơ đồ Gantt: một cho thời gian triển khai sớm nhất và một cho thời gian triển khai muộn nhất. Để xây dựng sơ đồ Gantt triển khai muộn người ta xuất phát từ sơ đồ Gantt triển khai sớm. Các công việc có thể triển khai muộn nhưng thời gian bắt đầu và kết thúc dự án không được thay đổi.

Hạn chế của Gantt: Đối với những dự án phức tạp gồm hàng trăm công việc cần phải thực hiện thì biểu đồ Gantt không thể chỉ ra đủ sự tương tác và mối tương quan giữa các loại công việc. Trong nhiều trường hợp nếu phải điều chỉnh lại biểu đồ thì thực hiện rất khó khăn phức tạp. Khó nhận biết công việc nào tiếp theo công việc nào khi biểu đồ phản ánh quá nhiều công việc liên tiếp nhau.

Kỹ thuật tổng quan và đánh giá dự án PERT (Program Evaluation and Review Technique) và Phương pháp đường găng CPM (Critical Path Method).

Kỹ thuật PERT và CPM là những kỹ thuật được sử dụng để xây dựng mạng nối kết công việc. Kỹ thuật PERT lần đầu tiên được áp dụng trong hải quân Mỹ vào năm 1958 khi họ sản xuất tên lửa xuyên lục địa. Tham gia chương trình có 200 nhà cung ứng, 9.000 nhà thầu, dự kiến chương trình thực hiện trong 7 năm. Nhờ áp dụng kỹ thuật quản lý dự án này nên thời gian hoàn thành dự án giảm xuống chỉ còn 7 năm. CPM được phát triển bởi công ty Dupond trong cùng thời kỳ. Hai phương pháp này tuy có những nét khác nhau nhưng chúng có nhiều điểm giống nhau: cả hai kỹ thuật đều dẫn đến việc tính toán đường găng, cùng chỉ ra thời gian dự trữ của các công việc.

Các bước tiến hành gồm 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Lập kế hoạch dự án

Liệt kê tất cả các công việc phải thực hiện của dự án ; biểu diễn trình tự theo kế hoạch các công việc trên mạng theo thứ tự công việc nào cần làm trước, công việc nào làm sau, những công việc nào cùng làm song hành …

Bước 2: Lập tiến độ dự án

Dự đoán thời gian hoàn thành của mỗi công việc; tính toàn đường găng. Sử dụng thông tin có được để phát triển kế hoạch tiến độ hiệu quả và tiết kiệm hơn. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Bước 3: Giám sát dự án

Sử dụng kế hoạch tiến độ để kiểm soát và giám sát dự án trong quá trình thực hiện. Điều chỉnh, bổ sung và giải quyết kịp thời những bất lợi xảy ra trong quá trình thực thi.

Xác định đường găng: Sau khi thiết lập xong mạng công việc, ta xác định đường găng. Đường găng là đường dài nhất tính từ công việc đầu đến công việc cuối của dự án phản ánh thời gian tối thiểu để hoàn thành dự án. Đường găng là đường đi qua các công việc găng và sự kiện găng.

Hình 1.2. Sơ đồ mạng của dự án Z theo phương pháp AOA

Trong quản lý dự án, các công việc trên đường găng được quản lý chặt chẽ vì nếu bất cứ công việc nào bị chậm trễ thì thời gian hoàn thành dự án cũng sẽ bị kéo dài thêm một thời hạn tương ứng. Sơ đồ mạng và đường găng (theo phương pháp AOA) của dự án Z như hình 1.2.

Xác định thời gian dự trữ: Thời gian dự trữ (còn gọi là thời gian di động hay thời gian lỏng) là lượng thời gian mà một công việc có thể trì hoãn sau thời điểm bắt đầu sớm (hoặc bắt đầu muộn) mà không làm chậm lại thời hạn hoàn thành dự án , nếu các công việc khác bảo đảm đúng thời gian dự đoán.

Việc xác định thời gian di động cho phép lập kế hoạch tiến độ linh hoạt. Vì ta có thể sử dụng nó để dịch chuyển các công việc sao cho khối lượng các công việc phân bổ đều đặn hơn theo thời gian hoặc sử dụng thời gian di động như là thời gian bảo hiểm.

b) Tổ chức mời thầu, đấu thầu dự án

Với vai trò là chủ thể chịu trách nhiệm thực hiện điều hành, quản lý mọi công việc của dự án, Ban quản lý dự án tổ chức thực hiện dự án hay tổ chức thi công thông qua hoạt động đấu thầu, trên cơ sở đó, thực hiện giám sát, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động thi công thông qua giám sát, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động của các nhà thầu.

Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm giúp Ban quản lý dự án lựa chọn được những nhà thầu có năng lực chuyên môn tốt, chi phí hợp lý, có khả năng thực hiện các công việc theo cam kết đạt chất lượng, tiến độ. Công tác đấu thầu do Ban quản lý dự án tổ chức thực hiện cần tuân theo các quy định theo Luật đấu thầu, đảm bảo trung thực, công khai, minh bạch.

Công tác tổ chức thi công dự án của Ban quản lý dự án được thực hiện theo phương án bóc tách các gói thầu của Ban quản lý dự án và đơn vị Tư vấn – giám sát. Ban quản lý dự án cùng đơn vị Tư vấn – giám sát chịu trách nhiệm lập kế hoạch đấu thầu, đưa ra các tiêu chí đánh giá về kỹ thuật như bản vẽ thiết kế, phương án thi công, kế hoạch tiến độ, phương án chi phí,…và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các tiêu chuẩn đưa ra càng chặt chẽ càng giúp Ban quản lý dự án lựa chọn được những nhà thầu có năng lực chuyên môn tốt. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Về phương án, hình thức thực hiện đấu thầu: Ban quản lý dự án có thể lựa chọn tổ chức đấu thầu theo các hình thức đấu thầu rộng rãi, hạn chế, chào hàng cạnh tranh hoặc chỉ định thầu tùy theo nhu cầu dự án, tuân theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhà thầu có thể gửi hồ sơ dự thầu theo hình thức 01 túi hồ sơ hoặc 02 túi hồ sơ, tùy theo thể thức nhận hồ sơ dự thầu mà Tổ công tác đưa ra.

Công tác chấm thầu được thực hiện theo quy trình đấu thầu bởi các chủ thể Ban quản lý dự án, Tổ chấm thầu và đơn vị giám sát. Công tác này cần được thực hiện đầy đủ, chính xác, chi tiết và trung thực, các kết quả chấm thầu phải được công khai, minh bạch tới các nhà thầu tham gia dự thầu và các cơ quan hữu quan.

c) Giám sát tiến độ thi công dự án của các nhà thầu

Khái niệm và vai trò của giám sát tiến độ trong thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình

  • Khái niệm: Giám sát là thu thập, ghi nhận và báo cáo thông tin liên quan đến tất cả các khía cạnh của việc thực hiện dự án mà người quản lý dự án hay những đối tượng khác muốn xem xét.
  • Vai trò: giám sát là hoạt động giúp xác định dự án có đang được thực hiện theo đúng kế hoạch hay không, và sẽ báo cáo bất cứ sai lệch phát sinh để từ đó đề xuất hành động điều chỉnh trước khi quá muộn.

Nhu cầu thông tin và quy trình báo cáo

Nội dung của báo cáo: Sau khi thu thập xong dữ liệu, cần đưa ra những báo cáo về tiến triển của dự án gồm các loại báo cáo về tình hình thực hiện dự án, báo cáo thời gian/ chi phí, báo cáo về các sai lệch. Báo cáo cần xác định rõ nguyên nhân, tác động và lưu ý đến các xu hướng. Nếu có thể được, nên thực hiện các so sánh với phân phối thống kê của các dữ liệu trước đó. Điều này sẽ giúp người quản trị dự án và những người khác diễn giải dữ liệu cần giám sát.

Mức chi tiết của báo cáo: Hệ thống giám sát cần phải được xây dựng để hướng đến mỗi cấp quản lý, song mức độ chi tiết của các báo cáo đối với từng cấp có thể khác nhau. Nói chung, cấu trúc của hệ thống báo cáo nên phản ánh được cấu trúc phân chia công việc tương ứng với độ kiểm soát ở ừng cấp. Ở cấp quản lý thấp hơn, tần suất báo cáo cao và cần những thông tin chi tiết. Các cấp quản lý cấp cao hơn thường cần các báo cáo tổng quan mô tả tiến triển trong các phạm vi tổng hợp hơn và mật độ thấp hơn.

Tần suất: Tần suất của báo cáo phụ thuộc vào mức độ kiểm soát mong muốn và phụ thuộc vào chu kỳ sống của dự án. Báo cáo cũng có thể có tần suất thấp đối với các nhà lãnh đạo cấp cao, song tần suất sẽ dày đặc hơn nếu đó là báo cáo cho các nhà quản trị dự án và ở cấp tác nghiệp. Nói chung, tần suất của báo cáo phải đủ cao để kiểm soát toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến khi hoàn tất nhiệm vụ. Báo cáo phải chứa đựng dữ liệu phù hợp để kiểm soát nhiệm vụ cụ thể được thực hiện theo một tiến độ cụ thể. Ngoài ra, thời điểm của báo cáo nói chung nên tương thích với thời điểm của các sự kiện quan trọng của dự án. Việc xác định các sự kiện quan trọng của dự án dựa trên cơ sở đối tượng quan tâm (nhà quản trị cấp cao hay cấp thấp). Điều này có nghĩa các báo cáo dự án có thể không nhất thiết phải theo định kỳ.

Các công cụ và kỹ thuật giám sát tiến độ

  • Các biểu đồ mốc sự kiện quan trọng Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Đây là biểu đồ biểu diễn tiến độ trong đó liệt kê các mục tiêu tại các mốc sự kiện quan trọng, thời gian và các ghi chú (bình luận) để đạt được mục tiêu này.

MOC là kế hoạch quản lý cho dự án và được xây dựng nhằm duy trì tiến độ trong suốt thời gian thực hiện dự án. Các vấn đề có thể xảy ra và đòi hỏi phải thay đổi MOC bằng cách thêm vào, thay đổi hoặc xoá bỏ các mốc sự kiện hoặc thay đổi mối liên hệ logic giữa chúng. Nếu cần có thay đổi như vậy thì cần phải được báo cáo và các thay đổi này cần được kiểm soát trong tiến trình kiểm soát sự thay đổi của dự án.

  • Các chỉ số đo lường sự biến động của kế hoạch và chi phí

Đo lường sự biến động kế hoạch và chi phí thực tế riêng rẽ với nhau không đánh giá được một cách đầy đủ về tình hình thực hiện dự án. Dự án có thể sớm tiến độ song vượt quá ngân sách thì tình hình thực hiện vẫn không tốt. Do đó để đánh giá toàn diện về tình hình thực hiện dự án, cần phải xem xét đồng thời tích hợp yếu tố thời gian và yếu tố chi phí.

Ngành công nghiệp quản lý dự án đã phát triển phương pháp phân tích giá trị thu nhập (EVA). Phương pháp phân tích này thích hợp đối với tất cả các dự án, từ các dự án, mang tính phức tạp về kỹ thuật công nghệ, đến các dự án dạng đơn giảnnhư dự án như thiết kế lại nội thất nhà cửa, nó không đòi hỏi các chuyên gia về các tác vụ chi tiết. Một giải pháp thông thường để báo cáo sự hoàn tất một phần ở một tác vụ là áp dụng quy tắc 0-50-100 của các tiến trình.

