Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ mang đến doanh thu trực tiếp từ các lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, tour tuyến, điểm tham quan mà còn tạo nguồn thu, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan khác như giao thông vận tải, ăn uống, giải trí, thương mại và một số dịch vụ phụ trợ khác (thông tin liên lạc, ngân hàng,…).Trong những năm qua trước yêu những yêu cầu, thách thức của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch nước ta trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế quốc gia nói chung cũng như đối với các địa phương nói riêng và đặc biêt là đối với các địa phương coi du lịch là ngàng kinh tế mũi nhọn như thành phố Đà Nẵng.
Đà Nẵng là một trong những thành phố có tiềm năng du lịch rất lớn của nước ta. Với những lợi thế về địa lý, điều kiện tự nhiên như sở hữu 1 trong 10 bãi biển đẹp nhất thế giới, các bán đảo, đảo, bãi tắm đẹp,… đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển cho thành phố. Sau hơn 40 năm phát triển, ngành du lịch Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của thành phố. Du lịch phát triển đã làm thay đổi diện mạo, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần quan trọng trong việc giúp thành phố đạt được những kết quả đáng khích lệ như vậy chính là sự hợp lý, hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố đến thời điểm hiện tại. Hệ thống chính sách phát triển du lịch biển của thành phố trong thời gian qua đã tạo ra những tác động tích cực, cũng như tạo ra môi trường thuận lợi khuyến khích sự phát triển của du lịch biển Đà Nẵng theo định hướng của Đảng và Nhà nước nói chung cũng như của thành phố Đà Nẵng nói riêng. Bên cạnh những ưu điểm của mình, hệ thống chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cũng không thể tránh khỏi việc tồn tại những hạn chế nhất định. Như việc một số yếu tố phát triển du lịch biển chưa được đầu tư quan tâm đúng mức, một số phương án chính sách được đưa ra nhằm phát triển du lịch biển của thành phố chưa thực sự đáp ứng được các các yêu cầu, đòi hỏi thực tế đối với việc giải quyết các vấn đề của phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trong thời gian qua, với mục đích tìm ra những phương án nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng, nhiều nhà khoa học, nghiên cứu đã thực hiện những đề tài, công trình nghiên cứu kho học về thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng nói chung cũng như du lịch biển Đà Nẵng nói riêng, từ đó đề xuất các phương án cụ thể nhằm góp phần phát triển hơn nữa du lịch biển Đà Nẵng. Tuy nhiên, những đề tài, nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian qua phần lớn được các nhà khoa học, nghiên cứu khai thác, nghiên cứu dưới góc độ về kinh tế, du lịch, quản lý công trong khi các nghiên cứu về phát triển du lịch biển Đà Nẵng trên phương diện chính sách công còn rất hạn chế. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trong bối cảnh đó, việc làm rõ một thực trạng và đề xuất một số phương án nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, qua đó góp phần khai thác thác tối đa các tiềm năng, tạo ra và nắm bắt các cơ hội để phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng là rất cần thiết. Đây là lý do tác giả chọn đề tài “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua đã có rất nhiều nhà khoa học, nghiên cứu thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến phát triển du lịch biển nói chung cũng như phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói riêng. Cụ thể:
2.1. Một số nghiên cứu về phát triển du lịch biển nói chung
Tác giả Ngô Quang Duy (2016) với nghiên cứu “Phát triển Du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh”, luận văn Thạc sĩ Du lịch học – Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về biển, đảo, du lịch biển đảo từ đó làm căn cứ cho việc nhận diện các tài nguyên du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh. Đồng thời thông qua các nghiên cứu phân tích về thực trạng hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn.
Tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền (2017), với nghiên cứu về “Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang”, luận văn Thạc sĩ Địa lý học – Trường đại học Sư phạm Hồ Chí Minh, đã tập trung việc tổng quan các cơ sở lý luận đối với việc phát triển du lịch biển. Đồng thời nghiên cứu, phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch biển Nha Trang theo hướng bền vững. Từ đó kết hợp với các định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang.
Tác giả Vũ Đình Nguyên (2021) với nghiên cứu “Phát triển bền vững du lịch biển Cát Bà”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch – Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã khái quát về du lịch biển và phát triển du lịch biển bền vững. Khảo sát hiện trạng hoạt động du lịch biển ở Cát Bà. Phân tích các nguyên nhân khiến du lịch biển Cát Bà thiếu bền vững. Đưa ra những giải pháp phù hợp hướng đến phát triển du lịch biển bền vững tại Cát Bà.
Tác giả Châu Quốc Tuấn (2024) với nghiên cứu “Phát triển du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”, Luận án Tiến sĩ – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch biển đảo, làm cơ sở để thực hiện việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh. Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh.
2.2. Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới phát triển du lịch biển Đà thành phố Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ, Dương Thị Thơ (2012) đã thực hiện nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động dịch vụ du lịch trên địa bàn TP.ĐN” ( Do Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý). Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu và phát triển các loại hình sản phẩm và hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2012 – 2018. Cụ thể, đề tài nghiên cứu các sản phẩm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch của Đà Nẵng trong mối liên hệ động với các yếu tố môi trường, trên cơ sở đó, nghiên cứu và đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển các sản phẩm và hoạt động du lịch của Đà Nẵng. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Tác giả Trần Thị Kim Ánh (2018) đã triển khai đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch – Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển, nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển du lịch biển, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch ven biển tại Đà Nẵng và đưa ra định hướng cũng như đề xuất giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Tác giả Hoàng Thanh Hiền và Nguyễn Thị Như Liên (2018) cùng đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”, đã được đăng bài trên Tạp chí khoa học và công nghệ – Đại học Đà Nẵng số 5.2018. Đề tài đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển, làm cơ sở cho việc phân tích, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch biển tại Đà Nẵng. Từ đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Tác giả Hoàng Thị Thu Thảo (2020) đã triển khai đề tài “Phát triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triểm – Đại học Đà Nẵng. Thông qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sản phẩm du lịch, từ đó đánh giá các sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng.
Tác giả Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2020) với nghiên “Phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triểm – Đại học Đà Nẵng đã làm rõ các cơ sở lý luận và thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng. Từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế còn tồn tại của du lịch biển Đà Nẵng. Từ đó làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Tác giả Trần Ngọc Khánh (2022) với nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển du lịch tại Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận có liên quan đến du lịch, sản phẩm du lịch trên thành phố Đà Nẵng. Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý ngành du lịch tại TP Đà Nẵng cũng như đánh giá thực trạng hoạt động dịch vụ DL trên địa bàn thành TP Đà Nẵng. Từ đó đưa ra những đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Mặc dù có nhiều đề tài đã đề cập đến nội dung phát triển du lịch biển Đà Nẵng, tuy nhiên, các đề tài nêu trên chỉ mới tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh về quản lý, kinh tế và du lịch nhưng chưa tiếp cận vấn đề ở khía cạnh Chính sách. Hơn thế nữa, các giải pháp được đề xuất trong các đề tài có thể không còn phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội hiện tại nói chung. Chính vì vậy, việc triển khai đề tài nghiên cứu “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng” là cần thiết, khách quan và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của ngành du lịch địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới.
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:.
- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về nội dun chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng.
- Phân tích, làm rõ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại.
- Từ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng và bài học kinh nghiệm từ các địa phương trong và ngoài nước, đề xuất các phương án hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về Nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, bao gồm mục tiêu và các chương trình chính sách. Các phương án nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
- Về thời gian Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Luận văn nghiên cứu hệ thống các văn bản quản lý Nhà nước có liên quan đến nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đang có hiệu lực thi hành ở thời điểm hiện tại.
Các số liệu, phân tích, tài liệu có liên quan đến kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2024 định hướng đến năm 2025.
- Về không gian
Đề tài nghiên cứu chính sách phát triển du lịch biển trên phạm vi thành phố Đà Nẵng.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở nguyên lý, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp lý thuyết và thực tiễn về chính sách công và phát triển du lịch biển trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các ngành khoa học, chính trị, xã hội và nhân văn làm phương pháp luận chung, lấy phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh, thống kê mô tả,… làm phương pháp luận trực tiếp để nghiên cứu và phân tích về chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng để hoàn thiện luận văn này. Phương pháp được vận dụng một cách linh hoạt để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác nhất về chính sách thu phát triển du lịch biển Đà Nẵng: nội dung chính sách, kết quả thực hiện chính sách trong những năm qua, các bài học, kinh nghiệm phát triern du lịch biển của một số nước, địa phương, ….
- Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê: Từ những thông tin, tài liệu đã thu thập cần được thống kê lại một cách đầy đủ, khoa học để có thể nghiên cứu, phân tích các tài liệu dễ dàng hơn, trình bày một cách dễ hiểu, đặc biệt các thông tin liên quan đến con số như: số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng, doanh thu từ du lịch, số lượng nhân lực phục vụ du lịch biển trong giai đoạn 2019 – 2024,…
- Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu
Phương pháp được áp dụng nhằm hiểu rõ được nội dung của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, cũng như làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và cách khắc phục để hoàn thiện chính sách thì phương pháp phân tích tài liệu, số liệu là không thể thiếu.
- Phương pháp so sánh
Vận dụng phương pháp này để so sánh số lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch,… với các quận, huyện, thành phố khác để thấy được tính hợp lý và mức độ cạnh tranh với địa phương khác
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
6.1 Về mặt lý luận
Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản về chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng. Đồng thời, luận văn đã đi sâu vào việc phân tích, hệ thống các nội dung, đặc điểm cũng như vai trò của chính sách phát triển du lịch biển. Qua đó làm cơ sở cho việc xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách phát triển du lịch biển.
6.2. Về mặt thực tiễn
Qua việc phân tích một số chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của các địa phương trong và ngoài nước. Luận văn đưa ra một số bài học kinh nghiệm đối với chính sách phát triển du lịch biển của Đà Nẵng.
Thông qua nghiên cứu phân tích các đặc điểm, điểu kiện kinh tế – xã hội – tự nhiên của thành phố Đà Nẵng, luận văn rút ra những kết luận về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong giai đoạn sắp tới.
Trên cơ sở phân tích thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển ở thời điểm hiện tại. Luận văn rút ra những ưu, nhược điểm của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng hiện nay. Từ đó luận văn đưa ra những phương án đề xuất nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Kết quả nghiên cứu này làm dữ liệu tham khảo cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển du lịch biển.
- Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng .
- Chương 3: Hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN
1.1. Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển
1.1.1. Khái niệm chính sách phát triển du lịch biển
1.1.1.1. Du lịch biển Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung, khái niệm du lịch vẫn chưa thống nhất. Dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau (do tiếp cận trên góc độ của người đi du lịch; tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch; tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương; tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại) lại có một cách hiểu về du lịch khác nhau.
Dưới góc độ của chính quyền địa phương, phương diện quản lý Nhà nước du lịch được hiểu là: Việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể, là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương.
Du lịch biển là một loại hình du lịch gắn liền với biển, hay tài nguyên biển. Có thể hiểu “Du lịch biển loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, hang động, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch và tạo sự phát triển bền vững”.
1.1.1.2. Chính sách phát triển du lịch biển
Chính sách công là không phải là khái niệm mới mẻ trong hoạt động quản lý Nhà nước cũng như trong khoa học chính sách. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có những quan điểm thống nhất về khái niệm này. Trong khi một số định nghĩa tiếp cận khái niệm chính sách công một cách khá phức tạp thì một số định nghĩa khác lại khá đơn giản. Cụ thể:
Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về chính sách công. Theo Thomas Dye “Chính sách công là bất kỳ những gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”. Wiliam Jenkins (năm 1978) đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về chính sách công. W. Jenkins định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”. James Anderson lại đưa ra một định nghĩa về chính sách công chung hơn “Chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm”. Hay theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [11, tr.14]. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công, tuy nhiên có thể rút ra những điểm cơ bản về chính sách công như sau:
- Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ quyết định do Nhà nước ban hành và bao hàm các quyết định của Nhà nước.
- Thứ hai, chính sách công bao hàm một tập hợp các quyết định diễn ra qua một giai đoạn dài và kéo dài vượt ra ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu.
- Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội.
- Thứ tư, chính sách công hướng đến việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng.
- Thứ năm, chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh tăng dần so với quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu.
- Thứ sáu, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách.
Như vậy, có thể hiểu “Chính sách công là định hướng hành động được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [13, tr.21-22].
Chính sách phát triển du lịch biển là một loại chính sánh cụ thể của chính sách công, là công cụ được Nhà nước sử dụng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng của Nhà nước thông qua việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp nhằm phát triển du lịch biển. Thông qua chính sách phát triển du lịch biển các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển du lịch biển được cụ thể hóa và thể chế hóa. Cụ thể có thể hiểu Chính sách phát triển du lịch biển là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hướng tới phát triển du lịch biển, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng.
1.1.1.3. Đặc điểm chính sách phát triển du lịch biển
Thứ nhất, chính sách phát triển du lịch biển không chỉ thể hiện định hướng của nhà hoạch định chính sách về mục tiêu giải quyết vấn đề phát triển du lịch biển, mà còn bao gồm những định hướng về cách thức thực hiện các dự định nói trên. Chính sách phát triển du lịch biển trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm phát triển du lịch biển của địa phương. Song, nếu chỉ là những dự định, dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách. Chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Nếu chỉ hiểu chính sách phát triển du lịch biển một cách đơn giản là những chủ trương của Nhà nước, địa phương ban hành nhằm phát triển du lịch biển, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi.
Thứ hai, chính sách phát triển du lịch biển gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. Trước hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với các quyết định hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Khái niệm quyết định ở đây có nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước. Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ. Chính sách phát triển du lịch biển là một hệ thống hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách ở đây là phát triển du lịch biển, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài. Chính sách phát triển du lịch biển ở đây có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp luật cho việc thực thi, song nó cũng bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển.
Thứ ba, chính sách phát triển du lịch biển thay đổi theo thời gian. Do tính chất vận động liên tục của môi trường kinh tế- xã hội của đất nước cũng như thế giới, những kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình thực thi chính sách, những thay đổi của các vấn đề của phát triển du lịch biển… những điều này tác động đến chính sách phát triển du lịch biển, khiến một số định hướng, giải pháp của chính sách không còn phù hợp, hay không hiệu quả và cần có sự thay đổi, dẫn đến chính sách phát triển du lịch biển có thể có những thay đổi, điều chỉnh nhất định về định hướng chính sách, hay các phương án chính sách được sử dụng nhằm phát triển du lịch biển.
Thứ tư, chính sách phát triển du lịch biển có tính kế thừa lịch sử. Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định quy luật phát triển xã hội luôn có trong nó sự kế thừa lịch sử. Chính sách công nói chung và chính sách phát triển du lịch biển nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật này. Việc hoạch định, thực thi, đánh giá,… chính sách phát triển du lịch biển để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất phải dựa trên những bài học, kinh nghiệm từ các chính sách đã và đang được áp dụng. Đối với chính sách phát triển du lịch biển quá trình xây dựng, thực thi chính sách ở giai đoạn trước đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại của chính sách. Đây là những kinh nghiệm, cơ sở cho việc tiếp tục thực hiện hay thay đổi một số nội dung của chính sách từ đó giúp chính sách phát triển du lịch biển dần được hoàn thiện.
Thứ năm, chính sách phát triển du lịch biển ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân số khác nhau trong xã hội. Chính sách phát triển du lịch biển không chỉ tác động trực tiếp đến các nhóm đối tượng có liên quan đến du lịch biển như đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ liên quan đến du lịch biển, người dân địa phương nơi có hoạt động du lịch biển, khách du lịch… thông qua các biện pháp chính sách về nâng cao số lượng, chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các biện pháp ưu đãi đầu tư cho du lịch biển, quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ có liên quan đến du lịch biển… mà còn liên quan đến các bộ phận dân cư khác như người dân địa phương khác một cách gián tiếp thông qua các tác động của việc thực thi chính sách phát triển du lịch biển mang lại.
1.1.2. Nội dung chính sách phát triển du lịch biển Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Từ khái niệm về chính sách công nói chung cũng như khái niệm về chính sách phát triển du lịch biển nói riêng như đã phân tích nêu trên cho thấy nội dung cấu trúc của chính sách công nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng bao gồm hai bộ phận là mục tiêu chính sách và giải pháp chính sách.
1.1.2.1. Mục tiêu chính sách.
Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển là những giá trị hay kết quả mà Nhà nước mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện các giải pháp chính sách. Các mục tiêu này thể hiện ý chí của Nhà nước trong giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển.
Mục tiêu của chính sách cũng phản ánh thái độ của Nhà nước trước vấn đề công, thái độ đó có thể tích cực hoặc tiêu cực. Hơn đó, trong các xã hội dân chủ, mục tiêu của chính sách phải thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề công. Cùng với đó, mục tiêu chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước. Ví dụ, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, và mọi chính sách của Nhà nước phải phù hợp với mục tiêu định hướng này.
Mục tiêu chính sách phát triển du lịch biển được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể, từ định tính đến định lượng. Thông thường, mục tiêu chính sách ban hành ban đầu hay còn gọi là mục tiêu mang yếu tố định tính, tức là nó được thể hiện dưới dạng ngôn từ thay vì được thể hiện dưới dạng các con số. Nhưng mục tiêu chung này lại được cụ thể hóa thành các mục tiêu ở cấp độ cụ thể hơn hay còn gọi là chỉ tiêu. Các mục tiêu cụ thể này phản ánh những khía cạnh cụ thể của mục tiêu chung cho một giai đoạn, thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện thực thi cụ thể. Các mục tiêu cụ thể cung cấp cơ sở cho việc giám sát, đo lường và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu chung của chính sách.
Chích sách phát triển du lịch biển được Nhà nước ban hành với các mục tiêu chính nhằm:
- Tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách địa phương;
- Thúc đẩy sự phá triển của các ngành kinh tế khác;
- Tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân;
- Bảo vệ, cải tạo môi trường du lịch biển của địa phương;
- Góp phần phát triển du lịch địa phương theo định hướng của Nhà nước.
Các mục tiêu chung này sẽ được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu cụ thể như doanh thu từ du lịch biển, số lượng khách du lịch biển, số lượng cơ sở hạn tầng phục vụ du lịch biển, nguồn nhân lực,… Các mục tiêu cụ thể này được xác định cho từng giai đoạn phát triển cụ thể, phù hợp với các điều kiện, mục tiêu và định hướng của Nhà nước.
1.1.2.2. Các giải pháp chính sách. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Giải pháp chính sách phát triển du lịch biển là cách thức để giải quyết các vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch biển nhằm đạt được mục tiêu của chính sách. Trên cơ sở mục tiêu của chính sách, Nhà nước xác định các giải pháp thích hợp để đạt được các mục tiêu đó. Nói cách khác, giải pháp chính sách phải thích hợp với mục tiêu chính sách.
Trong mối tương quan giữ mục tiêu và giải pháp, việc mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ mục tiêu chung đến các mục tiêu cụ thể dẫn đến việc các giải pháp của chính sách phát triển du lịch biển cũng đi từ giải pháp chung đến các giải pháp cụ thể.
Các giải pháp chung có tính định hướng về cách thức giải quyết vấn đề, và giải pháp cụ thể chứa đựng cách thức cụ thể để đạt được mục tiêu cụ thể. Những giải pháp cụ thể chỉ định được những công cụ được sử dụng để thực thi chính sách, các nguồn lực cần thiết, dự kiến tổ chức thực hiện.
Ví dụ, một trong những mục tiêu chung của chính sách phát triển du lịch biển của nước ta đó là tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách. Mục tiêu này mang tính trừu tượng và định tính. Nhà nước không thể xác định được thời gian cần thiết để hoàn thành mục tiêu tổng quát này, vì vấn đề nguồn tu từ du lịch biển sẽ thay đổi theo thời gian. Vì vậy, mục tiêu tổng quát này được cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn dưới dạng các chỉ tiêu như tăng 15% so với năm 2019. Để đạt được các mục tiêu này, nhà nước có thể xác định các biện pháp cụ thể như quảng bá du lịch biển; xây dựng sản phẩm du lịch biển;…và các giải pháp này được thực hiện thông qua ác chương trình cụ thể như: Chương trình xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch biển; chương trình xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch biển …
Như vậy, có thể thấy nội dung cấu trúc của chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng bao gồm hai bộ phận hợp thành và thống nhất với nhau là mục tiêu và giải pháp chính sách. Mối quan hệ giữa hai bộ phận cấu thành này là mối quan hệ logic giữa mục đích và phương tiện, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
1.1.2.3. Thời gian tồn tại của chính sách phát triển du lịch biển
Đối với chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng, không có bất kỳ một quy định nào về thời gian tồn tại của chính sách. Về mặt lý luận chung, thời gian tồn tại của chính sách có thể được chia làm ba nhóm gồm chính sách dài hạn, chính sách trung hạn, và chính sách ngắn hạn. Tuy không có quy định bắt buộc nào về thời gian tồn tại của chính sách nhưng nhìn chung thời gian tồn tại của một chính sách chí ít cũng phải đủ để thực hiện được mục tiêu ban đầu của chính sách (ngoại trừ những chính sách sai), vì vậy thời gian tồn tại của một chính sách thường không ngắn.
Trên thực tế, thời gian tồn tại của một chính sách phụ thuộc sự tồn tại của vấn đề chính sách. Như vậy, về mặt lý thuyết có thể thấy chính sách phát triển du lịch biển chỉ tồn tại cho đến khi Nhà nước, chủ thể của ban hành chính sách không muốn phát triển du lịch biển hay vấn đề phát triển du lịch biển không còn là vấn đề của chính sách công.
1.2. Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển đối với phát triển kinh tế – xã hội Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trong quản lý Nhà nước, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du lịch biển làm công cụ để giải quyết những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển thể hiện ở những khía cạnh như:
Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động phát triển du lịch biển. Chính sách phát triển du lịch biển phản ánh thái độ, quan điểm của Nhà nước đối với vấn đề phát triển du lịch biển, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của Nhà nước lên các chủ thể có liên quan đến hoạt động phát triển du lịch biển (công ty du lịch, khách du lịch, người dân địa phương,…), giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà Nhà nước mong muốn. Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các chủ thể liên quan đến hoạt động phát triển du lịch biển hoạt động theo định hướng tác động của chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía Nhà nước hay xã hội.
Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế – xã hội theo mục tiêu chung. Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội chung, Nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần. Chính sách phát triển du lịch biển được ban hành không chỉ tác động đến một đối tượng nhất định nào dó mà tác động lên tất cả các đối tượng có liên quan đến phát triển du lịch biển như người dân, chủ đầu tư, các công ty kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên, khách du lịch… Sự tác động của chính sách phát triển du lịch biển không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể có liên quan hành động theo ý chí của Nhà nước. Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng vào lĩnh vực du lịch biển, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khích như miễn, giảm thuế, … cho các chủ thể trong nước và nước ngoài nhằm tạo ra động lực cho các chủ đầu tư tích cực đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch biển.
Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội. Nhờ đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởng lợi như: hàng hóa và dịch vụ tăng về số lượng, đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu mã, chất lượng ngày càng được nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ. Tuy nhiên, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé,… gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội và mỗi người dân. Trong tình hình đó, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du lịch biển như một công cụ để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, xã hội liên quan đến phát triển du lịch biển.
Thứ tư, tạo lập sự cân đối trong phát triển. Để kinh tế – xã hội phát triển một cách ổn định bền vững, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du lịch biển như một công cụ để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng – tiền, cung – cầu trong hoạt động du lịch biển,… Đồng thời, Nhà nước còn dùng chính sách phát triển du lịch biển để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước và giữa các lĩnh vực. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong lĩnh vực du lịch biển. Nhà nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của Nhà nước. Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, Nhà nước thông qua các chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng nhằm thực hiện sự kiểm soát đối với trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội nói chung, hay trong lĩnh vực du lịch biển nói riêng.
Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế – xã hội. Thông qua chính sách phát triển du lịch biển, Nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động. Góp phần tạo ra những kích thích đủ lớn, cần thiết để biến đường lối chiến lược của Đảng cầm quyền thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân.
Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành. Việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch nói riêng không chỉ và không thể do một cơ quan Nhà nước đảm nhiệm, mà cần có sự tham gia của nhiều cơ quan thuộc các cấp, các ngành khác nhau hay của nhiều tổ chức, cá nhân. Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách.
1.3. Chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong và ngoài nước
1.3.1. Chính sách phát triển của một số địa điểm du lịch quốc tế
1.3.1.1. Chính sách phát triển du lịch đảo Nami, Hàn Quốc
Đảo Nami nằm ở thành phố Chuncheon, cách thủ đô Seoul, Hàn Quốc khoảng 70km. Năm 2021, đảo Nami thu hút gần 3 triệu khách du lịch, trong đó xấp xỉ 1 triệu khách quốc tế. Đây là con số đáng kinh ngạc bởi trên thực tế, du lịch của hòn đảo nhỏ bé này đã từng có giai đoạn suy thoái, tưởng chừng không thể vực dậy được.
Việc khai thác đảo Nami được chính thức bắt đầu từ năm 1966 khi công ty phát triển du lịch KyoungChun được thành lập, lượng khách du lịch thăm quan đảo tăng đều cho đến năm 1989, tuy nhiên, đến năm 1990 bắt đầu đi vào suy thoái. Từ năm 2011, công ty tuyên bố cải tạo lại đảo và những nỗ lực trong quá trình tái tạo lại môi trường du lịch nơi đây đem lại kết quả là đảo Nami đã quay trở lại vị trí vốn có của nó, là một trong những địa điểm du lịch tiêu biểu của Hàn Quốc. Các biện pháp, phương án cải tạo đảo đã được áp dụng bao gồm: Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Phục hồi hệ sinh thái: đảo Nami đã tiến hành việc cải tạo môi trường kể từ sau năm 2011, công ty Kyoung Chun đã tiến hành thay cột đèn điện, lắp lại đường dây điện, phá bỏ các hàng rào, vứt bỏ các thùng rác bẩn, quyết định không tiến hành ký lại hợp đồng khi các đơn vị thuê đất làm ăn trên đảo hết hạn hợp đồng,…
Cùng với Hiệp hội bảo vệ môi trường ở thành phố ChunCheon, Ban quản lý đảo đã xây dựng trung tâm tái chế tại đảo Nami trên khu đất ngày xưa dùng để đốt rác thải. Những rác thải có thể tái chế thu được trong quá trình đào xới đất để tìm lượng rác thải bị chôn bất hợp pháp như nhiều loại bình rỗng, các tấm gỗ ép, gỗ thải,… đã được phân loại và sử dụng vào các mục đích cải tạo môi trường du lịch khác nhau như làm nguyên vật liệu trong việc cải tạo nhà, thủy tinh nghệ thuật, gốm nghệ thuật, đẽo gỗ trang trí, làm quà lưu niệm,…
Hơn thế nữa, đảo Nami đã thành công khi xây dựng văn hóa tái chế trở thành biểu tượng của mình qua các sự kiện được tổ chức trên đảo như trưng bày các sản phẩm tại viện nghệ thuật đảo Nami, lễ hội văn hóa về tái chế,… Với những nỗ lực về tái chế như vậy, đảo được công nhận là thiên đường tái chế, hòn đảo tái sinh môi trường, những thành tích về tái chế của đảo được truyền thông các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Anh, Mỹ đưa tin trong các bản tin thời sự của nước họ.
Phát triển về lĩnh vực văn hóa: đảo Nami đã tiến hành thử nghiệm để trở thành một không gian văn hóa – nơi mà văn hóa nghệ thuật được hòa mình cùng thiên nhiên của con sông Bắc Hàn. Thời kỳ còn là một công viên cây xanh đơn thuần, nhiều kiến trúc trên đảo được sử dụng như một khu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi thông thường nhưng sau đó đã có một chiến lược chuyển đổi mục đích sử dụng các không gian này. Một số tòa nhà trên đảo đã được tái kiến trúc trở thành khu trưng bày phức hợp với rất nhiều các loại hình nghệ thuật về văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật khác nhau được trưng bày.
Xác định những người làm nghệ thuật là đối tượng khách quan trọng của mình, đảo Nami tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những vị khách này trong việc nghỉ ngơi và sáng tạo. Ban quản lý sẽ sử dụng các tác phẩm của họ để trưng bày, cho ra sách ảnh để quảng bá hình ảnh của đảo nhằm thu hút khách du lịch. Cũng tương tự đối với các nghệ sĩ biểu diễn trong concert tại đảo, họ được hỗ trợ những điều kiện tốt nhất và để tham dự được những buổi biểu diễn này thì khách du lịch sẽ tới thăm đảo Nami. Đã có rất nhiều sự kiện lớn được tổ chức tại đảo để thu hút khách du lịch mang tên: “Giấc mộng đêm hè”, “Ngày hội sách thế giới”, “Ngày hội biểu diễn của thanh thiếu niên thế giới”,… Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Hợp tác với các Tổ chức quốc tế, hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng: với chiến lược mở rộng hợp tác, liên kết, ban quản lý đã tạo không gian trên đảo để Hiệp hội Unicef Hàn Quốc, Trung tâm giáo dục môi trường Hàn Quốc và nhiều cơ quan khác sử dụng. Các cơ quan này tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm như trại hè đào tạo môi trường, sân chơi văn hóa,… và giờ đây, các hoạt động này đã trở nên nổi tiếng, thu hút được nhiều khách du lịch đến với đảo hơn.
Đảo cũng tổ chức sự kiện trồng cây với sự tham gia của cộng đồng. Năm 2014, với sự tham gia của đông đảo khách tham quan, công ty quản lý đã tiến hành trồng 400 cây thủy sam và gọi nơi đây là “Sequaia family garden – Rừng cây thủy sam”, năm 2015 trồng “Rừng cây Nami”, 2016 trồng “Rừng cây bách phong”. Trên mỗi cây sẽ gắn biển tên người tặng, và những người tham gia lễ trồng cây đều được giấy chứng nhận là công dân nước cộng hòa Nami cũng như được phát hộ chiếu trọn đời, lễ hội đã gây ấn tượng mạnh cho người dân trong việc nhận thức về bảo vệ môi trường và cũng đã góp phần tăng hiệu quả quảng bá nhằm thu hút khách du lịch tới thăm quan nhiều lần nữa.
Du lịch phim ảnh (Film tourism) và hiệu quả của làn sóng văn hóa Hallyu Hàn Quốc: giai đoạn tái sinh của đảo Nami được rút ngắn đi rất nhiều nhờ thành công của bộ phim “Bản tình ca mùa đông”. Việc quay phim “Bản tình ca mùa đông” là hoạt động nằm trong kế hoạch tái phát triển của đảo Nami. Công ty cổ phần đảo Nami đã hỗ trợ hết mức cho Đoàn làm phim trong thời gian quay phim tại đây. Sự thành công của “Bản tình ca mùa đông” đã đưa hình ảnh đảo Nami đến với toàn thế giới. Số lượng khách châu Á ghé thăm đảo chỉ để được nhìn thấy tận mắt nơi quay bộ phim mà mình yêu thích tăng vọt và đảo Nami được coi là điểm du lịch tiêu biểu trong làn sóng văn hóa Hàn Quốc Hallyu. Ngoài ra, hình ảnh đảo Nami còn hiện diện trong bộ phim “Khách vãng lai mùa đông”, “Nam và nữ” và một số phim ngắn quảng cáo khác,…
1.3.1.2. Chính sách phát triển du lịch của Singapore
Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc. Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài. Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch.
Tháng 6 năm 2018, quốc đảo Singapore chạm mốc “1.000.000 khách du lịch trong một tháng”. Năm 2018 có 11,64 triệu khách quốc tế đến Singapore và năm 2019 là 13 triệu. Năm 2018, du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore 18,8 tỷ đô la Singapore, năm 2020 là 22,2 tỷ đô la Singapore, chiếm 3% GDP. Singapore hiện có khoảng trên 50.000 phòng khách sạn, với giá dịch vụ trung bình khoảng 245 đô la Singapore/phòng/ngày (khoảng hơn 4 triệu đồng Việt Nam), tỷ lệ sử dụng phòng năm 2019 đạt đến 86%. Đây thực sự là những con số ấn tượng của ngành du lịch ở một đất nước nhỏ bé, ít tài nguyên và chưa hẳn đã có nhiều lợi thế để phát triển du lịch như Singapore.
Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singapore. Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2023” (năm 2013) và “Địa giới du lịch 2020” (năm 2020). Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử – văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam và sông Singapore. Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch,…
Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch và chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”.
Trong “Du lịch 2023” (năm 2013), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch,… Năm 2020, Singapore chi 300 triệu đô la Singapore để tổ chức các sự kiện du lịch, 340 triệu đô la Singapore nhằm phát triển các sản phẩm du lịch và 265 triệu đô la Singapore giúp phát triển nguồn nhân lực du lịch. Đến năm 2023, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch 2 tỷ đô la Singapore, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô la Singapore.
1.3.2. Chính sách phát triển du lịch biển Nha Trang – Khánh Hòa
Khánh Hòa là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có bờ biển trải dài 385 km với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, môi truờng tự nhiên khá trọn vẹn, khí hậu ôn hòa đầy nắng gió quanh năm,… là điều kiện lý tuởng để vùng biển xinh đẹp này phát triển mạnh về du lịch biển, đảo.
Tại Nha Trang, tổ chức Quảng bá điểm đến Nha Trang (NTDMO) được thành lập và chính thức đưa vào hoạt động vào cuối năm 2022, với mục đích chung tay với các cơ quan ban ngành và các công ty trên địa bàn phát triển ngành dịch vụ du lịch và các hoạt động quảng bá tiếp thị du lịch địa phương. Mục tiêu của tổ chức là mang tiêu chuẩn quốc tế đến cho nền du lịch Nha Trang, cũng như tăng cường các chương trình khuyến mãi của Nha Trang dành cho các du khách trong và ngoài nước, tập trung hướng tới nhiều sáng kiến tích cực cho cộng đồng và góp phần vào sự phát triển của kinh tế – xã hội. Ban đầu chỉ có 6 thành viên, nhưng đến nay, Visit Nha Trang đã có tới 15 thành viên, trong đó có 14 thành viên ở Khánh Hòa. Đây là tập hợp của những khách sạn, nhà hàng, quán bar, dịch vụ thể thao trên biển hàng đầu Nha Trang như InterContinental, Sheraton, Six Senses Ninh Vân Bay, An Lâm Ninh Vân Bay, Evason Ana Mandara, Mia Resort, Diamond Bay, Novotel; nhà hàng Lantems, Lunar; quầy bar Patrick Wine, Skylight, Sailing Club và Vietnam Sailing. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Ngay sau khi ra đời, Visit Nha Trang xác định rõ thị trường trọng điểm gồm các nước Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc và thị trường khách nội địa, đi cùng đó là thị trường khách giàu tiềm năng chính là Nhật Bản, Úc, Hồng Kông, Singapore và một số nước ở khu vực Đông Nam Á khác. Để xúc tiến việc giới thiệu du lịch Nha Trang đến các quốc gia trên, Visit Nha Trang đã tiến hành soạn thảo nội dung quảng bá bằng 6 ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản và tiếng Hàn Quốc. Những nội dung này được thể hiện qua những bài viết, những clip về du lịch Nha Trang – Khánh Hòa và được chia sẻ rộng rãi trên các trang mạng xã hội cũng như các website du lịch hàng đầu thế giới.
Kết quả của sự hợp tác giữa các thành viên Visit Nha Trang trong nỗ lực quảng bá về du lịch Nha Trang không chỉ mang đến lợi ích thiết thực cho mỗi thành viên, mà nó còn góp phần nâng cao hình ảnh Nha Trang trong lòng du khách. Rất nhiều du khách trong và ngoài nước sau khi tham khảo những thông tin do Visit Nha Trang giới thiệu, đã quyết định đến trải nghiệm và sử dụng các dịch vụ cao cấp của các thành viên trong tổ chức này. Nhiều du khách đã có những phản hồi rất tốt sau thời gian đến Nha Trang. Minh chứng cho điều đó chính là việc Nha Trang được bình chọn là 1 trong 10 điểm đến đang phát triển hàng đầu châu Á trên website du lịch TripAdvisor. Cũng theo trang web này, nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng ở Nha Trang được du khách bình chọn vào nhóm khách sạn, khu nghỉ dưỡng hàng đầu Việt Nam, thậm chí là hàng đầu châu Á như: Six Senses Ninh Vân Bay, An Lâm Ninh Vân Bay, Evason Ana Mandara, Mia Resort và Inter Continental.
Những chính sách của tỉnh Khánh Hòa đã mang lại những hiệu quả rất lạc quan đối với sự phát triển du lịch của Khánh Hòa. Theo Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, trong 9 tháng đầu năm 2023, tổng lượng khách du lịch đến Nha Trang – Khánh Hòa lưu trú đã đạt con số trên 3,2 triệu lượt. So với cùng kỳ năm 2022, lượng khách trên tăng 17,3% và đạt 80,8% so với kế hoạch năm. Trong đó, lượng khách quốc tế lưu trú cũng có chiều hướng tăng khi đạt hơn 674.000 lượt (tăng 10,8% so với cùng kỳ).
1.3.3. Một số bài học kinh nghiệm cho chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng
Từ kinh nghiệm về chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của một số địa phương trong và ngoài nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới như sau: Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Thứ nhất, việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng cần gắn liền với hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch quá mức cũng như việc không chú trọng đến hoạt động bảo vệ môi trường du lịch là một trong những nguyên chính dẫn đến tình trạng suy thoái của du lịch đảo Nami giai đoạn 1990 – 2011. Ngay sau khi có những biện pháp nhằm cải tạo, phục hồi hệ sinh thái, môi trường du lịch đã đưa du lịch đảo Nami trở lại vị trí vốn có của nó, là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Hàn Quốc. Du lịch biển của Đà Nẵng phụ thuộc chủ yếu vào hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, cũng như các tài nguyên du lịch biển trong khi đây không phải là những tài nguyên vô tận. Cùng với đó vấn đề môi trường du lịch biển là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến du lịch biển. Chính vì vậy, việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng cần gắn liền với hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch là bài học kinh nghiệm rất lớn cho việc xây dụng và thực thi chính sách phát triển du lịch biển của Đà Nẵng. Kinh nghiệm này có thể giúp du lịch biển Đà Nẵng tránh khỏi những hậu quả xấu đối với du lịch biển như đã diễn ra đối với du lịch đảo Nami, Hàn Quốc.
Thứ hai, cần nâng cao vai trò của các tổ chức quốc tế, các hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng đối với hoạt động phát triển du lịch biển. Kinh nghiệm từ chính sách phát triển du lịch đảo Nami, Hàn Quốc cũng như chính sách phát triển du lịch biển Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đều cho thấy rằng việc hợp tác với các tổ chức quốc tế, các hiệp hội cũng như sự tham gia của cộng đồng có tác động rất tích cực đến việc phát triển du lịch của địa phương như tăng cường hiệu quả của công tác quảng bá, xúc tiến thị trường du lịch, việc cải tạo, phát triển môi trường du lịch của địa phương cũng như nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường.
Thứ ba, chủ động trong việc áp dụng biện pháp quảng bá du lịch phim ảnh nhằm tạo ra các làn sóng văn hóa. Thành công của du lịch đảo Nami có sự đóng góp rất lớn từ thành công của hoạt động quảng bá du lịch. Việc thực hợp tác, đầu tư trong việc sản xuất các bộ phim như “Bản tình ca mùa đông” hay “Khách vãng lai mùa đông”, “Nam và nữ”… đã tạo ra những làn sóng văn hóa trên khắp Hàn Quốc cũng như các quốc gia trên thế giới. Điều này đã nâng cao chất lượng quảng bá du lịch của đảo góp phần không nhỏ trong việc đưa hình ảnh của du lịch đảo Nami đến với khách du lịch trong và ngoài nước, từ đó thu hút được lượng lớn khách du lịch đến đảo. Thành công của việc áp dụng biện pháp quảng bá du lịch phim ảnh nhằm tạo ra các làn sóng văn hóa trong nước cũng như trên thế giới là bài học kinh nghiệm dành cho việc xây dựng và thực hiện chương trình quảng bá và xúc tiến thị trường du lịch biển Đà Nẵng nói riêng cũng như chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói chung.
Thứ tư, cần xác định lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch. Từ quá trình phát triển cũng như những kết quả đạt được của du lịch Singapo cho thấy tầm quan trọng của việc xác định lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch. Kinh nghiệm từ chính sách phát triển du lịch của Singapo cho thấy để chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng thực sự chất lượng và hiệu quả, chính sách cần xây dựng, xác định rõ ràng xác định lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch. Tránh việc thực hiện quá nhiều mục tiêu, giải pháp trong cùng một giai đoạn cuẩ chính sách, cần xác định các mục tiêu, các giải pháp ưu tiên trong từng giai đoạn cho phù hợp với tiềm năng, nguồn lực. Từ đó nhằm nâng cao chất lượng cũng nhu hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển của mình.
TIỂU KẾT CHƯƠNG Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Chính sách phát triển du lịch biển có vai trò to lớn trong việc phát triển ngành du lịch nói riêng cũng như kinh tế – xã hội quốc gia nói chung. Trong khuôn khổ nội dung của chương 1, luận văn đã trình bày những nội dung cần thiết về cơ sở lý luận của chính sách phát triển du lịch biển. Theo đó luận văn tập chung làm rõ một số vấn đề lý luận chính như khái niệm về du lịch biển, chính sách công, chính sách phát triển du lịch biển. Đồng thời, thông qua nội dung chương Luận văn cũng phân tích làm rõ những đặc điểm, nội dung chủ yếu của chính sách phát triển du lịch biển cũng như vai trò cũng như tác động của chính sách phát triển du lịch biển đối với kinh tế – xã hội.
Nhận thức rõ nét về tầm quan trọng của những kinh nghiệm thực tế trong việc xây dựng, thực thi chính sách du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Luận văn đã lựa chọn, phân tích chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng của một số quốc gia trên thế giới như Singapo, Đảo Nami cũng như chính sách phát triển du lịch biển của một trong những địa điểm du lịch biển phát triển nhất của nước ta đó là Nha Trang. Những phân tích, đánh giá về chính sách phát triển du lịch của một số địa điểm du lịch nêu trên sẽ là những bài học kinh nghiệm đối với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
Để có thể phân tích một cách chính xác, hiệu quả thực trạng của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cần có những phân tích, hệ thống các cơ sở lý luận liên quan đến chính sách phát triển du lịch biển nói chung. Chính vì vậy, những cơ sở lý luận được phân tích, tổng hợp ở chương 1 sẽ là cơ sở cho việc hệ thống, tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế, các cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới. Từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp và những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Luận văn: Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng
