Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển và hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam, trong thời gian qua hoạt động tài chính tiền tệ nói chung và lĩnh vực ngân hàng nói riêng đã có những thay đổi đáng kể. Sự xuất hiện của một loạt ngân hàng thương mại cổ phần (NH Thương mại cổ phần) trong và ngoài nước đã tạo ra tính cạnh tranh ngày càng gay gắt cho thị trường ngân hàng Việt Nam. Đối mặt với những khó khăn đó, buộc các NH Thương mại cổ phần phải chủ động phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức để theo kịp với sự thay đổi của môi trường. Trong điều kiện đó, Báo cáo tài chính với các thông tin tài chính tổng hợp nhất là phương tiện cung cấp những thông tin hữu ích cho mọi đối tượng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh và phát triển. Song Báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán, nó mang nhiều yếu tố kỹ thuật để có thể đọc và hiểu. Để các thông tin trên Báo cáo tài chính “biết nói” phải thông qua các phương pháp phân tích, các chuyên gia đánh giá. Vì vậy, phân tích Báo cáo tài chính là một trong các công cụ phổ biến nhất đang được sử dụng hiện nay để hỗ trợ cho nhà quản lý trong công tác quản trị.

Trong những năm qua, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam đã quan tâm đến việc đánh giá, phân tích tài chính trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên việc đánh giá và phân tích của các Ngân hàng thương mại còn yếu và thiếu thể hiện ở phương pháp phân tích chưa được toàn diện, chưa đầy đủ, cách thức xem xét và đánh giá, tiêu chuẩn đánh giá hiện trạng tài chính của các ngân hàng khác nhau lại có sự khác nhau. Điều này làm cho các nhà quản trị ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong việc quản lý, đánh giá và đưa ra các quyết định quan trọng. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong tương lai. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á ( BacABank), sau hơn 20 năm ra đời và phát triển đã khẳng định được chỗ đứng trong hệ thống ngân hàng Thương mại cổ phần tại Việt Nam. Tuy nhiên cũng giống như các ngân hàng Thương mại cổ phần khác tại Việt Nam, BacABank cũng đang hoạt động trong thị trường tài chính tiền tệ năng động, ngày càng lớn mạnh và cạnh tranh gay gắt. Nhà quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á luôn mong muốn nắm được số liệu tài chính để từ đó có được bức tranh thực sự về sức khỏe của Ngân hàng cũng như dự báo được triển vọng phát triển của ngân hàng mình trong bối cảnh hiện tại của nền kinh tế Việt Nam. Bức tranh đó được phản ánh qua Báo cáo tài chính của Ngân hàng. Tuy nhiên, cùng với sự non trẻ trong tuổi đời của thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam nói chung và của Ngân hàng Bắc Á nói riêng so với các nước phát triển trên thế giới thì công tác phân tích Báo cáo tài chính của BacABank cũng đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển và còn nhiều hạn chế. Vì vậy mà công tác phân tích báo cáo tài chính đang được Ngân hàng Bắc Á chú trọng và đẩy mạnh để phục vụ chính xác kịp thời nhu cầu thông tin tài chính của nhà quản trị. Do nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác phân tích Báo cáo tài chính trong điều kiện ngày nay, qua thực tế làm việc tại NH Thương mại cổ phần Bắc Á, cùng với những kiến thức thu nhận được từ nhà trường, tôi đã đi đến quyết định lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á” cho luận văn thạc sỹ của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Ngành Tài Chính Ngân Hàng

2.  Mục đích nghiên cứu

Đưa ra  các giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bắc Á để báo cáo phân tích có thể hỗ trợ chính xác và kịp thời cho ban lãnh đạo trong quá trình nhìn nhận và giải quyết các vấn đề trong ngân hàng. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác phân tích báo cáo tài chính của Ngân hàng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á .

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác phân tích báo cáo tài chính tại BacABank, cụ thể là các báo cáo phân tích Báo cáo tài chính của BacABank mà BacABank đã thực hiện cung cấp cho Ban lãnh đạo phục vụ công tác quản trị.

Về thời gian: Công tác phân tích báo cáo tài chính tại BacABank từ năm 2016-2022. Do tại thời điểm nghiên cứu, BacABank chưa ban hành báo cáo phân tích Báo cáo tài chính năm 2022 của mình nên luận văn chủ yếu khai thác các số liệu và báo cáo phân tích đến hết năm tài chính 2021

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp với hệ thống sơ đồ, bảng biểu để trình bày các nội dung lý luận và thực tiễn.

Nguồn dữ liệu cần thu thập: chủ yếu là dữ liệu thứ cấp bao gồm

Dữ liệu nội bộ: Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của BacABank năm 2019-2021, Báo cáo của Hội đồng Quản trị về tình hình hoạt động kinh doanh năm 2019, năm 2020, năm 2021 và Kế hoạch hoạt động năm 2022, Báo cáo tổng kết hoạt động 5 năm 2017-2021, Báo cáo ALCO giai đoạn 2019-2021, Báo cáo của Ban Kiểm soát BacABank tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2021, Các văn bản của Khối Tài chính có liên quan đến công tác phân tích báo cáo tài chính, Các văn bản có liên quan khác thuộc các Phòng ban như Phòng Hành chính tổng hợp, Phòng Kế toán, Phòng Quản lý thông tin…

Dữ liệu bên ngoài: Một số văn bản có liên quan đến công tác phân tích Báo cáo tài chính, Các quy định về pháp luật liên quan đến báo cáo tài chính và công tác phân tích báo cáo tài chính, Các quy định của Ngân hàng nhà nước có liên quan, Các giáo trình về quản trị Ngân hàng thương mại, Giáo trình phân tích báo cáo tài chính…

Luận văn tập trung vào công tác phân tích báo cáo tài chính của Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á dưới giác độ là các nhà quản trị ngân hàng, không đi sâu vào phân tích dưới giác độ là nhà đầu tư hoặc cơ quan quản lý nhà nước.

5. Kết cấu của luận văn Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn được trình bày thành 3 chương:

  • Chương 1: Tổng quan về phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại.
  • Chương 2: Thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bắc Á.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 .Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Nói đến khái niệm về ngân hàng thì có rất nhiều, tuy nhiên khái niệm phổ biến nhất theo sách “Quản trị Ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”

Xét riêng tại Việt Nam, theo pháp lệnh Ngân hàng ban hành ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam xác định: “Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

Bên cạnh đó, khái niệm Ngân hàng được định nghĩa trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2016/QH12 tại Khoản 2 Điều 4 Chương I như sau: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.” Trong số các loại hình ngân hàng kể trên thì Ngân hàng thương mại (NHTM) chiếm tỉ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng. Theo Khoản 3 Điều 4 Chương I của Luật các tổ chức tín dụng số 47/2016/QH12, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.

1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Huy động vốn: với hoạt động chính là nhận tiền gửi: cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm kiếm mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn cả lãi và gốc.

Sử dụng vốn:

 Cho vay: với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng huy động tiết kiệm và dung khoản tiền đó để cho các cá nhân, tổ chức vay vốn, hưởng lãi suất chênh lệch. Hoạt động này đang ngày càng phát triển phong phú đa dạng với nhiều hình thức sản phẩm khác nhau trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ giữa các Ngân hàng thương mại hiện nay.

Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá khác: đây là việc ngân hàng sẽ mua lại những thương phiếu còn trong thời hạn của khách hàng.

Bảo lãnh: do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn, và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngàn hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng như mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.

Cho thuê tài chính: rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Hoạt động đầu tư: bao gồm đầu tư chứng khoán và góp vốn đầu tư dài hạn.

Hoạt động khác:

Mua bán ngoại tệ: Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua bán) ngoại tệ: mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.

Bảo quản tài sản hộ: các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các giấy tờ có giá, các tài sản khác cho khách hàng trong két (còn gọi là dịch vụ cho thuê két). Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện.

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: Đây là hoạt động khác biệt cơ bản giữa Ngân hàng thương mại và các loại hình trung gian tài chính khác. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng ngân hàng không chỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dung tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ được nhận tiền. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như séc, Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C đã phát triển các hình thức thanh toán mới. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Quản lý ngân quỹ: ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh, tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn, cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.

Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ như mua trái phiếu của Chính phủ hay cho vay ưu đãi với các Doanh nghiệp Nhà nước.

  • Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn
  • Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
  • Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
  • Cung cấp các dịch vụ đại lý

1.1.2. Hệ thống báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1. Khái niệm báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại

Trước hết Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp, vì vậy báo cáo tài chính (BCTC) của Ngân hàng thương mại cũng là Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp, và là bản báo cáo tổng hợp về tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Theo “Giáo trình Phân tích báo cáo tài chính” của PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc thì “BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị. Theo đó, Báo cáo tài chính chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.

Theo khái niệm về Ngân hàng thương mại đã được nêu ở mục 1.1.1.1., Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng. Do đó, Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại cũng tuân thủ theo quy định về Báo cáo tài chính của tổ chức tín dụng. Theo Khoản 3 Điều 2 Chương I về Chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng (TCTD), “Báo cáo tài chính của Tổ chức tín dụng: Là báo cáo tài chính được lập bởi pháp nhân Tổ chức tín dụng trên cơ sở tổng hợp số liệu trong toàn hệ thống Tổ chức tín dụng (bao gồm: Trụ sở chính, Sở giao dịch, các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc) để phản ánh thông tin kinh tế, tài chính của pháp nhân Tổ chức tín dụng.” Những dịch vụ cụ thể mà mỗi ngân hàng lựa chọn cung cấp cũng như hoạt động tổng thể của một tổ chức ngân hàng được phản ánh trong các báo cáo tài chính.

1.1.2.2. Hệ thống báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Để thuận lợi cho việc nghiên cứu và sử dụng Báo cáo tài chính doanh nghiệp, cần thiết phải tiến hành phân loại và hệ thống Báo cáo tài chính. Phân loại Báo cáo tài chính là việc sắp xếp Báo cáo tài chính theo những tiêu thức nhất định. Do có nhiều Báo cáo tài chính khác nhau, được lập vào những thời gian khác nhau, số lượng và nội dung thông tin phản ánh không giống nhau nên Báo cáo tài chính thường được phân theo nội dung phản ánh, theo thời gian lập, theo tính bắt buộc của Báo cáo tài chính. Hệ thống Báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại cũng tương tự như hệ thống Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và có thêm một số Báo cáo tài chính đặc thù khác như Báo cáo về nguồn vốn và sử dụng vốn, Báo cáo về vốn chủ sở hữu,… Các báo cáo này thường được các nhà quản lý ngân hàng và các tổ chức phân tích tín dụng xem xét khi đánh giá những thay đổi trong hoạt động của một ngân hàng. Trong khuôn khổ của luận văn, phân loại Báo cáo tài chính theo nội dung phản ánh được tập trung trình bày. Theo chế độ báo cáo tài chính hiện hành đối với Tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Bộ tài chính quy định, Báo cáo tài chính bao gồm:

  • Bảng cân đối kế toán

Để phản ánh tổng quát tình hình tài sản và nguồn vốn của ngân hàng, kế toán sử dụng “Bảng cân đối kế toán” (Bảng CĐKT). Bảng này được lập trên cơ sở tính cân bằng về mặt lượng giữa giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp và được lập vào một thời điểm nhất định (cuối tháng, cuối quý, cuối năm). Bảng CĐKT cần tập hợp các tài sản và nợ theo tính chất luôn đảm bảo tính cân đối kế toán TỔNG TÀI SẢN = TỔNG NGUỒN VỐN, và các khoản mục thuộc tài sản (hoặc nguồn vốn) đều được sắp xếp theo thứ tự phản ánh tính thanh khoản giảm dần.

Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và Hệ thống Kế toán các Tổ chức tín dụng Việt Nam, Bảng CĐKT của Ngân hàng thương mại được trình bày theo mẫu biểu số B02/TCTD bao gồm những khoản mục chủ yếu như sau:

Bảng Cân đối kế toán cung cấp thông tin về toàn bộ giá trị tài sản hiện có của Ngân hàng thương mại theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo. Căn cứ vào bảng Cân đối kế toán có thể nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của Ngân hàng thương mại như cơ cấu tài sản, năng lực hoạt động của tài sản, cơ cấu nguồn vốn, khả năng tự chủ tài chính, khả năng thanh toán các khoản nợ…

Ngoài ra, do các dịch vụ đa dạng của ngân hàng, ngày càng có thêm nhiều các giao dịch tạo phí và các giao dịch này không được ghi chép trên Bảng CĐKT của ngân hàng: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

  • Hợp đồng bảo lãnh tín dụng: trong đó ngân hàng cam kết đảm bảo việc hoàn trả khoản vay của khách hàng cho một bên thứ ba.
  • Hợp đồng cam kết cho vay: trong đó ngân hàng cam kết cho vay tối đa tới một số vốn nhất định trước khi hợp đồng hết hiệu lực.
  • Hợp đồng về tỷ giá hối đoái: trong đó ngân hàng đồng ý giao hay nhận một loại ngoại tệ nhất định.

Cần lưu  ý tới những giao dịch ngoài Bảng CĐKT vì chúng thường đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro hơn dù rằng có thể không xuất hiện trong báo cáo thông thường về trạng thái của ngân hàng.

  • Báo cáo kết quả kinh doanh

Sau một giai đoạn nhất định, ngân hàng cần biết được một cách tổng quát toàn bộ chi phí bỏ ra và kết quả thu được theo từng lĩnh vực hoạt động. Toàn bộ những thông tin này được phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD). Thông qua báo cáo này, người sử dụng thông tin có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời biết được quy mô chí phí, thu nhập và kết quả từ các mảng hoạt động kinh doanh cũng như số lợi nhuận thuần trước và sau thuế thu nhập doanh nghiệp.

BCKQKD là một Báo cáo tài chính phản ánh tóm lược các khoản thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh của ngân hàng cho một năm kế toán nhất đinh. Báo cáo kết quả kinh doanh theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và Hệ thống Kế toán các Tổ chức tín dụng Việt Nam được trình bày theo mẫu biểu số B03/TCTD bao gồm những khoản mục chủ yếu như sau:

  • Thu nhập lãi thuần
  • Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động dịch vụ
  • Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
  • Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh
  • Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư
  • Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động khác
  • Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần
  • Chi phí hoạt động
  • Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng
  • Tổng lợi nhuận trước thuế
  • Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp
  • Lợi nhuận sau thuế
  • Lãi cơ bản trên cổ phiếu Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Trên cơ sở thu thập các thông tin trên Báo cáo kết quả kinh doanh, nhà phân tích sẽ đánh giá được kết quả kinh doanh theo các mảng hoạt động của Ngân hàng thương mại, mảng kinh doanh nào mang lại lợi nhuận cao nhất, chi phí hoạt động có hợp lý hay không… Tuy nhiên, Báo cáo kết quả kinh doanh chỉ cung cấp thông tin về lợi nhuận trong kỳ chứ chưa phản ánh được hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Vì hiệu quả hoạt động kinh doanh của một Ngân hàng thương mại xem xét lợi nhuận đạt được trong mối liên hệ với các thông tin trên các Báo cáo tài chính khác như thông tin về quy mô tài sản, mức độ rủi ro của Ngân hàng thương mại…

  • Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là Báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của Ngân hàng thương mại. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ của Ngân hàng thương mại được trình bày dựa trên chuẩn mực VAS 24 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Theo đó, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của NH trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại và khả năng so sánh giữa các Ngân hàng thương mại vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch.

BCLCTT theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và Hệ thống Kế toán các Tổ chức tín dụng Việt Nam được trình bày theo mẫu biểu số B04/TCTD bao gồm những khoản mục chủ yếu như sau:

Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: là dòng tiền ra và vào trực tiếp liên quan đến thu nhập từ hoạt động kinh doanh. Đây là chỉ số căn bản về mức độ tạo ra tiền mặt từ hoạt động thông thường của ngân hàng, trả cổ tức và đầu tư mà không cần huy động đến các nguồn tài chính đặc biệt khác từ bên ngoài. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư: là dòng tiền ra và vào liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, thanh lý và nhượng bán các tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không tính trong các khoản tương đương tiền. Đây là chỉ số về chi phí cho các nguồn lực nhằm tạo ra thu nhập và các dòng tiền trong tương lai.

Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính: bao gồm dòng tiền ra và vào liên quan đến các hoạt động tạo ra các thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của ngân hàng. Đây là chỉ số chủ yếu trong dự đoán yêu cầu về tiền trong tương lai của những người cung cấp vốn cho ngân hàng.

BCLCTT có thể lập theo phương pháp gián tiếp hoặc trực tiếp:

Theo phương pháp trực tiếp, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách xác định và phân tích trực tiếp các khoản thực thu, thực chi bằng tiền theo từng nội dung thu, chi trên các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của doanh nghiệp.

Theo phương pháp gián tiếp: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập bằng cách xác định luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận sau thuế và điều chỉnh ảnh hưởng của giao dịch phi tiền tệ, dự thu, dự chi, thu nhập chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư và tài chính…

  • Thuyết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh Báo cáo tài chính là báo cáo nhằm thuyết minh và giải trình bằng lời, bằng số liệu một số chỉ tiêu kinh tế – tài chính chưa được thể hiện trên các Báo cáo tài chính ở trên. Bản thuyết minh này cung cấp thông tin bổ sung cần thiết cho việc đánh giá KQKD của ngân hàng trong năm báo cáo được chính xác. Thuyết minh Báo cáo tài chính theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và Hệ thống Kế toán các Tổ chức tín dụng Việt Nam được trình bày theo mẫu biểu số B05/TCTD bao gồm những khoản mục chủ yếu như sau: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

  • Đặc điểm hoạt động của Tổ chức tín dụng
  • Kỳ kế toán, đơn vị sử dụng trong kế toán
  • Chuẩn mực và chế độ kế toán áp dụng
  • Chính sách kế toán áp dụng tại Tổ chức tín dụng
  • Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Bảng cân đối kế toán
  • Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
  • Thông tin bổ sung một số khoản mục trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
  • Các thông tin khác: những khoản nợ tiềm tàng, những khoản cam kết, những thông tin tài chính và phi tài chính khác.
  • Quản lý rủi ro tài chính: rủi ro lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro thanh khoản, rủi ro giá cả thị trường khác (Nếu Tổ chức tín dụng có quy mô hoạt động lớn).

Ngoài các thông tin yêu cầu trong mục này, các Tổ chức tín dụng có thể trình bày bổ sung các thông tin khác phù hợp với tình hình thực tế hoạt động tại đơn vị. Với ý nghĩa cung cấp thông tin chi tiết hơn cho các Báo cáo tài chính khác, trình bày thông tin về chính sách tài chính, thông tin về rủi ro… bản thuyết minh Báo cáo tài chính là cơ sở để nhà phân tích đưa ra các lập luận cụ thể và xác thực hơn, thực hiện phân tích về rủi ro trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại.

1.2. Hoạt động phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

1.2.1. Khái niệm của hoạt động phân tích báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại

Theo Giáo trình Phân tích Báo cáo tài chính của PGS.TS. Nguyễn Năng Phúc thì “Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Phân tích báo cáo tài chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định.”

Theo Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fullbright niên khóa 2003-2004 bộ môn Phân tích tài chính thì “Phân tích báo cáo tài chính là phân tích tình hình tài chính và hoạt động của công ty dựa vào các báo cáo tài chính do công ty lập ra.”

NHTM cũng là một doanh nghiệp nên hoạt động phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại có thể hiểu là phân tích tình hình tài chính và hoạt động của Ngân hàng thương mại dựa vào các Báo cáo tài chính do Ngân hàng thương mại lập ra, trong đó sử dụng một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại trong một thời gian hoạt động nhất định. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin  có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của Ngân hàng thương mại.

1.2.2. Các phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Phương pháp phân tích Báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại bao gồm hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tình hình hoạt động tài chính ngân hàng, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tài chính của ngân hàng. Về mặt lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích Báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại như: phương pháp chi tiết, phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ, phương pháp tương quan và hồi quy bội. Trong phạm vi luận văn, chỉ giới thiệu những phương pháp cơ bản, thường được vận dụng trong phân tích tình hình tài chính ngân hàng:

1.2.2.1.Phương pháp so sánh

So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác định mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Để áp dụng phương pháp so sánh vào phân tích các Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại, trước hết phải xác định số gốc để so sánh. Việc xác định số gốc để so sánh là tùy thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích. Gốc để so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian và không gian. Kỳ phân tích được chọn là kỳ thực hiện hoặc kỳ kế hoạch, kỳ kinh doanh trước. Giá trị so sánh có thể chọn là số tuyệt đối, số tương đối, hoặc là số bình quân.

Để đảm bảo tính chất so sánh được của chỉ tiêu qua thời gian, cần đảm bảo thỏa mãn các điều kiện so sánh gồm đảm bảo sự thống nhất về: nội dung kinh tế của chỉ tiêu, phương pháp tính các chỉ tiêu, đơn vị tính các chỉ tiêu.

Mục tiêu so sánh trong phân tích các Báo cáo tài chính là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ (kỳ thực tế với kỳ kế hoạch hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước…)

Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này với trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân tích.

Nội dung so sánh bao gồm:

So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại.

So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt của hoạt động tài chính của Ngân hàng thương mại.

So sánh giữa số liệu của Ngân hàng thương mại với số liệu trung bình tiên tiến của ngành, của Ngân hàng thương mại khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan.

Quá trình phân tích theo phương pháp so sánh có thể thực hiện bằng ba hình thức:

So sánh theo chiều ngang: So sánh ngang trên các Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng Báo cáo tài chính. Mục đích là phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục trên từng Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại. Qua đó, xác định được mức biến động về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích.

So sánh theo chiều dọc: trên Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại chính là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa  các chỉ tiêu trong từng Báo cáo tài chính, giữa các Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại. Mục đích là phân tích sự biến động về cơ cấu hay những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu: các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên Báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ  để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng kinh tế – tài chính của Ngân hàng thương mại.

Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp rất quan trọng, được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong bất kì một hoạt động phân tích nào của Ngân hàng thương mại.

1.2.2.2. Phương pháp phân tích tỷ số

Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích. Đây cũng là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích Báo cáo tài chính và thường được sử dụng cùng với phương pháp so sánh. Mỗi tỷ số được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Phương pháp tỷ số cho phép chúng ta phân tích đầy đủ các khuynh hướng, vì một dấu hiệu có thể kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng đơn lẻ.  Về nguyên tắc, phương pháp phân tích tỷ số yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng với giá trị các tỷ lệ tham chiếu. Phương pháp này có tính hiện thực cao, các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, bởi:

Nguồn thông tin kế toán được cải tiến và được cung cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu cho việc đánh giá một tỷ số hay một nhóm tỷ số;

Áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số;

Phương pháp phân tích này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục, theo từng giai đoạn;

Các tỷ lệ tài chính thường được phân thành bốn loại chính, tùy theo khía cạnh cụ thể về tình hình tài chính của ngân hàng mà các tỷ lệ này muốn làm rõ, cụ thể như sau: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

  • Nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
  • Nhóm tỷ lệ về an toàn vốn và các loại rủi ro
  • Nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn
  • Nhóm tỷ lệ về cơ cấu tài sản

1.2.2.3. Mô hình Dupont

Trong phân tích tài chính, người ta thường vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu mà người ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự logic chặt chẽ. Mô hình Dupont thường được vận dụng trong phân tích tài chính, chẳng hạn:

Mỗi bộ phận cấu thành của các đẳng thức trên phản ánh những mặt khác nhau trong hoạt động của ngân hàng:

  • Tỷ lệ sinh lời hoạt động phản ánh tính hiệu quả của việc quản lý chi phí và các chính sách định giá dịch vụ.
  • Hiệu quả sử dụng tài sản phản ánh các chính sách quản lý danh mục đầu tư (đặc biệt là cấu trúc và thu nhập của tài sản).
  • Tỷ trọng vốn chủ sở hữu phản ánh các chính sách đòn bẩy tài chính, các nguồn vốn được lựa chọn để tài trợ cho hoạt động ngân hàng (nợ hay vốn chủ sở hữu).
  • Từ mô hình phân tích trên, khi một trong những tỷ số trên thay đổi, nhà quản lý cần phải tập trung và đánh giá những lý do nằm sau sự thay đổi này vì nó có khả năng ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu.

Phân tích Báo cáo tài chính dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với quản trị Ngân hàng thương mại. Điều đó không chỉ được biểu hiện ở chỗ: Có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh một cách sâu sắc và toàn diện. Đồng thời, đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Từ đó, đề ra được hệ thống các biện pháp tỉ mỉ và xác thực nhằm tăng cường công tác cải tiến tổ chức quản lý Ngân hàng thương mại, góp phần không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại ở các kỳ kinh doanh tiếp theo.

1.2.2.4. Phương pháp đồ thị Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Đồ thị là một phương pháp nhằm phản ánh trực quan các số liệu phân tích bằng biểu đồ hoặc đồ thị. Qua đó mô tả xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích, hoặc thể hiện mối quan hệ kết cấu của các bộ phận trong một tổng thể nhất định. Như vậy, phương pháp đồ thị có tác dụng minh họa kết quả tài chính đã tính toán được và được biểu thị bằng biểu đồ hay đồ thị, giúp cho việc đánh giá bằng trực quan, thể hiện rõ ràng và mạch lạc diễn biến của chỉ tiêu phân tích qua từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, xác định rõ những nguyên nhân biến động của chỉ tiêu phân tích. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tài chính ngân hàng. Bởi vậy, phương pháp này được vận dụng khá phổ biến nhằm biểu hiện tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích, giúp phản ánh:

Biểu thị quy mô các chỉ tiêu phân tích qua thời gian (tổng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn,…) hay tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu phân tích qua thời gian (tốc độ tăng tổng tài sản,…).

Biểu hiện mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các chỉ tiêu nhân tố như: tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu chịu ảnh hưởng của Tỷ lệ sinh lời hoạt động, Hiệu quả sử dụng tài sản, Tỷ trọng vốn chủ sở hữu.

1.2.3. Điểm khác biệt giữa phân tích Báo cáo tài chính doanh nghiệp và Ngân hàng thương mại. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Phân tích Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại về cơ bản là giống với phân tích Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, đó là quá trình phân tích, đánh giá các chỉ tiêu về tài chính, dựa trên các Báo cáo tài chính cơ bản. Tuy nhiên do đặc thù về hoạt động kinh doanh nên thông tin trên Báo cáo tài chính cũng như các chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính có sự khác biệt so với doanh nghiệp.

Thứ nhất, đối tượng kinh doanh chính của Ngân hàng thương mại là tiền tệ. Giá cả của tiền tệ được phản ánh thông qua lãi suất. Do đó trên Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại sẽ không có một số khoản mục liên quan đến hàng hóa dịch vụ đơn thuần như hàng tồn kho, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng…

Thứ hai, Ngân hàng thương mại không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa như các doanh nghiệp thông thường mà thực hiện một số chức năng chính như chức năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền. Với chức năng trung gian tín dụng, làm cầu nối giữa người dư thừa vốn và người cần vốn, hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là huy động vốn từ nền kinh tế và sử dụng nguồn vốn huy động để cho vay khách hàng. Do đó, trên Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại sẽ xuất hiện các khoản mục như tiền gửi của các Tổ chức tín dụng, tiền gửi từ dân cư (bên Nguồn vốn), tiền gửi tại Tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng (bên Tài sản), thu nhập từ lãi, chi phí từ lãi…

Thứ ba, nguồn vốn hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là vốn huy động, chiếm khoảng 90% tổng TSC của Ngân hàng thương mại, Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ rất nhỏ, khoảng 10%. Trong khi các doanh nghiệp thông thường chủ yếu dựa vào vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Vốn tự có của Ngân hàng thương mại tuy chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn, tuy nhiên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Vốn tự có Ngân hàng thương mại được ví như tấm chống đỡ sự sụt giảm giá trị TSC cũng như thể hiện khả năng chống đỡ rủi ro của Ngân hàng thương mại, là cơ sở để Ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Do đó, việc tính toán các chỉ tiêu phân tích liên quan đến vốn tự có của Ngân hàng thương mại được chú trọng và phức tạp hơn. Ngân hàng thương mại tính toán chỉ tiêu an toàn vốn (capital adequacy ratio) còn doanh nghiệp thì không sử dụng chỉ tiêu này. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Thứ tư, hoạt động kinh doanh Ngân hàng thương mại có rất nhiều rủi ro đặc thù mà những rủi này này ít xuất hiện trong các ngành kinh doanh khác như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động… Rủi ro trong Ngân hàng thương mại có tính mắt xích và lan truyền rất nhanh, một Ngân hàng thương mại bị phá sản có thể ảnh hưởng đển cả hệ thống ngân hàng và gây tác động xấu đến nền kinh tế. Do đó, việc phân tích rủi ro của Ngân hàng thương mại chiếm một vị trí quan trọng trong phân tích Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại, trong khi đó ở doanh nghiệp, phần phân tích này tương đối đơn giản và không phải là phần phân tích trọng yếu.

Trên đây là một số điểm khác biệt cơ bản giữa phân tích Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại và doanh nghiệp. Ngân hàng thương mại với những đặc điểm kinh doanh riêng biệt, đã được xây dựng một hệ thống Báo cáo tài chính riêng. Do đó, các chỉ tiêu phân tích Báo cáo tài chính Ngân hàng thương mại bên cạnh một số chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu khác cũng sẽ khác biệt so với doanh nghiệp.

1.2.4. Nội dung hoạt động phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại

1.2.4.1. Phân tích cấu trúc tài chính

Cấu trúc tài chính của một ngân hàng được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Theo nghĩa hẹp, cấu trúc tài chính phản ánh cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn tài trợ tài sản (nguồn vốn) của Ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, như vậy chưa phản ánh được mối quan hệ giữa tình hình huy động vốn và tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại. Do đó, cấu trúc tài chính thường được xem xét theo nghĩa rộng gồm cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với nguồn vốn. Bởi vì, cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn, cơ cấu nguồn vốn phản ánh tình hình huy động vốn và chính sách huy động vốn, còn mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn phản ánh chính sách sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại. Chính sách huy động, sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại, một mặt phản ánh nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh, mặt khác, quan trọng hơn, chính sách này có quan hệ trực tiếp đến anh ninh tài chính, hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại. Từ đó, tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại.

  • Phân tích cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn – hoạt động tạo nguồn vốn cho Ngân hàng thương mại – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của Ngân hàng thương mại, có thể quy về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Cụ thể, vốn chủ sở hữu bao gồm nguồn vốn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động (từ lợi nhuận giữ lại, phát hành thêm cổ phần), các quỹ, nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần. Nợ phải trả bao gồm tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác), tiền vay (vay Ngân hàng Nhà nước, vay các Tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn, nợ khác (tiền ủy thác, tiền trong thanh toán). Mỗi nguồn này đều có những đặc điểm riêng dẫn đến khi quy mô và cơ cấu các nguồn này thay đổi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại:

Tiền gửi thường có quy mô rất lớn so với các nguồn khác, thường chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn, là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Tiền gửi có đặc điểm chung là phải được thanh toán khi có yêu cầu của khách hàng, là đối tương phải dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi (nên chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi), sự thay đổi đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi yêu cầu thanh khoản của ngân hàng. Tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác. Các nguồn tiền gửi thanh toán thường kém ổn định hơn tiền gửi tiết kiệm.

Tiền vay có tỷ trọng thường thấp hơn nguồn tiền gửi trong tổng nguồn vốn, có thời hạn và quy mô đã định trước nên ổn định, có thể không phải chịu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi nhưng do rủi ro cao hơn nên lãi suất trả cho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kỳ hạn. Các khoản vay Ngân hàng Nhà nước hoặc vay các ngân hàng khác tuy lãi suất thấp nhưng thường có thời hạn ngắn, chỉ nhằm đảm bảo thanh toán tức thời khi nhu cầu thanh toán của khách hàng tăng cao.

Ngân hàng tập trung phân tích tình hình huy động theo các chỉ tiêu sau:

Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm và tiền vay

Cơ cấu nguồn vốn, nhóm nguồn và sự thay đổi cơ cấu: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

  • Tỷ trọng từng loại nguồn vốn huy động/Tổng nguồn vốn huy động theo thị trường huy động (thị trường cấp 1, thị trường cấp 2); hình thức huy động (tiền gửi, tiền vay, phát hành giấy tờ có giá); theo kì hạn, cơ cấu loại tiền …
  • Tỷ trọng nguồn vốn huy động/ tổng nguồn vốn: Cho biết nguồn vốn huy động chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại.
  • Tỷ trọng vốn CSH/ tổng nguồn vốn: Cho biết vốn tự có chiếm bao nhiêu % trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, mức độ tự chủ tài chính của Ngân hàng thương mại.
  • Tỷ trọng vốn huy động/VCSH: Cho biết khả năng thu hút vốn của một đồng vốn tự có.
  • Tỷ trọng nguồn tiền gửi/VCSH: đảm bảo không vượt quá tỷ trọng cho phép trong các quy định về hoạt động của Ngân hàng thương mại.

Lãi suất bình quân, sự thay đổi trong lãi suất bình quân, lãi suất cận biên: cho thấy xu hướng thay đổi lãi suất của nguồn, mức độ thay đổi lãi suất mỗi nguồn,… rất có ý nghĩa đối với hoạch định chiến lược nguồn vốn.

  • Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản

Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng như ngân quỹ, tín dụng, chứng khoán, tài sản khác theo một phương thức thích hợp trong đó tín dụng và chứng khoán là hai loại tài sản lớn và quan trọng. Từ đó, phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản tập trung vào các nội dung sau: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Phân tích ngân quỹ: ngân quỹ của ngân hàng là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất, được thiết lập nhằm duy trì khả năng chi trả và các yêu cầu khác của Ngân hàng thương mại nên  phân tích ngân quỹ tập trung vào phân tích tình hình dự trữ của Ngân hàng thương mại bao gồm một số chỉ tiêu chính:

Mức dự trữ bắt buộc trong kỳ: đây là số tiền mà Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các Ngân hàng thương mại phải duy trì trên tài khoản tiền gửi của mình tại Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia.

Mức dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán: Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ngay của Ngân hàng thương mại khi phát sinh nghĩa vụ thanh toán. Để đánh giá khả năng thanh toán của Ngân hàng thương mại, nhà phân tích tính toán các tài sản bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (trừ số dư tiền DTBB), ngoài ra còn tính đến tiền gửi không kỳ hạn tại Tổ chức tín dụng khác, các giấy tờ có giá có khả năng chuyển đổi ngay thành tiền. Đây là cơ sở để tính toán hệ số khả năng chi trả của Ngân hàng thương mại.

Phân tích hoạt động tín dụng: khoản mục tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao nhất khoảng 50-70% tổng tài sản, các chỉ tiêu phân tích thường được sử dụng:

Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng: Doanh số cho vay trong kỳ, doanh số thu nợ trong kỳ, tổng dư nợ, dư nợ ròng (dư nợ – dự phòng tổn thất tín dụng)…

Cơ cấu tín dụng: Tỷ trọng dư nợ từng loại hình cho vay/ Tổng dư nợ: đánh giá tầm quan trọng của từng loại hình cho vay trong tổng dư nợ, Tổng dư nợ/ Tổng nguồn vốn huy động (LTD): phản ánh việc sử dụng vốn huy động để cho vay của Ngân hàng thương mại là cao hay thấp, nếu tỷ lệ LTD quá cao, ngân hàng có thể gặp rủi ro thanh khoản. Ngược lại, tỷ lệ LTD quá thấp có thể làm ngân hàng chưa tận dụng hết nguồn vốn, hiệu quả không cao. Tổng dư nợ/ Tổng tài sản: đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Chất lượng tín dụng được phản ánh thông qua một số chỉ tiêu: các tỷ lệ về nợ quá hạn/tổng dư nợ, nợ khó đòi/nợ quá hạn…

Phân tích hoạt động đầu tư: thông qua quản lý chứng khoán, ngân hàng phân loại chứng khoán thành hai nhóm chính (các chứng khoán thanh khoản nhưng sinh lời thấp, được nắm giữ chủ yếu để đáp ứng nhu cầu chi trả bao gồm chứng khoán của chính phủ, các tổ chức tài chính hàng đầu trong nước, quốc tế, có thời gian đến lúc đáo hạn ngắn và các chứng khoán kém thanh khoản hơn nhưng sinh lời cao, được nắm giữ chủ yếu để đáp ứng yêu cầu sinh lời, bao gồm chứng khoán của chính phủ, các Tổ chức tài chính, các công ty, có thời gian đáo hạn tương đối dài). Một số chỉ tiêu liên quan đến danh mục chứng khoán như rủi ro và thu nhập từ chứng khoán, tỷ lệ chứng khoán thanh khoản/ngân quỹ hoặc tiền gửi, Tổng mức đầu tư, Tỷ lệ Tổng mức đầu tư/ Tổng tài sản, Tỷ lệ từng loại đầu tư/ Tổng mức đầu tư…, các tỷ lệ này phản ánh chiến lược đầu tư của ngân hàng.

Ngoài ra, tài sản của ngân hàng còn bao gồm các tài sản ủy thác, trang thiết bị vật tư của ngân hàng và nhóm tài sản ngoại bảng. Tài sản ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời gắn với rủi ro. Các ngân hàng khi tính toán các chỉ tiêu an toàn đều tính tới tài sản ngoại bảng (quỹ dự phòng rủi ro khi tính trên tài sản rủi ro cũng tính cho cả tài sản ngoại bảng, tỷ lệ vốn chủ trên tài sản rủi ro cũng tính cho cả tài sản ngoại bảng…). Một vài chỉ tiêu tổng quát nhằm phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản chung:

Cơ cấu tài sản và sự thay đổi cơ cấu tài sản

Lãi suất bình quân, sự thay đổi trong lãi suất bình quân, lãi suất cận biên: cho thấy xu hướng thay đổi lãi suất của tài sản, mức độ thay đổi lãi suất mỗi loại tài sản,… rất có ý nghĩa đối với hoạch định chiến lược tài sản.

1.2.4.2. Phân tích mối liên hệ giữa tài sản và nguồn vốn Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Mối liên hệ nguồn vốn và tài sản chính là mối liên hệ giữa huy động và sử dụng vốn. Đó là hai mặt của quá trình hoạt động của ngân hàng, bao gồm mối liên hệ sinh lời và mối liên hệ an toàn:

Mối liên hệ sinh lời: tài sản mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng còn nguồn vốn liên quan tới chi phí chủ yếu của ngân hàng – chi phí trả lãi. Nguồn vốn và sự gia tăng của nguồn vốn với quy mô và cấu trúc nhất định, cần được phân bổ để tạo thành các tài sản sinh lời thích hợp. Việc gia tăng cho vay và đầu tư với mức rủi ro thấp chính là điều kiện để gia tăng sinh lời. Một số chỉ tiêu phản ánh mối liên hệ này sẽ được đề cập ở phần phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời.

Mối liên hệ an toàn: Quy mô và cấu trúc tiền gửi liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ và chứng khoán thanh khoản cũng như kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng:

  • Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng/ vốn tự có của Tổ chức tín dụng không vượt quá một tỷ lệ nhất định.
  • Tỷ lệ cho vay khách hàng/ tiền gửi khách hàng: thể hiện khả năng cho vay trên 1 đồng vốn huy động được từ khách hàng. Tỷ lệ này đạt khoảng 80% là tương đối tốt, tuy nhiên còn phụ thuộc vào tình hình thực tế huy động và cho vay trong từng thời kỳ.
  • Tỷ lệ cho vay khách hàng/ nguồn vốn huy động: thể hiện khả năng cho vay trên 1 đồng vốn huy động được.
  • Tỷ lệ cho vay dài hạn/ vốn huy động dài hạn
  • Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn
  • Tỷ lệ sử dụng vốn trung và dài hạn Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Chỉ tiêu này giúp đánh giá tính hợp lý và hiệu quả trong sử dụng vốn trung, dài hạn của Ngân hàng thương mại

1.2.4.3. Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời

Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các nguồn vật lực, tài chính của ngân hàng để đạt được hiệu quả cao nhất. Thông thường, các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh cao thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng cao, tuy nhiên trong một số trường hợp lại không phải như vậy. Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, các chuyên gia phân tích thường sử dụng phương pháp so sánh và phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh trên các góc độ như tỷ suất sinh lời của vốn, lãi cơ bản trên cổ phiếu, …Các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng hiện nay là:

Tỷ lệ thu nhập trên Vốn chủ sở hữu (ROE)= Thu nhập sau thuế / Vốn chủ sở hữu: thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng.

Tỷ lệ thu nhập trên Tổng tài sản (ROA)= Thu nhập sau thuế /Tổng tài sản: là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.

Tỷ lệ tài sản sinh lãi = Tài sản sinh lãi/Tổng tài sản bình quân (do hoạt động cho vay và đầu tư vào chứng khoán là hoạt động chủ yếu nên thu từ lãi là khoản thu lớn nhất của ngân hàng).

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) = (Thu lãi từ các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán – Chi phí trả lãi cho tiền gửi và nợ khác)/ Tổng tài sản: đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất.

Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên = (Thu ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi)/ Tổng tài sản: đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Rất nhiều cơ quan quản lý ngân hàng ưa thích sử dụng tài sản sinh lời để làm mẫu số trong công thức tính NIM và NNIM. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Tỷ lệ thu nhập cận biên trước những giao dịch đặc biệt (NRTS) = (Thu nhập sau thuế + Lãi (lỗ) từ hoạt động kinh doanh chứng khoán + Các khoản bất thường khác)/ Tổng tài sản: đo lường thu nhập của ngân hàng từ những nguồn ổn định bao gồm cả thu nhập từ khoản cho vay, đầu tư và thu phí từ việc bán các dịch vụ tài chính, so với tổng nguồn vốn của ngân hàng. Các khoản mục bất thường như tiền lời từ việc bán tài sản thiết bị hay những khoản lãi và lỗ từ kinh doanh chứng khoán , thường không được tính tới trong việc đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng.

Thu nhập trên cổ phiếu (EPS) = Thu nhập sau thuế/ Tổng số cổ phiếu thường phát hành: đo lường trực tiếp thu nhập của những người sở hữu ngân hàng – các cổ đông – tính trên mỗi cổ phiếu hiện đang lưu hành.

Chênh lệch lãi suất bình quân = Thu từ lãi/Tổng tài sản sinh lời – Tổng chi phí trả lãi/Tổng nguồn vốn phải trả lãi: đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường ngân hàng vì sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức lãi suất bình quân.

Tỷ lệ hiệu suất sử dụng tài sản cố định = Tổng thu nhập hoạt động/Tổng tài sản =  Thu nhập lãi/Tổng tài sản + Thu nhập ngoài lãi/Tổng tài sản: Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng gia tăng và các khoản cho vay kém chất lượng ngày càng nhiều thì việc tăng nguồn thu ngoài lãi là rất cần thiết, những khoản phí này giúp củng cố nguồn thu và tăng thu nhập ròng cho cổ đông ngân hàng.

Kết hợp các tỷ lệ thông qua việc sử dụng mô hình Dupont sẽ đánh giá đầy đủ hiệu quả sản xuất trên mọi phương diện, đồng thời phát hiện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản. Mặt khác khi phân tích hiệu quả kinh doanh cần kết hợp nhiều phương pháp phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp loại trừ, điều này nhằm xem xét mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố khác nhau tới hiệu quả kinh doanh để từ đó có các biện pháp nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng.

1.2.4.4. Phân tích rủi ro trong hoạt động Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Rủi ro của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có bản chất chung đó là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu. Rủi ro của ngân hàng phải gắn liền với giảm sút thu nhập ngoài dự kiến. Để phân tích rủi ro nói chung trong hoạt động của ngân hàng, chỉ tiêu thường được dùng là hệ số an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II. Hệ số an toàn vốn là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng, thường được dùng để bảo vệ người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống, theo quy định hệ số này cần lớn hơn hoặc bằng 8% mới đảm bảo an toàn vốn cho ngân hàng. Hệ số an toàn vốn được tính theo công thức sau:

Trong đó:

Vốn chủ sở hữu được chia làm vốn cấp 1 và vốn cấp 2.

Tổng tài sản rủi ro bao gồm: giá trị các tài sản nội bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro và các cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro.

Các ngân hàng quan tâm tới một số loại rủi ro chính gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tiền tệ. Bốn loại rủi ro này đều được thể hiện trong báo cáo tài chính của ngân hàng. Ngoài ra còn phải kể đến các loại rủi ro như rủi ro hoạt động, rủi ro thu nhập, rủi ro phá sản, rủi ro chính trị,….

Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc trả không đầy đủ vốn và lãi. Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng đến  nguy cơ phá sản. Phân tích rủi ro tín dụng có thể sử dụng các chỉ số sau: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Nợ quá hạn: là các khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng, hoặc ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng sai mục đích, hoặc tài sản đảm bảo bị giảm giá trị, hoặc khách hàng phá sản…

  • Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ
  • Tỷ lệ từng nhóm nợ quá hạn/ tổng dư nợ
  • Nợ quá hạn ròng: Nợ quá hạn ròng = Nợ quá hạn – DPRR tín dụng
  • Tỷ lệ nợ quá hạn ròng: đánh giá chất lượng tín dụng sau khi đã sử dụng quỹ DPRR tín dụng để bù đắp cho nợ quá hạn của ngân hàng

Về nguyên tắc, tỷ lệ này luôn nhỏ hơn tỷ lệ nợ quá hạn. Tỷ lệ này ở mức càng nhỏ càng tốt, do nó phản ánh khả năng bù đắp tổn thất càng cao.

  • Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ: phản ánh khả năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi các khoản cho vay của ngân hàng.
  • Tỷ lệ nợ xấu ròng: đánh giá chất lượng tín dụng sau khi đã sử dụng quỹ DPRR tín dụng để bù đắp cho nợ xấu của ngân hàng.
  • Về nguyên tắc, tỷ lệ này luôn nhỏ hơn tỷ lệ nợ xấu. Tỷ lệ này ở mức càng nhỏ càng tốt, do nó phản ánh khả năng bù đắp tổn thất càng cao. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.
  • Tỷ lệ trích lập DPRR tín dụng: phản ánh khả năng bù đắp rủi ro từ hoạt động tín dụng

Tốc độ tăng, giảm của các tỷ lệ trên: tỷ lệ càng cao, tốc độ tăng cho thấy rủi ro cao và có xu hướng tăng và ngược lại.

Rủi ro thanh khoản: là tổn thất xảy ra cho ngân hàng khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến. Rủi ro thanh khoản ở mức ngân hàng phải gia tăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản sẽ làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng, ở mức cao hơn, ngân hàng mất khả năng thanh toán sẽ dẫn đến phá sản.

Để phân tích khả năng thanh khoản của Ngân hàng thương mại, trước hết phải xác định được nhu cầu thanh khoản của ngân hàng và khả năng chi trả của ngân hàng đó tại từng thời điểm, thời kỳ khác nhau. Các chỉ tiêu thường được sử dụng trong phân tích thanh khoản bao gồm chủ yếu là các tỷ lệ về khả năng chi trả được tính toán công thức sau đây:

Trạng thái thanh khoản ròng (NLP) tại một thời điểm = (Lượng tiền gửi vào + Doanh thu từ các dịch vụ phi tiền gửi + Thanh toán nợ của khách hàng + Vay nợ trên thị trường tiền tệ) – (Lượng tiền gửi bị rút ra + Quy mô xin vay được chấp nhận + Thanh toán nợ của ngân hàng + Chi bằng tiền khác trong hoạt động + Thanh toán cổ tức bằng tiền): NLP < 0 ngân hàng rơi vào tình trạng thâm hụt thanh khoản, cần tìm nguồn bổ sung, NLP > 0 ngân hàng có thặng dư thanh khoản, cần đầu tư có hiệu quả các khoản thặng dư vốn thanh khoản.

Chỉ số về trạng thái tiền mặt = Tiền mặt và tiền gửi tại các Tổ chức tín dụng khác/Tổng tài sản: một tỷ lệ tiền mặt cao có nghĩa ngân hàng có khả năng vững vàng hơn trong việc giải quyết yêu cầu tiền mặt tức thời.

Chỉ số về chứng khoán chính phủ = Chứng khoán chính phủ/Tổng tài sản: tỷ lệ chứng khoán chính phủ càng cao, trạng thái thanh khoản của ngân hàng càng tốt.

Chỉ số tiền nóng = Tài sản trên thị trường tiền tệ/Vốn từ thị trường tiền tệ: phản ánh trạng thái tương quan giữa vốn vay  và tài sản trên thị trường tiền tệ, tài sản có thể bán được nhanh chóng để đáp ứng yêu cầu rút vốn từ thị trường tiền tệ.

Chỉ số cấu trúc tiền gửi = Tiền gửi giao dịch/Tiền gửi kỳ hạn: đo lường tính ổn định của cơ sở tiền gửi mà ngân hàng sở hữu, tỷ lệ này giảm thể hiện tính ổn định cao hơn của vốn tiền gửi và do đó yêu cầu thanh khoản sẽ giảm và ngược lại.

Tỷ lệ khả năng chi trả ngày tiếp theo và tỷ lệ khả năng chi trả 7 ngày tiếp theo cho biết khả năng chi trả trong 1 ngày và 7 ngày tiếp theo của ngân hàng. Tỷ lệ càng lớn chứng tỏ khả năng chi trả của ngân hàng càng cao.

Khe hở thanh khoản (chênh lệch dòng tiền vào và dòng tiền ra): ngân hàng tính toán khe hở thanh khoản trong kỳ tiếp theo dựa trên dự đoán dòng tiền vào và ra, có thể được tính cho từng ngày, tuần, tháng, năm dựa trên phân tích các nhân tố ảnh hưởng như thời vụ, chu kỳ, tâm lý, mức độ cạnh tranh… Xác định được khe hở thanh khoản giúp ngân hàng ổn định thanh khoản trong tương lai và đưa ra kế hoạch kinh doanh đúng đắn. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Rủi ro lãi suất: là khả năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm, khi lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến của ngân hàng gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác, như sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn và tài sản, ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng. Rủi ro lãi suất thường được quản lý bằng hai chiến lược:

Chiến lược quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất: tập trung vào việc bảo vệ hoặc tối đa hóa chỉ số NIM của ngân hàng. Tài sản và nguồn vốn được phân chia thành hai loại: không nhạy cảm và nhạy cảm với lãi suất. Các ngân hàng sẽ tính toán mức chênh lệch giữa giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất với giá trị nguồn vốn nhạy cảm lãi suất:

Khe hở nhạy cảm lãi suất (IS Gap) = Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất – Giá trị nguồn vốn nhạy cảm lãi suất

Khi có sự thay đổi trong lãi suất, thu nhập từ lãi của một ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nếu ngân hàng đó có IS Gap, mức thay đổi như sau:

Thay đổi trong thu nhập từ lãi = Thay đổi trong lãi suất x IS Gap

Tùy theo quy mô khe hở nhạy cảm lãi suất có giá trị dương hay âm, ban lãnh đạo ngân hàng sẽ căn cứ vào xu hướng lãi suất trên thị trường để có chính sách thích hợp nhằm giảm sự tác động của sự thay đổi lãi suất lên thu nhập từ lãi của ngân hàng hay chính là giảm rủi ro lãi suất.

Chiến lược quản lý khe hở kì hạn: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Trường hợp khe hở kỳ hạn bằng không, giá trị ròng của ngân hàng được bảo vệ trước rủi ro lãi suất.

Trong đó: +   ΔNW: sự thay đổi giá trị ròng của ngân hàng

  • DA: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình theo giá trị của danh mục tài sản – là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã bỏ ra để đầu tư, là thời gian trung bình dựa trên dòng tiền dự tính sẽ nhận được trong tương lai.
  • A: Tổng giá trị tài sản
  • DL: Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị của danh mục nợ – là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng.
  • L: Tổng giá trị nợ
  • Δi: Sự thay đổi lãi suất
  • i: Lãi suất ban đầu

Mức độ tác động của sự thay đổi lãi suất tới giá trị ròng của ngân hàng phụ thuộc vào độ lớn của ba yếu tố cơ bản sau:

Độ lớn của khe hở kỳ hạn: khe hở kỳ hạn càng lớn có nghĩa rủi ro lãi suất càng lớn.

Quy mô của ngân hàng (tổng tài sản): tác động của sự thay đổi lãi suất đối với giá trị ròng của ngân hàng tỷ lệ thuận với quy mô ngân hàng.

Mức độ thay đổi của lãi suất: sự thay đổi càng lớn kéo theo rủi ro lãi suất càng cao.

Các nhà quản lý có thể giảm rủi ro lãi suất bằng cách thu hẹp khe hở kỳ hạn (thay đổi DA, DL hay cả hai) hoặc thay đổi tương quan quy mô của tài sản và nguồn vốn huy động (A hay L).

1.3. Vai trò của công tác phân tích báo cáo tài chính đối với các đối tượng sử dụng thông tin Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Phân tích Báo cáo tài chính không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh mà ngân hàng đã đạt được trong một kỳ nhất định. Hội đồng quản trị, ban giám đốc, các nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp, các khách hàng, người lao động,… mỗi một đối tượng có những nhu cầu về các loại thông tin khác nhau về ngân hàng. Bởi vậy, mỗi đối tượng sử dụng thông tin có xu hướng tập trung vào những khía cạnh riêng của “bức tranh tài chính” của ngân hàng:

1.3.1. Với Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo Ngân hàng thương mại

Phân tích Báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo các quyết định của ban lãnh đạo như quyết định đầu tư, quyết định tài trợ, quyết định phân chia lợi tức… phù hợp với tình hình thực tế và có hiệu quả cao: Do đặc thù hoạt động của ngành ngân hàng, các ngân hàng đang phải chịu những sức ép rất lớn: đáp ứng các mục tiêu của cổ đông, nhân viên, người gửi tiền và khách hàng vay vốn đồng thời, phải đảm bảo yêu cầu của các nhà lập pháp về sự lành mạnh của danh mục cho vay, đầu tư cũng như của chính sách hoạt động mà ngân hàng đề ra.

Phân tích Báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại nhằm dự báo và có biện pháp tăng khả năng sinh lời, là cơ sở quan trọng cho các kế hoạch tài chính trong tương lai của ngân hàng: Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù, do vậy mục tiêu hoạt động của Ngân hàng thương mại cũng là tăng khả năng sinh lời và tối đa hóa lợi nhuận. Bên cạnh đó, Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, vốn tự có chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn. Vì vậy việc kinh doanh luôn đặt trên cơ sở uy tín, niềm tin và mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng. Do đó trong hoạt động kinh doanh ngân hàng không những phải đảm bảo khả năng thanh toán chi trả như các doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng, trong đó có một phần tiền gửi thanh toán không có kỳ hạn. Thu nhập chính của Ngân hàng thương mại là từ hoạt động cho vay. Song song với việc quan tâm đến lãi suất đi vay và cho vay, vấn đề an toàn vốn, thu hồi nợ cũng là một vấn đề quan tâm bậc nhất của ngân hàng. Việc ngân hàng gia nhập thị trường mở để huy động thêm vốn cũng có nghĩa báo cáo tài chính của ngân hàng được giới đầu tư và công chúng xem xét kĩ. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đối với hoạt động cho vay và gửi tiền cũng gia tăng mạnh mẽ. Các ngân hàng buộc phải thường xuyên phân tích đánh giá Báo cáo tài chính để xem xét đánh giá lại chính sách huy động vốn và cho vay, các kế hoạch mở rộng, tăng trưởng, đánh giá lại mỗi quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong môi trường cạnh tranh.

Phân tích Báo cáo tài chính nhằm hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh: hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro, trong đó một số rủi ro ngân hàng có thể chủ động phòng ngừa, còn các rủi ro khác chỉ có thể khống chế trong một phạm vi nhất định. Để tăng cường khả năng chống đỡ với rủi ro, việc phân tích Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại trở nên rất quan trọng. Ngoài ra, phân tích Báo cáo tài chính còn được xem xét một cách kĩ lưỡng để phát hiện ra những sai lầm trong hoạt động quản lý, vấn đề lừa đảo hoặc vấn đề từ sự bất ổn định trong nền kinh tế có thể dẫn tới phá sản ngân hàng. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

1.3.2. Với nhà đầu tư và khách hàng

Nhà đầu tư quan tâm trước hết đến việc đánh giá các đặc điểm liên quan đến các yếu tố như sự rủi ro, sự bảo toàn vốn đầu tư, lãi cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư trước các quyết định bỏ vốn vào ngân hàng hoặc rút vốn khỏi ngân hàng đó. Do vậy, phân tích Báo cáo tài chính giúp các nhà đầu tư đánh giá cơ cấu vốn hiện tại và các chính sách nhằm duy trì cơ cấu vốn, đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, các yếu tố tác động làm gia tăng giá trị các cổ phiếu trên thị trường cũng như triển vọng, khả năng tăng trưởng của ngân hàng trong tương lai.

1.3.3. Với các cơ quan quản lý

Hoạt động của Ngân hàng thương mại có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế; và liên quan đến lợi ích của đông đảo cá nhân và các tổ chức. Vì vậy tình hình tài chính của ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế và tâm lý công chúng. Vì những lý do đó mà ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm thường xuyên và chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước. Các cơ quan này phân tích Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại nhằm mục đích kiểm tra tình hình tài chính của Ngân hàng thương mại, nhanh chóng nắm bắt khó khăn của các ngân hàng để kịp thời ban hành các chính sách ứng phó nhằm đảm bảo cho hệ thống Ngân hàng thương mại luôn hoạt động lành mạnh và có hiệu quả..

Tóm lại, hoạt động phân tích Báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại là công việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác quản trị ngân hàng. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng, mà còn cần thiết cho các chủ thể quản lý khác có liên quan đến ngân hàng. Phân tích Báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại sẽ giúp quản trị ngân hàng khắc phục được những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của ngân hàng trong tương lai. Trên cơ sở đó, quản trị ngân hàng đề ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm lựa chọn quyết định phương án tối ưu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

1.4. Các tiêu chí phản ánh chất lượng công tác phân tích báo cáo tài chính Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Do chưa có bộ chỉ tiêu chính thức quy định về chất lượng công tác phân tích Báo cáo tài chính nên dựa trên định nghĩa về chất lượng công tác phân tích Báo cáo tài chính và Hệ thống quản lý chất lượng theo Bộ tiêu chuẩn ISO, một số tiêu chí chính phản ánh chất lượng công tác phân tích Báo cáo tài chính như sau:

Tổ chức phân tích Báo cáo tài chính: đơn vị thực hiện có xây dựng được quy trình phân tích Báo cáo tài chính một cách có hệ thống hay không, bao gồm việc lập kế hoạch phân tích, trình tự phân tích và hoàn thành công tác phân tích. Đây là bước đầu tiên để đảm bảo công tác phân tích Báo cáo tài chính được tiến hành một cách có hệ thống, giúp cho việc phân tích được nhanh chóng, thuận tiện và đầy đủ hơn.

Bộ phận kiểm soát chất lượng yếu tố đầu vào (BCTC) và sản phẩm đầu ra (báo cáo phân tích): đảm bảo Báo cáo tài chính chuẩn xác và kiểm soát nội dung báo cáo phân tích để tránh sai sót trước khi cung cấp cho các đối tượng sử dụng sẽ giảm thiểu tối đa các sai sót trong phân tích, đảm bảo chất lượng báo cáo phân tích.

  • Chất lượng của nội dung báo cáo phân tích : được thể hiện bởi tính chính xác, đầy đủ, không bỏ sót những thông tin quan trọng, chi tiết, trình bày rõ ràng dễ hiểu.
  • Tính thực tiễn của nội dung các chỉ tiêu phân tích : cần đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng và cần thiết cho người sử dụng.
  • Tác dụng của kết quả phân tích: kết quả phân tích phục vụ hiệu quả cho hoạt động điều hành, kinh doanh của ngân hàng.
  • Sự kịp thời của báo cáo phân tích : báo cáo cần được cung cấp đúng thời điểm, thể hiện sự chuyên nghiệp trong công tác phân tích.

1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác phân tích báo cáo tài chính tại Ngân hàng thương mại

1.5.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Về phía ngân hàng, chất lượng công tác phân tích Báo cáo tài chính bị ảnh hưởng bởi:

Công tác thu thập tài liệu và xử lý số liệu: Chất lượng phân tích phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tài liệu thu thập được. Báo cáo tài chính là cơ sở dữ liệu chủ yếu để tiến hành phân tích Báo cáo tài chính, các thông tin đầu vào chủ yếu là Báo cáo tài chính có tính chính xác cao thì sản phẩm đầu ra là các báo cáo phân tích cũng sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn. Các Báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại hiện nay đều đảm bảo được kiểm toán đầy đủ nên nội dung Báo cáo tài chính cũng có độ tin cậy cao hơn. Bên cạnh đó, các thông tin liên quan như các thông tin chung về giá cả thị trường, tiền tệ, các tài liệu trên báo cáo quản trị cũng cần được thu thập nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng báo cáo phân tích.

Quy trình phân tích Báo cáo tài chính của ngân hàng: công tác phân tích Báo cáo tài chính của ngân hàng không phải là công việc đơn giản, quy trình phân tích được xây dựng một cách khoa học, tỉ mỉ và chi tiết sẽ đảm bảo kết quả phân tích có chất lượng. Ngoài ra, Công tác kiểm tra, kiểm soát báo cáo phân tích của ngân hàng là bộ lọc cuối cùng để các báo cáo phân tích được gửi tới các đối tượng sử dụng đảm bảo tính chính xác. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Trình độ của cán bộ phân tích: Đây là nhân tố quan trọng quyết định đến hiệu quả cũng như chất lượng của công tác phân tích Báo cáo tài chính ngân hàng về tính xác thực, toàn diện của báo cáo phân tích, đến việc tổ chức phân tích có khoa học và hợp lý hay không. Ngân hàng có thể xác định được tầm quan trọng của công tác phân tích Báo cáo tài chính nhưng nếu không có được nguồn nhân lực chất lượng thì đó chỉ là mong muốn và dừng lại ở kế hoạch phát triển công tác phân tích Báo cáo tài chính ngân hàng. Do đó, để triển khai được công tác phân tích Báo cáo tài chính tại ngân hàng thì phải có được nguồn nhân lực có trình độ và năng lực. Ngân hàng phải tuyển dụng được những con người có kinh nghiệm, có trình độ để xây dựng và đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng phải có kế hoạch bồi dưỡng nguồn nhân lực để họ có thể phát triển hơn nữa trình độ của mình.

Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ công tác phân tích: Các giải pháp kỹ thuật công nghệ được lựa chọn phù hợp (các phần mềm phân tích Báo cáo tài chính, hệ thống Corebanking giúp tổng hợp số liệu nhanh chóng, chính xác,…) là xúc tác cho sự phát triển công nghệ tin học ngân hàng đúng hướng, là nhân tố giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý thông tin, tăng cường công tác phân tích Báo cáo tài chính, các báo cáo phân tích được cung cấp vừa nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo tính chính xác.

Chính sách của Ban quản trị Ngân hàng: cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng – chủ trương chính sách của Ban quản trị Ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công tác phân tích Báo cáo tài chính . Tùy theo định hướng và nhu cầu của Ban quản trị, nếu lãnh đạo ngân hàng nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc phân tích Báo cáo tài chính thì công tác phân tích Báo cáo tài chính sẽ được quan tâm và phát triển một cách đúng đắn, giúp thúc đẩy nhanh chóng việc tăng cường phát triển hệ thống công nghệ thông tin hay bồi dưỡng cán bộ phân tích.

1.5.2. Các nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài

Quy định của Nhà nước: Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

Về hoạt động phân tích tài chính, Báo cáo tài chính: cùng với sự phát triển của ngân hàng và nền kinh tế, các quy định của Ngân hàng Nhà nước liên quan đến Báo cáo tài chính ngày càng chặt chẽ, chế độ quy định bắt buộc của Nhà nước về việc lập báo cáo thuyết minh tài chính, thực hiện các Báo cáo tài chính tiến dần đến chuẩn mực quốc tế, yêu cầu bắt buộc các Báo cáo tài chính của Ngân hàng đều phải được tiến hành kiểm toán độc lập giúp cho nội dung các Báo cáo tài chính chính xác hơn. Đây là cơ sở để đã góp phần làm tăng tính chính xác của các thông tin được sử dụng như là nguyên liệu đầu vào cho việc phân tích tài chính, do đó góp phần làm cho kết quả phân tích tài chính trở nên hữu ích hơn đối với người sử dụng. Tuy nhiên, một vấn đề có thể xảy ra là khi thay đổi các quy định về việc lập Báo cáo tài chính dẫn đến số liệu trên Báo cáo tài chính có thể không thống nhất vì sử dụng những chuẩn mực khác nhau để thực hiện. Từ đó, số liệu theo thời gian sẽ thiếu tính chính xác và ảnh hưởng đến việc phân tích, đặc biệt là dự báo.

Quy định giới hạn các chỉ số tài chính: Mặc dù theo các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau đều có những chỉ tiêu giới hạn các chỉ số tài chính bắt buộc theo Quy định của Ngân hàng Nhà nước như:  Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, Giới hạn về tỷ lệ cho vay/huy động, tỷ lệ cho vay tối đa đối với một khách hàng, Tỷ lệ góp vốn và đầu tư, Tỷ lệ về khả năng chi trả,…. Tuy nhiên, các chỉ số tài chính của ngân hàng trong thực tế còn rất nhiều và trong điều kiện ngành ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro thì việc có thêm các giới hạn tham chiếu (không bắt buộc) có thể giúp ích nhiều cho ngân hàng trong hoạt động phân tích Báo cáo tài chính.

Mức độ phổ biến của các thông tin và số liệu ngành: hoạt động phân tích Báo cáo tài chính không chỉ gói gọn trong việc xem xét các số liệu tài chính, chỉ số tài chính của bản thân ngân hàng mà còn phải kết hợp phân tích ngành, so sánh với số liệu ngành nói chung. Tuy nhiên, ngoại trừ các ngân hàng đã niêm yết trên sàn chứng khoán cung cấp toàn bộ số liệu Báo cáo tài chính thì đa phần các ngân hàng còn lại chỉ cung cấp một số chỉ tiêu chính. Ngân hàng Nhà nước cũng có những báo cáo tổng hợp hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của toàn bộ hệ thống ngân hàng nhưng rất hiếm có các báo cáo riêng của từng nhóm ngân hàng khác nhau trong khi đó việc so sánh phân tích ngành để chính xác nhất thì cần phối hợp so sánh chung toàn hệ thống và so sánh riêng với các ngân hàng có quy mô tương đương. Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại BacABank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Công tác Phân tích Báo cáo tài chính tại BacABank […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537