Dự án đang thực hiện có đi đúng tiến độ không? Đây là câu hỏi mà tất cả các bên tham gia dự án đều muốn có câu lời giải đáp một cách thường xuyên. Câu hỏi càng trở nên khó trả lời trong trường hợp các dự án lớn có nhiều tác vụ thực hiện đồng thời. Nếu một số tác vụ vượt kế hoạch trong khi những dự án khác lại chậm tiến độ, vậy thì đâu sẽ là thực tế của một bản quy hoạch tiến độ? Đối với EVA, một chuyên gia quản lý dự án sẽ so sánh tổng số khối lượng công việc đã được thực hiện với tổng khối lượng công việc phải được thực hiện tại một thời điểm nào đó để tính toán sự biến động so với kế hoạch. Việc bám sát kế hoạch bằng EVA yêu cầu sự thấu hiểu về các thuật ngữ sau đây:

  • Giá trị hoạch định (PV): Là chi phí được hoạch định hay ngân sách của các công việc phải được hoàn thành vào một thời điểm định trước(còn được gọi là chi phí dự trù của công việc tính theo tiến độ –budgeted cost of work scheduled, hay BCWS).
  • Giá trị thu nhập – Earned value (EV): Là chi phí hoạch định (hay dự trù) của các tác vụ hoàn tất. Nó còn được gọi là chi phí dự trù của các tác vụ đã được thực hiện –budgeted cost of work performed (BCWP) – đối với dự án, bởi vì nó là giá trị của các công việc đã được hoàn tất.
  • Độ lệch kế hoạch – Schedule Variance (SV): Độ lệch kế hoạch là sự khác biệt giữa giá trị của các công việc được hoạch định và giá trị của các công việc thực tế đã đạt được. Nó dùng các giá trị về chi phí để đo lường việc thực hiện kế hoạch.

SV = EV – PV (Nếu là số âm: thực hiện trễ tiến độ).

  • Phần trăm về độ lệch kế hoạch – Schedule Variance Percent (SV%): Là tỷ số giữa độ lệch tiến độ và chi phí đến hạn theo kế hoạch. Một số SV% dương thể hiện một kết quả tốt; có nghĩa là có nhiều công việc được thực hiện hơn so với kếhoạch ban đầu. Một số SV% âm là không tốt bởi vì có ít công việc đã được hoàn tất so với kế hoạch. SV% = SV/PV.
  • Chỉ số thực hiện kế hoạch – Schedule Performance Index (SPI): Là tỷ số Giá trị thu nhập thực tế/Giá trị thực hiện kế hoạch (SPI > 1.0 = vượt trước kế hoạch, SPI < 1.0 = thực hiện sau kế hoạch).

Bên cạnh các phương pháp giám sát nêu trên, quá trình thực hiện giám sát đối với các công trình xây dựng ở Việt Nam áp dụng các công cụ phổ biến như sau: – Nhật ký thi công công trình: là bản báo cáo sơ cấp, chi tiết nhất về mỗi công trình, hạng mục công trình, được đơn vị Tư vấn – giám sát thực hiện theo từng ngày thi công. Nội dung ghi trong nhật ký thi công công bao gồm thời gian thi công, khối lượng thi công, chi phí thực hiện, đơn vị thực hiện thi công, các máy móc, trang thiết bị sử dụng trong thi công… Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Tổng hợp báo cáo tiến độ tuần, tháng, quý, năm hoặc theo kỳ thỏa thuận: Là các báo cáo tổng hợp về tiến độ thi công, khối lượng xây dựng, chi phí xây dựng…dựa trên nhật ký thi công công trình. Mỗi báo cáo tổng hợp có giá trị khác nhau, được báo cáo lên các cấp quản lý khác nhau để phục vụ mục tiêu tổng hợp, cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý.

d) Kiểm soát tiến độ thi công dự án

Khái niệm và vai trò của công tác kiểm soát tiến độ:

  • Khái niệm: kiểm soát là sử dụng thông tin do giám sát thu thập được để điều chỉnh tình hình thực hiện phù hợp với kế hoạch đề ra. Kiểm soát tiến độ là cách tiếp cận chính thức để quản lý các thay đổi đối với tiến độ dự án, bằng cách làm việc với nhóm dự án, nhóm hữu quan…nhằm xác định rằng thay đổi đã được thông qua và nhất trí.
  • Vai trò: quản lý tiến độ nhằm mục đích kiểm tra kết quả công việc, các điềukiện, các yêu cầu để biết tiến độ đã thay đổi để từ đó kịp thời đưa ra hành động điều chỉnh phù hợp.

Đầu vào của tiến trình kiểm soát tiến độ

  • Sử dụng tiến độ dự án

Tiến độ dự án được dùng như một đầu vào của tiến trình kiểm soát thay đổi. Tiến độ dự án biểu diễn quan hệ của các công viêc, thời gian thực hiện công việc và trình Tác giả công việc.

  • Đánh giá các báo cáo hiệu quả

Các báo cáo hiệu quả là đầu vào của kiểm soát thay đổi tiến độ. Nội dung của các báo cáo này là các đo lường thực tế về dự án sẽ được đánh giá để xác định nhu cầu thay đổi có thể có là gì. Các báo cáo hiệu quả chỉ ra cách thức dự án tiến triển, theo chiều hướng tốt hoặc xấu, từ đó có thể dẫn tới các yêu cầu thay đổi. Khi một dự án tiến triển xấu, vượt khỏi phạm vi, ngân sách, có thể thực hiện các thay đổi để điều chỉnh tiến độ dự án.

  • Xem xét các yêu cầu thay đổi

Hầu hết các yêu cầu thay đổi là do:

  • Giá trị gia tăng: thay đổi sẽ giảm chi phí (thường là do các tiến bộ công nghệ).
  • Các sự kiện bên ngoài: ví dụ như các luật lệ mới hoặc các yêu cầu mới của ngành, của thực tế thi công, của thị trường hàng hóa.
  • Các sai sót: sai sót có thể xảy ra đối với tiến độ dự án.
  • Đối phó rủi ro: đây là trường hợp một rủi ro đã được xác định và cần phải điều chỉnh tiến độ để giảm đi rủi ro này.

Căn cứ vào kế hoạch quản lý tiến độ Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Kế hoạch quản lý tiến độ là kết quả của tiến trình hoạch định tiến độ, tài liệu này sẽ kiểm soát cách thức điều chỉnh tiến độ dự án. Kế hoạch quản lý tiến độ cũng xác định khả năng tiến độ dự án bị thay đổi, tần suất dự án có thể bị thay đổi và mức độ thay đổi. Kế hoạch quản lý tiến độ cũng đề ra chi tiết các tiến trình mà các thay đổi tiến độ sẽ được ghi nhận và sắp xếp lại trong suốt chu kỳ sống của dự án.

  • Đo lường sự biến động của kế hoạch tiến độ

Công tác kiểm soát tiến độ trước hết phải bắt đầu bởi việc đo lường sự biến động của kế hoạch về mặt tiến độ. Hiệu quả kém có thể dẫn tới các thay đổi trong tiến độ. Phân tích giá trị thu được (EVA) là tiến trình đo lường sự biến động công việc thực hiện so với kế hoạch để nhận diện các sai lệch. Công cụ này cũng rất hữu ích trong việc dự đoán các sai lệch trong tương lai.

Phân tích sai lệch là sự so sánh giữa thời điểm kết thúc các công việc theo tiến độ và thời điểm kết thúc thực tế. Hầu hết các phần mềm quản trị dự án đều cung ứng tính năng so sánh kế hoạch tiến độ gốc so với tiến độ thực tế. Phần mềm giúp nhà quản trị dự án xác định được công việc nào dài hơn dự định cũng như là các tác động có thể có đối với các mốc sự kiện quan trọng. Các so sánh có thể được thực hiện đối với cấp công việc chi tiết hoặc công việc khái quát, hoặc theo từng giai đoạn và từ đó tính lại ngày kết thúc dự án trên cơ sở các trì hoãn.

Có 5 câu hỏi sau đây cần được trả lời khi phân tích sai lệch:

  • + Vấn đề gây nên sai lệch là gì?
  • + Tác động có thể có đối với thời gian, chi phí và thành tích?
  • + Các tác động lên các nỗ lực khác, nếu có?
  • + Hành động điều chỉnh nào cần phải lập kế hoạch hay cần triển khai?
  • + Kết quả kỳ vọng từ hành động điều chỉnh này?

e) Điều chỉnh kế hoạch tiến độ thi công tổng thể và từng gói thầu

Hành động điều chỉnh

Hành động điều chỉnh là bất kỳ phương pháp nào được áp dụng để làm cho tiến độ dự án trở về đúng với ngày dự kiến ban đầu mục tiêu đã đề ra cho ngày kết thúc dự án. Các hành động điều chỉnh là các nỗ lực để đảm bảo rằng hiệu quả của dự án trong tương lai đáp ứng được với mức hiệu quả mong đợi. Các hành động điều chỉnh này bao gồm:

  • + Các biện pháp bổ sung để đảm bảo rằng các gói công việc được hoàn thành đúng tiến độ.
  • + Các biện pháp bổ sung để đảm bảo rằng các gói công việc được hoàn thành càng ít muộn càng tốt.
  • + Phân tích nguyên nhân gốc của các sai lệch tiến độ. Nếu tiến độ, kết quả công việc và hiệu quả không đạt thì nhà quản trị dự án cần xem lại tiến trình hoạch định để xác định nguyên nhân gốc. Có thể phải thực hiện hoạch định bổ sung khi phạm vi được thay đổi, khi phát hiện ra rủi ro hoặc các sự kiện khác xảy ra. Hoạch định bổ sung có thể diễn ra trong hầu hết các dự án. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.
  • + Thực thi biện pháp để bù lại các chậm trễ.

Hành động điều chỉnh có thể không cần thiết trong một số trường hợp như các ước lượng thời gian không chính xác, hoặc công việc bị trì hoãn vẫn còn thời gian dự án, không ảnh hưởng gì đến các công việc theo sau nó.

Các chỉ số hiệu quả sẽ giúp nhà quản trị dự án xác định được các công việc gặp vấn đề. Nếu các công việc găng kéo dài hơn dự kiến và một mốc sự kiện quan trọng có thể bị bỏ lỡ và ngày kết thúc dự án có thể không đúng thời hạn. Hiệu quả thực hiện các công việc trên đường găng sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành dự án đúng thời hạn, do đó nhà quản trị dự án cần xem xét đến các biện pháp cần thực hiện trên đường găng bị chậm tiến độ và thảo luận với người đảm nhận công việc đó để điều chỉnh công việc. Nếu không thể điều chỉnh gì về công việc gây ra sự trì hoãn, cần phải phân tích toàn bộ công việc còn lại của dự án. Nhà quản trị dự án cũng có thể tiến hành một cách nhanh chóng hoặc rút ngắn công việc để hoàn thành các công việc còn lại trong thời gian ngắn hơn. Nếu quyết định áp dụng các biện pháp này, nhà quản trị dự án cần ghi rõ rủi ro gắn với các biện pháp này.

  • Cập nhật tiến độ:

Cập nhật tiến độ là bất kỳ sự thay đổi được thực hiện đối với tiến độ trong quản lý dự án. Tiến độ thường được cập nhật hàng tuần, dựa vào các báo cáo thực hiện của thành viên nhóm dự án, nhằm cung cấp một cái nhìn thực tế về tiến triển của dự án và so sánh trạng thái của các công việc đã làm với kế hoạch gốc tiến độ.

Tiến độ cũng được cập nhật nhằm phản ánh các công việc mới.

Khi tiến độ được cập nhật, nhà quản trị dự án cần ghi lại thay đổi trong tài liệu của dự án và theo các hướng dẫn trong kế hoạch kiểm soát thay đổi, cần theo đúng các tiến trình chính thức đã đề ra ví dụ như các thông báo cho các nhóm hữu quan, các nhà quản trị cấp cao..v.v..

Có hai dạng cập nhật tiến độ: điều chỉnh tiến độ và tái lập kế hoạch tiến độ. Điều chỉnh là sự thay đổi ngày bắt đầu hoặc ngày kết thúc của tiến độ gốc. Các thay đổi này là thường do thay đổi phạm vi dự án. Khi phạm vi dự án được bổ sung thêm công việc thì thường cần thêm thời gian để hoàn tất chúng. Tái lập lại kế hoạch tiến độ được thực hiện trong trường hợp các trì hoãn về tiến độ là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến thời gian của nhiều sản phẩm chính hoặc các mốc sự kiện quan trọng. Tái lập kế hoạch là tình huống xấu nhất chỉ nên được áp dụng trong các trường hợp trì hoãn là nghiêm trọng và quá lớn. Khi phải tái lập kế hoạch, tất cả các thông tin lịch sử của dự án tính đến thời điểm đó sẽ được xoá bỏ. Do đó điều chỉnh tiến độ là cách tiếp cận phổ biến và được ưa thích hơn nhằm thay đổi ngày kết thúc dự án.

  • Điều chỉnh kế hoạch dự án Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Khi xảy ra thay đổi, kế hoạch dự án cần phải được điều chỉnh để phản ánh các thay đổi này. Các thay đổi này có thể ảnh hưởng đến thời gian, chi phí, tiến độ và phạm vi. Các thay đổi ảnh hưởng đến kế hoạch cần phải được cập nhật để phản ánh tiến độ mới của dự án. Kế hoạch mới này được xem như là một tham chiếu cho toàn bộ phần còn lại của dự án (nếu không có thay đổi nào nữa). Nếu lại có thay đổi xảy ra, kế hoạch gốc cần phải được cập nhật.

  • Bài học kinh nghiệm

Các bài học kinh nghiệm về xây dựng tiến độ, thay đổi về tiến độ và cách xử lý các sai lệch sẽ trở thành thông tin lịch sử của dự án.

1.2. Cơ sở thực tiễn về quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Trong mọi nền kinh tế, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển, lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nền móng để phát triển kinh tế – xã hội. Nói theo quan điểm của ngành xây dựng, để xây được nhà to, đẹp, thỏa mãn nhu cầu ở và mỹ quan, móng nhà phải sâu và chắc chắn. Tuy nhiên, khi nhìn lại bức tranh xây dựng hạ tầng ở Việt Nam trong nhiều năm trở lại đây có thể thấy rất nhiều bất cập và hạn chế. Tiêu điểm là vốn đầu tư vào các dự án xây dựng chiếm đến 40% GDP cả nước[21], nhưng do chậm tiến độ hoàn thành dẫn đến đình trệ sản xuất, nguồn vốn không được quay vòng kịp thời.

Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam hiện nay, bên cạnh mục tiêu tạo dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – kỹ thuật, động lực để phát triển các ngành kinh tế khác, các dự án đầu tư xây dựng đồng thời cũng đang để lại nhiều hệ lụy cho nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như kinh tế – xã hội tại các địa phương nói riêng.Chưa xét đến các yếu tố như mục đích, chất lượng, hay chi phí, khi nhắc đến các dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam, ta thường đặt vấn đề trực tiếp đến tiến độ thực hiện dự án, thể hiện cụ thể nhất ở tiến độ thi công các công trình, hạng mục công trình thuộc dự án. Không có thống kê chính thức về số dự án đầu tư xây dựng chậm tiến độ ở Việt Nam nhưng theo thông tin do Tổng hội Xây dựng Việt Nam công bố, toàn quốc có tới 99% dự án xây dựng chậm tiến độ, chỉ có 1% số dự án về đích đúng hạn [21]. Chỉ tính trên địa bàn Hà Nội, những dự án chậm tiến độ tiêu biểu có thể kể tên gồm: Dự án Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc; Dự án Đường sắt đô thị, tuyến Cát Linh – Hà Đông… Tiến độ giải ngân chậm sẽ kéo theo tiến độ thi công công trình, dự án, đồng nghĩa với việc công trình, dự án chậm được đưa vào sử dụng, mục tiêu của dự án chưa đạt được, vốn đầu tư bị “chôn” theo tiến độ, những lãng phí về đất đai, lãi suất khó có thể đo lường, gây thiệt hại lớn về kinh tế – xã hội.Nhằm khắc phục tình trạng trên, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 về “Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016” với chủ trương tạo lối thoát cho các công trình, dự án chậm tiến độ. Nghị quyết cũng chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2016 chỉ đạt 5,52%, tuy cao hơn cùng kỳ giai đoạn 2012 – 2014 nhưng thấp hơn cùng kỳ năm 2015 và chỉ tiêu kế hoạch 6,7% của cả năm 2016, trong đó có nguyên nhân tiến độ triển khai kế hoạch vốn đầu tư công chậm, thủ tục đầu tư, xây dựng còn phức tạp; văn bản hướng dẫn Luật và Nghị định về đầu tư còn bất cập; công tác giải phóng mặt bằng và bố trí vốn đối ứng các dự án chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp và chỉ đạo điều hành ở một số bộ, ngành, địa phương thiếu quyết liệt và còn nhiều bất cập; hồ sơ thanh toán vốn đầu tư rườm rà, dẫn đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chỉ đạt hơn 30% kế hoạch năm.Chính phủ đã yêu cầu Bộ Tài chính tiếp tục rà soát, sửa đổi các văn bản hướng dẫn về kiểm toán chi và giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước, vốn trái phiếu chính phủ theo hướng đơn giản hóa các thủ tục. Bộ Xây dựng được giao tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng; rà soát, kịp thời giải quyết các rào cản, khó khăn, vướng mắc trong việc thẩm định, quản lý dự án…

Tuy nhiên, khi phân tích, đánh giá thực trạng trên để tìm hiểu nguyên nhân, các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng, chủ đầu tư nhà thầu và cả các Ban quản lý dự án thường đề cập đến không chỉ là việc chậm bố trí vốn, những nội dung như chậm giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu kém, năng lực của chủ đầu tư hay thậm chí là Ban quản lý dự án không đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý cũng là những nguyên nhân có ý nghĩa trực tiếp trong việc gây ảnh hưởng tới tiến độ thi công của các công trình. Trong đó, vai trò của các Ban quản lý dự án trong điều hành, quản lý dự án, quản lý tiến độ thi công công trình thuộc dự án đang ngày càng được chú trọng xem xét, phân tích bởi đây là chủ thể quản lý trực tiếp trong đa số các dự án xây dựng cơ bản sử dụng vốn từ nguồn ngân sách tại Việt Nam.

  • Bài học kinh nghiệm Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Tại tỉnh Thái Nguyên – một trong số những đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, việc chậm tiến độ các dự án sử dụng vốn đầu tư công cũng rất phổ biến. Trong 6 tháng đầu năm 2016, theo Báo cáo kết quả giải ngân vốn đầu tư công của Kho bạc nhà nước tỉnh, tiến độ giải ngân chỉ đạt 35% so với kế hoạch được giao và đạt trên 80% khi kết thúc năm tài chính.Hầu hết các dự án sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn tỉnh đều do các Ban quản lý dự án điều hành, quản lý thực hiện và có chung thực trạng là chậm tiến độ.

Trong đó, tiêu điểm phải kể đến dự án Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên với độ lệch thực tế giữa thời gian hoàn thành dự án so với kế hoạch là khá xa (dự án được phê duyệt năm 2000, dự kiến hoàn thành và sử dụng trong năm 2008). Qua quá trình tổng kết kinh nghiệm của chính Ban quản lý dự án Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên, cùng với thực tiễn thực hiện dự án của các đơn vị tương đồng, những hạn chế, bất cập từ những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng thuộc dự án về cơ bản xoay quanh một số nội dung như chậm bố trí vốn, chậm giải phóng mặt bằng, năng lực nhà thầu yếu kém, năng lực của chủ đầu tư hay thậm chí là Ban quản lý dự án không đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý.

Xuất phát từ những quan điểm trên, trong luận văn, tác giả đã tiến hành những nghiên cứu, phân tích, đánh giá chuyên sâu về vấn đề kém hiệu quả trong quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của Ban quản lý dự án Thoát nước và xử lý nước thải thành phố Thái Nguyên, trên cơ sở đó đưa ra các góc nhìn, quan điểm mới, đề xuất đi kèm với giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của các Ban quản lý dự án nói chung.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tiến độ thi công của Ban quản lý dự án

1.3.1. Các yếu tố khách quan

  • Các cơ sở pháp lý, quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư dự án, xây dựng công trình.

Mọi dự án đầu tư được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam. Dự án đầu tư xây dựng công trình là loại dự án đặc thù vì sử dụng vốn ngân sách Nhà nước và can thiệp vào hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế- xã hội của đất nước. Do đó, một trong các yếu tố từ môi trường bên ngoài tác động tích cực nhất tới quá trình quản lý tiến độ thi công các công trình xây dựng là các căn cứ pháp lý, quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư dự án, xây dựng công trình.

Các công trình xây dựng thuộc dự án chịu sự điều chỉnh của hệ thống các Luật:

Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thương mại và một số các quy định pháp luật khác. Để thực hiện công tác quản lý tiến độ thi công, bên cạnh việc kiểm soát về chuyên môn, chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án là những đại diện của cơ quan quản lý Nhà nước cũng phải nắm chắc các quy phạm pháp luật có liên quan để vận dụng một cách hợp lý, chặt chẽ và kịp thời nhằm điều chỉnh hoạt động thi công phù hợp với mục tiêu của dự án. Cụ thể, với những trường hợp công trình chậm tiến độ kế hoạch, chủ thể quản lý dự án cần đối chiếu tình hình thi công thực tế với kế hoạch thi công tổng thể, kế hoạch thời kỳ, từ đó phân tích, đánh giá để tìm ra các sai sót, bất cập: Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Với mỗi nội dung sai phạm thuộc đơn vị thi công cần đối chiếu, xác định với khung pháp lý tương ứng, lấy đó làm cơ sở để tiến hành các công tác điều chỉnh. Chủ thể quản lý cần áp dụng pháp luật một cách chính xác, phù hợp để thực hiện đúng, đủ chức năng quản lý nhà nước của mình với công tác quản lý tiến độ thi công.

Với những khiếm khuyết, bất cập thuộc về hệ thống quy phạm pháp luật, chủ thể quản lý tiến độ thi công tùy cấp độ cần có những báo cáo chính xác, đầy đủ đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cùng tháo gỡ khó khăn, khắc phục hậu quả nhằm điều chỉnh tiến độ thi công phù hợp với tiến độ tổng thể của dự án.

  • Cơ chế quản lý từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước cấp cao nhất, xuống đến chủ đầu tư

Căn cứ vào loại hình, quy mô, nguồn vốn, đặc điểm của dự án, cấp độ quản lý dự án được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C. Theo đó,việc phân cấp quản lý, chủ thể quản lý, giám sát dự án cũng được xác định bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị- xã hội, UBND các cấp, các cơ quan quản lý chuyên trách do Quốc hội và Chính phủ ủy quyền.

Thông thường, với những dự án mà chủ đầu tư là người bỏ vốn đầu tư đồng thời trực tiếp quản lý, điều hành, giám sát,đối với những trường hợp phát sinh biến cố trong quá trình thực hiện dự án, chủ đầu tư có đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm trong thu thập, kiểm soát, xử lý thông tin, ra quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện điều chỉnh. Do có toàn quyền đối với dự án theo quy định của pháp luật nên chủ đầu tư luôn tự chủ, chủ động, linh hoạt trong thực hiện công tác quản lý dự án nói chung và tiến độ thi công nói riêng. Trường hợp phát sinh biến cố lớn nằm ngoài phạm vi quyền hạn, chủ đầu tư có trách nhiệm báo cáo trực tiếp với các cơ quan quản lý cấp cao để phối hợp phân tích, đánh giá tìm ra nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục.

Đối với trường hợp dự án được quản lý theo mô hình Ban quản lý dự án, chủ đầu tư ủy quyền cho Ban quản lý dự án hoặc đơn vị chuyên trách thực hiện các công việc liên quan đến dự án. Mô hình này được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư không thỏa mãn các năng lực về quản lý, điều hành đầu tư xây dựng theo Luật Xây dựng 2014, hoặc chỉ kiêm nhiệm đảm nhận trách nhiệm quản lý hiệu quả đầu tư trước các cơ quan quản lý cấp cao hơn. Điều này đồng nghĩa với mọi công tác quản lý được thực hiện trong quá trình quản lý dự án, quản lý tiến độ thi công, chủ thể quản lý trực tiếp phải báo cáo với chủ đầu tư để xin ý kiến và chỉ được ra quyết định trong phạm vi quyền hạn được ủy quyền. Với mô hình quản lý này, việc phân quyền cần được cân nhắc cẩn thận, tỉ mỉ đảm bảo phân quyền có ý nghĩa trong công tác điều hành quản lý, tạo điều kiện phát huy hiệu quả năng lực quản lý của chủ thể quản lý trực tiếp.

  • Cơ chế quản lý, điều hành, phân bổ vốn dành cho dự án

Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách, vốn ngoài ngân sách, vốn vay nước ngoài, việc phân bổ vốn không được thường xuyên và trực tiếp như các dự án sử dụng vốn chủ sở hữu hoặc vốn vay ngân hàng thương mại. Thay vào đó, việc phân bổ vốn được cân đối theo ngân sách (TW hoặc địa phương), thực hiện theo kỳ nên gặp khó khăn trong quá trình giải ngân cũng như bổ sung vốn… Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sử dụng vốn Nhà nước (trong hoặc ngoài ngân sách), chủ đầu tư được người quyết định đầu tư giao quyền làm chủ dự án và sử dụng vốn đầu tư, chịu trách nhiệm báo cáo với người quyết định đầu tư về tất cả các công việc liên quan đến triển khai, thực hiện dự án. Căn cứ vào nguồn vốn, tính chất của nguồn vốn và đặc điểm thời gian thực hiện kéo dài nhiều năm của các dự án đầu tư xây dựng công trình, kế hoạch bố trí vốn, sử dụng vốn, giải ngân vốn sẽ được lập trên cơ sở nghiên cứu kế hoạch tiến độ dự án, kế hoạch tiến độ thi công các công trình của chủ thể quản lý, cấp quyết định đầu tư và cơ quan nhà nước hữu quan.Cụ thể trong mô hình thực hiện dự án với sự tham gia của Ban quản lý dự án, Ban quản lý dự án là đơn vị trực tiếp, sâu sát trong lập kế hoạch tiến độ tổng thể, tiến độ các gói thầu theo từng tháng, quý, năm; chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp lên chủ đầu tư để lập kế hoạch bố trí, giải ngân vốn cho dự án.

1.3.2. Các yếu tố chủ quan

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng của chủ thể quản lý là Ban quản lý dự án. Do đó, những yếu tố từ môi trường bên trong được xác định là xuất phát từ Ban quản lý dự án, bao gồm:

  • Năng lực của Ban quản lý dự án trong quản lý, điều hành, giám sát dự án nói chung và quản lý tiến độ thi công nói riêng.

Căn cứ luật Đầu tư (2014), chủ đầu tư là đơn vị bỏ vốn trực tiếp thực hiện dự án và phải đảm bảo các yêu cầu về năng lực quản lý, điều hành dự án đối với dự án đầu tư xây dựng theo luật Xây dựng (2014). Đồng thời, theo nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng, chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng có 3 lựa chọn tổ chức thực hiện, hình thức đầu tư: trực tiếp quản lý, thuê tư vấn quản lý và thành lập Ban quản lý dự án chuyên trách.

Đối với trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án làm đại diện quản lý dự án đầu tư xây dựng. Ban quản lý dự án chuyên trách, dưới sự ủy quyền của chủ đầu tư, có toàn quyền thực hiện mọi công tác quản lý liên quan đến dự án đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp với chủ đầu tư về các nội dung công việc được giao theo văn bản ủy quyền/thành lập. Khi đó, Ban quản lý dự án là đơn vị duy nhất và trực tiếp thực hiện công tác triển khai, quản lý, giám sát tiến độ dự án nói chung cũng như tiến độ thi công các công trình xây dựng thuộc dự án nói riêng.

Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án bao gồm Giám đốc, các Phó giám đốc, các phòng ban chuyên trách hoặc kiêm nhiệm theo quyết định thành lập của chủ đầu tư. Nhân sự tham gia và tổ chức thực hiện quản lý dự án phải đảm bảo có đầy đủ năng lực về quản lý, thực hiện dự án đầu tư xây dựng theo Luật Xây dựng, Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

  • Công tác lập thiết kế, kế hoạch tiến độ tổng thể dự án với sự tham gia của đơn vị Tư vấn – thiết kế – giám sát, các bên liên quan nhằm đưa ra được một thiết kế, kế hoạch tiến độ tối ưu.

BQLDA, dưới sự ủy quyền của chủ đầu tư, là đơn vị trực tiếp quản lý, điều hành, giám sát mọi công việc liên quan đến dự án. Trong đó, lập kế hoạch tiến độ tổng thể là một nội dung quan trọng, bao trùm đối với toàn bộ dự án, là cơ sở để chủ thể quản lý quản lý thi công xây dựng công trình. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

Đối với mọi dự án đầu tư xây dựng, lập kế hoạch tiến độ tổng thể luôn được thực hiện trước khi triển khai thi công công trình. Để thực hiện công tác này cần có sự phối hợp giữa chủ thể quản lý với đơn vị tư vấn thiết kế xây dựng. Thiết kế tổng thể và kế hoạch tiến độ tổng thể là một trong các căn cứ quan trọng để chủ thể quản lý và Tư vấn – thiết kế – giám sát phân chia các gói thầu.Sau kế hoạch tiến độ tổng thể, việc xác định chi tiết, cụ thể kế hoạch, tiến độ của từng công trình, hạng mục công trình tương tự như việc thiết lập một biểu đo để giám sát thời gian (tiến độ) cũng như khối lượng của các gói thầu công trình. Do tính chất đặc thù và ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng đến toàn bộ dự án nên thiết kế tổng thể, kế hoạch tổng thể yêu cầu sự chính xác, chi tiết và tỉ mỉ; đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ thể quản lý và đơn vị Tư vấn – thiết kế – giám sát trong quá trình nghiên cứu tổng quát, nghiên cứu sâu về dự án để có thể đưa ra được một thiết kế, kế hoạch tiến độ tối ưu. -Tổ chức đấu thầu, mời thầu, chấm thầu, tuyển chọn nhà thầu.

Trên cương vị là chủ thể quản lý trực tiếp dự án đầu tư xây dựng, Ban quản lý dự án đóng vai trò là chủ thầu, chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu, tuyển chọn nhà thầu. Chất lượng nhà thầu tham gia dự án phụ thuộc vào khả năng đánh giá, chấm điểm của Ban quản lý dự án cùng các cơ quan hữu quan trong quá trình chấm thầu. Khi tổ chức đấu thầu, Ban quản lý dự án phải đảm bảo sự minh bạch, công khai từ khâu tổ chức, mời thầu, chấm thầu đến công bố kết quả. Toàn bộ quá trình đấu thầu cần được thực hiện theo các quy định của pháp luật được cụ thể trong luật Đấu thầu, luật Xây dựng, luật Đầu tư và các quy định khác có liên quan nhằm thực hiện được mục tiêu lựa chọn ra những nhà thầu có năng lực phù hợp nhất, chi phí thấp nhất với dự án. Bên cạnh việc bám sát và thực hiện theo các quy định của pháp luật trong quá trình tổ chức đấu thầu, Ban quản lý dự án cần có sự chủ động, linh hoạt trong xử lý các biến cố phát sinh, hạn chế tối đa sai sót gây ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu.

  • Tính tương tác giữa chủ thể quản lý (BQLDA và chủ đầu tư), nhà thầu, đơn vị tư vấn giám sát và các bên liên quan trong quá trình quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình.

Một trong các nội dung của quản lý thi công xây dựng công trình là quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình. Công tác này được thực hiện dựa trên cơ sở các thiết kế tổng thể, kế hoạch tiến độ tổng thể được được lập bởi Ban quản lý dự án và đơn vị Tư vấn – thiết kế – giám sát. Dựa trên kết quả đấu thầu các gói thầu thuộc dự án, nhà thầu trúng thầu chịu trách nhiệm thực hiện thi công xây dựng công trình theo đúng hợp đồng xây dựng ký kết với Ban quản lý dự án, báo cáo tiến độ trực tiếp với Ban quản lý dự án. Ban quản lý dự án có trách nhiệm phối hợp cùng đơn vị Tư vấn – thiết kế – giám sát kiểm tra, giám sát tiến độ thi công từng hạng mục, tiến độ thi công gói thầu và tiến độ thi công tổng thể dự án, báo cáo trực tiếp với chủ đầu tư. Trong quá trình quản lý, thông tin lưu chuyển theo nhiều luồng và đa chiều, có tính chất phức tạp, đòi hỏi Ban quản lý dự án phải nắm chắc được tính chính xác của thông tin để có những phân tích, đánh giá thích hợp.

Với những biến cố gây chậm tiến độ nằm trong phạm vi quyền hạn, Ban quản lý dự án cần vận dụng đúng các quy định của pháp luật để ra quyết định kịp thời, khắc phục vấn đề hiệu quả nhằm đưa tiến độ thi công về đúng quỹ đạo.

Với những trường hợp biến cố phát sinh nằm ngoài phạm vi quyền hạn, Ban quản lý dự án có trách nhiệm báo cáo nhanh chóng, chính xác, chi tiết về biến cố đến chủ đầu tư và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phối hợp cùng các cơ quan quản lý để đẩy nhanh quá trình ra quyết định nhằm giải quyết vấn đề kịp thời, phù hợp với thực tiễn. Luận văn: Công tác quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý tiến độ thi công công trình xây dựng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *