Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15′ đến 16°40′ Bắc và từ 107°17′ đến 108°20′ Đông. Phía bắc thành phố giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam còn phía đông giáp với biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc.
2.1.2. Khí hậu tự nhiên
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với nền nhiệt độ cao và ít biến động, là nơi chuyển tiếp giữa 2 vùng khí hậu miền Bắc và miền Nam Việt Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam. Mùa mưa ở Đà Nẵng kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12, dưới sự tác động của gió mùa Đông Bắc. Lượng mưa có khi đạt cực đại đến hơn 150mm, nhưng trung bình phổ biến trong khoảng 20 – 30mm ở những tháng mưa nhiều nhất. Đặc biệt vào thời điểm tháng 10 và 11, vùng đất này chịu sự tác động trực tiếp của bão từ Biển Đông di chuyển vào. Vì vậy, trừ các tháng mưa nhiều thì vào những tháng còn lại trong năm, du lịch ở Đà Nẵng rất thích hợp.
Vào mùa mưa, nền nhiệt độ trong 2 tháng 8 và 9 vẫn xuất hiện nắng nóng nhưng không quá gay gắt. Từ tháng 10 đến tháng 12, nhiệt độ trở nên khá dễ chịu, có những đợt không khí lạnh mạnh tràn xuống thì khu vực này nền nhiệt sẽ hạ xuống ở ngưỡng se lạnh, đôi khi nhiệt độ giảm xuống ngưỡng trời rét nhưng không kéo dài trong tháng 12 và tháng 1. Đà Nẵng có hệ thống núi non bao bọc thành phố, đặc biệt là khu vực núi Bà Nà. Do ảnh hưởng bởi độ cao nên nền nhiệt độ cũng như hệ thống khí hậu nên có sự khác biệt so với khu vực trung tâm thành phố. Nền nhiệt độ trên các khu vực vùng núi thấp hơn và biến trình độ ẩm cũng điều hòa hơn so với ở dưới thấp, tạo cảm giác dễ chịu hơn. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Như vậy, trong điều kiện bình thường, khí hậu ở Đà Nẵng được xem là một loại tài nguyên đối với sự phát triển du lịch.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.3. Điều kiện phát triển du lịch biển Đà Nẵng
Về biển và bờ biển, Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, đồng thời Đà Nẵng cũng nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ. Mặc khác, vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn.
Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước có độ sâu từ 50 – 200m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%) và ở vùng nước sâu trên 200m (chiếm 20,6%). Hàng năm, khả năng khai thác hải sản các loại tại địa phương đạt trên 150.000 – 200.000 tấn.
Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển. Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt,…
Với đường bờ biển đẹp trải dài, lại nằm ở vị trí vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và là cửa ngõ ra Thái Bình Dương của các nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam. Từ đó có thể thấy rằng Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
Đến với thành phố Đà Nẵng, điều gây ấn tượng với du khách là bầu không khí hết sức trong lành và mát mẻ, là điều mà không phải thành phố nào cũng có được. Thành phố có dòng sông Hàn thơ mộng tạo nên một không gian yên bình, êm ả để du khách có thể dạo bộ hoặc ngồi tĩnh lặng ngắm dòng sông hiền hòa trôi. Hằng đêm du khách có thể ngồi trên du thuyền cùng gia đình tận hưởng cảm giác bồng bềnh và hơi mát của sóng nước. Nơi đây còn nổi tiếng với những cây cầu xinh đẹp bắc qua sông Hàn như cầu Sông Hàn, cầu Thuận Phước, cầu Rồng,… Hàng năm cũng chính trên dòng sông Hàn là nơi tổ chức các sự kiện như Lễ hội pháo hoa quốc tế, đua thuyền,… Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Đà Nẵng còn có khu du lịch Bà Nà, được ban cho khí hậu ôn hoà quanh năm nên đây thực sự là một khu nghỉ dưỡng lý tưởng cho gia đình. Núi Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là một thắng cảnh nổi tiếng cũng nằm trên địa phận phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 8km về phía đông nam ngay trên tuyến đường Đà Nẵng – Hội An, với những ngọn núi đá vôi nằm rải rác trên diện tích khoảng 2 km2, gồm: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thổ Sơn, Thủy Sơn và Hỏa Sơn. Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp riêng về hình dáng, vị trí, chất liệu đá, về hang động, chùa chiền bên trong,…
Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 7 km còn có bán đảo Sơn Trà có diện tích gần 4400 ha, hiện đang được xây dựng thành một số khu du lịch với những bãi tắm thơ mộng, có nơi thích hợp với du lịch mạo hiểm hoặc du lịch lặn và vùng biển bao quanh Sơn Trà trong tương lai là một trong 15 khu bảo tồn biển quốc gia. Ở bán đảo Sơn Trà, du khách có thể ngâm mình dưới làn nước mát trong xanh trên những bãi tắm tuyệt đẹp với nhiều quẩn thể san hô gần bờ. Ngoài ra, ở đây du khách còn được thưởng thức nhiều món đặc sản như mì Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo rất đặc trưng của vùng miền, cùng hải sản tươi ngon; tham gia các sự kiện du lịch lớn như cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, cuộc thi dù bay quốc tế,…
2.1.4. Cơ hội và thách thức đặt ra đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng
2.1.4.1. Cơ hội
Đà Nẵng là một trong những địa điểm du lịch lớn của du lịch Việt Nam bên cạnh các địa điểm du lịch khác như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Hội An… với những diễn biến về kinh tế – xã hội của thế giới nói chung cũng như trong nước nói riêng đã, đang và sẽ diễn ra đã tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động phát triển ngành du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới. Không chỉ có những cơ hội phát triển dành cho ngành du lịch biển của nước ta nói chung, ngành du lịch biển Đà Nẵng nói riêng trong thời gian còn có những cơ hội lớn khác để phát triển mà các địa phương khác không có được. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam ngày càng sâu và toàn diện hơn với việc tham gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như những cố gắng trong quá trình đàm phán, thỏa thuận để có thể tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế (AEC). Trên xu hướng đó, quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra như một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ khác trên thế giới thúc đẩy hợp tác với nước ta. Quan hệ song phương, đa phương của nước ta với Hoa Kỳ, Nhật Bản, các quốc gia châu Âu ngày càng được mở rộng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ… và ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực.
Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới đã mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng. Các nền kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế đang tích cực hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, trong đó dòng đầu tư FDI và ODA cho phát triển du lịch ngày một tăng. Đây là cơ hội rất lớn cho thành phố Đà Nẵng trong việc huy động các nguồn vốn, dự án đầu tư nhằm phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố nói chung cũng như phục vụ du lịch biển nói riêng.
Những điểm tích cực trong quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới cũng tạo ra cơ sở cho Việt Nam xem xét việc miễn Visa thị thực cho công dân các nước trên thế giới. Điều này tạo cơ hội cho việc phát triển thị trường khách du lịch quốc tế cho du lịch Việt Nam nói chung, du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển Đà Nẵng nói riêng. Cùng với đó, việc tham gia các tổ chức kinh tế – xã hội quốc tế tạo ra cơ hội cho việc tổ chức, đăng cai các sự kiện quan trọng như Hội nghị, Tọa đàm, diễn đàn… ở nước ta. Với những lợi thế về địa lý, kinh tế- xã hội, an ninh của mình thì đây là cơ hội rất lớn cho Đà Nẵng trong việc phát triển loại hình du lịch MICE…
Trong thời gian tới, Châu Á – Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động và thu hút du lịch. Cụ thể theo nhận định chung của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 du lịch tiếp tục tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu. Cụ thể, số lượng khách du lịch quốc tế đã tăng trưởng từ 347 triệu lượt lên đến 1,2 tỷ lượt trong giai đoạn 1995-2023, dự báo đến năm 2030 đạt khoảng 1,8 tỷ lượt. Về điểm đến du lịch, Đông Bắc Á sẽ thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất với 293 triệu lượt, vượt qua khu vực Nam Âu/Địa Trung Hải (264 triệu lượt) và Tây Âu (222 triệu lượt, và xếp thứ 4 là Đông Nam Á với 187 triệu lượt. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Với sự phát triển, nổi lên của ngành du lịch khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng như xu hướng du lịch nhiều quốc gia trong một hành trình của khách du lịch, hay các tour du lịch liên quốc gia là cơ hội rất lớn cho du lịch Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển nói riêng trong việc thu hút nguồn khách du lịch quốc tế.
Xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng có hiệu quả và có sức lan tỏa vô cùng nhanh và rộng. Các ứng dụng internet, mạng xã hội trong thời gian qua đã cho thấy những hiệu quả, tầm ảnh hưởng trong việc quảng bá xúc tiến du lịch nói chung của các quốc gia trên thế giới. Với những kinh nghiệm, cách thức hiệu quả các nhà quản lý hoàn toàn có thể tạo ra những xu hướng du lịch đến các địa điểm du lịch nổi tiếng thông qua internet, mạng xã hội. Với các ứng dụng nêu trên việc quảng bá du lịch nói chung trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết. Đây là một trong những cơ hội cho việc phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, cụ thể là cơ hội trong việc quảng bá, xúc tiến thị trường du lịch của thành phố đến với thị trường khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong thời gian qua, bất chấp những biến động của thế giới, số lượng khách du lịch trên thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với việc du lịch quốc tế liên tục tăng trưởng; du lịch nội khối chiếm tỷ trọng lớn; du lịch khoảng cách xa có xu hướng tăng nhanh. Điều này tiếp tục đưa du lịch trở thành một xu hướng phổ biến trên toàn cầu. Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia. Đặc biệt các nước đang phát triển, vùng sâu, vùng xa coi phát triển du lịch là công cụ xoá đói, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế.
Trong thời gian tới, ngành du lịch được dự báo sẽ tiếp tục duy trì được vị trí, vai trò của mình. Số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục tăng mạnh cả về du lịch nội địa cũng nhu du lịch quốc tế. Đây là cơ hội to lớn về xu thế thời đại mà Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có ngành du lịch biển có thể tận dụng để phát triển.
Việt Nam về vị trí địa lý gần với thị trường khổng lồ Trung Quốc và các nước Đông bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) với trên 1,5 tỷ người tiêu dùng du lịch có thu nhập cao và đang tăng mạnh. Cơ hội thu hút một phần thị trường khách du lịch đến từ các quốc gia này mở ra cho Du lịch Việt Nam một chân trời rộng lớn. Đây cũng là cơ hội rất lớn cho phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý gần với các địa điểm du lịch nổi tiếng khác của nước ta là Cung đình Huế, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn… Cùng với xu hướng du lịch trải nghiệm, cộng đồng… cũng như sự phát triển mạnh của các địa điểm du lịch này trong thời gian vừa qua tạo ra cơ hội rất lớn cho du lịch của thành phố Đà Nẵng nói chung cũng như du lịch biển nói riêng trong việc khai thác, lôi kéo lượng khách du lịch đến thăm quan, du lịch tại địa điểm trên đến với mình.
2.1.4.2. Thách thức
Du lịch Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian tới sẽ chịu tác động mạnh mẽ của những bất ổn chính trị, xung đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, khủng khoảng kinh tế, tài chính tại ở các nước đối tác, các thị trường truyền thống. Khi là thành viên của WTO những tác động tiêu cực này sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, khó lường hơn trong khi năng lực thích ứng và ứng phó với những biến động trên thị trường của Việt Nam nói chung cũng như của thành phố Đà Nẵng còn hạn chế. Tranh chấp, bất đồng khu vực, đặc biệt vấn đề gắn với biển đông tiềm ẩn những bất ổn, những tác động mạnh, trực tiếp và đột ngột đến hoạt động du lịch của nước ta cũng như du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Đây là thách thức lớn đối với du lịch nước ta cũng như du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường khách du lịch khách quốc tế của nước ta.
Trong thời gian tới sức ép cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch quốc tế ngày càng gay gắt, đặc biệt đối với Du lịch Việt Nam là ngành còn non trẻ và còn nhiều điểm yếu. Với sự nổi lên, phát triển mạnh mẽ của các điểm đến trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philiphines, Cămphuchia khiến cho sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong khu vực đang trở lên quyết liệt hơn với quy mô và tính chất mới do có yếu tố công nghệ mới và toàn cầu hóa. Sự cạnh tranh này cả về dòng vốn đầu tư và thu hút khách, cả về chất lượng và hiệu quả kinh doanh và xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia, địa phương. Những yếu tố nêu trên trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch nước ta cũng như ngành du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
Hiện nay các địa điểm du lịch biển của nước ta như Nha Trang, Vịnh Hạ Long, Sầm Sơn,… đều đang có những chính sách phát triển du lịch biển, thu hút khách du lịch với nhiều hoạt động du lịch nội bật, cải thiện chất lượng môi trường biển, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch… Sự phát triển mạnh mẽ của một số địa điểm du lịch biển trong thời gian tới cũng là một trong những thách thức danh cho du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong việc thu hút khách du lịch quốc tế và đặc biệt là thị trường khách du lịch nội địa. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Biến đổi khí hậu đang có tác động mạnh mẽ hơn so với dự báo. Du lịch biển của thành phố Đà Nẵng với đặc điểm, thế mạnh tập trung vào biển đảo sẽ đứng trước thách thức vô cùng lớn và khó lường trước ảnh hưởng của triều cường, mực nước biển dâng, thiên tai, bão. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường biển đang ngày càng nghiêm trọng, khó kiểm soát trở thành mối đe dọa đối với điểm đến du lịch nếu chậm có giải pháp kiểm soát thích đáng. Những hậu quả của thảm họa ô nhiễm môi trường biển miền trung diễn ra gần đây(Fomosa) hiện nay vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn, việc khắc phục những hậu quả này để cải thiện chất lượng môi trường biển là thách thức rất lớn cho các tỉnh miền Trung trong đó có thành phố Đà Nẵng.
Nhu cầu du lịch thế giới có nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi). Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội. Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch. Đây là thách thức vô cùng lớn về quan điểm, nhật thức và chuyên môn kỹ thuật. Chính vì vậy việc phát triển lĩnh vực du lịch biển sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thách thức từ sự phát triển của các lĩnh vực du lịch khác. Đặc biệt hiện nay, các loại hình du lịch của thành phố Đà Nẵng còn khá hạn chế, ngành du lịch vẫn chủ yếu phụ thuộc vào du lịch biển. Chính vì vậy, du lịch biển Đà Nẵng chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết của các loại hình du lịch khác.
2.2. Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
2.2.1. Cơ sở pháp lý để xây dựng chính sách
Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng là định hướng hoạt động do Nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố nói riêng cũng như của đất nước nói chung theo định hướng của Nhà nước.
Chính sách phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng được thể hiện thông qua hệ thống các quyết định của nhà nước có liên quan đến du lịch biển Việt Nam nói chung cũng như những quyết định có liên đến du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng.
Trên thực tế, chính sách phát trển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng hiện nay được thể hiện thông qua hệ thống các quyết định có liên quan đến phát triển du lịch biển nói chung của nước ta nói chung như:
- Hiến pháp 2021 Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Luật du lịch 2013 và những văn bản pháp luật có liên quan có những nội dung, quy định liên quan đến du lịch biển được Nhà nước điều chỉnh;
- Quyết định 2473/QĐ-TTg năm 2019 phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
- Quyết định 201/QĐ-TTg năm 2021 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
- Quyết định số 2782/QĐ-BVHTTDL ngày 15 tháng 8 năm 2021 về phê duyệt Đề án “Phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020”; Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
- Quyết định số 2151/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình xúc tiến Du lịch quốc gia giai đoạn 2021 -2020;
- Nghị quyết 92/NQ-CP năm 2022 về giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới do Chính phủ ban hành;
- Quyết định 2350/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Quyết định số 2054/QĐ –TTg ngày 13/11/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Văn hóa, Gia đình, Thể dục thể thao và Du lịch vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Quyết định 1874/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
Bên cạnh hệ thống các quyết định có liên quan đến phát triển du lịch biển nói chung của nước ta, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng còn được thể hiện cụ thể, chi tiết thông qua hệ thống các quyết định của Nhà nước có liên quan đến du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng như:
Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2012 xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Bộ Chính trị ban hành. Nghị Quyết đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 và Kết luận 75-KL/TW năm 2021 tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do Ban Chấp hành Trung ương ban hành;
- Quyết định 18/2015/QĐ-UBND ban hành Quy định về việc quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ; bảo vệ cảnh quan môi trường và giữ gìn an ninh trật tự tại các bãi biển trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành;
- Nghị quyết 66/2016/NQ-HĐND ngày 3 tháng 7 năm 2016 về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành;
- Quyết định 1866/QĐ-TTg năm 2018 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành;
- Quyết định số 7099/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2018 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể ngành văn hóa, thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng đến năm 2020;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XX của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2019 – 201;
- Quyết định 5528/ QĐ- UBND ngày 30 tháng 6 năm 2019 về việc phê duyệt “Đề án Phát triển du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2023” do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành;
- Quyết định số 2550/QĐ-UBND ngày 05/04/2020 của UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt Đề án phát triển dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2020;
- Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04/12/2021 ủa Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050;
- Nghị quyết số 88/NQ-HĐND ngày 11 tháng 12 năm 2022 về nhiệm vụ năm 2023 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành; Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
- Nghị quyết số 136/2023/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2023 về nhiệm vụ năm 2024 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành;
- Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2024 – 2020;
- Nghị quyết số 135/2023/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2023 về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2024 – 2020;
- Nghị quyết số 83/NQ-HĐND ngày 08/12/2024 về nhiệm vụ năm 2025 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành;
- Quyết định 8373/QĐ- UBND ngày 9 tháng 11 năm 2023 về việc phê duyệt “Đề án Phát triển du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2024 – 2020” do Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành.
2.2.2. Mục tiêu
2.2.2.1. Mục tiêu chung
Với nguồn tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng với nhiều danh lam, thắng cảnh đẹp. Thành phố Đà Nẵng có rất nhiều tiềm năng đối với việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng. Chính vì vậy, việc phát triển du lịch nói chung đặc biệt là du lịch biển nói riêng được xác đinh là một trong những giải pháp khả thi nhằm góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.
Để có thể đạt được mục tiêu thành phố có những biện pháp, phương án nhằm hạn chế, khắc phục những khó khăn, hạn chế đang tồn tại cũng như khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển của du lịch biển của thành phố theo định hướng của Nhà nước là rất cần thiết. Đây là tiền đề cho sự ra đời của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
Ngành du lịch là mọt ngành kinh tế trong hệ thống các ngành kinh tế của Việt Nam. Trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước, ngành du lịch trong đó có du lịch biển ngày càng khẳng định được vị thế của mình đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hôi của các địa phương, trong đó có thành phố Đà Nẵng nói riêng nói riêng cũng như của đất nước nói chung.
Chính vì vậy, nhằm khẳng định vai trò của du lịch biển đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, chính sách phát triển du lịch biển của thanh phố Đà Năng được xây dựng và ban hành với các mục tiêu chung về kinh tế – xã hội như:
- Tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách địa phương;
- Thúc đẩy sự phá triển của các ngành kinh tế khác;
- Tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân;
- Bảo vệ, cải tạo môi trường du lịch biển của địa phương;
- Góp phần phát triển du lịch địa phương theo định hướng của Nhà nước.
2.2.2.2. Mục tiêu cụ thể Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Chính sách phát triển du lịch biển gồm nhiều mục tiêu chung, để đạt được các mục tiêu này thành phố Đà Nẵng cần giải quyết được các vấn đề đang đặt ra đối với sự phát triển du lịch biển của thành phố như công tác quảng bá, xúc tiến du lịch biển Đà Nẵng, nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển Đà Nẵng, hoạt động đầu tư vào du lịch biển, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch biển, doanh thu từ du lịch biển, lượng khách du lịch…. Chính vì vậy, bên cạnh mục tiêu chung của chính sách, chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Năng còn cần phải đặt ra cho mình những mục tiêu cụ thể hơn đối với những vấn đề của phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Những vấn đề đặt ra đối với du lịch biển của thành phố xuất phát từ thực trạng kinh tế – xã hội nói chung của thành phố nói riêng cũng như của đất nước và thê giới nói chung. Với sự vận động liên tục của tình hình kinh tế – xã hội, định hướng của Đảng và Nhà nước, cũng như sự tác động của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, các vấn đề đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng cũng có những sự biến đổi nhất định theo thời gian, giai đoạn nhất định. Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở giai đoạn trước có thể không còn là vấn đề đặt ra đối với việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại. Sự biến đổi của các vấn đề liên quan đến việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng dẫn đến việc các nhà hoạch định cần có những điều chỉnh nhất định về các phương án chính sách cũng như các mục tiêu cụ thể của chính sách.
Nói cách khác, các mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng được xây dựng, áp dụng cho một khoảng thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện thực thi cụ thể. Chính vì vậy, trong quá trình tồn tại của mình, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng có những sự thay đổi nhất định đối với những mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của thành phố.
Trên thực tế, các mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói riêng có thể là những mục tiêu định tính liên quan đến những yếu tố không đo lường được (như nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến, quảng bá du lịch biển Đà Nẵng; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với du lịch biển; cải thiện môi trường đầu tư đối với du lịch biển; nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch biển) hay các mục tiêu định lượng cụ thể, các chỉ tiêu nhất định đánh giá sự phát triển của du lịch biển có thể đo lường được như tăng số lượng khách du lịch; tăng doanh thu từ du lịch biển; tăng thời gian lưu trú của khách du lịch; tăng số lượng, chất lượng (theo tiêu chuẩn cụ thể) cơ sở lưu trú; số lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển. Các mục tiêu cụ thể phản ánh những khía cạnh cụ thể của phát triển du lịch biển của Đà Nẵng, cung cấp cơ sở cho việc giám sát, đo lường, đánh giá mức độ đạt mục tiêu phát triển du lịch biển của chính sách.
Ở giai đoạn hiện tại, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng cũng xác định một số mục tiêu cụ thể cho giai đoạn phát triển này. Một số mục tiêu cụ thể mang tính định tính của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong được xác định như:
- Nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong công tác xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch biển Đà Nẵng;
- Nâng cao vai trò, sự đóng góp của cộng đồng vào hoạt động phát triển du lịch biển và bảo vệ môi trường du lịch biển;
- Cải thiện môi trường đầu tư phát triển du lịch biển; Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với du lịch biển
Cụ thể, Đề án phát triển du lịch thành Đà Nẵng giai đoạn 2024 – 2020 chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đã xác định một số mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng đến năm 2020 đó là:
- Về khách du lịch
Phấn đấu đến năm 2020 đón được 8.000.000 khách du lịch, trong đó có 2.000.000 khách du lịch quốc tế và 6.000.000 khách nội địa.Tốc độ tăng trưởng về lượt khách bình quân hàng năm giai đoạn 2024 – 2020 đạt 12,6%.
- Thời gian lưu trú và chi tiêu bình quân
Năm 2020 phấn đấu đạt 2,5 ngày lưu trú bình quân đối với khách nội địa (tăng thêm 0,5 ngày so với năm 2023) và 2,7 ngày đối với khách quốc tế (tăng thêm 0,3 ngày so với năm 2023).
Chi tiêu bình quân của khách năm 2020 phấn đấu đạt 3,884 triệu đồng/khách, tăng 45% so với 2023.
- Về tổng thu du lịch
Đến năm 2020, phấn đấu tổng thu du lịch đạt 27.400 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2024–2020 đạt 18,4%.
- Về cơ sở lưu trú
Dự kiến đến năm 2020 sẽ có 23.221 phòng khách sạn tăng 4.988 phòng so với 2023, trong đó số phòng khách sạn 3-5 sao sẽ tăng 4.005 phòng, nâng tổng số phòng khách sạn từ 3-5 sao lên 13.316 phòng.
Ngoài việc tăng lượng phòng khách sạn đạt chuẩn, khuyến khích phát triển loại hình homestay phục vụ nhu cầu du khách trong các đợt cao điểm.
- Về nhân lực du lịch
Đến năm 2020 tạo việc làm cho thêm 35.289 người lao động trực tiếp. Xây
dựng nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng được tiêu chuẩn về nghề du lịch trong khối ASEAN. Đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước, các cơ sở kinh doanh du lịch được chuẩn hóa, nâng cao chất lượng nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp và trình độ ngoại ngữ.
2.2.3. Các chương trình chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Phương án chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng là cách thức để giải quyết những vấn đề chính sách đặt ra đáp ứng mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Mỗi phương án chính sách của chính sách phát triển du lịch biển sẽ bao gồm những giải pháp tương ứng, các giải pháp này đều hướng tới mục tiêu chung là giải quyết các vấn đề chính sách đang đặt ra, và đạt được được mục tiêu của chính sách.
Giải pháp của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng là các hoạt động hay tập hợp hoạt động cụ thể để đi đến mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Gắn liền với việc giải quyết các vấn đề chính sách, hướng tới đạt được mục tiêu của chính sách, vì vậy cũng như sự vận động của các vấn đề, mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong từng giai đoạn, thời kỳ nhất định. Các phương án và giải pháp của chính sách cũng có những sự thay đổi cụ thể trong từng giai đoạn, thời gian cụ thể.
Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, một vấn đền, mục tiêu nhất định của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng có thể gắn với một hay nhiều phương án, giải pháp chính sách cụ thể. Các phương án, giải pháp chính sách một mặt nhằm hướng đến việc giải quyết các vấn đề chính của mình một mặt hỗ trợ các phương án và giải pháp khác để giải quyết các vấn đề, hướng tời các mục tiêu khác của chính sách. Như đối với mục tiêu về số lượng khách du lịch của du lịch biển thành phố Đà Nẵng, không có phương án, giải pháp cụ thể trực tiếp để giải quyết vấn đề, đạt được mục tiêu này của chính sách. Mà phải thông qua những phương án, giải pháp cụ thể như xúc tiến, quảng bá du lịch biển Đà Nẵng, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, sản phẩm du lịch biển…để giải quyết và giải quyết vấn đề và đặt được mục tiêu về số lượng khách du lịch của du lịch biển Đà Nẵng
Những phương án, giải pháp của chính sách du lịch biển Đà Nẵng được thể hiện thông qua những quyết định của Đảng, Nhà nước có liên đối với du lịch biển nước ta nói chung cũng như những quyết định có liên quan đến du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng.
Dựa vào việc phân tích hệ thống các quyết định có liên quan đến phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn tập hợp, hệ thống hóa các phương án, giải pháp của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại.
2.2.3.1. Chương trình nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong công tác xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch biển Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trong thời gian qua, thành phố Đà Nẵng đã áp dụng nhiều giải pháp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả, tính chuyên nghiệp trong công tác xúc tiến thị trường và quảng bá du lịch biển Đà Nẵng. Các phương án cụ thể được thành phố đưa ra bao gồm:
- Nghiên cứu khảo sát thị trường, tạo dữ liệu cho các thị trường đặc biệt là các thị trường trọng điểm;
- Ứng dụng công nghệ thông tin vào xúc tiến, quảng bá du lịch;
- Phát triển đồng bộ hệ thống nhận diện thương hiệu du lịch Đà Nẵng trên các công cụ quảng bá và xúc tiến du lịch;
- Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch tới thị trường nước ngoài thông qua các hoạt động như tham gia các hội chợ, hội nghị, hội thảo du lịch quy mô lớn, có sự kết nối lan tỏa,…
- Tổ chức các hoạt động quảng bá điểm đến chuyên nghiệp thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đối tác du lịch Đà Nẵng để duy trì và phát triển mối quan hệ với các tổ chức, đối tác du lịch Đà Nẵng trong nước và quốc tế. Tăng cường đón các đoàn famtrip, presstrp, các kênh truyền hình từ các thị trường trọng điểm tới khảo sát Đà Nẵng trong đó chú trọng các đơn vị báo chí chuyên về du lịch và các blogger; – Đẩy mạnh quảng bá loại hình du lịch M.I.C.E, thực hiện ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về thị trường M.I.C.E;
- Duy trì, phát triển số lượng và chất lượng các đường bay quốc tế đến Đà Nẵng, thông qua việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi thu hút các hãng hàng không quốc tế mở đường bay tới Đà Nẵng, duy trì và nâng tần suất các đường bay quốc tế hiện có;
- Đẩy mạnh xúc tiến du lịch tại chỗ thông qua việc tổ chức và truyền thông cho các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch quy mô lớn do thành phố tổ chức;
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí, truyền hình, truyền thông trong và ngoài nước để quảng bá du lịch Đà Nẵng sâu rộng ra bên ngoài.
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các hãng sản xuất phim đến quay phim tại thành phố Đà Nẵng nhằm góp phần quảng bá hình ảnh của thành phố thông qua các bộ phim.
2.2.3.2. Chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển
Liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển. Trong giai đoạn 2019 – 2024, nhận thức rõ được vai trò, tầm quan trọng cũng như thực trạng và yêu cầu đối với nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển của thành phố. Thành phố Đà Nẵng đã xác định việc chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực theo hướng chuyên nghiệp có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Từ đó đưa ra những định hướng, biện pháp chính sách cụ thể đối với việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển như : Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Xây dựng kế hoạch đào tạo, thu hút chuyên gia du lịch để bổ sung cán bộ có trình độ chuyên sâu cho ngành du lịch. Nâng cao trình độ quản lý, cập nhật kiến thức và kinh nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển thông qua các chương trình đào tạo trong và ngoài nước.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại các đơn vị du lịch thông qua việc tổ chức các lớp đào tạo bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, bồi dưỡng kỹ năng về du lịch.
Tổ chức chương trình đào tạo chuyên sâu theo các thị trường khách. Bổ sung đào tạo hướng dẫn viên các thị trường thiếu như tiếng Nga, Hàn, Ý, Thái Lan, Tây Ban Nha. Yêu cầu các dự án du lịch trước khi đi vào hoạt động phải có kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực. Tổ chức các hội thi nghiệp vụ của ngành. Ban quản hành quy định và yêu cầu bắt buốn về trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ đối với đối tượng lao độngtrực tiếp tại các nhà hàng trên địa bàn (đối với quản lý, bộ phận bàn, bar và bộ phận bếp) Tăng cường công tác thanh kiểm tra về tiêu chuẩn nghiệp vụ và ngoại ngữ của người quản lý, trưởng bộ phận và nhân viên khách sạn, kiểm tra trình độ ngoại ngữ của người quản lý, trưởng bộ phận và nhân viên khách sạn, kiểm tra trình độ của hướng dẫn viên, thuyết minh viên, lái xe, lái tàu và xích lô du lịch.
- Thành lập trung tâm sát hạch chất lượng nhân lực du lịch trên địa bàn thành phố.
- Đổi mới chương trình đào tạo phù hợp với tình hình thực tế tại các cơ sở đào tạo về du lịch, phối hợp chia sẻ thông tin về sự phát triển du lịch, nhu cầu nguồn nhân lực, yêu cầu kỹ năng tay nghề của doanh nghiệp để hỗ trợ các cơ sở đào tạo điều chỉnh các chương trình đào tạo nghiệp vụ và ngoại ngữ phù hợp.
- Tăng số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch kế cận qua việc ban hành các chính sách cho sinh viên vay vốn với lãi suất ưu đãi để giúp trả phí khi tham gia các khóa đào tạo nghề về du lịch. Duy trì tổ chức ngày hội định hướng nghề du lịch, khách sạn cho học sinh cấp 3 và sinh viên đang học tại các trường nghề để trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng nghề, ngoại ngữ trước khi đi làm.
- Triển khai thực hiện thỏa thuận công nhận tiêu chuẩn về nghề du lịch trong khối ASEAN và khu vực Đông Nam Á.
- Triển khai các chương trình đào tạo hợp tác theo hướng doanh nghiệp đóng góp, Nhà nước hỗ trợ nhà trường thực hiện và sinh viên đi thực tập theo hướng dẫn của các doanh nghiệp để các doanh nghiệp có thể sử dụng được ngay khi đào tạo.
- Định kỳ 02 năm một lần tổ chức điều tra, đánh giá số lượng và chất lượng nguồn nhân lực để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng kế hoạch phát triển cho giai đoạn tiếp theo.
2.2.3.3. Chương trình nâng cao nhận thức của xã hội về du lịch biển và bảo vệ môi trường du lịch biển
Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại đã và đang xác định rất rõ nhiệm vụ phát triển du lịch biển một các bền vững, trong đó việc nâng cao nhận thức của xã hội về du lịch biển, đảm bảo môi trường du lịch biển được đặc biệt quan tâm, chú trọng. Để đạt được mục tiêu của mình, chương trình đã xây dựng những giải pháp cụ thể như:
Tuyên truyền và làm chuyển biến nhận thức của các cấp, các ngành, người dân về vai trò, vị trí của du lịch, tạo ra sự chuyển biến hơn nữa trong việc ban hành chính sách phát triển du lịch và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Vận động các cơ quan, đơn vị, các tầng lớp nhân dân và du khách tuân thủ và thực hiện tốt Bộ Quy tắc ứng xử trong hoạt động du lịch gắn với việc tiếp tục triển khai thực hiện xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị Đà Nẵng, xây dựng thành phố môi trường, thành phố an bình. Tôn vinh và nhân rộng các mô hình, những người tốt việc tốt, có đóng góp tiêu biểu cho hoạt động du lịch.
Đầu tư xử lý các cống xả chất thải ra biển ở quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn và Thanh Khê để hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường biển. Yêu cầu các cơ sở đầu tư xây dựng các khách sạn, nhà hàng, dự án mới phải xây dựng và thực hiện công tác đánh giá tác động, môi trường, cam kết đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý chất thải, bãi đỗ xe.
Đảm bảo kinh doanh văn minh thương mại, niêm yết, công khai giá và bán đúng giá niêm yết tại các nhà hàng, cơ sở mua sắm.
Rà soát hệ thống nhà vệ sinh để nâng cấp, xây dựng mới theo hướng xã hội hóa.
Phát huy vai trò của Trung tâm hỗ trợ du khách, đầu tư kinh phí và nhân lực để đảm bảo vận hành, phối hợp các ngành liên quan để thực hiện quy chế hỗ trợ du khách đến Đà Nẵng một cách hiệu quả.
2.2.3.4. Chương trình nâng cấp, hình thành các sản phẩm du lịch biển
Sản phẩm du lịch nói chung, đặc biệt là du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng hiện nay còn rất hạn chế, thiếu sự đa dạng và chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng hiện này chú trọng đến việc tạo dựng, hình thành các sản phẩm du lịch chủ lực theo định hướng phát triển du lịch, đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khách du lịch và có sức cạnh tranh cao. Cụ thể:
Tập trung phát triển sản phẩm du lịch biển cao cấp, theo hướng gắn liền nghỉ dưỡng biển với các hoạt động thể thao giải trí biển đẳng cấp quốc tế : Rà soát, đôn đốc các dự án lớn ven biển: Khu phức hợp bến cảng du thuyền, Khu du lịch Sơn Hải, Khu dịch vụ du lịch thể thao biển, phục vụ công cộng và hầm đi bộ qua đường Hoàng Sa, hầm đi bộ qua đường Võ Nguyên Giáp…
Nâng cấp cảng biển Tiên Sa đảm bảo các điều kiện phục vụ du lịch ; Kêu gọi đầu tư xây dựng các bến du thuyền hạng sang hướng đến thị trường khách nghỉ dưỡng có khả năng chi tiêu cao. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Phát triển và nâng cao chất lượng các loại dịch vụ gắn với biển : lặn biền ngắm san hô, câu cá, lướt ván, dù bay, thuyền kayak, jetski và các bộ môn thể thao giải trí biển hiện đại khác. Tổ chức các sự kiện văn hóa – thể thao – du lịch tầm cỡ gắn liền với khu vực ven biển và trung tâm thành phố. Tổ chức các giải thi đấu thể thao quốc tế gắn với du lịch như các giải chạy (marathon, triathlon, barefoot run…), đua thuyền buồm, đua máy bay thể thao, tenis, golf, lướt ván…
Tiếp tục khai thác có hiệu quả loại hình du lịch công vụ, xây dựng thành phố sự kiện. Đẩy mạnh đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức các sự kiện, hội nghị như xây dựng Trung tâm Hội nghị quốc tế , nâng cấp trung tâm hội chợ, triển lãm. Nâng cao tính chuyên nghiệp trong việc tổ chức các sự kiện du lịch theo hướng hợp tác với các Công ty tổ chức sự kiện quốc tế và trong nước.
Đa dạng hóa các loại hình du lịch trải nghiệm, kết nối văn hóa với du lịch để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố : Đầu tư, nâng cấp bảo tàng Điêu khắc Chăm trở thành bảo tàng trưng bày các giá trị văn hóa Chăm pa đặc trưng của khu vực và thế giới để đáp ứng như cầu của thị trường khách quốc tế ; thúc đẩy việc triển khai dự án Công viên Văn hóa Ngũ Hành Sơn…
Duy trì các chương trình lễ hội, các sự kiện quốc tế hiện có và mở rộng tổ chức các chương trình sự kiện mang tầm cỡ quốc tế. Quản lý tốt và nâng cao chất lượng, quy mô tổ chức các lễ hội.
Phát huy lợi thế về tài nguyên núi, rừng để phát triển loại hình du lịch sinh thái : Triển khai quy hoạch và đầu tư xây dựng Bán đảo Sơn Trà thành Khu du lịch quốc gia ;…
Khắc phục tình trạng thiếu các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm : Quy hoạch, thiết kế dành quỹ đất để xây dựng và thu hút các nhà đầu tư hình thành các khu chợ đêm, phố đi bộ ; đầu tư các dịch vụ vui chơi thể thao và giải trí về đem trên bờ biển và khu trung tâm, hình thành các trung tâm mua sắm ẩm thực tập trung với quy mô lớn chất lượng quốc tế.
Triển khai có hiệu quả Kế hoạch đầu tư phát triển tour, tuyến du lịch đường thủy nội địa trên địa bàn thành phố, trong đó tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cầu tàu tại các điểm đi, đến su lịch dọc các tuyến sông để tàu thuyền neo đậu, đảm bảo an toàn cho khách du lịch ; đầu tư các điểm đến và dịch vụ bổ sung tại Bán đảo Sơn Trà, di tích K20, Túy Loan, Thái Lai, ; nâng cao chất lượng dịch vụ ; hỗ trợ cho các dự án đóng tàu phục vụ khác du lịch có chất lượng cao ;
Xúc tiến, hỗ trợ, tạo điều kiện mở đường bay trực tiếp từ các thị trường trọng điểm nước ngoài đến thành phố Đà Nẵng…
Kêu gọi đầu tư xây dựng các khu cắm trại dã ngoại phục vụ du khách và người dân địa phương.
2.2.3.5. Chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch biển
Để phát triển du lịch biển thì việc đầu tư phát triển du lịch biển là rất cần thiết.
Để phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, công tác xúc tiến, quảng bá du lịch… Chính sách phát triển du lịch Đà Nẵng đã xây dựng phương án đầu tư phát triển du lịch với những giải pháp cụ thể:
Khuyến khích đầu tư thu hút vào lĩnh vực phát triển dịch vụ du lịch tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn thành phố. Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng hiện nay khuyến khích việc đầu tư vào các điểm du lịch trên địa bàn thành phố như Bãi Bắc (Sơn Trà); Làng Vân… Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Xây dựng cơ chế hợp tác giữa khu vực công và khu vực tư nhân, phân định rõ vai trò trách nhiệm, lợi ích của các bên. Phân cấp mạnh mẽ cho doanh nghiệp, tạo môi trường thông thoáng, hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp chủ động phát huy vai trò động lực thúc đẩy phát triển du lịch biển.
Xã hội hóa đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, xúc tiến quảng bá và đào tạo du lịch. Trong giai đoạn vừa qua một số khu điểm du lịch công như Công viên 29/3 đã được thành phố xã hội hóa đầu tư nhằm nâng cấp đưa vào thành điểm vui chơi giải trí phục vụ du lịch…
2.2.3.6. Chương trình hợp tác quốc tế về du lịch biển
Hợp tác quốc tế về du lịch rất cần thiết đối với việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng, nhất là trong thời kỳ hội nhập, mở cửa của đất nước. Những giải pháp cụ thể đối với hợp tác quốc tế về du lịch của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại là:
- Tích cực góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định hợp tác song phương và đa phương của quốc gia đã ký kết.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng với các nước, các tổ chức quốc tế, gắn thị trường du lịch biển Đà Nẵng với thị trường du lịch khu vực và thế giới.
- Mở rộng các quan hệ hợp tác song phương và đa phương, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước, các tổ chức quốc tế góp phần đẩy nhanh sự phát triển biển, nâng cao hình ảnh và vị thế du lịch biển Đà Nẵng trên trường quốc tế.
2.2.3.7. Chương trình nâng cao chất lượng quản lý Nhà nước về du lịch biển
Chất lượng công tác quản lý Nhà nước về du lịch biển là một trong những yếu tố có sự ảnh hưởng trực tiếp, và đặc biệt quan trọng trong hoạt động phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Nhận thức được vấn đề này, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng đã xác định rõ việc cần thiết phải tăng cường công tác quản lý Nhà nước về du lịch biển. Cụ thể, chính sách xác định các nhiệm vụ:
Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước về du lịch để tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phát triển du lịch trong tình hình mới. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn doanh nghiệp trong việc thực hiện quy định của Nhà nước, đồng thời nắm tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để kịp thời đề xuất, tháo gỡ khó khăn. Cập nhật thông tin cho doanh nghiệp về các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành từ trung ương đến địa phương trong lĩnh vực du lịch.
Tăng cướng phối hợp quản lý hoạt động người nước ngoài trong hoạt động du lịch, thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch.
Triển khai đưa phần mềm thống kê vào sử dụng để theo dõi số lượng cũng như bằng cấp, chứng chỉ của nhân sự khách sạn.
Tăng cường phối hợp liên ngành trong công tác thanh tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nhằm nâng cao hiệu quả việc thanh tra đồng thời hạn chế việc tổ chức nhiều đợt thanh tra đối với các cơ sở làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của đơn vị.
2.2.4. Kinh phí dự kiến dành cho phát triển du lịch Đà Nẵng
Vốn ngân sách cho Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2019 – 2023 là 167,760 tỷ đồng, trong đó:
- Vốn sự nghiệp là 23,61 tỷ đồng;
- Vốn cho đầu tư phát triển là 144,15 tỷ đồng.
- Vốn xã hội hóa Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2019 – 2023 là 190.320 tỷ đồng
- Bảng 2.1. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2019-2023
- Vốn ngân sách cho Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2024 – 2020 là 8 tỷ đồng, trong đó:
- Vốn sự nghiệp là 93.5 tỷ đồng;
- Vốn cho đầu tư phát triển là 130.3 tỷ đồng.
- Vốn xã hội hóa Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2024 – 2020 là 385.400 tỷ đồng
Bảng 2.2. Chi phí dành cho phát triển du lịch 2024-2020
2.3. Đánh giá chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
2.3.1. Những ưu điểm
Trong giai đoạn 2019 – 2024, với với những chính sách hợp lý, hiệu quả của thành phố cũng như sự quan tâm chỉ đạo tự Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các bộ ngành trung ương, Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng, sự phối hợp của các cấp các ngành, sự nỗ lực của các doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể và sự đồng thuận của người dân thành phố. Ngành du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần quan trọng vào sự phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế – xã hội của thành phố. Với hệ thống cơ sở hạ tầng chuyên ngành không ngừng được đầu tư, nâng cấp cả về số lượng lẫn chất lượng. Công tác quy hoạch, đầu tư cho du lịch được quan tâm, thu hút vốn đầu tư cho du lịch tăng đáng kể, thủ tục hành chính cũng được cải cách rút ngắn thời gian và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp. Sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, môi trường du lịch ổn định, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường được duy trì và ngày càng tiến bộ, chất lượng môi trường biển cũng như các bãi tắm được cãi thiện rõ rệt, công tác xúc tiến quảng bá du lịch biển tiếp tục được quan tâm, thị trường du lịch được mở rộng, hình ảnh du lịch biển Đà Nẵng nói riêng cũng như du lịch Đà Nẵng nói riêng dần tạo dựng được thương hiệu trên thị trường quốc tế.
2.3.1.1 Chính sách phát triển du lịch biển có tính hệ thống chặt chẽ, thống nhất
Được xây dựng dựa trên các quan điểm, chính sách chung của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế – xã hội nói chung cũng như chính sách, quan điểm phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng. Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cụ thể hóa các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước thông qua nội dung của mình. Thông qua các mục tiêu, biện pháp của mình chính sách phát triển du lịch biển thành phố Đà Nẵng hướng đến mục tiêu phát triển du lịch biển thành phố Đà Nẵng theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Từ đó tạo ra phù hợp, thống nhất với các chính sách phát triển kinh tế xã hội khác của Đảng và Nhà nước cũng như của thành phố Đà Nẵng.
Cùng với đó, chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng không chỉ được thể hiện thông qua một văn bản, quyết định duy nhất nào mà thay vào đó chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng được thể hiện bằng một hệ thống các quyết định bao gồm các Văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính, các chương trình, kế hoạch cũng như những hành động, hành vi thực tiễn của thành phố Đà Nẵng… Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Ví dụ: Việc xây dựng Đề án phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng được xây dựng dựa trên những căn cứ, định hướng chung của Nhà nước về phát triển du lịch của quốc gia, miền trung, vùng duyên hải nam trung bộ được thể hiên qua Nghị quyết 92/NQ-CP năm 2022 về giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới do Chính phủ ban hành; Quyết định 2350/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ ban hành; Quyết định số 2054/QĐ –TTg ngày 13/11/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển Văn hóa, Gia đình, Thể dục thể thao và Du lịch vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; cũng như các quan điểm, định huướng có liên quan đến phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng được thể hiện thông qua các quyết định Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2012 xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Bộ Chính trị ban hành. Nghị Quyết đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 và Kết luận 75-KL/TW năm 2021 tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” do Ban Chấp hành Trung ương ban hành; Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04/12/2021 ủa Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050; Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng, nhiệm kỳ 2024 – 2020.
2.3.1.2 Nội dung chính sách được xây dựng phù hợp với những yêu cầu đặt ra
Về mục tiêu của chính sách: Với nhưng tiềm năng về du lịch của mình, việc xác định phát triển du lịch nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội là điều thành phố cần phải làm. Ở giai đoạn hiện nay, vai trò của du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng ngày càng quan trọng.
Nghị quyết 33-NQ/TW năm 2012 xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước do Bộ Chính trị ban hành. Nghị Quyết đã xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 qua đó định hướng “Đầu tư phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố”. Kết luận 75-KL/TW năm 2021 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Nghị quyết 66/2016/NQ-HĐND ngày 3 tháng 7 năm 2016 về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành xác định “Xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm dịch vụ du lịch”. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Những định hướng phát triển nêu trên cho thấy vị trí, vai trò, tầm quan trọng của du lịch nói chũng trong đó có du lịch biển đối với phát trieernkinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng. Chính vì vậy, việc chính sách phát triển du lịch biển tiếp tục xác định mục tiêu chung nhằm thúc đẩy sự phát triển của du lịch biển, qua đó tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng nói riêng cúng như Nhà nước nói chung theo định hướng là hoàn toàn khả thi, phù hợp với những yêu cầu của thực tế cũng như định hướng phát triển của Nhà nước.
Cùng với đó, các mục tiêu cụ thể của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng được xây dựng một cách cụ thể, rõ ràng, với những con số, tiêu chí cụ thể được thể hiện thông qua các Đề án phát triển du lịch của thành phố trong từng giai đoạn nhất định. Đồng thời, mục tiêu của chính sách được xây dựng dựa trên những nghiên cứu đánh giá về thực trạng kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế, những cơ hội, thách thức đặt ra cũng như năng lực, nguồn lực thực tế của thành phố.
Điều này thể hiện rõ trong những điều chỉnh về những mục tiêu cụ thể đối với chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, thể hiện thông qua các Đề án phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng các giai đoạn khác nhau. Điều này giúp những mục tiêu của chính sách có tính thực tiễn cũng như tính khả thi cao trong thời gian áp dụng được quy định cụ thể đến năm 2020.
Các biện pháp chính sách: Các biện pháp chính sách được xây dựng, lựa chọn xuất phát từ yêu cầu giải quyết các vấn đề đặt ra của chính sách hướng tới việc đạt được các mục tiêu của chính sách trong việc giải quyết các vấn đề của mình phù hợp với hệ thống chính sách chung về phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước.
Các biện pháp của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đã được xây dựng dựa trên cơ sở mối tương quan giữa nguồn lực thực tế của thành phố và mục tiêu của chính sách. Đồng thời nội dung các biện pháp của chính sách đã thể hiện vai trò, sự tham gia của các bên liên quan như chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch biển, người dân địa phương… trong hoạt động phát triển du lịch biển nói chung cũng như chu trình chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng.
Cuối cùng, các biện pháp chính sách được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học cũng như kinh nghiệm phát triển du lịch biển của thành phố cũng như kinh nghiệm phát triển du lịch biển của các địa phương trong nước và thế giới… Những đặc điểm trên góp phần giúp các biện pháp của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng có tính khả thi cao.
Về thời gian của chính sách: Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết tách thành phố Đà Nẵng từ một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương (01/01/1997). Tiếp nối những chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng đã thưc hiện trước đó, thành phố Đà Nẵng tiếp tục thực hiện chính sách phát triển du lịch biển của mình với tư cách là thành phố trực thuộc trung ương.
Ngày 16 tháng 10 năm 2012, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 33-NQ/TW về “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là một sự kiện có ý nghĩa to lớn, là tiền đề cho sự thay đổi lớn trong chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng. Nghị quyết 33-NQ/TW chỉ rõ định hướng phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng : “Đầu tư phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố; xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm du lịch lớn của đất nước”,
Trong giai đoạn vừa qua, nhận thấy tầm quan trọng của phát triển du lịch biển, thành phố Đà Nẵng luôn duy trì và hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển. Điều này thể hiện thông qua việc ban hành Kết luận 75-KL/TW năm 2021 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá IX “Về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Cũng như việc Nghị quyết 66/2016/NQHĐND ngày 3 tháng 7 năm 2016 về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020 do Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành xác định “Xây dựng Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm dịch vụ du lịch” cũng như việc Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng xây dựng và ban hành Đề án phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2024 – 2020.
Việc tiếp tục duy trì và hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng là quyết định đúng đắn khi du lịch biển ngày càng khẳng định rõ vai trò, vị trí của mình đối với sự phát triển của ngành du lịch nói riêng cũng như sự phát triển của kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng nói chung. Cũng như vấn đề phát triển du lịch biển của thành phố trong những năm qua vẫn bị đánh giá là chưa tương xứng với tiềm năng về du lịch biển của mình.
Chính vì vậy, việc chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng có thời gian tồn tại đến thời điểm hiện tại và sẽ còn tiếp tục được duy trì, hoàn thiện trong thời gian tới là một ưu điểm của chính sách. Điều này giúp chính sách ngày càng được hoàn thiện, cũng như giúp chính sách có đủ thời gian để đạt được mục tiêu của mình.
2.3.1.3. Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng có tính hiệu quả cao
Thông qua việc thực thi, cụ thể hóa chính sách chính sách phát triển du lịch biển thông qua các quyết định, các văn bản quy phạm pháp luật… chính sách phát triển du lịch biển nói riêng đã tạo ra những động lực thúc đẩy, những điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Ví dụ: Thông qua Quyết định 30/2022/QĐ-UBND về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm lưu niệm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Thành phố tạo động lực, cũng như các điều kiện thuận lợi khác cho các cá nhân, tổ chức phát triển sản xuất sản phẩm lưu niệm phục vụ du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với các hỗ trợ nhất định như hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm lưu niệm, vay vốn, đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; hỗ trợ mặt bằng sản xuất, kinh doanh…
Trong những năm qua, với chính sách phát triển du lịch biển hiệu lực, hiệu quả, thành phố Đà Nẵng đã tạo động lực rất lớn, cũng như các điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch biển của thành phố. Điều này thể hiện rõ nét qua những con số ấn tượng thể hiện sự phát triển của du lịch nói chung cũng như du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua. Cụ thể:
2.2.1.4 Lượng khách du lịch và doanh thu từ du lịch liên tục tăng
Trong giai đoạn 2019- 2024, du lịch Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành công trong việc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Theo số liệu tại Đề án phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2024 – 2020, tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hàng năm trong giai đoạn 2019 – 2023 là 20,14%. Trong đó khách quốc tế tăng bình quân 25,46%, khách nội địa tăng bình quân 18,56 %.
Riêng trong năm 2024, tổng lượt khách tham quan du lịch đến Đà Nẵng ước đạt 5,51 triệu lượt, tăng 17,7 % so với năm 2023, ước đạt 107,2% kế hoạch, trong đó khách quốc tế ước đạt 1,66 triệu lượt, tăng 31,6% so với năm 2023, ước đạt 126,2% kế hoạch, khách nội địa ước đạt 3,84 triệu lượt, tăng 12,5% so với năm 2023, ước đạt 100,6% kế hoạch.
Bảng 2.3. Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2024
Cùng với số lượng khách du lịch đến với Đà Nẵng ngày càng tăng cao, doanh thu của ngành Du lịch cũng đạt được nhiều kết rất khả quan. Cụ thể, trong giai đoạn 2019 – 2024, tổng thu du lịch tăng bình quân 29,7%. Trong đó tổng doanh thu du lịch năm 2024 ước tính đạt 16 nghìn tỷ đồng, tăng 24,7% so với năm 2023 (ước đạt 11.800 tỷ đồng), đạt 107,1% kế hoạch đề ra, tăng gấp 3,47 lần so với năm 2019 (4.600 tỷ đồng).
Bảng 2.4. Doanh thu ngành du lịch của Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2024
2.2.1.5 Chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ngày càng được nâng cao
Tính đến năm 2024, trên địa bàn thành phố có 83 dự án du lịch dịch vụ đã và đang triển khai đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 7.300 triệu USD (153.300 tỷ đồng), trong đó có 20 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư 1.280 triệu USD (tương đương 26.800 tỷ đồng) và 63 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn 6.020 triệu USD (tương đương 126.420 tỷ đồng).
Bảng 2.5. Tổng số vốn đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực du lịch tại Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2024
2.3.2.Sản phẩm dịch vụ du lịch biển ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trong giai đoạn 2019 – 2024, các sản phẩm du lịch biển của thành phố ngày càng được đầu tư phát triển đa dạng, chất lượng dịch vụ du lịch được cũng cố và nâng cao, cơ bản đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của du khách với nhiều sản phẩm mới như lướt ván, dù bay, lặn ngắm san hô… Cùng với đó, những Chương trình du lịch đã được thành phố tổ chức rất thành công, để lại rất nhiều ấn tượng tốt đẹp trong mắt du khách trong và ngoài nước như Cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế, cuộc thi lướt ván trên sông Hàn, cuộc thi Dù bay quốc tế, Lễ hội Diều… Đặc biệt trong năm 2024, thành phố đã tổ chức thành công các sự kiện lớn như Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race (từ ngày 17 – 27/2/2024), Chương trình Khai chương mùa du lịch biển năm 2024, Chương trình Đà Nẵng – Điểm hẹn mùa hè 2024, Hôi chợ Du lịch quốc tế Đà Nẵng 2024, Phối hợp tổ chức Đại hội Thể thao bãi biển Châu Á 2024 – ABG5 (24/09 – 3/10/2024), Phối hợp tổ chức Hội nghị quốc tế về Du lịch và Thể thao (24/9/2024).
Các sản phẩm du lịch, cũng như các sự kiện được tổ chức thu hút một lượng khách du lịch rất lớn chọn Đà Nẵng là điểm đến du lịch của mình. Qua đó mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho thành phố. Cùng với đó sự thành công trong việc khai thác, tạo dựng các sản phẩm du lịch mới cũng như các sự kiện du lịch lớn đã góp phần đáng kể vào việc tạo dựng và cũng cố hình ảnh du lịch Đà Nẵng trong mắt khách du lịch trong và ngoài nước cũng như góp phần khắc phục hạn chế do đặc tính du lịch theo mùa vụ gây ra…
2./3.2.1 Hệ thống cơ sở lưu trú được cải thiện về số lượng và chất lượng
Hệ thống cơ sở lưu trú phục vụ du lịch biển của thành phố Đà Nẵng ở thời điểm năm 2019 với 78 cơ sở lưu trú phục vụ du lịch với 8.663 phòng, đây là con số rất khiêm tốn, không đủ đáp ứng nhu cầu phục vụ cho phát triển du lịch biển của thành phố. Tuy nhiên chỉ sau 5 năm, với chính sách khuyến khích đầu tư hợp lý, hiệu quả, số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đã lên đến con số 572 cơ sở với số lượng các phòng dịch vụ là 21.197 phòng. Đặc biệt trong đó số lượng các cơ sở lưu trú có chất lượng cao chiến tỷ lệ ngày càng cao theo các năm. Với số lượng và chất lượng các cơ sở lưu trú như vậy, du lịch biển Đà Nẵng hiện nay đã có thể đáp ứng được nhu cầu về cơ sở lưu trú của khách du lịch ngay cả vào thời điểm du lịch cao điểm trong năm. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Bảng 2.6. Số lượng cơ sở lưu trú và số buồng phòng phục vụ du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2019 – 2024
2.3.2.2 Chất lượng hoạt động lữ hành ngày càng được nâng cao
Giai đoạn 2019 – 2024 , là giai đoạn có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng cũng như chất lượng của các đơn vị kinh doanh lữ hành tại thành phố Đà Nẵng. Theo số liệu thống kê, năm 2019có 108 đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,. Sau 5 năm, số đơn bị kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã lên đến 270 đơn vị.
Đặc biệt, trong năm 2024, mặc dù chịu ảnh hưởng của các sự cố môi trường nhưng hoạt động lữ hành vẫn duy trì sự phát triển. Các doanh nghiệp đã sớm nhận định về nhu cầu và xu hướng của khách để đưa ra chiến lược kinh doanh phù hợp.
2.3.2.3 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển dần đáp ứng được nhu cầu về nhân lực của hoạt động du lịch biển
Theo kết quả khảo sát nguồn nhân lực du lịch của Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội TP Đà Nẵng, tính đến cuối năm 2022, toàn thành phố có 20.762 lao động đang làm việc trong lĩnh vực du lịch (tăng 58,7% so với năm 2019). Trong đó, lao động đang làm việc tại các khách sạn là 10.597 người (tăng 61%), tại các doanh nghiệp lữ hành là 1.553 người, nhà hàng là 5.231 người, khu điểm du lịch là 1.129 người. Năm 2023, ước tổng số lao động trong lĩnh vực này là 24.975 người, dự báo đến năm 2020 con số này sẽ lên tới 33.044 người (tăng 57% so với năm 2022).
Số lượng hướng dẫn viên phục vụ du lịch của thành phố trong giai đoạn 2019 – 2024 có sự gia tăng một cách ấn tượng . Theo thống kê, tổng số hướng dẫn viên du lịch của thành phố năm 2019 là 613 người. Con số này đã tăng lên 2598 người vào năm 2024, gấp 4,24 lần so với năm 2019. Đặc biết, tỷ lệ hướng dẫn viên quốc tế trong ngành năm 2019 chỉ chiếm 29% trên tổng số hướng dẫn viên của thành phố đã tăng lên 40% năm 2024.
Không chỉ trực tiếp góp phần vào việc phát triển du lịch biển Đà Nẵng, chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng còn có những tác động tích cực đến kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng. Cụ thể, thông qua những phương án chính sach, những kết quả thực hiện chính sách, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng góp phần tạo ra nhiều việc làm trực tiếp cho người lao động trên địa bàn thành phố; việc thu hút nhiều khách du lịch đến với thành phố cũng góp phần tạo cơ hội phát triển cho các ngành khác như vận tải, vận chuyển, kinh doanh thương mại…
2.3.2.4. Thích ứng với những thay đổi, biến động của môi trường kinh tế – xã hội
Giai đoạn 2019 – 2024 là giai đoạn xuất hiện nhiều biến động của môi trường kinh tế – xã hội trong nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Nổi bật nhất có thể nhắc đến sự cố ô nhiễm môi trường Bắc miền Trung (Fomosa). Sự cố môi trường này không chỉ gây ảnh hưởng đến các tỉnh phí Bắc miền Trung mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến du lịch biển của thành phố Đà Nẵng. Theo con số thống kê, sự cố môi trường này đã ảnh hưởng đến tâm lý của khách du lịch trong nước khiến lượng khách đến Đà Nẵng dịp nghỉ 30/4 và 1/5 giảm so với năm trước. Cụ thể, khách nước ngoài tăng 20%, nhưng nội địa giảm khoảng 10%. Bù lại tổng số thì giảm ít nhưng vẫn là ít khách hơn. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Để ứng phó với những hậu quả từ sự cố môi trường gây ra, cũng như trấn an tâm lý của khách du lịch trong nước ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cùng hàng loạt lãnh đạo chủ chốt của Đà Nẵng đã tắm biển, ăn hải sản để chứng minh biển an toàn. Qua đó truyền đạt đến khách du lịch thông điệp Đà Nẵng vẫn là điểm đến rất an toàn, thân thiện trên mọi phương diện. Với người dân và du khách, nếu có bất cứ vấn đề gì, thành phố sẽ thông tin một cách chân thực. Thành phố vẫn thường xuyên kiểm tra, kiểm định nước biển và cá, nếu có vấn đề chính quyền sẽ cảnh báo cho người dân, du khách.
Bên cạnh đó một số ví dụ khác như việc chính sách du lịch biển của thành phố có những điều chỉnh kịp thời về mục tiêu đối với số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn thành phố. Nắm bắt được thực sự dư thừa các khách sạn, cơ sở lưu trú dưới 3 sao chính sách phát triển du lịch biển thành phố Đà Nẵng đã thay đổi các mục tiêu phát triển cơ sở lưu trú của mình. Trong đó tập trung phát triển các cơ sở lưu trú từ 3 – 5 sao. Cụ thể: Dự kiến đến năm 2020 sẽ có 23.221 phòng khách sạn tăng 4.988 phòng so với 2023, trong đó số phòng khách sạn 3-5 sao sẽ tăng 4.005 phòng, nâng tổng số phòng khách sạn từ 3-5 sao lên 13.316.
Sự thích ứng, linh hoạt của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng giúp du lịch biển của thành phố tăng tính chủ động đối với những sự thay đổi của môi trường kinh tế – xã hội cũng như tăng tính hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển, qua đó góp phần phát triển du lịch biển của thành phố.
2.3.2.5. Tạo cơ sở cho việc tăng cường sự phối hợp liên ngành, sự tham gia của người dân vào phát triển du lịch biển
Để thực thi chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng không thể chỉ dựa vào quá trình thực hiện của Sở du lịch hay bất kỳ một cơ quan, ban ngành riêng lẻ nào của thành phố mà cần phải có sự tham gia của tất cả các cơ quan ban ngành có liên quan đến phát triển du lịch nói chung cũng như phát triển du lịch biển nói riêng.
Cùng với đó, chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng hiện nay đề cao vai trò của người dân đối với việc phát triển du lịch biển của thành phố. Đặc biệt đối với các chương trình liên quan đến phát triển văn hóa, bản sắc địa phương, bảo vệ môi trường du lịch biển… Theo đó, nhiều nội dung, phương án chính sách đã được đưa ra nhằm thu hút sự tham gia của người dân vào việc thực thi chính sách phát triển du lịch biển nhằm phát triển du lịch biển của thành phố theo định hướng.
Chính vì vậy, có thể nói chính sách phát triển du lịch đã góp phần tạo cơ sở cho việc tăng cường sự phối hợp liên ngành, sự tham gia của người dân vào phát triển du lịch biển của thành phố.
2.3.3. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.3.1. Những hạn chế, tồn tại
Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng còn thiếu tính dự báo. Sự cố môi trường Fomosa, hay sự xuất hiện của các tour du lịch 0 đồng, hướng dẫn viên chui… là những vấn đề hoàn toàn có thể dự báo được đối với du lịch biển Đà Nẵng. Bởi lẽ trước khi xuất hiện và trở thành vấn đề gây bức xúc cho du lịch biển Đà Nẵng, các tour du lịch 0 đồng, hay hiện tượng hướng dẫn viên chui đã xuất hiện và gây ra nhiều hậu quả xấu đối với các địa phương du lịch ở một số nước như Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan, hay ở Quảng Ninh… Tuy nhiên các nhà hoạch định chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng đã không dự báo trước được, hay chủ có tâm lý chủ quan đối với các vấn đề này khiến việ khi các vấn đề này xảy ra khiến chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trở nên thụ động trong việc giải quyết các vấn đề. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Chưa có những biện pháp chính sách phù hợp với mục tiêu về cơ sở lưu trú của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng. Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng xác định mục tiêu đến năm 2020 sẽ có 23.221 phòng khách sạn tăng 4.988 phòng so với 2023, trong đó số phòng khách sạn 3-5 sao sẽ tăng 4.005 phòng, nâng tổng số phòng khách sạn từ 3-5 sao lên 13.316 phòng.
Năm 2023, Đà Nẵng có 18.233 phòng khách sạn trong đó có 91 khách sạn 3-5 sao và tương đương với 9.311 phòng, 05 khu căn hộ, biệt thự với 212 phòng và 394 khách sạn 1-2 sao trở xuống và tưcmg đương với 8.710 phòng. Sau 1 năm thực hiện Đề án phát triển du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2024 – 2020 số lượng phòng khách sạn của Đà Nẵng đã tăng lên 21.197 phòng với 15 khách sạn 5 sao và tương đương (3.252 phòng); 25 khách sạn 4 sao và tương đương (3.305 phòng); 73 khách sạn 3 sao và tương đương (4.775 phòng); 449 khách sạn 1-2 sao và tương đương (9.946 phòng); 05 căn hộ, biệt thực du lịch cao cấp và đạt chuẩn (212 phòng); 17 cơ sở nhà nghỉ du lịch, homestay. Tăng 2964 tức gần 60% mục tiêu của giai đoạn 2024 – 2020, đặc biệt trong đó số phòng khách sạn 1-2 sao và tương đương tăng 1.236 phòng tức đạt 125% so với mục tiêu của giai đoạn 2024 – 2020.
Điều này thể hiện việc đặt mục tiêu về cơ sở lưu trú của chính sách chưa thực sự phù hợp. Cùng với đó, với định hướng phát triển du lịch biển cao cấp, hạn chế số lượng tăng thêm của các phòng khách sạn 1-2 sao và tương đương rõ ràng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng cần có những phương án, giải pháp nhằm hạn chế số lượng tăng thêm của phòng khách sạn 1-2 sao. Tuy nhiên hiện nay, chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng chưa có những phương án, giải pháp cho vấn đề này. Dẫn đến việc số lượng phòng khách sạn 1-2 sao tăng ồ ạt. Điều này có thể dẫn đến việc dư thừa số lượng phòng khách sạn 1-2 sao và tương đương.
- Một số biện pháp chính sách chưa thực sự có hiệu quả trên thực tế. Cụ thể:
Chương trình phát triển sản phẩm du lịch biển chưa có tính đột phá, sáng tạo, chủ yếu phát triển các sản phẩm du lịch biển phục vụ khách du lịch nội địa, chưa có nhiều sản phẩm đặc trưng hướng tới thị trường khách quốc tế. Trong giai đoạn 2019 – 2024, thành phố Đà Nẵng đã phát triển một số sản phẩm dịch vụ du lịch biển như: Tổ chức các dịch vụ du lịch trên biển: Dịch vụ lặn biển ngắm san hô, đua thuyền buồm, lướt ván, mô tô nước, dù bay; bãi tắm du lịch kiểu mẫu; Xây dựng khu ẩm thực vùng biển… Cũng như các sản phẩm du lịch văn hóa, và du lịch sinh thái khác. Nhìn chung các sản phẩm du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn này đã có sự phát triển, đa dạng hơn. Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm du lịch biển phát triển của Đà Nẵng như bãi tắm, ẩm thực, mua sắm… chủ yếu phục vụ nhu cầu của du khách trong nước. Các sản phẩm khác như đua thuyền buồm, lướt ván, dù bay thì chưa thực sự phát triển mạnh. Đồng thời giá dịch vụ cho các dịch vụ này cũng còn khá cao. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Cùng với đó, các sản phầm du lịch mang tính đặc trưng của Đà Nẵng còn chưa thực sự đem lại hiệu quả. Trong bối cảnh các địa phương phụ cận là Thừa Thiên Huế với Di tích Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế…, Quảng Nam với Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An đã và đang phát triển sản phẩm du lịch đặc thù dựa vào thế mạnh di sản thì Đà Nẵng lại không trực tiếp sở hữu những di sản thế giới hay những điểm đến nổi tiếng nên vấn đề về sản phẩm du lịch đặc trưng không chỉ ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của điểm đến mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của du lịch Đà Nẵng trong tương lai.
Dịch vụ vui chơi giải trí về đêm vẫn còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách. Tại Đà Nẵng hiện nay mới chỉ có các hoạt động vui chơi giải trí ở khu công viên châu Á (Asia Park), các tour du lịch thuyền đêm trên sông Hàn, khu vui chơi bến du thuyền – cầu tàu tình yêu DHC Marina ở gần chân cầu Rồng,… các khu chợ đêm đã có thí điểm nhưng chưa hiệu quả.
Có thể thấy mặc dù đã khai thác rất nhiều các lợi thế thế về sông, biển, núi, dịch vụ vui chơi giải trí… để tăng thu hút khách du lịch, nhưng Đà Nẵng vẫn còn thiếu đi những sản phẩm du lịch mang tính đột phá, sáng tạo để thực sự trở thành một điểm đến hấp dẫn đẳng cấp châu lục.
Các biện pháp chính sách về quản lý nhà nước đối với đầu tư cơ sở hạ tầng cho du lịch biển còn hạn chế. Dẫn đến tình trạng nhiều dự án đầu tư ven biển và trung tâm thành phố triển khai chậm, thiếu quỹ đất để hình thành các cụm mua sắm – vui chơi giải trí, nhất là giải trí về đêm. Hiện nay phần lớn các dự án ven biển của thành phố Đà Nẵng không thực hiện, triển khai theo đúng cam kết. Một số dự án treo, chậm triển khai vẫn chưa được rà soát kịp thời và công bố cho nhân dân. Công tác quản lý sau quy hoạch, nhất là do điều chỉnh quy hoạch nhiều lần, thiếu đồng bộ dẫn đến bất cập; quy hoạch không gian đô thị vẫn chưa theo kịp sự phát triển của thành phố. Cụ thể, theo báo cáo của ông Mai Đức Lộc, Trưởng ban Kinh tế và Ngân sách HĐND TP.Đà Nẵng tại kỳ họp thứ 15 HĐND TP.Đà Nẵng khóa XIII cho hay trong tổng số 52 dự án ven biển có đến 32 dự án chậm và không triển khai như cam kết, nhưng mới chỉ thu hồi được 1 dự án.
Chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch biển khi được thực thi đã cải thiện được chất lượng nguồn nhâ lực phục vụ du lịch biển, song vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng và tính chuyên nghiệp. Một trong những hạn chế khiến ngành du lịch Đà Nẵng trong những năm qua chưa phát triển tương xứng với tiềm năng là thiếu hụt về nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ du lịch. Nhận thức được hạn chế này, thành phố đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm tăng số lượng cũng như chất lượng nhân lực phục vụ du lịch như liên kết giữa các trường đào tạo về du lịch với các doanh nghiệp, tổ chức bồi dưỡng, tập huấn… Những giải pháp được thực hiện đã giúp thành phố đạt được những bước tiến trong việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch, song nguồn nhân lực du lịch vẫn đang bị thiếu hụt, nhất là cán bộ quản lý giỏi, chuyên nghiệp, năng động, thông thạo nhiều ngoại ngữ; cán bộ kinh doanh, tiếp thị, xúc tiến du lịch, tổ chức các sự kiện du lịch. Chất lượng đội ngũ làm du lịch còn thấp. Do đó thực tế hiện nay các khách sạn, resort năm sao đều rất “khát” nhân lực du lịch chất lượng cao. Nhiều đơn vị lữ hành thiếu hướng dẫn viên biết tiếng Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga và Thái Lan. Nếu không có sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp thì chất lượng nhân lực du lịch của thành phố sẽ không đáp ứng được yêu cầu của xã hội đặt ra.
Chương trình quản lý Nhà nước đối với phát triển du lịch biển chưa thực sự chặt chẽ. Trong thời gian qua, với sự tăng trưởng nóng của các thị trường khách du lịch, nhất là thị trường khách Trung Quốc, Hàn Quốc đã phát sinh vấn đề một số tổ chức, cá nhân người nước ngoài, một số công ty lữ hành nội địa và hướng dẫn viên Việt Nam tiếp tay làm bình phong cho người nước ngoài hoạt động kinh doanh du lịch trái pháp luật Việt Nam. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Trên thực tế, du lịch Đà Nẵng hiện nay đang tồn tại một vấn đề là một số đoàn khách quốc tế như Trung Quốc đến Đà Nẵng không sử dụng hướng dẫn viên Việt Nam. Các du khách Trung Quốc đến Đà Nẵng nhưng lại mang theo rất nhiều hướng dẫn viên người Trung Quốc đi cùng. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới công việc, thu nhập của các hướng dẫn viên trong nước mà nghiêm trọng hơn là ó thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền dân tộc khi một số hướng dẫn viênTrung Quốc còn xuyên tạc, giới thiệu sai về sự thật về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam.
Chưa có các chương trình, biện pháp hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường biển và cảnh quan thiên nhiên. Vệ sinh môi trường tại các bãi biển và điểm tham quan của thành phố trong thời gian qua có tiến bộ nhưng chưa được đảm bảo thường xuyên. Hiện nay, có hai nguyên nhân chính dẫn đến môi trường biển của thành phố bị ô nhiễm đó là rác thải do khách du lịch, người dân để lại và rác, nước thải từ các cửa xả thải của thành phố trực tiếp xả ra biển. Theo thống kê ở 2 tuyến biển lớn của thành phố cho thấy hiện nay tuyến biển Nguyễn Tất Thành có 29 cửa thải, còn ở Hoàng Sa-Trường Sa có 16 cửa thải ra biển gây ô nhiễm.
Đối với du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng, chất lượng môi trường là yếu tố đặc biệt quan trọng mang tính quyết định đối với sự phát triển du lịch. Chính vì vậy,việc nghiên cứu khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường luôn là vấn đề hết sức quan trọng đối với thành phố.
2.3.3.2. Nguyên nhân của hạn chế
Những hạn chế còn tồn tại nêu trên đối với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan khác nhau. Cụ thể:
Vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong chu trình chính sách phát triển du lịch biển còn hạn chế. Trong thời gian vừa qua, nhiều vấn đề phát sinh trong việc đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch phát triển kinh tế của thành phố Đà Nẵng cho thấy sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình hoạch định chính sách phát triển du lịch biển còn hạn chế. Cụ thể có thể thấy, đối với Quy hoạch khu biệt thự cao cấp ở bán đảo Sơn Trà hiện nay gặp phải sự phản đối rất lớn từ phía người dân và các tổ chức liên quan mà mạnh mẽ nhất là từ phái Hiệp hội du lịch Đà Nẵng. Nguyên nhân đầu tiên làm xuất phát sự phản ứng của người dân cũng như Hiệp hội du lịch Đà Nẵng đối với quy hoạch ở bán đảo Sơn Trà đó là việc người dân và Hiệp hội không được tham gia phản biện trong quá trình xây dựng quy hoạch Sơn Trà. Dẫn đến hiện trạng hiện nay là quy hoạch đi ngược lại với ý nguyện của nhân dân. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Sự hạn chế trong việc tham gia của các bên liên quan trong chu trình chính sách cũng dẫn đến một số vấn đề khác của chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng như vấn đề hướng dẫn viên du lịch nước ngoài hoạt động chui, hay vấn đề việc phát triển các tour du lịch 0 đồng tại Đà Nẵng. Việc vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong chu trình chính sách phát triển du lịch biển còn hạn chế khiến Nhà nước, chính quyền địa phương không kịp thời phát hiện các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển nêu trên. Dẫn đến việc chậm trễ trong việc điều chỉnh, xây dựng các phương án chính sách nhằm giải quyết các vấn đề nêu trên.
Kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch biển còn hạn chế. Ngành du lịch nói chung, du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng trong thời gian gần đây đã đạt được nhiều bước phát triển mạnh mẽ. Nguồn ngân sách hàng năm cũng như các nguồn vốn xã hội hóa dành cho phát triển du lịch nói chung cũng như phát triển du lịch biển nói riêng ngày càng tăng. Tuy nhiên trên thực tế, nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch biển còn khá hạn chế so với các địa điểm du lịch lớn khác trong cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội… Điều này đã hạn chế rất nhiều việc xây dựng các phương án chính sách nhằm phát triển du lịch biển của thành phố, do việc xây dựng các phương án phải dựa trên mối tương quan với nguồn lực thực thi. Do đó ảnh hưởng rất lớn đến tính khả thi cũng như tính đa dạng, tính mới của các phương án chính sách mà đặc biệt là các phương án nhằm quảng bá, xúc tiến du lịch biển của thành phố, nâng cao nhân thức của người dân và du khách…
Năng lực công chức trong hoạch định chính sách còn hạn chế. Năng lực công chức trong hoạch định chính sách ở đây được hiểu là khả năng của công chức trong việc phân tích vấn đề, soạn thảo và quyết định chính sách. Năng lực công chức trong hoạch định chính sách bao gồm những năng lực cơ bản như năng lực phân tích vấn đề chính sách; năng lực ý tưởng ; năng lực thiết kế; năng lực đánh giá; năng lực ra quyết định; năng lực chuyên môn; năng lực huy động và kết nối mọi người; năng lực giao tiếp và thuyết trình; sự trải nghiệm; đạo đức của người hoạch định chính sách.
Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành). Tính phức tạp trong việc hoạch định Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng dẫn đến yêu cầu cần phải có một đội ngũ nhất định để có thể thực hiện việc hoạch định chính sách. Đồng thời, chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng không chỉ liên quan đến kiến thức, hiểu biết chuyên ngành về du lịch mà con liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như Maketing, đầu tư, quản lý… vì vậy để có thể xây dựng được chính sách phát triển du lịch biển chất lượng đội ngũ công chức tham gia hoạch định chính sách cần có được sự hiểu biết đa ngành, đa lĩnh vực và năng lực đối với việc hoạch định chính sách.
Ở nước ta, việc hoạch chính sách thông thường do công chức các bộ, ngành, sở thực hiện mà chưa có những cơ quan chuyên môn về việc hoạch định chính sách. Việc vừa thực hiện hoạt động quản lý vừa tham gia hoạch định chính sách khiến năng lực của công chức trong hoạch định chính sách bị hạn chế rất nhiều. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến một số hạn chế đối với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
Do sự xuất hiện của các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển có khả năng dự báo thấp. Trong giai đoạn vừa qua, những sự cố về môi trường luôn là vấn đền gây ra nhiều khó khăn, thách thức đối với ngành du lịch biển Đà Nẵng. Đặc biệt là sự cố ô nhiễm môi trường biển Fomosa năm 2024. Tính chất bất ngờ và nghiêm trọng của sự cố khiến chính sách phát triển du lịch biển của thành phố trở nên thụ động trong việc dự báo, giải quyết những vấn đề liên quan đến giải quyết hậu quả của những sự cố môi trường bất ngờ cũng như trong việc hỗ trợ người dân kinh doanh dịch vụ du lịch biển
TIỂU KẾT CHƯƠNG Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã ra Nghị quyết tách thành phố Đà Nẵng từ một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng trở thành đơn vị hành chính trực thuộc trung ương (01/01/1997). Ngay sau khi được phân tách, thành phố Đà Nẵng đã xây dựng chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng nhằm góp phần phát triến kinh tế – xã hội của thành phố. Từ năm 1997 đến nay, với sự thay đổi, vận động của kinh tế xã hội trong nước cũng như quốc tế, thành phố Đà Nẵng đã có những điều chỉnh nhằm thay đổi, hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố mà chủ yếu là trong việc xác định mục tiêu cụ thể cũng như các phương án của chính sách.
Thông qua nội dung của chướng, luận văn đã đã hệ thống hóa thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại với những nội dung chính về mục tiêu chính sách, các chương trình phát triển sản phẩm du lịch, cơ sở lưu trú, nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, công tác quản lý nhà nước… Trên cơ sở hệ thống thực trạng chính sách phát triển du lich biển Đà Nẵng cùng các số liệu thống kê, thu thập được luận văn đã đưa ra những phân tích, lập luận đối nhằm chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nhằm phác họa bức tranh tổng thể về thực trạng chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng.
Đồng thời, luận văn cũng dựa trên những nghiên cứu, phân tích về tình hình kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế, cũng như các xu hướng, nghiên cứu về thị trường du lịch trong và ngoài nước để có thể chỉ ra những cơ hội dành cho phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cũng như những thách thức đặt ra trong thời gian tới.
Với việc hệ thống hoác thực trạng chính sách phát triển du lịch biển ở thời điểm hiện tại, với những phân tích đánh giá về ưu điểm, nhược điểm của chính sách cũng như những nhận định về những cơ hội và thách thức đặt đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới. Nội dung chương là căn cứ quan trọng cho những phân tích, lập luận nhằm đưa ra những quan điểm cũng như đề xuất các phương án cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng ở nội dung Chương 3. Luận văn: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

