Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: yêu cầu và những biện pháp chủ yếu quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên của trường cán bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn II Hiện Nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay

2,1.1 Những yếu tố tác động đến công tác quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay

Công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay chịu sự tác động tổng hợp, đa chiều của nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, gián tiếp và trực tiếp. Sự tác động đó biểu hiện cụ thể ở những yếu tố sau đây:

Yếu tố khách quan

Một là, quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước về quản lý GV ở các Trường cao đẳng, đại học; Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp GD&ĐT, coi đây là “quốc sách hàng đầu”, từ đó có định hướng, có những nghị quyết, chỉ thị, quyết định,…về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là căn cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện.  Đây cũng là cơ sở để Hiệu trưởng Trường CBQLNN & PTNT II hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về quản lý chất lượng ĐNGV cho phù hợp với yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. Để công tác quản lý chất lượng ĐNGV mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền với các điều kiện đảm bảo cho hoạt động này về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiện các giải pháp quản lý chất lượng ĐNGV,…Đây cũng là điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu mà nhà quản lý mong đợi. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Hai là, tình hình chính trị, xã hội và từ mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá bên cạnh những thành tựu đã đạt được là rất to lớn, đang xuất hiện những nguy cơ và thách thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó giáo dục là một lĩnh vực chịu sự tác động đáng kể. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chủ trương xã hội hoá giáo dục, song cũng khẳng định chống “thương mại hoá giáo dục”. Đối với công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II cũng cần quán triệt và thực hiện tốt chủ trương này, đồng thời cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động “Chống tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục”. Ban Giám hiệu, Trưởng các Khoa, Phòng và cán bộ quản lý Khoa, Phòng của Trường cần giáo dục, xây dựng động cơ, ý chí quyết tâm tổ chức thực hiện trong toàn Trường, nhất là cán bộ, GV và học viên; đồng thời, cần có những biện pháp phòng, chống có hiệu quả sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Ba là, đặc thù công tác quản lý trong môi trường sư phạm đào tạo cán bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, môi trường GD – ĐT trong Trường CBQLNN & PTNT II. Môi trường sư phạm ở Trường CBQLNN & PTNT II là môi trường xã hội nhân văn với tính ưu việt trong thực hiện quản lý của các chủ thể và thuận lợi đối với GV trong quá trình giảng dạy. Do đó sẽ có tác động lớn đến quá trình đào tạo bồi dưỡng, rèn luyện của học viên, hình thành, phát triển phẩm chất đạo đức cho học viên. Quá trình tác động của môi trường đến GV diễn ra rất đa dạng phức tạp, đa chiều, có cả những thuận lợi và khó khăn. Song, sự tiếp nhận đó đến các tổ chức, đội ngũ cán bộ quản lý, GV đến đâu còn phụ thuộc vào trình độ, khả năng tổ chức, chỉ huy, quản lý của các chủ thể và việc tự quản lý của từng GV. Do đó, Ban Giám hiệu, lãnh đạo các khoa, phòng cần phát huy tinh thần dân chủ, sự đoàn kết nhất trí cao trong Trường, xây dựng ý chí quyết tâm cao, xây dựng môi trường sư phạm của Trường trong sạch lành mạnh, mẫu mực, có tính mô phạm cao, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất nhân cách ĐNGV cho Trường.

Yếu tố chủ quan

Một là, yêu cầu nhiệm vụ quản lý giáo dục đào tạo trong thời kỳ mới; Sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo của nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới, nội dung mới với mục tiêu, yêu cầu ngày càng cao hơn, nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ GD – ĐT, xây dựng Trường hiện nay đang có bước phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao hơn. Do đó đã có những tác động trực tiếp đến công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Sự tác động đó được thể hiện ở mục tiêu đào tạo, yêu cầu nhiệm vụ đào tạo cán bộ quản lý nông nghiệp đặt ra đòi hỏi cho các ĐNGV và học viên phải có trình độ cao hơn về mọi mặt mới đáp ứng theo chủ trương Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển ngày càng hiện đại” và Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008. Để Trường CBQLNN & PTNT II đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp đáp ứng yêu cầu trong tình hình đổi mới hiện nay, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng toàn diện quá trình sư phạm; đổi mới công tác quản lý GD – ĐT mà trong đó nâng cao chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II là một nội dung, nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách.

Bên cạnh đó, Trường đang tiếp tục chú trọng nâng cao chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo cán bộ quản lý nông nghiệp, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, giáo dục; phương pháp dạy học tập trung hướng vào tích cực hoá hoạt động nhận thức của học viên, từng bước khắc phục cách dạy truyền thụ một chiều, cách học thụ động, máy móc, rèn luyện tư duy sáng tạo, năng động của người học, đáp ứng mục tiêu đào tạo. Vì vậy đặt ra yêu cầu công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II cũng phải có sự đổi mới và phát triển tương ứng.

Chất lượng ĐNGV có tác động trực tiếp đến học viên trong quá trình đào tạo. Nếu chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, công tác tổ chức quản lý của các chủ thể trong Trường tạo đảm bảo tốt, hiệu quả cao, thì công tác quản lý chất lượng các hoạt động của GV sẽ đạt chất lượng, hiệu quả cao và ngược lại. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Hai là, điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho hoạt động dạy – học và quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Cơ sở vật chất kỹ thuật là một yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng GD – ĐT của Trường, đây là điều kiện và phương tiện hỗ trợ các hoạt động trong quá trình giảng dạy. Để công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II đạt hiệu quả cao trong tình hình hiện nay, Trường cần tiếp tục cải tiến, nâng cấp cơ sở vật chất đảm bảo cho GD – ĐT nói chung, công tác quản lý chất lượng GV nói riêng; tăng cường củng cố, xây dựng mới cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật nơi làm việc, nơi ở và sinh hoạt của cán bộ, GV và học viên. Bên cạnh đó, cần tiếp tục ứng dụng phương tiện, công nghệ thông tin vào quá trình quản lý GV có hiệu quả.

Ba là, trình độ, năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục của Trường tác động đến công tác quản lý chất lượng ĐNGV. Đội ngũ CBQL giáo dục của Trường là yếu tố cơ bản nhất trong hệ thống tổ chức bộ máy lãnh đạo, chỉ huy, quản lý ĐNGV của Trường là lực lượng trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy, quản lý ĐNGV trong quá trình giảng dạy là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến nâng cao chất lượng công tác quản lý ĐNGV. Cán bộ quản lý GV có vị trí vai trò rất quan trọng, với chức năng đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý, xây dựng và ban hành các công cụ quản lý, trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý trong Trường. Vì vậy, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm, phương pháp, tác phong… của cán bộ trong Trường CBQLNN & PTNT II là những nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả công tác quản lý, giảng dạy, rèn luyện và hình thành, phát triển nhân cách của GV. Như vậy, nếu đội ngũ cán bộ trong Trường có phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm… tốt thì sẽ là cơ sở đặc biệt quan trọng cho việc nâng cao chất lượng quản lý GV và ngược lại.

Biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II được biểu hiện thông qua chuỗi hành động, thao tác của chủ thể quản lý các cấp, nhất là vai trò của dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và hướng dẫn của các cơ quan chức năng trong Trường được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau của các chủ thể quản lý, song chủ yếu là sự quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý GV trong các hệ đào tạo cán bộ quản lý nông nghiệp thông qua các hoạt động dạy –  học, giáo dục nhân cách, các hoạt động giao lưu, tác động của môi trường GD – ĐT, vai trò tự quản lý, tự bồi dưỡng, tự rèn luyện của GV.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2 Yêu cầu đề xuất biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ GV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay

Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn đã nêu trên, việc đề xuất biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ mới cần tuân thủ một số yêu cầu mang tính nguyên tắc:

Yêu cầu đảm bảo tính thống nhất Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Đảm bảo sự thống nhất giữa chất lượng ĐNGV và quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II đòi hỏi các biện pháp quản lý nhằm xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng ĐNGV ở Nhà trường cần thống nhất trong hai mặt chất lượng và quản lý chất lượng.

Đảm bảo sự thống nhất giữa khoa học và thực tiễn, tính liên tục và phát triển đòi hỏi các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II phải phù hợp với quy luật vận động của sự đổi mới; phải khả thi, hợp lý, không xa rời hoàn cảnh thực tế và quán triệt vận dụng, yêu cầu bảo đảm gắn chặt giữa tính liên tục và phát triển

Yêu cầu đảm bảo tính hệ thống

Trong quản lý giáo dục nói chung, quản lý chất lượng ĐNGV nói riêng, mỗi biện pháp quản lý chất lượng được coi là một thành tố của hệ thống biện pháp quản lý giáo dục. Vì vậy, sự vận hành của mỗi thành tố đó phải đảm bảo trong mối tương tác qua lại hữu cơ, gắn bó với nhau sao cho hiệu quả của mỗi biện pháp hợp lại sẽ đem lại sự phát triển tối ưu của hệ thống. Hay nói cách khác: Các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV đưa ra phải được tổ chức một cách hợp lý sao cho tác động một cách có hệ thống và đồng bộ đến các thành tố của quá trình quản lý, nhằm giải quyết những tồn tại đã nêu trong thực trạng, đồng thời có thể nâng cao chất lượng công tác quản lý ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II trong thời gian tới.

Yêu cầu đảm bảo tính thực tiễn

Các biện pháp phải thể hiện và cụ thể hoá đường lối, phương châm giáo dục của Đảng và của Nhà nước, phù hợp với chế định giáo dục của ngành trong quá trình quản lý. Muốn vậy phải xác định định hướng chiến lược phát triển giáo dục hiện nay, các biện pháp cụ thể để thực hiện chiến lược giáo dục trong giáo dục hiện nay, trong đó việc nâng cao chất lượng ĐNGV trong Nhà trường là một trong những yếu tố cấp bách cần được tập trung giải quyết.

Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi chủ thể quản lý phải tìm kiếm các biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) với môi trường hoạt động với tình hình chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Đồng thời các biện pháp đề ra cũng phải dựa trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế của Bộ GD&ĐT, Bộ Nông Nghiệp, Ngành liên quan khác.

Yêu cầu đảm bảo tính khả thi Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Yêu cầu này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý của chủ thể quản lý, để đạt được điều này, khi xây dựng biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II phải đảm bảo tính khoa học trong quy trình với các bước tiến hành cụ thể chính xác và phải được kiểm chứng, khảo nghiệm một cách có căn cứ khách quan.

Các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV của Trường CBQLNN & PTNT II phải thực hiện được và mang lại hiệu quả thiết thực góp phần nâng cao chất lượng mở rộng quy mô, khẳng định thương hiệu Nhà trường. Tính khả thi của các biện pháp quản lý chất l­ượng ĐNGV được đo bởi “hiệu quả” từ các biện pháp quản lý đó mang lại.

2.2 Một số biện pháp quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp & phát triển nông thôn II hiện nay

2.2.1 Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với công tác quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường CBQLNN & PTNT II

Mục tiêu của biện pháp

Để toàn thể đội ngũ cán bộ, GV Trường nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý chất lượng đội ngũ, từ đó mỗi GV thấy rõ được vai trò, nhiệm vụ của mình để tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức và cùng tập trung đoàn kết xây dựng ĐNGV ngày một lớn mạnh phục vụ cho sự nghiệp chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược ngành quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ còn đóng vai trò mở đường, tạo tiền đề cho việc thực hiện các nhóm biện pháp khác.

Nội dung của biện pháp

Tuyên truyền về mục đích ý nghĩa của việc nâng cao nhận thức cho ĐNGV với các nội dung cụ thể : nhận thức đúng thực trạng chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay với những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm; nhận thức yêu cầu, nhiệm vụ GD-ĐT của Trường trong thời kỳ mới; nhận thức rõ thuận lợi, khó khăn trong quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II; nhận định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, từng lực lượng trong quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II và coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú để tạo nền tảng tư tưởng, nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng ĐNGV.

Cụ thể hóa các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết… về việc đổi mới đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng ĐNGV thành chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để triển khai thực hiện trong từng thời điểm thích hợp.  Triển khai kế hoạch hành động cụ thể cho cán bộ GV, từ đó từng cá nhân thấy được tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ để có hướng phấn đấu, rèn luyện vươn lên. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Biện pháp thực hiện

Định kỳ tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm theo chuyên đề về công tác quản lý chất lượng ĐNGV, tranh thủ những ý kiến tham gia đóng góp, thảo luận trong buổi họp để có hướng tập trung giải quyết nhằm đáp ứng các tâm tư nguyện vọng, giải tỏa những vướng mắc của GV, từ đó giúp cho GV thấy thoải mái để phấn đấu.

Trong các cuộc họp thường kỳ hàng tháng của Ban Giám hiệu với toàn thể cán bộ GV, đưa thêm nội dung và cùng bàn luận về chiến lược phát triển Trường trong giai đoạn tới, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng ĐNGV, qua đó mỗi cán bộ GV, công nhân viên có ý thức tích cực thực hiện tốt các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV mà Nhà trường đề ra.

Sử dụng các kênh thông tin tuyên truyền để đề cập đến các vấn đề phát triển Trường giai đoạn tới năm 2015 Trường nâng cấp lên Học viện quản lý, các biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, từ đó nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng ĐNGV.

Tạo điều kiện, cơ hội cho ĐNGV được mở rộng quan hệ giao lưu, học hỏi kinh nghiệm thông qua việc tổ chức thăm quan, học tập mô hình các Trường có nhiều thành tích trong công tác quản lý chất lượng ĐNGV, nhằm lấy thực tế để tác động đến nhận thức của mỗi GV về vấn đề này.

Để sự phối kết hợp của các tổ chức, các lực lượng đạt chất lượng, hiệu quả tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng ĐNGV của Trường CBQLNN & PTNT II trong những năm tới, các tổ chức, các lực lượng trong Trường cần làm tốt những vấn đề sau đây:

Nắm chắc vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để tham mưu, đề xuất chính xác, phù hợp và khả thi những nội dung, biện pháp tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II.

Cấp ủy, BGH Nhà trường phải làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự chuyển biến về nhận thức, trách nhiệm cho các lực lượng trong toàn Trường, thông qua hoạt động của tổ chức Đảng, các buổi sinh hoạt, hoạt động của Khoa, Phòng chức năng và các tổ chức đoàn thể Trường CBQLNN & PTNT II.

Phát huy vai trò các cơ quan chức năng, trong đó Phòng Quản lý Đào tạo thường xuyên phối hợp với Phòng Tổ chức Hành chính, trực tiếp quản lý hồ sơ lý lịch, theo dõi nắm chắc chất lượng quá trình bồi dưỡng, tự học tập của GV; phối kết hợp trong phân loại bồi dưỡng, tự học tập của GV; thông qua hoạt động GD-ĐT của Trường CBQLNN & PTNT II. Chú trọng bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý Trường CBQLNN & PTNT II kiến thức, kỹ năng, phương pháp và kinh nghiệm quản lý ĐNGV để cán bộ quản lý phải thực sự là người mẫu mực và mô phạm trong quá trình thực thi chức trách nhiệm vụ, chấp hành kỷ luật, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước trong cuộc sống hàng ngày.

Phát huy vai trò các Đoàn thể (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ,…) Trường CBQLNN & PTNT II. Đây là lực lượng không thể thiếu trong việc tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm đối với công tác quản lý chất lượng ĐNGV của Trường CBQLNN & PTNT II Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

2.2.2 Hoàn thiện các quy chế, quy định quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp & phát triển nông thôn II

Mục tiêu của biện pháp

Quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV là văn bản pháp lý, được dùng làm căn cứ để chủ thể quản lý phân công, bố trí, sử dụng, tăng cường hiệu lực công tác quản lý và nâng cao chất lượng, hiệu quả lao động đối với GV, giúp các tổ chức, các lực lượng quản lý giáo dục có căn cứ để kiểm tra, thẩm định, đánh giá và xây dựng chính sách, chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV.

Hoàn thiện được các quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV một cách rõ ràng sẽ là cơ sở để GV xây dựng kế hoạch giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá, xếp loại GV hằng năm và đảm bảo tính công khai, công bằng, dân chủ trong việc thực hiện chế độ, chính sách, quyền và nghĩa vụ của GV.

Nội dung của biện pháp

Xây dựng hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, cụ thể quy định quản lý đào tạo; quy định chức trách, nhiệm vụ của từng chức danh GV; quy chế chi tiêu nội bộ; quy định chế độ làm việc của GV; quy định về tham gia hoạt động chính trị – xã hội của GV trong và ngoài Nhà trường; chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV…

Cách thực hiện biện pháp

Để thực hiện quản lý chất lượng ĐNGV, cần phát huy vai trò, chức năng quản lý của tất cả các tổ chức, các lực lượng giáo dục của Trường trong quá trình GD-ĐT. Thực tiễn quản lý GD-ĐT và quản lý ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II vừa qua cho thấy công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường đạt kết quả tốt khi đạt được điều kiện tiên quyết là Cấp ủy – Ban Giám hiệu xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy chế, quy định đúng chủ trương, đầy đủ, phù hợp thực tiễn trong từng thời điểm và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Hằng năm, căn cứ trên những văn bản quyết định, thông tư của Nhà nước, tình hình thực tế của đơn vị, chủ thể phân công cho các phòng chức năng tham mưu xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện các quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV, tạo môi trường thuận lợi cho ĐNGV an tâm công tác, phát huy được hết khả năng chuyên môn nghiệp vụ của họ, góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV đưa đến nâng cao chất lượng đào tạo trong Nhà trường. Chủ thể quản lý Trường CBQLNN & PTNT II hoàn thiện các quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV, trên cơ sở:

Phát huy vai trò Cấp ủy trong công tác

Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

  • Chủ động xây dựng và thực hiện các kế hoạch về công tác chính trị, tư tưởng với yêu cầu đổi mới về hình thức, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng; tổ chức thực hiện có hiệu quả việc nghiên cứu, học tập, quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết, chương trình của cấp trên trong toàn Đảng bộ bằng những chương trình, kế hoạch cụ thể của Đảng ủy và của từng chi bộ.
  • Tăng cường công tác truyền thông nội bộ, thực hiện tốt việc minh bạch hóa, công khai hóa các hoạt động của Trường, đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ quan; tăng cường và nâng cao hiệu quả đối thoại giữa lãnh đạo cấp ủy, lãnh đạo nhà trường với cán bộ, giáo viên;

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên:

  • Đảng ủy có kế hoạch, chương trình tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và triển khai đến từng cơ sở đảng, tạo sự chuyển biến lớn từ “nhận thức, học tập” đến “làm theo” tấm gương Hồ Chủ tịch. Các chi bộ đảng xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể tại đơn vị mình.
  • Xây dựng, truyền bá những chuẩn mực đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với công tác tư pháp và sự nghiệp giáo dục của Trường để triển khai và thực hiện trong toàn Đảng bộ.

Xây dựng, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức Đảng

  • Xây dựng và ban hành Quy chế phối hợp công tác giữa Đảng ủy và Ban giám hiệu nhà trường; quan hệ công tác giữa cấp ủy chi bộ và lãnh đạo các đơn vị thuộc trường.
  • Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường thảo luận tập thể, thống nhất về chủ trương, định hướng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các vấn đề thuộc thẩm quyền của các cấp ủy đảng; thực hiện phê bình và tự phê bình trước hết trong Ban thường vụ, Ban chấp hành Đảng bộ và cấp ủy các chi bộ trực thuộc.
  • Nghiên cứu và triển khai việc ban hành các nghị quyết thường kỳ của Đảng ủy phù hợp với điều kiện của Trường; tiếp tục hoàn thiện và ban hành các Nghị quyết chuyên đề của Đảng ủy và triển khai có hiệu quả trong toàn Đảng bộ nhằm tạo sự chuyển biến lớn về chính trị tư tưởng, công tác đào tạo nghiên cứu khoa học, công tác kiểm tra, giám sát, công tác cán bộ nữ trong trường từ nay đến năm 2015; Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên và đảng viên:

  • Đảng uỷ chỉ đạo thực hiện rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy định, quy trình về công tác cán bộ của Trường; hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ cấp phòng, đảm bảo bố trí sử dụng cán bộ đúng tiêu chuẩn, đúng quy trình, minh bạch.
  • Xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý và quy hoạch lãnh đạo cấp ủy đảng theo quy định của Đảng và Nhà nước có liên quan theo giai đoạn từ nay đến năm 2015 và giai đoạn từ 2015-2020; thực hiện chủ trương tiêu chuẩn hóa, trẻ hóa, quan tâm đến cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, bảo đảm tính kế thừa trong công tác quy hoạch; thực hiện tốt việc quản lý và công khai công tác quy hoạch cán bộ.
  • Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ, đặc biệt là cán bộ trong nguồn quy hoạch; kiên quyết miễn nhiệm, thay thế cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, năng lực yếu, né tránh trách nhiệm… để thực hiện tốt chính sách cán bộ của Trường
  • Xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, các quy chế quy định nội bộ trong Trường nhằm phát huy dân chủ, tăng cường đoàn kết, nâng cao văn hoá cơ quan, đơn vị nhất là văn hoá ứng xử của cán bộ, giảng viên của Trường.

Phát huy vai trò Ban Giám Hiệu, trong công tác

Chỉ đạo việc xây dựng chế độ, chính sách tiền thưởng, đãi ngộ, khen thưởng, xử phạt hợp lý, đúng lúc làm động lực thúc đẩy đội ngũ giảng viên hoàn thành nhiệm vụ, chức trách của mình tốt hơn. Có chế độ, chính sách phù hợp dành cho giảng viên đầu đàn để khuyến khích họ có đóng góp thiết thực, cống hiến nhiều hơn cho nhà trường và yên tâm công tác tại Trường lâu dài.

Chỉ đạo việc xây dựng chế độ, chính sách quản lý để khuyến khích giảng viên nào có khả năng đảm nhiệm được nhiệm vụ giảng dạy 2 – 3 môn học khác nhau khi được đào tạo ở chuyên môn khác hoặc có chuyên môn gần nhau để khai thác triệt để trình độ và năng lực của đội ngũ hiện có. Cần có cơ chế đánh giá, chấp nhận và cho phép giảng viên làm nhiệm vụ dạy các Bộ môn kiêm nhiệm phải có chứng chỉ nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo; Tạo điều kiện môi trường thuận lợi nhất cho giảng viên vừa giảng dạy vừa nghiên cứu khoa học để họ có thể phát huy trình độ chuyên môn.

Chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ phân công, bổ nhiệm giảng viên theo đúng trình độ chuyên môn và năng lực của họ nhằm phát huy được các điểm mạnh của người giảng viên đó đồng thời, phải chú ý đến khối lượng công việc sao cho ít nhất có hai giảng viên cùng dạy một chuyên ngành, môn học nào đó để họ có thể thay thế nhau, hỗ trợ nhau giảng dạy.

Phát huy vai trò của tổ chức Công Đoàn trong vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở, với các nhiệm vụ cụ thể như sau

Đóng góp ý kiến cho việc xây dựng và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ của nhà trường và nhà nước đối với cán bộ, giảng viên, nhân viên về kế hoạch phát triển, quy mô đào tạo, công tác tuyển sinh, giảng dạy, nghiên cứu khoa học; quy trình quản lý đào tạo; kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất; các hoạt động sản xuất, dịch vụ; việc xây dựng nội quy, quy chế thu chi nội bộ trong trường v.v… Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Phối hợp với Ban giám hiệu, lãnh đạo các Phòng, Khoa, Bộ môn tuyên truyền, giáo dục, động viên cán bộ, giáo viên trong toàn trường phát huy quyền làm chủ trong nhà trường; thực hiện nghĩa vụ công dân, đóng góp cho việc xây dựng và phát triển của nhà trường.

Kiểm tra, giám sát việc thi hành các chế độ, chính sách, pháp luật, bảo đảm việc thực hiện quyền lợi của đoàn viên, cán bộ, giáo viên; đấu tranh ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng và các tệ nạn xã hội; phát hiện và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo và thực hiện các quyền của Công đoàn viên theo quy định của pháp luật.

Phối hợp với Ban Giám hiệu, các Phòng, Khoa, Bộ môn tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ, tổ chức hội nghị cán bộ, công chức; cử đại diện tham gia các hội đồng xét và giải quyết các quyền lợi của đoàn viên, cán bộ, giáo viên; phối hợp với lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo các Phòng, Khoa, Bộ môn cải thiện điều kiện làm việc, chăm lo đời sống của cán bộ, giáo viên.

Tổ chức vận động cán bộ, giáo viên tham gia phong trào thi đua yêu nước; thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, giáo viên; tham gia quản lý nhà trường, cải tiến lề lối làm việc và thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác…

Mở rộng dân chủ, phát huy vai trò các khoa chuyên môn, đội ngũ GV Trường CBQLNN & PTNT II. Thông qua các buổi họp, sinh hoạt chuyên môn cấp ủy, Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa lấy ý đóng góp của ĐNGV để từng bước hoàn thiện quy chế, quy định.

Phát huy vai trò Hội đồng giáo dục của Trường CBQLNN & PTNT II trong việc tham mưu, giám sát công tác hoàn thiện quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV đảm bảo tính khả thi và phù hợp thực tiễn của Nhà trường.

Xây dựng các tiêu chí và chỉ số đánh giá năng lực giảng dạy của GV, thể hiện ở bảng 2.1 (phụ lục 12)

2.2.3 Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp & phát triển nông thôn II

Vị trí, mục tiêu của biện pháp Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng” [14, tr.269]. Đội ngũ cán bộ quản lý có vai trò quyết định đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý chất lượng ĐNGV. Kết luận số 242/TB-TƯ của Bộ Chính trị (khoá X), ngày 15 tháng 4 năm 2009 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản chính sách sử dụng cán bộ theo hướng coi trọng phẩm chất và năng lực thực tế. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp và nội dung đào tạo của các Trường và khoa sư phạm; đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ” [01, tr.2-3].

Công tác bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II có hiệu quả sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay.

Nội dung xây dựng kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II

Tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch

Bản kế hoạch giúp cho chủ thể quản lý có một cái nhìn tổng thể những mối liên kết rõ ràng trong hoạt động của Nhà trường; Tạo điều kiện cho ĐNGV có thể chủ động trong việc tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Đồng thời, giúp Hiệu trưởng thể hiện ý tưởng, mục tiêu cần đạt được; tập thể sư phạm Nhà trường hiểu được công việc cần làm trong thời gian tới; phân tích thế mạnh và điểm yếu, cơ hội và nguy cơ (SWOT); đề ra chiến lược thực hiện; có cơ chế kiểm soát, dự báo tài chính, dự báo cơ chế đối tượng GV cần được bồi dưỡng.

Nội dung xây dựng kế hoạch

Kế hoạch bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II cần đảm bảo tính toàn diện, song cần tập trung vào bồi dưỡng, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống; tăng cường bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn, cụ thể:

  • Kiến thức, chuyên môn tập trung vào nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ GV quy định tại công văn số 11345/BGDĐT, ngày 25/10/2007 của  Bộ GD&ĐT và Quyết định 61/2007/QĐ-GD&ĐT ngày 16/10/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, GV cần học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ đào tạo để được cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ của chuyên ngành đào tạo đang đảm nhiệm. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.
  • Nhiệm vụ sư phạm tập trung vào học tập, bồi dưỡng để được cấp các văn bằng, chứng chỉ về lý luận chính trị, nghiệp vụ sư phạm, quản lý giáo dục theo tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV và theo chương trình quy định cho từng đối tượng khi nâng ngạch, bổ nhiệm chức danh GV; nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học để hội nhập quốc tế; cập nhật kiến thức và nâng cao hiểu biết về mọi mặt.
  • Chính trị, đạo đức, lối sống tập trung vào thực hiện chỉ thị 34T/TW của Bộ Chính trị khoá VII, xây dựng thế giới quan cho đội ngũ GV trên cơ sở tư tưởng, lập Trường, quan điểm, thúc đẩy mọi người vì lợi ích chung của cộng đồng. Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; tổ chức quán triệt và chỉ đạo GV thực hiện tốt Quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

Cách thực hiện xây dựng kế hoạch

Để thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II trong những năm tới, Ban Giám hiệu, lãnh đạo các Khoa và Phòng trong Trường cần thực hiện tốt một số vấn đề sau đây:

  • Đảng uỷ, Ban Giám hiệu Trường xác định chủ trương, yêu cầu cần đạt được và biện pháp lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV Trường hàng năm, trong nhiệm kỳ phù hợp. Lãnh đạo tổ chức thực hiện chặt chẽ, hiệu quả quá trình bồi dưỡng ĐNGV của Nhà trường.
  • Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Quản lý Đào và NCKH, Phòng Tài chính Kế toán Trường làm tốt chức năng tham mưu, cần nghiên cứu, nội dung, cách thức xây dựng kế hoạch hoạt động bồi dưỡng theo hướng “chuẩn hoá” ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II đảm bảo tính khoa học, phù hợp, khả thi theo từng khoá học, năm học. Xác định rõ các nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng trên cơ sở căn cứ vào tiêu chuẩn chung của GV; xác định những tiêu chí cụ thể đối với GV. Thực hiện tốt việc phân cấp bồi dưỡng giảng trong Trường.
  • Các Phòng và Khoa xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn hàng năm cho cán bộ ĐNGV. Chủ động làm tốt công tác tham mưu cho Đảng uỷ, Ban Giám Hiệu Trường để sắp xếp GV phù hợp, hiệu quả và lựa chọn GV cử đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ ở các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước.
  • Đối với Phòng Quản lý Đào tạo cần chủ động lựa chọn thời gian bồi dưỡng ĐNGV về kiến thức và nghiệp vụ GD-ĐT nói chung, công tác quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng. Hàng năm, Trường nên mời các nhà khoa học quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn đầu ngành có uy tín về lên lớp một số chủ đề cơ bản, quan trọng cho các lớp bồi dưỡng CB QLNN & PTNT.

Biện pháp tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV của Trường CBQLNN & PTNT II

Hiện nay, ĐNGV làm công tác quản lý hầu hết chưa được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức về khoa học quản lý; một số đồng chí còn hạn chế về kiến thức, năng lực, phương pháp, tác phong trong quản lý GV. GV được tuyển dụng từ nhiều nguồn, kiến thức về quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thực tế không đồng đều, chêch lệch nhiều. Vì vậy, Đảng ủy, Ban Giám Hiệu và lãnh đạo các Khoa, Phòng phải thống nhất với việc coi đây là biện pháp cơ bản, cấp thiết quyết định nâng cao chất lượng ĐNGV Trường hiện nay. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Để thực hiện kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, các chủ thể quản lý cần làm tốt công tác quán triệt, phổ biến kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II; chuẩn bị ĐNGV cho các lớp bồi dưỡng; tổ chức biên chế lớp học, đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật; thực hiện kế hoạch bồi dưỡng; đánh giá kết quả bồi dưỡng và kịp thời sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, cụ thể :

  • Tiếp tục phong trào thi đua hai tốt, cuộc vận động “Dân chủ – kỷ cương – tình thương – trách nhiệm”, phát huy tinh thần cuộc vận động “hai không” với 4 nội dung của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
  • Tổ chức Hội nghị chuyên đề nâng cao nhận thức của GV, tích cực hưởng ứng cuộc vận động : “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; từ việc “học tập” đến việc đăng ký với Nhà trường, đoàn thể “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những việc làm thiết thực, cụ thể gắn với công việc thường xuyên của mỗi cán bộ, GV.

2.2.4 Phát huy tính tích cực, chủ động trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp & phát triển nông thôn II

Vị trí, mục tiêu của biện pháp

Việc phát huy tốt vai trò trách nhiệm, tính tích cực, chủ động của GV trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo học viên của Trường CBQLNN & PTNT II.

Trong quá trình tự học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình, ĐNGV vừa là đối tượng tác động của các chủ thể quản lý (các tổ chức, các lực lượng giáo dục, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, ĐNGV), vừa là chủ thể trong quá trình tự quản lý. Vì vậy, chỉ khi nào từng GV tiếp nhận những tác động quản lý từ các chủ thể trong và ngoài Trường một cách tích cực, chủ động, tự giác, thì khi ấy trong con người họ mới thực sự nảy sinh nhu cầu tự học và đặt ra yêu cầu cho chính mình trong việc tự quản lý; biến quá trình bị quản lý thành quá trình tự quản lý của mình để đáp ứng mục tiêu đào tạo và dần dần hình thành, phát triển phẩm chất nhân cách GV trong quá trình tự học tập, rèn luyện, NCKH và công tác tại Trường.

Nội dung của biện pháp Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Để phát huy được tính tích cực, chủ động trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II thì từng GV xây dựng kế hoạch tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho bản thân; chủ thể quản lý phải tập trung làm tốt:

Công tác giáo dục chính trị – tư tưởng, phổ biến quán triệt những yêu cầu cần đạt được trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn đối với ĐNGV. Từ đó, xây dựng được động cơ, thái độ trách nhiệm, đồng thời phát huy vai trò ý thức trách nhiệm, tính tích cực, chủ động trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của GV Trường hiện nay.

Thực hiện tốt sự kết hợp giữa công tác quản lý với việc giáo dục tính tích cực, tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của ĐNGV.

Phổ biến yêu cầu cụ thể trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn đối với từng GV Trường CBQLNN&PTNT II.

Tăng cường giáo dục ý thức tự giác, động viên, khích lệ từng GV trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng và thực hiện mọi nhiệm vụ được giao; Làm cho mọi người nhận thức rõ vị trí, vai trò của tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của ĐNGV, biến mục đích, yêu cầu, nội dung, biện pháp quản lý của chủ thể quản lý thành nhu cầu tự thân phấn đấu của từng GV..

Biện pháp thực hiện

Từng GV trong các Khoa chuyên môn, tiến hành xây dựng kế hoạch tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trên cơ sở :

Từng GV phải nhận thức rõ vai trò trách nhiệm và đánh giá đúng bản thân mình, làm cơ sở xây dựng kế hoạch tự tu dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt. Theo đó, mỗi GV tự đặt ra mục tiêu phấn đấu và yêu cầu cao cho bản thân; thường xuyên tu dưỡng toàn diện bản thân cả về phẩm chất và năng lực công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng mục tiêu đào tạo.

Từng GV phát huy tốt ý thức trách nhiệm trong tự quản lý bản thân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; phấn đấu tự hoàn thiện mình theo mô hình phẩm chất nhân cách của người GV.

Chủ thể quản lý, các tổ chức và các lực lượng giáo dục trong Trường cần theo dõi để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi và tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả học tập rèn luyện của từng GV, để có chủ trương, biện pháp phát huy những mặt mạnh, hạn chế khắc phục mặt yếu kém của ĐNGV, cụ thể : Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Tạo điều kiện để GV phấn đấu, tự học tập bồi dưỡng

Xây dựng các chuẩn về cơ sở vật chất trường học, thiết bị dạy học. Bố trí hợp lý, đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, trang thiết bị cần thiết như máy vi tính, máy in và các điều kiện làm việc khác cho văn phòng các khoa và các phòng chức năng. Đảm bảo điều kiện tốt nhất có thể, đồng thời giúp họ sử dụng thành thạo, hiệu quả các trang thiết bị hỗ trợ vào bài giảng của mình, để cán bộ, GV hăng say làm việc và có điều kiện phát huy hết khả năng của mình.

Đảm bảo chế độ lương hợp lý, việc chăm lo vật chất, tinh thần cho ĐNGV là giúp họ có được một chỗ dựa vững chắc cả về vật chất và tinh thần. Khi nhu cầu vật chất được đáp ứng và tinh thần được thỏa mãn thì các thành viên của tổ chức sẽ toàn tâm, toàn lực chăm lo cho tổ chức của mình. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho ĐNGV đồng nghĩa với việc tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân, chứa đựng nhiều yếu tố kích thích kinh tế nên tác động nhạy bén, linh hoạt, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ, giúp họ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng. Có thể nói, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho ĐNGV là một biện pháp tốt nhất giảm chi phí và nâng cao hiệu quả các quyết định quản lý.

Xây dựng chính sách thu hút cán bộ khoa học có trình độ cao tham gia giảng dạy tại Trường; đồng thời với chính sách thu hút cán bộ, GV có trình độ cao, khôi phục chế độ nhà ở công vụ giúp cho những GV trẻ và những GV có hoàn cảnh khó khăn có chỗ ở để họ yên tâm công tác.

Xây dựng một môi trường sư phạm lành mạnh; thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, những chuyến tham quan cho ĐNGV; chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe ĐNGV là việc làm hết sức cần thiết và tạo sự đoàn kết, nhất trí cao trong tập thể ĐNGV.

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập rèn luyện của từng GV

Mục đích của công tác kiểm tra, đánh giá là để không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và hiệu quả công tác của ĐNGV; ngoài ra còn làm căn cứ để tuyển chọn, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, điều động, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện các chế độ chính sách đối với ĐNGV. Vì vậy, Nhà trường cần có chính sách khen thưởng, kỷ luật rõ ràng và thực hiện nghiêm túc, kịp thời có hiệu quả.

Kiểm tra bằng nhiều hình thức (toàn diện, chuyên đề, đột xuất, báo trước…). Tuy nhiên khi kiểm tra phải đảm bảo tính dân chủ, khách quan, vô tư, công bằng.

Việc đánh giá xếp loại GV phải được thực hiện thường xuyên liên tục, có thang điểm rõ ràng. Vì vậy, Nhà trường phải xây dựng được các tiêu chí để cho điểm nhằm đánh giá đúng thực trạng ĐNGV về trình độ, năng lực của mỗi người. Việc làm này phải chặt chẽ, đúng nguyên tắc khoa học để GV tích cực bồi dưỡng và tự bồi dưỡng những điểm mình còn hạn chế. Công tác kiểm tra, đánh giá được thực hiện thường xuyên sẽ tạo được không khí thi đua giữa các đơn vị trong Trường, giữa từng GV trong đơn vị, GV tự đăng ký danh hiệu cho mình và phấn đấu để đạt được. Công tác này cần đảm bảo sự công bằng, khách quan, đúng người đúng việc. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Tiếp tục hoàn thiện quy chế thi đua, khen thưởng, kỷ luật trong Nhà trường, đưa công tác thi đua đi vào chiều sâu, mang ý nghĩa thiết thực và kích thích được ĐNGV tích cực tham gia. Từng bước định lượng hóa các tiêu chí thi đua như: số lượng và chất lượng đề tài khoa học các cấp, số bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, phương pháp giảng dạy, giáo trình, dự án…. Điều này làm giảm sự thiếu công bằng, hạn chế tính chủ quan trong bình bầu khen thưởng. Tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi để giúp cho GV tiếp cận và hội đủ những tiêu chuẩn để đạt các danh hiệu nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, GV giỏi.

Việc thi hành kỷ luật GV phải công bằng, dân chủ, công khai dựa trên kết quả của quá trình kiểm tra, giám sát chặt chẽ và trên các văn bản quy định của Nhà nước, của ngành và của Trường. Việc kỷ luật GV phải đi sâu phân tích gốc rễ, giải quyết triệt để vấn đề, tránh để yếu tố tình cảm cá nhân xen vào ảnh hưởng đến tính khách quan và tạo nên dư luận cũng như một tiền lệ không tốt đối với công tác khen thưởng, kỷ luật của Nhà trường.

2.2.5 Thực hiện tốt các chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ quản lý nông nghiệp & phát triển nông thôn II

Tầm quan trọng, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách

Chính sách đãi ngộ đối với GV được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện sẽ tạo động lực mới thu hút được nhân tài, khuyến khích được GV, phát huy khả năng dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám lao vào cái khó, sáng tạo, đổi mới, đoàn kết, học tập, giúp đỡ lẫn nhau, hết lòng cống hiến cho sự nghiệp chung của Trường.

Sự quan tâm, đãi ngộ thể hiện ở hai khía cạnh: vật chất và tinh thần.  Kích thích vật chất vẫn luôn cần thiết đối với con người, nhưng kích thích về tinh thần nhiều lúc cũng mang lại hiệu quả to lớn không kém. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Nên nhớ rằng, con người làm việc không hoàn toàn chỉ vì đồng tiền. Làm việc để lĩnh lương, nhưng họ còn quan tâm đến sự đánh giá của lãnh đạo đối với họ. Cần đánh giá công lao của mọi người một cách công khai, thẳng thắn, công bằng, không được hạ thấp họ chỉ bằng cách trao cho họ một phần thưởng.” [22, tr.46]

Nội dung các chính sách được thực hiện

Chế độ tiền lương, phụ cấp cho GV

Trong việc thực hiện chế độ tiền lương cho GV theo quy định của Nhà nước, cần đảm bảo yêu cầu:

Cấp lương đúng kỳ hạn để GV dễ tính toán trong chi tiêu hàng tháng;

Thực hiện chế độ nâng lương thường xuyên; xét nâng lương trước thời hạn (không quá 5% tổng số biên chế) thật sự dân chủ, khách quan, tạo cơ hội cho những GV có thành tích xuất sắc;

Tạo điều kiện để GV được bồi dưỡng và thi nâng ngạch GV chính.

Về chế độ phụ cấp chức vụ: Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Đảm bảo chế độ phụ cấp chức vụ, chế độ kiêm nhiệm theo quy định của Nhà nước;

Nhà trường phải xây dựng chế độ phụ cấp chức vụ cho những trường hợp cán bộ, GV phải kiêm nhiệm nhiều chức vụ hoặc tham gia những chức danh quản lý nhưng không có phụ cấp của Nhà nước, như một số chức danh công tác đoàn thể, tổ trưởng các tổ thuộc các phòng, trung tâm,…

Hoàn thiện chính sách chế độ trả thù lao hợp lý cho GV

Thực tế, hiện nay đời sống GV còn rất khó khăn, thu nhập chủ yếu hiện nay dựa vào đồng lương và phụ cấp có tính chất lương, nên GV phải làm thêm bằng nhiều cách khác nhau, nhưng không phải bất cứ GV nào cũng có thể kiếm thêm thu nhập bằng cách phát huy chuyên môn của mình. Việc làm thêm có thể tăng thêm thu nhập nhưng cũng ảnh hưởng đến thời gian, chất lượng, hiệu quả giảng dạy, NCKH, học tập, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng của GV. Vì vậy, Nhà trường cần tính toán một cách hợp lý để cải thiện thu nhập của mọi GV, giúp GV an tâm công tác, tạo điều kiện cho GV có thể sống bằng sức lao động chính đáng của bản thân mình. Các chế độ ngoài lương chính bao gồm: Chế độ lương tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ; Chế độ giảng dạy vượt giờ chuẩn; chủ nhiệm lớp, coi thi; Bồi dưỡng NCKH, sáng kiến kinh nghiệm; Chế độ làm việc ngoài giờ, tham gia các hội đồng, hội thảo…; Một số chế độ khác.

Quan tâm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để GV được đào  tạo, bồi dưỡng, tự đào tạo, tự bồi dưỡng

Quan tâm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất để GV được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn; Xây dựng các chế độ đối với GV theo từng chức danh, sẽ có tác dụng  kích thích GV học tập, bồi dưỡng để thăng tiến trong nghề nghiệp.

Có chính sách thu hút GV, sinh viên giỏi để bổ sung vào ĐNGV Trường

Nhà trường cần chính sách ưu tiên để thu hút sinh viên giỏi từ nguồn do Trường đào tạo hoặc đặt hàng với các Trường đại học trong nước. Đối với nguồn do Trường đào tạo (cao đẳng) hoặc liên kết đào tạo (đại học) chủ yếu để bổ sung cho cán bộ các phòng, trung tâm của Trường. Đối với sinh viên các Trường đại học thì trợ cấp học bổng và tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp và tạo điều kiện cho số sinh viên này đi học cao học, nghiên cứu sinh bằng kinh phí của Trường và địa phương.

Tăng cường công tác tuyên truyền về chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài.  Ngoài ra, chính sách phát huy nội lực cũng phải dần dần được nâng lên tương xứng với chính sách thu hút ngoại lực để mọi người đều được thụ hưởng chính sách này.

Tăng cường cơ sở vật chất và tạo môi trường làm việc cho GV

Cơ sở vật chất khang trang, phòng học, phòng làm việc, thư viện, phòng thí nghiệm thực hành, đường truyền internet,… cùng với cảnh quan sư phạm thoáng mát và bầu không khí tâm lý tập thể hòa đồng, gắn bó,… Tất cả, tạo nên môi trường sư phạm thoải mái, giúp cho GV có niềm tin, gắn bó với Nhà trường và ra sức cống hiến. Vì vậy, trong quản lý, người Hiệu trưởng phải có cái nhìn tổng thể và sự quan tâm tích cực đến mọi mặt công tác và đời sống của ĐNGV.

Có chính sách khen thưởng, trách phạt cụ thể Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Hiện nay, chính sách thi đua khen thưởng của Trường đang trong giai đoạn hoàn thiện. Các tiêu chí đánh giá thi đua khen thưởng đối với GV còn chung chung theo quy định về thi đua khen thưởng của Nhà nước, của Bộ GD&ĐT, Bộ Nông nghiệp. Mặc dù vậy, nó cũng đã tác động tích cực đến mọi tập thể và cá nhân tự giác, khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhất là trong phong trào thi đua “Hai tốt”.

Tuy nhiên, trong công tác đánh giá thi đua khen thưởng của Trường cũng còn những bất cập: “dĩ hòa vi quý”, anh che cho tôi, tôi che cho anh v.v… nên có người còn làm việc mang tính đối phó và khi bình xét thi đua chưa có tiêu chí cụ thể để phân định rõ sự cống hiến cao, thấp và thành tích tiêu biểu. Từ đó, ảnh hưởng không nhỏ đến tính giáo dục, động viên khích lệ và tính hiệu quả thiết thực của phong trào thi đua.

Vì vậy trong thi đua khen thưởng phải xây dựng được các tiêu chuẩn cụ thể và thực hiện việc đánh giá thật sự khách quan, dân chủ, công khai để phát huy tác dụng thực sự của nó.

Việc trách phạt, kỷ luật là việc làm cần thiết trong quản lý nhằm đảm bảo kỷ luật, nề nếp, đưa hoạt động Nhà trường vào khuôn mẫu, giúp mọi người có ý thức tự kiểm soát mình, làm việc nghiêm túc. Việc kiểm điểm, trách phạt GV khi họ sai phạm khuyết điểm phải được thực hiện một cách nghệ thuật, vừa có tính răn đe, vừa có tính giáo dục.

Biện pháp thực hiện các chính sách cụ thể

Một là hoàn chỉnh các quy định, quy chế

Hằng năm, trên cơ sở cập nhật các quy định chế độ, ngân sách được cấp và nguồn thu phúc lợi của Trường, Hiệu trưởng điều chỉnh xây dựng và hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ đúng quy trình để triển khai thực hiện; tạo nguồn thu nhập ổn định ngoài lương cơ bản cho cán bộ, GV, theo phương châm “năm sau cao hơn năm trước”.  Xem xét việc điều chỉnh Quy định chế độ làm việc của GV về các vấn đề: Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

  • Bổ sung quy định chế độ lao động đối với GV chưa đạt đủ giờ chuẩn trong năm học, phải thực hiện giờ nghĩa vụ khác như: NCKH, dự giờ, công tác viên thanh tra, chủ nhiệm, coi thi các lớp đại học mà Trường liên kết đào tạo (khi được mời giảng); giảng dạy các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học; tham gia công tác khác,…
  • Điều chỉnh tăng định mức chi trả tiền giảng dạy vượt giờ chuẩn; bởi vì định mức hiện nay rất thấp, chưa phù hợp với lao động của GV (60.000 đồng/tiết đối với chức danh GV; 80.000 đ/tiết đối với chức danh Thạc sĩ – GV chính;…).

Tổ chức đào tạo chuyển tiếp, liên thông và phát triển chương trình đào tạo; tăng cường các loại hình, phương thức hoạt động liên kết đào tạo, nhất là các lớp đại học ngoài chính quy; mở ra các hoạt động dịch vụ theo chức năng và khả năng của Trường nhằm phục vụ tốt cho nhu cầu học tập của cộng đồng, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho địa phương; bên cạnh đó là bố trí hợp lý hơn thời gian lao động của GV, giúp họ có điều kiện phát  huy năng lực chuyên môn, tự khẳng định mình, tăng nguồn thu cho Nhà trường, tạo việc làm và thu nhập chính đáng cho GV bằng chính nghề nghiệp của mình.

Tích cực phát huy chính sách thu hút nguồn nhân lực; ngoài ra, Nhà trường cũng có chính sách trải thảm đỏ khác để thu hút chất xám và giữ chân GV giỏi, như xây nhà ở công vụ cho GV (trước mắt có thể dành một số phòng thuộc ký túc xá học viên làm chỗ ở cho GV), trang bị, cấp phát phương tiện làm việc, phương tiện đi lại,…để tuyển dụng được nhiều GV có chất lượng.

Hai là đầu tư thêm cơ sở vật chất, phương tiện dạy học và xây dựng môi trường sư phạm

Tăng cường trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, NCKH: các phương tiện nghe nhìn, trình chiếu; xây dựng thêm phòng thí nghiệm, thực hành, xưởng Trường để khắc phục việc “dạy chay” và là điều kiện để mở thêm các ngành đào tạo về kỹ thuật; tăng cường đầu sách, báo, tạp chí cho thư viện, nhất là các tài liệu phục vụ cho GV, tiến tới thành lập thư viện điện tử;…

Xây dựng cảnh quan  sư phạm,  “Nhà trường thân thiện,  học sinh – sinh viên tích cực”; xây dựng  bầu không  khí tâm  lý sư phạm trong  Nhà trường; xây dựng  tốt  các mối  quan hệ  giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò; tạo điều kiện để GV tham gia các hoạt động xã hội, đoàn thể; tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, các cuộc giao lưu, giải trí, tạo sân chơi bổ ích cho GV.

Lãnh đạo Trường thường xuyên động viên thăm hỏi, quan tâm đến hoàn cảnh của GV để có sự giúp đỡ kịp thời những trường hợp khó khăn; định kỳ tổ chức đối thoại trực tiếp với GV để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, kỳ vọng của GV và tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tham gia vào các hoạt động quản lý của Trường.

Ba là đổi mới công tác thi đua khen thưởng, trách phạt

Việc xây dựng được thang điểm thi đua, khen thưởng, phải được Nhà trường thực hiện ngay; để từ đó có cơ sở đánh giá xếp loại cán bộ GV hàng tháng làm căn cứ xem xét chi lương tăng thêm theo Quy chế chi tiêu nội bộ; tổng  hợp đánh giá thi đua,  khen thưởng cuối năm học.  Ngoài ra, Trường cũng cần phân công, phân cấp cụ thể trong quản lý và theo dõi thi đua để việc đánh giá thi đua, khen thưởng khách quan, chính xác. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Thực hiện cải tiến chế độ khen thưởng. Nhà trường quan tâm hơn việc khen thưởng đột xuất và khen thưởng thành tích trong giảng dạy, NCKH, đảm bảo chất lượng đào tạo, những đóng góp của cán bộ, GV đem lại hiệu quả cao cho Nhà trường.

Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong Nhà trường để phát hiện kịp thời những sai lệch trong quản lý, những vi phạm của GV để điều chỉnh kịp thời. Trong kiểm điểm trách phạt, phải làm cho người vi phạm nhận được thiếu sót của mình và tạo cơ hội cho họ sửa chữa, vươn lên.

Bốn là quan tâm các chế độ đãi ngộ khác

Trường cần thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các chế độ chính sách, đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh thần cho cán bộ, GV như nâng bậc lương, chế độ nghỉ hè, trợ cấp khó khăn, tiền thưởng, tiền dạy vượt giờ.

Có chính sách hỗ trợ thêm về mặt kinh phí (ngoài lương và các chế độ theo quy định của Nhà nước) để giảm bớt khó khăn và động viên GV  được đi đào tạo; có chế độ khen thưởng cho những GV đạt kết quả cao trong học tập; có quy định ràng buộc đối với GV không hoàn thành nhiệm vụ học tập và đối với GV sau khi có bằng thạc sĩ, tiến sĩ phải phục vụ tại Trường một thời gian tối thiểu nhất định, nếu không sẽ phải bồi hoàn lương và kinh phí trong thời gian đi học.

Có cơ chế thông thoáng, rõ ràng trong công tác phát triển Đảng cho những GV tích cực theo quy định của Đảng; tạo cơ hội thăng tiến cho GV để họ có động cơ phấn đấu vươn lên trong công tác.

Có chế độ tham quan, nghỉ mát trong dịp hè cùng các chế độ ưu đãi khác cho cán bộ, GV trong khả năng có thể đáp ứng được của Trường.

2.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

2.3.1 Tổ chức khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Để khẳng định tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay, chúng tôi đã tiến hành điều tra (bằng cách soạn bảng câu hỏi và hướng dẫn cách trả lời: đánh dấu x vào những ô đồng ý hoặc không đồng ý, thực hiện được hoặc không thực hiện được). Chúng tôi đã trực tiếp trao đổi với đội ngũ CB QLGD, GV của Trường và gửi phiếu điều tra, một thời gian sau thu về để tiến hành thống kê. Chúng tôi điều tra lấy ý kiến 100 người, trong đó có 15 CB QLGD, 17 GV biên chế và 68 học viên đại diện cho các khóa học, ngành học tại Trường CBQLNN & PTNT II.

2.3.2 Phân tích kết quả thăm dò Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Từ bảng kết quả khảo nghiệm (phụ lục 19) điều tra về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay cho thấy, các biện pháp đã được đề xuất trong luận văn có tỷ lệ (tính trung bình) về tính cần thiết và có tính khả thi rất cao. Tất cả các biện pháp đưa ra được trên 80% cán bộ cho rằng cần thiết. Trong đó, biện pháp 1, 4, 5 đạt tỷ lệ từ 92.5 % trở lên. Như vậy, hệ thống các biện pháp do tác giả đã đề xuất có ý nghĩa rất quan trọng cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng quản lý ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Việc thực hiện có hiệu quả các biện pháp này sẽ là cơ sở quan trọng để quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo học viên của Trường CBQLNN & PTNT II trong thời kỳ hiện nay.

Biện pháp 1, 4 và 5 có tính khả thi cao (thực hiện được) thấp nhất là 65% cao nhất đến 85% thực hiện được bởi vì đây là những vấn đề đang cần thiết trong công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Đồng thời, đây là nhân tố thiết yếu nhất (GV) góp phần quyết định nâng cao chất lượng đào tạo của Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay.

Biện pháp 2 có 10% cho rằng không thực hiện được (không khả thi) do nguyên nhân Trường chưa hoàn thiện quy chế đào tạo; hoàn thiện quy định về tham gia hoạt động của GV ngoài Nhà trường; hoạt động chính trị – xã hội của GV. Sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý các hoạt động ĐNGV Trường và ảnh hưởng đến đãi ngộ những GV tích cực.

Biện pháp 3 có 10% cho rằng không thực hiện được (không khả thi)  vì đội ngũ cán bộ quản lý Trường CBQLNN & PTNT II chưa xác định rõ yêu cầu cần đạt được trong việc bồi dưỡng; nội dung, hoạt động bồi dưỡng; lực lượng tiến hành ĐNGV Trường. Do kiến thức, năng lực, kỹ năng quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý Trường CBQLNN & PTNT II còn hạn chế vì hầu hết cán bộ chưa được đào tạo, bồi dưỡng cơ bản về kiến thức, nghiệp vụ quản lý giáo dục, quản lý GV. Nên ảnh hưởng trong việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ĐNGV.

Từ những đánh giá của mình về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, các đồng chí cán bộ thông qua tọa đàm đã lựa chọn thứ tự ưu tiên của từng biện pháp. Trong các biện pháp, cán bộ tham gia tọa đàm đều cho rằng, biện pháp 1 là biện pháp cơ bản quyết định; biện pháp 4,5 là các biện pháp cơ bản có ý nghĩa quyết định; biện pháp 2, 3 là những biện pháp quan trọng nâng cao công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay. Đại đa số cán bộ tham gia tọa đàm lựa chọn thứ tự ưu tiên của các biện pháp với thứ tự là: biện pháp 1 – 4 – 5 – 3 – 2.

Như vậy, kết quả khảo nghiệm cho thấy, các biện pháp 1, 4, 5 đều được cho rằng cần thiết và có tính khả thi rất cao. Do vậy, đây là những biện pháp có chất lượng, hiệu quả nhất đối với công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay. Các biện pháp 2, 3 có nhiều ý kiến cho rằng tính khả thi chưa cao là do những khó khăn khách quan và chủ quan, trong đó khách quan là chủ yếu. Như vậy, tính cấp thiết, phù hợp, khả thi của các biện pháp đã được đề xuất là rất cao, có thể thực hiện được để nâng cao chất lượng công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chủ thể quản lý cần vận dụng tổng hợp các biện pháp sao cho phù hợp thực tế tại đơn vị mới đạt chất lượng, hiệu quả quản lý và đạt mục đích đề đã xác định. Từ đó, tác giả có thể khẳng định rằng, những biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay đã được đề xuất là phù hợp, cần thiết, khả thi, là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong giai đoạn mới. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Hệ thống biện pháp nâng cao quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay có vị trí, vai trò rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn trong thời kỳ mới hiện nay nói chung và tình hình xây dựng nông thôn mới nói riêng. Để quá trình quản lý ĐNGV đạt hiệu quả tốt, các chủ thể, các lực lượng giáo dục trong Trường cần quán triệt, nghiên cứu, xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý và thực hiện quản lý ĐNGV chặt chẽ; phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác trong tự quản lý của ĐNGV. Trong quản lý, các chủ thể quản lý trong Trường CBQLNN & PTNT II cần tiến hành đồng bộ các biện pháp đã đề xuất, kịp thời điều chỉnh, rút kinh nghiệm để công tác quản lý GV đạt chất lượng, hiệu quả ngày càng cao hơn.

Những biện pháp cơ bản đã được đề xuất trong luận văn có vị trí, vai trò không ngang bằng nhau, nhưng chúng có quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành quy trình quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II đảm bảo tính chặt chẽ; kết quả thực hiện các biện pháp đó phù hợp, hiệu quả sẽ góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo. Theo tác giả, trong 5 biện pháp đã đề xuất trong luận văn thì các biện pháp 1, 4, 5 là những biện pháp quản lý trọng tâm; bởi vì các biện pháp này là những biện pháp cơ bản nâng cao chất lượng quản lý ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay. Biện pháp 2, 3 là những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ….cho ĐNGV Trường.

Tính phù hợp, khả thi của các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II do tác giả đề xuất trong luận văn được khẳng định có tính khả quan hơn thông qua kết quả buổi tọa đàm do tác giả thực hiện đối với 15 CBQLGD, 17 GV và 68 học viên đại diện cho các khóa học, ngành học tại Trường CBQLNN & PTNT II. Tuyệt đại đa số các đồng chí tham gia buổi tọa đàm đều tỏ rõ thái độ nhất trí cao với những biện pháp đã được tác giả đề xuất trong luận văn. Do đó, có thể khẳng định đề tài có đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính cần thiết để vận dụng vào thực tiễn chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Trường hiện nay.

Quản lý chất lượng ĐNGV là một nội dung cụ thể của quản lý chất lượng giáo dục. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng ở chương 1, trong chương này tác giả đã đưa ra được một số biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay. Trong đó mỗi biện pháp là một phần cấu thành hệ thống các biện pháp, kết quả của biện pháp này là cơ sở, là tiền đề và điều kiện để thực hiện các biện pháp khác. Do vậy, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp trên thì mới đem lại kết quả, tuy nhiên trong từng giai đoạn cụ thể Nhà trường cần có những cân nhắc để xếp thứ tự các biện pháp ưu tiên thực hiện.

Để đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của biện pháp, tác giả luận văn đã tiến hành lấy ý kiến chuyên gia, khảo sát ý kiến của 15 cán bộ quản lý, 17 GV. Kết quả bước đầu các biện pháp đều được khắng định là cần thiết và có tính khả thi cao, đã đáp ứng được mục tiêu và định hướng phát triển của Trường CBQLNN & PTNT II trong thời kỳ mới.

Trong điều kiện, phạm vi cho phép của đơn vị, tác giả tin rằng nếu các biện pháp nêu trên được vận dụng một cách linh hoạt, đồng bộ, khéo léo thì nhất định sẻ góp phần nâng cao chất lượng quản lý ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, đáp ứng nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn của khu vực phía nam và trên phạm vi toàn quốc.

KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

1. Kết luận

Xuất phát từ cơ sở lý luận của khoa học quản lý, thực trạng công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, bằng những luận cứ khoa học, luận văn đã phân tích, lý giải làm sáng tỏ và thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra. Từ kết quả nghiên cứu có thể rút ra một số kết luận

Trên cơ sở kế thừa, hệ thống hoá các kết quả nghiên cứu về lý luận khoa học quản lý, quản lý giáo dục, luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận công tác quản lý chất lượng ĐNGV. Luận văn đã góp phần vận dụng lý luận khoa học quản lý giáo dục vào thực tiễn, giúp Hiệu trưởng quản lý tốt chất lượng ĐNGV để phát huy hiệu quả công tác đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng dạy học trong Nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo.

Kết quả khảo sát thực trạng công tác quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay, chúng tôi nhận thấy các biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV của Hiệu trưởng còn có phần hạn chế, bất cập, có mặt yếu kém, chưa thật sự có hiệu quả.

Xuất phát từ yêu cầu CNH – HĐH đất nước, yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo trong thời kỳ mới, đặc biệt thực hiện chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư trung ương và Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và chiến lược của Trường là phấn đấu trở thành Học viện Quản lý phát triển thành phố Hồ Chí Minh, bằng khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II, luận văn đã đề ra một số biện pháp quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II hiện nay :

  • Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng đối với công tác quản lý chất lượng ĐNGV của Trường CBQLNN & PTNT II.
  • Hoàn thiện các quy chế, quy định quản lý chất lượng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II.
  • Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II.
  • Phát huy tính tích cực, chủ động trong tự quản lý, tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II.
  • Thực hiện tốt các chính sách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần ĐNGV Trường CBQLNN & PTNT II.

Những biện pháp trong luận văn đưa ra đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, mỗi biện pháp có tính độc lập tương đối, có khả năng phát huy tác dụng trong từng nội dung, từng giai đoạn, từng hoàn cảnh cụ thể của công tác quản lý. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, các lực lượng quản lý cần vận dụng khéo léo, linh hoạt, sáng tạo và tiến hành đồng bộ, kết hợp nhịp nhàng, thống nhất các biện pháp thì chắc chắn công tác quản lý chất lượng ĐNGV ở Trường CBQLNN & PTNT II sẽ được nâng cao hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, luận văn đã thực hiện được mục đích, nhiệm vụ đặt ra và khẳng định được giả thiết khoa học của đề tài.

2. Kiến nghị: Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

Nhà nước cần có những cơ chế chính sách phù hợp nhằm phát huy vai trò tự chủ, nâng cao trách nhiệm của Nhà trường trong việc huy động mọi nguồn lực thực hiện nhiệm vụ đào tạo.

Bộ Giáo dục- Đào tạo xây dựng kế hoạch bồi dưỡng ĐNGV theo chuyên ngành trong cả nước tạo điều kiện thống nhất kiến thức bộ môn và nâng dần trình độ chuyên môn.

Để Trường CBQLNN & PTNT II trở thành tổ chức hàng đầu của Việt Nam về NCKH, tư vấn và GD – ĐT phát triển nguồn nhân lực theo chuẩn mực quốc tế cho ngành quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn thì rất cần ĐNGV có trình độ cao về lý luận, có khả năng giải quyết vấn đề quản lý phát triển trong thực tiễn kinh tế – xã hội và cần hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, Đảng ủy, Ban giám hiệu, các cơ quan, khoa, phòng cần tăng cường giáo dục, chính trị, tư tưởng đạo đức, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của GV (Khắc phục sự vô cảm, sự hợp tác…), nâng cao ý thức chấp hành các văn bản pháp quy của nhà nước, của ngành đối với công tác giáo dục. Nghiên cứu, xây dựng chiến lược, kế hoạch chi tiết cho công tác đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV, nâng cao trình độ và phát triển ĐNGV của Nhà trường. Xây dựng cơ chế tuyển dụng rõ ràng, công khai nhằm thực hiện tốt việc nâng ngạch, đánh giá xếp loại GV theo tiêu chuẩn chức danh, đồng thời có chế độ khen thưởng, đề bạt… với những GV xuất sắc, xử lý hoặc đào thải những GV không đủ tiêu chuẩn nhằm làm cho chất lượng ĐNGV ngày một tốt hơn./. Luận văn: Biện pháp Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Quản lý chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Cán bộ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *