Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp
Trong chương 1, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Trong đó, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh ở các trường THPT. Với cách tiếp cận theo chức năng, tác giả đã trình bày lý luận về công tác lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo thực hiện; kiểm tra, đánh giá cũng như các điều kiện giáo dục NCKH cho học sinh. Xác định rõ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh ở các trường THPT.
Ở chương 2, tác giả đã trình bày thực trạng và nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Kết quả nghiên cứu ở chương 1 và chương 2 là cơ sở để tác giả đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, góp phần vào việc phát huy khả năng sáng tạo của học sinh.
3.2. Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích
Các biện pháp quản lý được đề xuất phải đảm bảo tính mục đích. Nguyên tắc này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất phải nhằm vào việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục NCKH cho học sinh các trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Các biện pháp được đề xuất phải tác động tích cực lên toàn bộ quá trình quản lý công tác giáo dục NCKH cho học sinh, tác động lên đội ngũ CBQL, GV, các tổ chức chính trị-xã hội bên trong và bên ngoài nhà trường. Các biện pháp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lý và mang lại hiệu quả như mong đợi.
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Để các biện pháp đề xuất có khả năng áp dụng vào thực tiễn một cách thuận lợi, thiết thực và mang lại hiệu quả cao thì khi xây dựng các giải pháp yêu cầu phải đảm bảo sự thống nhất, đúng quy trình với các bước tiến hành cụ thể, chính xác.
Nguyên tắc này đòi hỏi các biện pháp được đề xuất phải phù hợp với điều kiện thực tế của các nhà trường và địa phương, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Các biện pháp được đề xuất có khả năng áp dụng vào quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Vì vậy, các biện pháp khi xây dựng phải được thăm dò tính khả thi trước khi đề xuất.
3.2.3. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Các biện pháp đề xuất phải dựa trên những điều kiện thực tế của đơn vị, địa phương. Kế thừa những nội dung, hình thức thực hiện mang lại hiệu quả và phát huy những ưu điểm của nhà trường trong việc quản lý công tác giáo dục NCKH cho học sinh.
3.2.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Quản lý giáo dục là một khoa học tổng hợp, do đó, việc đảm bảo tính khoa học trong quản lý giáo dục là một đòi hỏi tất yếu.
Để đảm bảo tính khoa học trong quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh, các biện pháp được đề xuất trong luận văn phải đảm bảo tính chính xác, hợp lí; căn cứ trên cơ sở nghiên cứu lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT, trên cơ sở khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế làm ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
3.3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh
- a/. Mục tiêu
Giúp CBQL, GV và HS nâng cao kiến thức, kỹ năng đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Hiểu được những hoạt động NCKH, lợi ích của NCKH với bản thân gia đình và xã hội. Quán triệt cho HS, GV và CBQL thấy được trách nhiệm, tầm quan trọng của hoạt động NCKH, xem NCKH là hoạt động đặc trưng, là nhu cầu, quyền lợi cần đáp ứng, thoả mãn.
Tuyên truyền cho phụ huynh học sinh về ý nghĩa của việc NCKH của HS để nhận được sự hậu thuẫn, đồng tình.
- b/. Nội dung
Biện pháp tập trung thực hiện những nội dung sau:
- Hiệu trưởng nhà trường phổ biến những quy định, yêu cầu của Sở giáo dục, Bộ giáo dục, Ủy ban nhân dân tỉnh có liên quan đến vấn đề NCKH; các văn bản, thông tư, chỉ thị có liên quan đến hoạt động NCKH.
- Xây dựng những hoạt động thúc đẩy tuyên truyền thông tin về NCKH đến với học sinh, làm cho mỗi HS đều ý thức được tầm quan trọng của hoạt động
- Chỉ đạo xây dựng nội dung, tài liệu, thông tin về vấn đề NCKH, đối tượng liên hệ thực hiện NCKH.
- Chỉ đạo Đoàn thanh niên làm cầu nối giữa HS, nhà trường với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu.
- Tổ chức cuộc thi thiết kế pano, áp phích tuyên truyền cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.
- Tổ chức cung cấp thông tin, sự kiện khoa học mang tính ứng dụng hiện nay và đưa ra cách thức giải quyết vấn đề.
- Tạo điều kiện để GV, HS hiểu đúng, đủ về hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.
Tổ chức, hướng dẫn cho HS lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu. Hướng dẫn học sinh tự đọc và tìm kiếm tài liệu nhằm giúp các em phát hiện ra các vấn đề và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu.
Thường xuyên cho học sinh làm đề tài nhỏ, giúp các em chủ động làm việc có mục đích và đam mê khoa học.
Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phát triển tư duy sáng tạo là việc làm cần thiết với các yêu cầu về sự chính xác, khoa học; phong phú, đa dạng, xuyên suốt chương trình; có tính hệ thống, tính logic, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống,…
- c/. Cách thức tiến hành Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Hiệu trưởng lập kế hoạch phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với các thành viên trong nhà trường trong việc tổ chức giáo dục NCKH cho học sinh. Trong đó, công tác phổ biến những quy định, lợi ích có liên quan đến vấn đề NCKH được Hiệu trưởng thực hiện vào các buổi chào cờ thứ 2 hàng tuần. Những nội dung cần thiết, quan trọng sẽ được dán ở bảng thông tin của nhà trường. Các quyết định, chỉ thị, thông tư liên quan đến nhiệm vụ giáo dục NCKH cho học sinh cần được cập nhật thường xuyên. Liên tục cập nhật các thông tin liên quan tới các hoạt động nghiên cứu như về các cuộc thi, hội thảo, những lợi ích của việc nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu,…
Ban giám hiệu tiến hành chỉ đạo giáo viên biên soạn nội dung, tổng hợp tài liệu để giáo dục học sinh. Giao Đoàn thanh niên tổ chức các cuộc thi thiết kế áp phích, băng rôn tuyên truyền về hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.
Ban giám hiệu chỉ đạo xây dựng diễn đàn khoa học cho GV và HS, tạo tiền đề cho HS hứng thú NCKH. Đăng lên diễn dàn các bài nghiên cứu trước đó của các HS trong và ngoài nhà trường. Cung cấp tài khoản cho từng học sinh tham gia diễn dàn để HS có thể tự do đăng tải những thắc mắc của bản thân và có thể thảo luận với mọi người trên diễn đàn. Diễn đàn là nơi cung cấp thông tin, sự việc mang tính ứng dụng hiện nay và đưa ra cách thức giải quyết vấn đề.
Chỉ đạo Đoàn Thanh niên thành lập Nhóm biên tập và thực hiện phát thanh học đường để cung cấp thông tin về hoạt động NCKH một cách đầy đủ đến học sinh vào cuối tuần.
Chỉ đạo tuyên truyền hoạt động NCKH trong nhà trường đến cha mẹ học sinh trong các dịp họp phụ huynh. Nhà trường cần nhận được sự hậu thuẫn, đồng tình ủng hộ nhất định của cha mẹ học sinh.
Việc học sinh lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu cần có sự hướng dẫn của giáo viên; phải được diễn ra theo trình tự đã sắp xếp, có tính khoa học.Theo đó, giáo viên phải kiểm tra kế hoạch và có bổ sung nhận xét. Giáo viên không làm thay mà để các em tự sửa chữa, điều chỉnh kế hoạch của mình.
Hướng dẫn học sinh tự đọc và tìm kiếm tài liệu liên quan đến các vấn đề cần nghiên cứu, cho học sinh đọc trước bài học để tóm tắt ý chính, trả lời các câu hỏi và thu thập tài liệu liên quan. Thường xuyên cho học sinh làm đề tài nhỏ liên quan đến nội dung của bài học, cần tập trung nâng cao chất lượng các tiết dạy thực hành của các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Công nghệ.
Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn sản xuất và đời sống. Tăng cường các tài liệu ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới trên trang thông tin của nhà trường và thư viện để học sinh có thể tìm hiểu, nghiên cứu.
3.3.2. Tập trung xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
- a/. Mục tiêu
Giúp CBQL, GV và HS thực hiện hiệu quả và định hướng các hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh trong nhà trường một cách cụ thể, chi tiết. Từng bước định hình nhiệm vụ NCKH của học sinh. Nhà trường đề ra được mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể trong ngắn hạn cũng như dài hạn đối với công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH của học sinh.
b/. Nội dung
- Xác định và hình thành ý tưởng, mục tiêu quản lý hoạt động NCKH cho học sinh.
- Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho học sinh đảm bảo chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp.
- Lập kế hoạch liên kết học tập, trao đổi với các trường đại học, viện nghiên cứu, gặp gỡ các chuyên gia. Tận dụng được các nguồn lực, sự giúp sức từ các doanh nghiệp và mạnh thường quân.
- Thành lập ban kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục NCKH cho học
- Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH tạo nền móng vững chắc đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học
- Lập kế hoạch tổ chức thật nhiều sân chơi bổ ích cho HS tham gia
- Lên kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
- Lập kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các phòng thí nghiệm đạt chuẩn và trên chuẩn phục vụ NCKH của học sinh.
c/. Cách thức tiến hành
Cần rà soát, đánh giá đúng thực trạng kỹ năng nghiên cứu khoa học của học sinh các khối lớp, xác định điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động này để có biện pháp phù hợp. Nhà trường thành lập ban chỉ đạo và đánh giá NCKH bao gồm Ban giám hiệu, Đoàn thanh niên, Công đoàn. Xác định đầy đủ hệ thống văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động NCKH của học sinh để có căn cứ tiến hành xây dựng hệ thống chính sách và văn bản phù hợp cho hoạt động NCKH của nhà trường. Đồng thời, phải thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hoặc xây dựng mới các văn bản quy định của nhà trường về NCKH và quản lý hoạt động NCKH của HS.
Chủ động xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học (kiến thức, kỹ năng) cho học sinh. Hướng dẫn cho hoc sinh tìm hiểu về NCKH, giới thiệu các giáo viên hướng dẫn NCKH cho HS, đề xuất danh mục đề tài NCKH của nhà trường.
Lập kế hoạch phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học như trường đại học Thủ Dầu Một, đại học Việt Đức, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bình Dương; các nhà khoa học; cha mẹ học sinh trong việc hướng dẫn để có những hỗ trợ, chia sẻ, hướng dẫn, đánh giá các dự án khoa học của học sinh; tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị cho học sinh , nhằm giúp cho việc NCKH của học sinh đạt kết quả tốt nhất.
Giao nhiệm vụ cho Đoàn thanh niên lên kế hoạch chi tiết về việc tổ chức các cuộc thi sáng tạo trẻ, hội thi ý tưởng khoa học, Robocon và tự động hóa, tổ chức trải nghiệm sáng tạo trong và ngoài nhà trường,…
Nhà trường cần có kế hoạch cụ thể đối với công tác bồi dưỡng giáo viên, nhất là các giáo viên giỏi để giúp học sinh trong công tác NCKH. Bởi muốn có những học sinh có tư duy khoa học, tham gia NCKH thì các thầy cô giáo phải là những người có khả năng nghiên cứu khoa học. Lập kế hoạch tổ chức hội thảo, tập huấn, phổ biến cho cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về các cuộc thi KHKT, sáng tạo trẻ.
Phân công Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất kết hợp với phòng Kế toán lập kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, bố trí phòng nghiên cứu, các câu lạc bộ,… đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết để học sinh thuận lợi trong việc nghiên cứu. Phân công Phó Hiệu trưởng phụ trách phong trào, thi đua chủ động trong công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.
Hiệu trưởng xây dựng cụ thể quy chế chi tiêu nội bộ đối với công tác NCKH của nhà trường nói chung và NCKH của học sinh nói riêng. Đặc biệt, nhà trường cần lưu ý đến nguồn tài chính ngoài ngân sách để linh hoạt, chủ động hơn trong việc hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động NCKH của học sinh. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
3.3.3. Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học
- a/. Mục tiêu
Phát triển phong trào học sinh trung học NCKH; sáng tạo kỹ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Hình thành nhiều cuộc thi, sân chơi trí tuệ nhằm thu hút học sinh tham gia, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, kiến thức. Xây dựng và từng bước hình thành khả năng nghiên cứu khoa học đối với học sinh.
- b/. Nội dung
Để đáp ứng mục tiêu trên, các nội dung cần được thực hiện như sau:
- Hiệu trưởng ra quyết định thành lập câu lạc bộ NCKH và Ban chỉ đạo hoạt động NCKH dành cho học sinh. Chỉ đạo Ðoàn Thanh niên, các Tổ Chuyên môn phát huy vai trò của giáo viên trẻ trong việc hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động NCKH.
- Tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm trao đổi nhằm giới thiệu, trang bị cho học sinh những phương pháp học tập hiện đại, xây dựng mục tiêu thái độ học tập, nghiên cứu đúng đắn.
- Tổ chức giao lưu giữa học sinh với những người thành công trong học tập, nghiên cứu khoa học, từ đó thắp sáng ước mơ, hoài bão trong HS.
- Chỉ đạo công tác phối kết hợp, tăng cường giao lưu, trao đổi, liên kết giữa nhà trường với các trường đại học, công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố.
- Chỉ đạo việc thực hiện lồng ghép giáo dục NCKH cho học sinh khi tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa, hoạt động tham quan, dã ngoại, hoạt động giao lưu, tọa đàm, chia sẻ.
- Tổ chức cuộc thi ý tưởng khoa học kỹ thuật cấp trường dưới sự tham gia đầy đủ của các lớp và khối lớp trong nhà trường.
- Chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin đối với tất cả các hoạt động NCKH trong nhà trường.
- Tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và cải tiến thực hiện sau mỗi hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.
c/. Cách thức tiến hành Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Trong quá trình lập kế hoạch giáo dục NCKH cho học sinh, Hiệu trưởng cần chỉ đạo đa dạng hình thức giáo dục nhằm mang lại hiệu quả cao khi thực hiện.
Đa dạng hóa hình thức hoạt động trải nghiệm dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà trường, các em HS được tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động từ thiết kế, chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả. Bên cạnh đó, các em còn được bày tỏ quan điểm và lựa chọn, bảo vệ ý tưởng của bản thân. Đưa hoạt động giáo dục trải nghiệm, sáng tạo khoa học kỹ thuật của học sinh thành nội dung trong kế hoạch giáo dục của từng giáo viên.
Nhà trường thường xuyên giao các nội dung ở các bộ môn và hướng dẫn học sinh các lớp tự nghiên cứu và viết chuyên đề sau đó báo cáo trước tập thể lớp, đồng thời tổ chức hội thảo chuyên môn ở các khối lớp do giáo viên bộ môn chuyên hướng dẫn và tổ chuyên môn chủ trì. Hằng tuần nhà trường bố trí một buổi chiều cho các lớp tự học, tự nghiên cứu dưới sự kiểm tra, giám sát của BCH Đoàn trường, đồng thời yêu cầu ở bộ môn mỗi học kỳ phải có ít nhất một điểm hệ số 1 là kết quả của việc chấm đề tài của học sinh.
Đoàn thanh niên tổ chức hội thảo thường xuyên về các nội dung như phương pháp NCKH, tăng cường kĩ năng công nghệ thông tin, trau dồi ngoại ngữ để nghiên cứu tài liệu nước ngoài, giao lưu với những HS có thành tích trong các cuộc thi sáng tạo , KHKT các cấp….
Nhà trường thường xuyên tổ chức bồi dưỡng cho học sinh phương pháp NCKH thông qua Zalo, facebook, điện thoại, Website của đơn vị,…
Phối kết hợp với trường đại học Thủ Dầu Một, đại học Kinh tế-Kỹ thuật Bình Dương, khu công nghiệp Việt Nam-Singapore để tổ chức cho học sinh trải nghiệm bên ngoài nhà trường. Đặc biệt, chọn những học sinh xuất sắc trong phong trào NCKH giao lưu với các giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia nghiên cứu và giao cho học sinh viết báo cáo sau mỗi đợt đi trải nghiệm sáng tạo.
Tổ chức nhiều buổi sinh hoạt học thuật về phương pháp nghiên cứu, cách thức nghiên cứu, chủ đề nghiên cứu về khoa học tự nhiên và xã hội để học sinh hiểu rõ hơn về cách thức làm một đề tài, dự án nghiên cứu với sự góp mặt của các chuyên gia, các nhà khoa học.
Tổ chức các cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo”, “Em yêu khoa học”, “Khoa học và cuộc sống”, “Khám phá tri thức”, “Robocon”, thi vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các tình huống thực tiễn,…với nhiều phần thưởng có giá trị, được tính điểm thưởng trong các môn học liên quan đến hoạt động NCKH. Thực hiện lồng ghép nội dung NCKH vào các môn học tự nhiên và xã hội, yêu cầu học sinh tham gia NCKH theo nhóm với quy mô vừa và nhỏ.
Đa dạng các hoạt động của Câu lạc bộ kỹ năng trong nhà trường, không chỉ hoạt động bó buộc trong một không gian kín. Định kỳ, theo từng đợt sinh hoạt chủ đề, kết thúc học kì, năm học thực hiện sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các hoạt động giáo dục NCKH của học sinh.
3.3.4. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
- a/. Mục tiêu
Thực hiện biện pháp nhằm giúp nhà trường xây dựng thành công mục tiêu, nội dung giáo dục NCKH cho học sinh; tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ chuyên môn, các giáo viên, các câu lạc bộ trong hoạt động NCKH của nhà trường. Từng bước xác định hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên góp phần vào việc thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ chính trị của nhà trường.
b/. Nội dung
- Chỉ đạo CBQL, GV nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tư vấn, nâng cao kiến thức, đa dạng phương pháp truyền tải nội dung giáo dục NCKH.
- Phân công GV hướng dẫn, đồng hành cùng với học sinh NCKH ở các câu lạc bộ, các cuộc Vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường đối với công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh.
- Nâng cao tính xung kích, tình nguyện, đi đầu của Đoàn viên thanh niên (kể cả GV và HS) trong nhà trường đối với việc NCKH.
- Phối hợp với gia đình, các doanh nghiệp để hỗ trợ về kinh phí thực hiện dự án.
- Phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lĩnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH.
- Chỉ đạo giáo viên các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học, các môn xã hội thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp.
- Tuyên dương khen thưởng cá nhân, tập thể thực hiện tốt hoạt động c/. Cách thức tiến hành
Khai thác hiệu quả tiềm lực của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên có năng lực và giàu kinh nghiệm NCKH, giáo viên đã hướng dẫn học sinh NCKH đạt giải thưởng tại các cuộc thi cấp tỉnh và toàn quốc, giáo viên đã thực hiện đề tài NCKH sư phạm ứng dụng. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Nhà trường cần đưa nội dung hướng dẫn học sinh NCKH vào sinh hoạt của tổ/nhóm chuyên môn; phân công nhiệm vụ cho giáo viên trao đổi, thảo luận về những vấn đề thời sự, những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn trong quá trình học tập, các buổi sinh hoạt lớp, chào cờ, ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo để định hướng, hình thành ý tưởng về dự án nghiên cứu cho học sinh. Nhà trường phải có kế hoạch phân công giáo viên hướng dẫn học sinh NCKH, vận dụng linh hoạt chế độ làm việc, khuyến khích hỗ trợ về mặt thời gian, có chế độ bồi dưỡng cho các giáo viên tham gia công tác này.
Phát huy vai trò của các câu lạc bộ NCKH nhằm tạo môi trường cho học sinh nghiên cứu, chia sẻ về kiến thức, kỹ năng và các sản phẩm NCKH; giúp đỡ học sinh trong việc tiếp cận và vận dụng các phương pháp NCKH và sản phẩm khoa học vào thực tiễn; rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho hoạt động NCKH, trong học tập và trong cuộc sống. Giáo viên hướng dẫn các câu lạc bộ cần có phải biết xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng tháng, từng tuần, hướng dẫn HS tham gia các câu lạc bộ NCKH, Vật lý, Văn học, Robocon,….Xây dựng các buổi hội thảo về NCKH như: hội thảo giáo viên hướng dẫn và HS thực hiện dự án NCKH, hội thảo học sinh với cuộc thi NCKH, GV với cuộc thi NCKH của HS, hội thảo phương pháp hình thành ý tưởng NCKH của HS. Giáo viên trao đổi với học sinh về những vấn đề thời sự, khoa học, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và khuyến khích các em suy nghĩ, trao đổi, đặt câu hỏi về những tình huống, sự kiện diễn ra trong thực tế cuộc sống để tìm hiểu, xác định vấn đề cần tìm tòi, khám phá.
Kêu gọi sự đồng thuận, chia sẻ của phụ huynh về hoạt động NCKH của HS trong nhà trường trong những dịp họp phụ huynh toàn trường. Giới thiệu hoạt động NCKH của học sinh với các doanh nghiệp trên địa bàn TP Thủ Dầu Một để nhận được sự hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ cũng như tài chính cho hoạt động NCKH của nhà trường.
Hỗ trợ các giáo viên được phân công hướng dẫn học sinh NCKH đào sâu kiến thức chuyên ngành, tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chuyên gia, các nhà khoa học, tranh thủ sự ủng hộ về cơ sở vật chất, thiết bị từ các trường đại học, các viện nghiên cứu.
Phân công cụ thể nhiệm vụ cho các tổ chuyên môn của nhà trường, phối hợp với nhau để giúp học sinh hoàn thiện công việc NCKH. Các giáo viên tích cực bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là về kiến thức liên môn để có thể chủ động trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là giáo dục trải nghiệm và hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học. Đưa kế hoạch việc giảng dạy tích hợp liên môn liên quan đến NCKH trong kế hoạch giảng dạy của từng giáo viên một cách cụ thể để có thể chủ động trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy.
Nhà trường có các hình thức hỗ trợ, động viên, ghi nhận, khen thưởng kịp thời những GV và học sinh có sản phẩm NCKH chất lượng. Tăng cường chế độ đãi ngộ, xem xét ưu tiên khi bình xét thi đua cuối năm hoặc các danh hiệu cao quý khác.
3.3.5. Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị để thúc đẩy hoạt động trung học phổ thông tại các trường THPT
- a/. Mục tiêu Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Giúp nhà trường xác định đầy đủ, chính xác việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục NCKH cho học sinh. Đánh giá tính hiệu quả của hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Đồng thời cải tiến nội dung, phương pháp, hình thức cho phù hợp hơn với tình hình thực tế của nhà trường.
b/. Nội dung
- Tăng cường kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH đã đăng ký thực hiện.
- Liệt kê và đánh giá sản phẩm các bài báo, sản phẩm NCKH, báo cáo chuyên đề, hội thảo cấp trường, số lượng các đề tài, sản phẩm đạt giải trong các kỳ thi nhằm khen thưởng, động viên kịp thời.
- Đánh giá hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia và từng bước cải thiện mối quan hệ.
- Kiểm tra việc thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp đối với tất cả các bộ môn.
- Kiểm tra quá trình hoạt động NCKH của học sinh ở các câu lạc bộ kỹ năng.
- Đánh giá ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo”, “Em yêu khoa học”, “Khoa học và cuộc sống”, “Khám phá tri thức”, “Robocon”…để xác định những giá trị đạt được.
- Điều chỉnh kế hoạch, phương thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục NCKH cho HS cho phù hợp với thực tế của nhà trường.
- Nhà trường thường xuyên tiến hành kiểm tra, sữa chữa, bổ sung cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu NCKH của học sinh.
c/. Cách thức tiến hành
Thành lập ban, tổ kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH của GV và HS ở trường THPT gồm các thành phần có liên quan trong trường, có chuyên môn, đạo đức phẩm chất đảm bảo để tiến hành thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá. Khi đánh giá phải có tiêu chí, thang điểm được xây dựng khoa học. Phải tuân thủ các nguyên tắc trong kiểm tra, đánh giá: Đảm bảo tính mục đích, tính hệ thống, tính hiệu quả, tính khách quan, tính chính xác, tính công bằng và tính toàn diện trong quá trình đánh giá hoạt động NCKH của học sinh. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Kiểm tra kế hoạch và tiến trình thực hiện công tác nghiên cứu tài liệu, việc hướng dẫn HS, việc tích hợp chuyên môn đối với NCKH, kiểm tra tiến trình nghiên cứu của HS với các đề tài đã đăng kí theo từng tháng. Đánh giá, rút kinh nghiệm bổ sung vào kế hoạch cho tháng sau.
Đoàn thanh niên phụ trách tổng hợp các sản phẩm, bài báo, chuyên đề, đề tài NCKH đã hoàn thiện hay đã đạt giải qua các hội thi, kì thi. Thông báo và khen thưởng kịp thời trong giờ sinh hoạt dưới cờ hàng tuần. Thông báo trên bảng tin, Website của nhà trường.
Phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học như trường đại học Thủ Dầu Một, đại học Việt Đức; Sở khoa học và công nghệ Bình Dương, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thành phố Thủ Dầu Một, các nhà khoa học của trường đại học Thủ Dầu Một, Việt Đức trong việc đánh giá và tư vấn hỗ trợ thêm về chuyên môn cũng như điều kiện cơ sở vật chất các dự án khoa học của học sinh qua đó cũng đánh giá được hoạt động liên kết với các trường đại học và chuyên gia.
Phân công Đoàn thanh niên tổng kết các buổi sinh hoạt, nội dung sinh hoạt, số lượng HS tham gia của các câu lạc bộ về NCKH theo từng tháng. Tổ chức thi đua và khen thưởng giữa các câu lạc bộ về số lượng hoàn thành các đề tài, chuyên đề nghiên cứu. Đánh giá, rút kinh nghiệm theo từng tháng.
Ban chỉ đạo NCKH trong nhà trường kết hợp với Đoàn thanh niên đánh giá mặt mạnh và yếu của mỗi cuộc thi về NCKH như ý tưởng sáng tạo, em yêu khoa học, khám phá tri thức, Robocon,….đã tổ chức trong và và ngoài nhà trường về số lượng, chất lượng, mức độ đạt được theo mục tiêu đề ra. Từ đó rút ra những bài học để bổ sung vào kế hoạch mới của nhà trường.
Sản phẩm của học sinh đều được nghiệm thu bởi giáo viên hướng dẫn, được lựa chọn để trình bày trước tập thể lớp và tổ chuyên môn, được phản biện và rút kinh nghiệm. Công bố và ứng dụng kết quả của NCKH của HS trên hệ thống thông tin của nhà trường.
Công bố kết quả đánh giá các hoạt động theo từng tháng trên Website của nhà trường. Vận động đội ngũ GV và HS góp ý xây dựng quy trình quản lý hoạt động NCKH, bởi chính họ là những chủ thể tiến hành các hoạt động này cho nên họ có những kinh nghiệm thực tiễn để phát hiện được những ưu điểm cũng như hạn chế của quy trình quản lý hoạt động NCKH. Cải tiến, điều chỉnh kế hoạch đánh giá cho phù hợp với thực tiễn của hoạt động và từng bước nâng cao trách nhiệm, tinh thần làm việc của các thành viên trong nhà trường.
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Các biện pháp đề xuất có mối quan hệ gắn kết và ràng buộc lẫn nhau. Biện pháp này sẽ thúc đẩy những biện pháp kia và ngược lại. Cần phối hợp thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Biện pháp Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học là cơ sở, nền tảng để nhà trường triển khai các biện pháp còn lại.
Biện pháp Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học là quan trọng. Việc các tổ chức, cá nhân nắm được nhiệm vụ và thực hiện tốt trách nhiệm theo kế hoạch triển khai của mình trong công tác giáo dục NCKH của HS.
Biện pháp Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học là cách thức triển khai của biện pháp phân công nhiệm vụ trên.
Chính các tổ chức và cá nhân được phân công sẽ là nòng cốt, chủ đạo trong việc thực hiện các biện pháp Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh . Một khi CBQL, GV, CMHS và HS hiểu rõ và đúng về mục đích, ý nghĩa, kết quả của công tác giáo dục NCKH của nhà trường thì sẽ có cách nhìn chính xác về việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra của nhà trường đang triển khai trong việc giáo NCKH.
Bên cạnh đó, biện pháp Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát giúp nhà trường xác định tiến trình, hiệu quả của các biện pháp còn lại. Kiểm tra, giám sát công tác giáo dục NCKH hoạt động như thế nào? Các hình thức tổ chức cho học sinh được thực hiện có đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và hiệu quả đến mức độ nào? Những điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị đã đáp ứng yêu cầu của hoạt động NCKH trong nhà trường hay không? Từ đó rút ra những bài học và điều chỉnh hay thay đổi kế hoạch cho phù hợp.
3.5. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
3.5.1 Mục đích khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Thẩm định sự cần thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động NCKH cho học sinh các trường THPT công lập thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
3.5.2. Phương pháp khảo nghiệm
Chúng tôi tiến hành thu thập ý kiến của CBQL, GV về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp thông qua việc khảo sát trực tiếp.
3.5.3. Quy trình khảo nghiệm
Chúng tôi tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất theo các bước sau đây:
Bước 1: Xây dựng phiếu khảo sát ý kiến CBQL, GV của 05 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Phiếu khảo sát mức độ của tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp. Mỗi biện pháp có 05 mức độ đánh giá. Cụ thể:
Bảng 3. 1: Các mức độ khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
Bước 2: Trên cơ sở mẫu phiếu đã xây dựng, chúng tôi xin ý kiến các CBQL, GV một cách độc lập theo mẫu phiếu đánh giá
Bước 3: Thu thập kết quả khảo sát và dùng phần mềm SPSS 20 để xử lí kết quả. Thể hiện kết quả khảo sát qua bảng, biểu đồ. Đưa ra kết luận cuối cùng đối với các biện pháp đề xuất.
Quy ước thang đo:
- ĐTB: 4.21 – 5.0: Rất cần thiết/rất khả thi
- ĐTB: 3.41 – 4.20: Cần thiết/ khả thi
- ĐTB: 2.61 – 3.40: Ít cần thiết/ ít khả thi
- ĐTB: 1.81 – 2.60: Không cần thiết/ không khả thi
- ĐTB: 1.00 – 1.80: Hoàn toàn không cần thiết/ hoàn toàn không khả thi
3.5.4. Kết quả khảo nghiệm
Tác giả đã thu thập được 273 phản hồi đánh giá tính khả thi và tính cần thiết từ CBQL, GV của 05 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Kết quả khảo nghiệm đối với từng biện pháp như sau:
Đối với biện pháp 1: “Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh”
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp 1 được thể hiện cụ thể qua bảng 3.2 sau đây:
Bảng 3. 2: Kết quả đánh giá về tính cần thiết và khả thi của biện pháp “Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh” Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Kết quả thống kê ở bảng 3.2 cho thấy các nội dung thực hiện đối với biện pháp tăng cường công tác giáo dục tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh được đánh giá là cần thiết và khả thi. Trong đó, việc xây dựng những hoạt động thúc đẩy tuyên truyền thông tin về NCKH đến với học sinh, làm cho mỗi HS đều ý thức được tầm quan trọng của hoạt động NCKH được đánh giá là rất cần thiết với điểm trung bình cao nhất 4,47 và khả thi là 4,07. Việc tổ chức cuộc thi thiết kế pano, áp phích tuyên truyền cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh; tạo điều kiện để GV, HS hiểu đúng, đủ về hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh; tổ chức, hướng dẫn cho HS lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu được đánh giá là rất cần thiết. Hướng dẫn học sinh tự đọc và tìm kiếm tài liệu nhằm giúp các em phát hiện ra các vấn đề và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu có điểm đánh giá rất cần thiết là 4,27. Việc thường xuyên cho học sinh làm đề tài nhỏ, giúp các em chủ động làm việc có mục đích và đam mê khoa học có điểm đánh giá mức độ cần thiết là 4,20. Hoạt động chỉ đạo xây dựng nội dung, tài liệu, thông tin về vấn đề NCKH, đối tượng liên hệ thực hiện NCKH; Chỉ đạo Đoàn thanh niên làm cầu nối giữa HS, nhà trường với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu; tổ chức cung cấp thông tin, sự kiện khoa học mang tính ứng dụng hiện nay và đưa ra cách thức giải quyết vấn đề; xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phát triển tư duy sáng tạo là việc làm cần thiết với các yêu cầu về sự chính xác, khoa học; phong phú, đa dạng, xuyên suốt chương trình; có tính hệ thống, tính logic, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống,… có điểm đánh giá mức độ cần thiết là 4,14 và 4,13. Việc hiệu trưởng nhà trường phổ biến những quy định, yêu cầu của Sở giáo dục, Bộ giáo dục, Ủy ban nhân dân tỉnh có liên quan đến vấn đề NCKH; các văn bản, thông tư, chỉ thị có liên quan đến hoạt động NCKH được đánh giá mức độ cần thiết thấp nhất là 3,87.
Tất cả các nội dung còn lại đều được CBQL, GV nhận định mang tính khả thi cao trong việc thực hiện giáo dục NCKH cho học sinh. Điều quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH là việc Tạo điều kiện để GV, HS hiểu đúng, đủ về hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh (ĐTB:4,40); Tổ chức cuộc thi thiết kế pano, áp phích tuyên truyền cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh (4,34); Tổ chức cung cấp thông tin, sự kiện khoa học mang tính ứng dụng hiện nay và đưa ra cách thức giải quyết vấn đề(4,34); Tổ chức, hướng dẫn cho HS lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu. Hướng dẫn học sinh tự đọc và tìm kiếm tài liệu nhằm giúp các em phát hiện ra các vấn đề và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (4,27); Chỉ đạo Đoàn thanh niên làm cầu nối giữa HS, nhà trường với các trường đại học, trung tâm nghiên cứu (4,26) được đánh giá là rất khả thi. Như vậy, biện pháp pháp “Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh” có thể áp dụng trong thực tiễn.
Đối với biện pháp 2: “Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học”
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp 2 được thể hiện cụ thể qua bảng 3.3 sau đây:
Bảng 3. 3: Kết quả đánh giá về tính cần thiết và khả thi của biện pháp “Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học” Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Kết quả thống kê ở bảng 3.3 cho thấy các nội dung thực hiện đối với biện pháp “Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học” cho HS trong trường THPT là rất khả thi và cần thiết. Để mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường đạt kết quả tốt việc rà soát, lập kế hoạch là vô cùng quan trọng.
Những hoạt động rất cần thiết mà nhà trường cần thực hiện là tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học, lập kế hoạch liên kết học tập, trao đổi với các trường đại học, viện nghiên cứu, gặp gỡ các chuyên gia (ĐTB 4,33) và tập dụng được các nguồn lực, sự giúp sức từ các doanh nghiệp và mạnh thường quân (ĐTB 4,21). Bên cạnh đó, nhà trường cần phải lập kế hoạch tổ chức thật nhiều sân chơi bổ ích cho HS tham gia NCKH ( ĐTB 4,07), lên kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực, tài lực, vật lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh ( ĐTB 4,08); lập kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các phòng thí nghiệm đạt chuẩn và trên chuẩn phục vụ NCKH của học sinh ( ĐTB 4,14) ; lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH tạo nền móng vững chắc đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh ( ĐTB 4,13) là những việc cần thiết tiếp theo.
Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho học sinh đảm bảo chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp ( ĐTB 3,94) và thành lập ban kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh (ĐTB 4,00) là khá cần thiết đối với nhà trường trong hoạt động NCKH của HS.
Các hoạt động xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho học sinh đảm bảo chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp; lập kế hoạch liên kết học tập, trao đổi với các trường đại học, viện nghiên cứu, gặp gỡ các chuyên gia. Tập dụng được các nguồn lực, sự giúp sức từ các doanh nghiệp và mạnh thường quân; Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH tạo nền móng vững chắc đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh được đánh giá là rất khả thi (ĐTB 4,27).
Đối với biện pháp 3: “Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học”
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp 3 được thể hiện cụ thể qua bảng 3.4 sau đây:
Bảng 3. 4: Kết quả đánh giá về tính cần thiết và khả thi của biện pháp “Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học” Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Kết quả thể hiện ở bảng 3.3 cho chúng ta thấy sự đồng đều của các ý kiến đánh giá. Những nội dung thực hiện đối với biện pháp “Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học” cho HS trong trường THPT đánh giá cao ở mức độ cần thiết và khả thi.
Điều quan trọng là nhà trường cần thực hiện chỉ đạo việc thực hiện lồng ghép giáo dục NCKH cho học sinh khi tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động ngoại khóa, hoạt động tham quan, dã ngoại, hoạt động giao lưu, tọa đàm, chia sẽ (ĐTB: 4,33); hiệu trưởng ra quyết định thành lập câu lạc bộ NCKH và Ban chỉ đạo hoạt động NCKH dành cho học sinh. Chỉ đạo Ðoàn Thanh niên, các Tổ Chuyên môn phát huy vai trò của giáo viên trẻ trong việc hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động NCKH (ĐTB: 4,26) mang tính rất cần thiết. HS được tham gia các hoạt động một cách cụ thê dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo có tổ chức của nhà trường. Bên cạnh đó, Tổ chức giao lưu giữa học sinh với những người thành công trong học tập, nghiên cứu khoa học, từ đó thắp sáng ước mơ, hoài bão trong HS (ĐTB: 4,33); Chỉ đạo công tác phối kết hợp, tăng cường giao lưu, trao đổi, liên kết giữa nhà trường với các trường đại học, công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố ( ĐTB 4,20); Tổ chức giao lưu giữa học sinh với những người thành công trong học tập, nghiên cứu khoa học, từ đó thắp sáng ước mơ, hoài bão trong HS (ĐTB: 4,13); chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin đối với tất cả các hoạt động NCKH trong nhà trường (ĐTB: 4,14); tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm trao đổi nhằm giới thiệu, trang bị cho học sinh những phương pháp học tập hiện đại, xây dựng mục tiêu thái độ học tập, nghiên cứu đúng đắn.( 4,07); tổ chức cuộc thi ý tưởng khoa học kỹ thuật cấp trường dưới sự tham gia đầy đủ của các lớp và khối lớp trong nhà trường(4,06); tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và cải tiến thực hiện sau mỗi hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh.(3,93) được khá cần thiết đối với hoạt động giáo dục NCKH của HS tại trường THPT.
Như vậy, biện pháp “Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học” được cho là phù hợp với thực tiễn tại địa phương, với nhà trường, khuyến khích học sinh trung học NCKH; sáng tạo kỹ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn và đồng thời góp phần tích cực vào việc đổi mới căn bản và toàn diện sự nghiệp giáo dục. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Đối với biện pháp 4: “Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học”
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp 4 được thể hiện cụ thể qua bảng 3.5 sau đây:
Bảng 3. 5: Kết quả đánh giá về tính cần thiết và khả thi của biện pháp “Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học”
Nhìn vào số liệu bảng 3.5 chúng ta có thể nhận xét những nội dung đưa ra khảo sát được đánh giá hết sức cụ thể. Mỗi nội dung đều thể hiện suy nghĩ và cách nhìn nhận của các đối tượng khảo sát. Tất cả nội dung đều được nhận định khá phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Để đưa hoạt động giáo dục NCKH ở nhà trường THPT hoạt động tốt, việc chỉ đạo phân công công việc một cách cụ thể, chi tiết và quản lý đối với các tổ chức, cá nhân trong nhà trường được xem là khả thi và phù hợp.
Để thực hiện được mục đích đặt ra ban đầu của mỗi hoạt động, nhà trường cần chỉ đạo giáo viên các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học, các môn xã hội thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp( ĐTB :4,40) là rất cần thiết. Bên cạnh đó, nhà trường cần phải phối hợp với gia đình, các doanh nghiệp để hỗ trợ về kinh phí thực hiện dự án, đồng thời phân công GV hướng dẫn, đồng hành cùng với học sinh NCKH ở các câu lạc bộ, các cuộc thi; vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường đối với công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh cũng khả thi(ĐTB 4,19). Song song đó, nhà trường cần chỉ đạo CBQL, GV nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tư vấn, nâng cao kiến thức, đa dạng phương pháp truyền tải nội dung giáo dục NCKH (ĐTB 4,14). Với điểm trung bình khá cao đối với tính cần thiết (ĐTB 4,07) đó là nâng cao tính xung kích, tình nguyện, đi đầu của Đoàn viên thanh niên (kể cả GV và HS) trong nhà trường đối với việc NCKH;
Phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lĩnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH. Cuối cùng là nội dung tuyên dương khen thưởng cá nhân, tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH (ĐTB: 3,94) là không thể thiếu và sẽ góp phần thúc đẩy khuyến khích sự phát triển hoạt động NCKH trong nhà trường.
Đánh giá về tính rất khả thi với nội dung nâng cao tính xung kích, tình nguyện, đi đầu của Đoàn viên thanh niên (kể cả GV và HS) trong nhà trường đối với việc NCKH và Phối hợp với gia đình, các doanh nghiệp để hỗ trợ về kinh phí thực hiện dự án (ĐTB 4,27). Các nội dung Chỉ đạo CBQL, GV nghiên cứu tài liệu, kỹ năng tư vấn, nâng cao kiến thức, đa dạng phương pháp truyền tải nội dung giáo dục NCKH và Tuyên dương khen thưởng cá nhân, tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH là khá khả thi trong hoạt động tổ chức cho HS về NCKH (ĐTB 4,20). Bên cạnh đó, nhà trường không thể bỏ qua nội dung khả thi như phân công GV hướng dẫn, đồng hành cùng với học sinh NCKH ở các câu lạc bộ, các cuộc thi, vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường đối với công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh và chỉ đạo giáo viên các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học, các môn xã hội thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp( ĐTB 4,07 và 4,06).
Đối với biện pháp 5: “Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát” Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Kết quả đánh giá tính cần thiết và khả thi của biện pháp 5 được thể hiện cụ thể qua bảng 3.6 sau đây:
Bảng 3. 6: Kết quả đánh giá về tính cần thiết và khả thi của biện pháp “Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát”.
Bảng 3.5 thể hiện công tác kiểm tra, giám sát của nhà trường trong việc thực hiện hoạt động giáo dục NCKH là cần thiết và khả thi. Bởi vì, nếu bất kỳ một hoạt động nào thiếu đi sự kiểm tra, giám sát của nhà trường thì đều không mang lại hiệu quả cao trong giáo dục.
Để đánh giá thành quả của hoạt động NCKH trong nhà trường và kiểm việc có đạt được mục đích đặt ra ban đầu của mỗi hoạt động. Ban đầu, nhà trường cần kiểm tra quá trình hoạt động NCKH của học sinh ở các câu lạc bộ kỹ năng(ĐTB:4,34) và điều chỉnh kế hoạch, phương thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục NCKH cho HS cho phù hợp với thực tế của nhà trường (ĐTB 4,21) được đánh giá là rất cần thiết. Ngoài ra, nhà trường cần phải liệt kê và đánh giá sản phẩm các bài báo, sản phẩm NCKH, báo cáo chuyên đề, hội thảo cấp trường, số lượng các đề tài, sản phẩm đạt giải trong các kỳ thi nhằm khen thưởng, động viên kịp thời, nhà trường thường xuyên tiến hành kiểm tra, sữa chữa, bổ sung cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu NCKH của học sinh và kiểm tra việc thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp đối với tất cả các bộ môn (ĐTB 4,07) được đánh giá là cần thiết. Bên cạnh đó, công tác đánh giá ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo”, “Em yêu khoa học”, “Khoa học và cuộc sống”, “Khám phá tri thức”, “Robocon”…để xác định những giá trị đạt được và tăng cường kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH đã đăng ký thực hiện đước cho là khá cần thiết (ĐTB 4,00). Nhà trường cũng cần quan tâm đến việc đánh giá hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia và từng bước cải thiện mối quan hệ ĐTB 3,93).
Nội dung đánh giá ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi “Ý tưởng sáng tạo”, “Em yêu khoa học”, “Khoa học và cuộc sống”, “Khám phá tri thức”, “Robocon”…để xác định những giá trị đạt được, kiểm tra quá trình hoạt động NCKH của học sinh ở các câu lạc bộ kỹ năng, đánh giá hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia và từng bước cải thiện mối quan hệ và tăng cường kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH đã đăng ký thực hiện được đánh giá rất khả thi.
Từ kết quả khảo nghiệm được trình bày ở trên, có thể tổng hợp kết quả đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của 05 biện pháp được đề xuất trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh ở các trường trung học phổ thông công lập thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương qua biểu đồ 3.1 sau đây:
Biểu đồ 3. 1: Tổng hợp đánh giá tính cần thiết và khả thi của 05 biện pháp đề xuất
Qua biểu đồ 3.1 cho thấy, các biện pháp mà đề tài đề xuất đều có tính cần thiết và khả thi khá cao. Như vậy, chúng ta có thể triển khai thực hiện các biện pháp này nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH của học sinh ở các trường trung học phổ thông công lập thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Tiểu kết chương 3 Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Dựa trên cơ sở lý luận ở chương 1 và kết quả khảo sát chương 2 về công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh ở các trường trung học phổ thông tại TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, tác giả đã tiến hành đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Các biện pháp bao gồm:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh
- Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học
- Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học
- Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát
Các biện pháp đề xuất đã được khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và có kết quả cao. Các biện pháp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và khắc phục được những hạn chế, thiếu sót trong công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Sau một thời gian nghiên cứu về đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”, tác giả đã hoàn thành kết quả nghiên cứu đề tài. Cụ thể:
1.1 Về lý luận
Luận văn đã khái quát một cách rõ nét tình hình các công trình nghiên cứu trong nước và thế giới liên quan đến hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh phổ thông cũng như công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh tại các trường trung học phổ thông.
Tác giả từng bước lí giải các khái niệm có liên quan đến nghiên cứu khoa học, các hoạt động NCKH, nội dung NCKH của HS trung học phổ thông, các phương pháp NCKH của HS, hình thức NCKH của trong nhà trường THPT, ý nghĩa của việc NCKH đối với học sinh, đối với nhà trường, đối với từng giáo viên trong hoạt động hướng dẫn NCKH cho học sinh, đối với sự đổi mới của giáo dục hiện nay trong việc đánh giá của học sinh và tiến tới nâng cao chất lượng giảng dạy.
Quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT là hệ thống những tác động có tính chủ động, có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh, và các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường. Nhà quản lý cần thực hiện một quy trình quản lý từ việc lập kế hoạch, xác định mục tiêu hoạt động NCKH, đề xuất, định hướng những vấn đề mang tính thời sự, để công tác NCKH hướng vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, làm cho công tác NCKH có hiệu quả thiết thực.
Với tiếp cận theo chức năng, quản lý hoạt động NCKH cho học sinh ở trường THPT bao gồm các nội dung: Xây dựng chiến lược và kế hoạch hóa nhiệm vụ giáo dục NCKH của học sinh THPT; Tổ chức, triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục NCKH của học sinh THPT; Chỉ đạo hoạt động giáo dục NCKH của học sinh THPT;. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục NCKH của học sinh.
Đề tài đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh trung học phổ thông.
1.2 Về thực tiễn Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Luận văn đã trình bày và phân tích thực trạng hoạt động giáo dục NCKH và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Kết quả cho thấy, CBQL, GV,và HS nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT hiện nay. Bên cạnh những việc đã thực hiện được, các trường THPT tại TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương vẫn còn một số hạn chế và thiếu sót trong công tác quản lý về lập kế hoạch, tổ chức triển khai kế hoạch, chỉ đạo hoạt động, kiểm tra, đánh giá hoạt động NCKH cho học sinh. Những điều kiện về tài chính, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh, việc phối hợp giữa nhà trường và các cơ quan NCKH, công tác hướng dẫn NCKH cho HS của giáo viên vẫn chưa được đầu tư đúng mức.
Dựa trên cơ sở lý luận và kết quả khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh tại các trường THPT tại TP THủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, tác giả đề xuất 05 biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Mỗi biện pháp đều thể hiện mục đích, nội dung, cách thức thực hiện và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thông qua phiếu hỏi ý kiến của CBQL, GV 05 trường THPT trên địa bàn tại TP THủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp thì đều được đánh giá khá cao.
Như vậy, với kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn trình bày ở trên, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và giả thuyết khoa học đã được chứng minh, kết quả nghiên cứu phù hợp với giả thuyết khoa học.
2. Khuyến nghị
- Đối với Bộ, Sở Giáo dục và Đào tạo
Ngành Giáo dục và Đào tạo luôn xác định hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên nhằm góp phần vào việc thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ chính trị của toàn ngành trong từng năm học.
Cần đưa nội dung giáo dục NCKH cho học sinh, nội dung tích hợp liên môn NCKH vào chương trình học THPT.
Tăng cường công tác chỉ đạo, hỗ trợ đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Tổ chức tập huấn thường xuyên về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục NCKH cho học sinh. Có chế độ khen thưởng đối với giáo viên hướng dẫn và HS trong hoạt động NCKH. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
- Đối với địa phương, doanh nghiệp
Phối kết hợp với nhà trường để tiến hành giáo dục NCKH cho học sinh. Chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ phận như các trường đại học, trung tâm nghiên cứu,viện nghiên cứu, Đoàn thanh niên hỗ trợ học sinh NCKH.
Tạo điều kiện đưa các sản phẩm NCKH của HS đến với các doanh nghiệp và nhà đầu tư.
- Đối với CBQL các trường THPT
Để nâng cao chất lượng NCKH tại các trường phổ thông, trước tiên CBQL phải chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành đối với hoạt động giáo dục NCKH của HS.
CBQL cần quan tâm thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tạo ra nhiều sân chơi khoa học, chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi về mục đích, ý nghĩa, nội dung các cuộc thi, hội thi đến các đơn vị chức năng, ngành giáo dục đào tạo, cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội. Nâng cao năng lực nghiên cứu cho học sinh và cả giáo viên thông qua các hoạt động hội thảo, tập huấn bồi dưỡng về phương pháp, kỹ năng NCKH; tạo điều kiện, khuyến khích cho học sinh, giáo viên tham gia hội nghị, hội thảo khoa học và triển khai áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đưa hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo khoa học kỹ thuật của học sinh thành nội dung trong kế hoạch giáo dục của từng giáo viên. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng để nâng cao năng lực NCKH của giáo viên, qua đó nâng cao năng lực của giáo viên về hướng dẫn học sinh NCKH.
Đặc biệt, cần có chế độ ưu tiên đối với giáo viên, người hướng dẫn học sinh NCKH, học sinh đạt giải ở các cấp, nhằm khuyến khích phát triển những ý tưởng khoa học hay, đóng góp nhiều đề tài có tính thiết thực cho xã hội.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của nhà trường đối với các hoạt động NCKH trong nhà trường. Xây dựng nhà trường tiên tiến, thân thiện, tạo điều kiện tốt nhất để học sinh được học tập, rèn luyện và phát triển năng lực cá nhân về trí tuệ, tính độc lập sáng tạo và khả năng hợp tác, thích ứng.
- Đối với GV
Các giáo viên tích cực bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực, kiến thức về nội dung và phương pháp NCKH, về kiến thức liên môn để có thể chủ động trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là giáo dục trải nghiệm và hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học.
Các giáo viên được phân công hướng dẫn học sinh NCKH cần tích cực tìm hiểu sâu thêm kiến thức chuyên ngành, tìm sự hỗ trợ từ các chuyên gia, các nhà khoa học tranh thủ sự ủng hộ nguồn lực, về cơ sở vật chất, thiết bị từ các trường đại học, các viện nghiên cứu.
Gương mẫu, đi đầu trong tất cả các hoạt động của nhà trường. Thường xuyên quan sát, kiểm tra các hoạt động NCKH của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những sai sót để hỗ trợ các em.
- Đối với CMHS
Gia đình HS cần hiểu được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc NCKH trong học tập, tạo sự hậu thuẫn, đồng tình ủng hộ nhất định. Chia sẻ, cập nhật thông tin, hướng dẫn, định hướng cho các con thực hiện các hoạt động NCKH.
Phối hợp, đồng thuận với nhà trường trong công tác giáo dục nói chung, giáo dục NCKH nói riêng. Tạo điều kiện để con em tham gia các hoạt động NCKH của nhà trường cũng như của địa phương nhằm giúp các em hình thành kỹ năng, kiến thức về NCKH.
- Đối với học sinh
Học sinh cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc lên kế hoạch học tập và nghiên cứu, xác định mục tiêu rõ ràng, tìm hiểu và lựa chọn cho mình một phương pháp học tập, nghiên cứu hiệu quả, phù hợp. Gắn chặt hoạt động nghiên cứu khoa học với hoạt động học tập, tự học, tự nghiên cứu học của HS. Ngoài thời gian học tập trên lớp thì HS cần tăng cường việc tự học, tự nghiên cứu ở nhà, ở thư viện để mở rộng và đào sâu tri thức, trong đó kỹ năng tự đọc tài liệu rất quan trọng. Tăng cường khả năng ngoại ngữ để tiếp cận việc NCKH của các nước tiên tiến. Tăng cường thảo luận, tích cực trình bày quan điểm và tranh luận.
Chủ động liên hệ với giáo viên hướng dẫn, các chuyên gia NCKH ở các trung tâm và các trường đại học trong việc tìm kiếm, ấp ủ những ý tưởng khoa học, đề tài …
Tham gia tích cực hoạt động của câu lạc bộ NCKH trong nhà trường trung học nhằm tạo môi trường nghiên cứu, chia sẻ về kiến thức, kỹ năng và các sản phẩm NCKH. Luận văn: Biện pháp QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
Học sinh THPT là những công dân tương lai của đất nước, vì thế giáo dục các em NCKH là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Mỗi đơn vị, mỗi cá nhân cần phát huy vai trò của mình và phối hợp thật tốt nhằm giúp các em tự tin, năng động và sáng tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

