Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) là hoạt động không thể thiếu trong trường phổ thông. Đây là một hoạt động giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, học đi đôi với hành; đồng thời là cách tiếp cận, làm quen với phương pháp, kỹ năng NCKH, rèn luyện cách làm việc tự lực, làm việc nhóm và phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.

Nhà trường phải làm gì để học sinh đam mê NCKH? Làm sao để hoạt động NCKH được nhân rộng và phát triển, phải thế nào để hoạt động NCKH trong học sinh ở trường THPT là môi trường để học sinh nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo, khơi dậy sự nhiệt tình, tính chủ động say mê NCKH, phát triển năng lực nghiên cứu, phong cách làm việc khoa học, ý thức mong muốn cải tiến và đổi mới trong chính mỗi sản phẩm nghiên cứu của mình. Đó chính là trách nhiệm từ phía Ban Giám hiệu nhà trường và các thầy cô giáo.

Đề tài Quản lý hoạt động giáo dục NCKH của học sinh THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tập trung nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh trung học phổ thông cũng như công tác quản lí hoạt động này. Những hạn chế, thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục NCKH của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương:

Nhà trường đã tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian và hỗ trợ kinh phí triển khai NCKH, tổ chức tuyên truyền, phổ biến các thành tựu NCKH của học sinh trong tỉnh, ngoài tỉnh, trên thế giới, tổ chức học tập NCKH cho HS với các trường đại học nhưng chưa thường xuyên và chưa hiệu quả. Hoạt động của câu lạc bộ, hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn giáo viên thiếu tính đồng bộ, chưa sâu rộng và mang tính đơn điệu.

Nhà trường đã phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lĩnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH song hoạt động chưa cụ thể và chưa có chiều sâu, chưa mang lại hiệu quả cao. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Công tác kiểm tra, đánh giá về các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH, ứng dụng kết quả NCKH và công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia chưa được quan tâm. Đặc biệt, CBQL vẫn chưa tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh. Từ đó, CBQL chưa cải tiến nội dung, cách thức thực hiện cho các năm học kế tiếp.

Chưa phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường. Thiếu sự phối hợp giữa các lực lượng bên trong và bên ngoài nhà trường. Chưa thường xuyên kết hợp với các trung tâm, các trường đại học, chuyên gia để giáo dục NCKH cho học sinh.

Công tác bố trí, chuẩn bị cơ sở vật chất cho hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh có quan tâm. Tuy nhiên, việc đầu tư để đảm bảo các yêu cầu là chưa đảm bảo để phát triển hoạt động NCKH của HS trong nhà trường.

Để khắc phục những hạn chế, thiếu sót trên, tác giả đề xuất 05 biện pháp quản lí (cần thiết và khả thi), bao gồm: Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học cho học sinh; Tập trung rà soát, xây dựng hiệu quả kế hoạch thực hiện giáo dục cho học sinh nghiên cứu khoa học; Đổi mới, đa dạng các hình thức tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học; Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong nhà trường trong việc tổ chức cho học sinh nghiên cứu khoa học;Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh thông qua việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

Các biện pháp đề xuất dựa trên cơ sở lý luận và cơ sở thực trạng khảo sát tại 05 trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Cả 05 biện pháp đều thiết thực và có mối quan hệ gắn kết, phụ thuộc, bổ sung cho nhau trong quá trình thực hiện. Những biện pháp đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục NCKH cho học sinh THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

MỞ ĐẦU

1. Lí do thực hiện đề tài

Đất nước đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để nhằm đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2026. Sự nghiệp giáo dục được Đảng và nhà nước ta đặc biệt coi trọng. Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã nêu: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Hội nghị TW4 (Khoá VII 1/1993) có Nghị quyết “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT” và chỉ rõ vị trí của giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết TW II Đại hội Đảng lần thứ VIII đã khẳng định “Đầu tư cho giáo dục – đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu”. Nghị quyết TW 2 khoá VIII về GD&ĐT, KHCN đã khẳng định “cùng với KHCN, GD-ĐT là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của đất nước”. Nghị quyết TW 2 đã mở ra một cơ hội thuận lợi và thách thức lớn đối với giáo dục – đào tạo nói chung và KHCN nói riêng. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã xác định “Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động KHCN với GD&ĐT để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh CNH-HĐH và phát triển kinh tế tri thức” (Chính phủ, 2026)

Điều 18 Luật giáo dục đã quy định nhiệm vụ NCKH của các trường như sau: “Nhà trường và cơ sở giáo dục khác phối hợp tổ chức nghiên cứu khoa học, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong việc đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội”. (Quốc Hội, 2005)

Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, công tác nghiên cứu khoa học là hoạt động không thể thiếu trong trường phổ thông. Đây là một hoạt động giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, học đi đôi với hành; đồng thời là cách tiếp cận, làm quen với phương pháp, kỹ năng NCKH, rèn luyện cách làm việc tự lực, làm việc nhóm và phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và sinh hoạt. Từ đó, nhằm phát hiện các tài năng, là cơ sở xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Việc NCKH của học sinh trung học phổ thông khuyến khích học sinh sáng tạo khoa học, công nghệ và vận dụng kiến thức của môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Không những thế việc học sinh THPT tham gia NCKH sẽ góp phần đổi mới hình thức tổ chức dạy học , hình thức và phương pháp đánh giá kết quả học tập, phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, thúc đẩy giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao chất lượng dạy học ở các cơ sở giáo dục.

Thấy được ý nghĩa to lớn của việc NCKH của học sinh THPT, THCS nên Bộ GD&ĐT đã tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp quốc gia từ năm 2009 đến nay trên cơ sở cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh ở 63 tỉnh thành trên toàn quốc. Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn 1290 BGDĐT-GDTrH hướng dẫn hoạt động khoa học kĩ thuật và tổ chức Cuộc thi KHKT cấp quốc gia năm học 2022-2023 (Bộ GD&ĐT, 2022-2023) đã khẳng định việc NCKH của học sinh trung học đã góp phần cho học sinh vận dụng kiến thức các môn học vào giải quyết vấn đề thực tiễn và góp phần vào đổi mới phương pháp day học, cách thức tổ chức dạy học, phát triển năng lực và phẩm chất học sinh.

Hệ thống các trường THPT trên địa bàn tỉnh Bình Dương thì thành phố Thủ Dầu Một đi đầu về chất lượng giáo dục. Thành phố Thủ Dầu Một có vị trí địa lý gần với trung tâm kinh tế lớn của cả nước đó là thành phố Hồ Chí Minh, do đó việc tiếp cận các thành tựu văn hóa, KHKT rất thuận lợi. Đồng thời, thành phố Thủ Dầu Một cũng là nơi tập trung những khu công nghiệp lớn trên toàn tỉnh, có nhiều trường đại học, cao đẳng trên địa bàn. Vì vậy, giáo viên và học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có điều kiện trao đổi, giao lưu, tiếp cận, lĩnh hội văn hóa, khoa học kĩ thuật, v.v…

  • Đáp ứng sự phát triển của xã hội,nhu cầu phát triển khoa học công nghệ 4.0.

Công tác triển khai nghiên cứu khoa học dành cho học sinh THPT đã và đang được các nhà trường quan tâm, triển khai, tổ chức thực hiện. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện không phải trường nào cũng nhận được sự ủng hộ, thực hiện có hiệu quả trong lực lượng giáo viên và học sinh. Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên và học sinh chưa hiểu đúng, hiểu đủ nội dung và ý nghĩa của nghiên cúu khoa học mang lại. Nghiên cứu khoa học ở học sinh THPT gồm có hai lĩnh vực là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hành vi. Thực tế, cả học sinh và giáo viên đa số chú trọng nghiên cứu ở lĩnh vực khoa học tự nhiên và xem nhẹ lĩnh vực khoa học xã hội hành vi do học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa của lĩnh vực khoa học hành vi mang lại.

Hoạt động NCKH của học sinh trong trường THPT hiện nay còn hạn chế về kỹ năng, phương pháp NCKH do chương trình học nặng về kiến thức, nền giáo dục hiện tại quá đặt nặng việc học và thi cử.

Nhà trường chưa thật quan tâm và xem công tác NCKH là nền tảng góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Chế độ chính sách chưa đủ sức thu hút giáo viên hướng dẫn học sinh tham gia NCKH; các trường chưa có chiến lược cho việc hình thành và phát triển phong trào NCKH của học sinh. Trong công tác giáo dục hiện nay thì NCKH ở học sinh trung học phổ thông được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực có đầy đủ các yếu tố đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

  • Theo tìm hiểu thì đề tài về quản lý NCKH trong nhà trường THPT chưa được nghiên cứu.

Căn cứ vào những lí do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dươngđể thực hiện luận văn tốt nghiệp.

2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT để làm khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm cải tiến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể

  • Hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh THPT       .

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

4. Giả thuyết khoa học

Nghiên cứu khoa học trong nhà trường có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng mục tiêu đào tạo đổi mới giáo dục hiện nay. Công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) dành cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có thể đã làm tốt công tác lập kế hoạch và tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, công tác này có thể còn hạn chế ở công tác chỉ đạo và kiểm tra.

Nếu xây dựng được hệ thống lý luận về quản lý hoạt động NCKH dành cho học sinh THPT và đánh giá, phân tích khách quan, chính xác công tác quản lý hoạt động NCKH dành cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động NCKH dành cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh
  • Tìm hiểu, xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
  • Đề xuất một số biện pháp cần thiết, khả thi nhằm cải tiến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Về nội dung

  • Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động NCKH của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

6.2. Về đối tượng khảo sát

  • Cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh tại 01 trường THPT chuyên và 04 Trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.

6.3. Về thời gian

  • Đề tài khảo sát thực trạng trong 02 năm học 2024 – 2025, 2025-2026.

7. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương”, tác giả luận văn sử dụng kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tiến hành thu thập tài liệu, sách báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài để hình thành nên cơ sở lí luận; Thực hiện phân tích nội dung, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn tổng quan về vấn đề nghiên cứu khoa học của học sinh THPT; tổng hợp, phân loại, sắp xếp tài liệu về mặt thời gian, mức độ một cách khoa học để hình thành nên cơ sở lý luận của đề tài.

7.1.1. Quan điểm hệ thống – cấu trúc Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trong nhà trường với giáo dục.

7.1.2. Quan điểm lịch sử – logic

Tìm hiểu họat động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông và công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng tại Việt Nam và trên thế giới. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

7.1.3. Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý hoạt động trên tại tỉnh Bình Dương nói chung và trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một sao cho phù hợp với thực tiễn.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Là phương pháp khảo sát một số lượng lớn các đối tượng nghiên cứu , vào một hay nhiều thời điểm nhằm thu thập số liệu phục vụ cho mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.Xây dựng bảng hỏi phù hợp với các đối tượng có liên quan để tiến hành khảo sát thực trạng NCKH của học sinh THPT và thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý và các chuyên gia .

Mục đích: Xác định rõ thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh và công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường THPT thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; tìm hiểu và thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá một cách chi tiết, đúng đắn về vấn đề nghiên cứu. Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết đối với các biện pháp mà đề tài đề xuất thực hiện.

Nội dung: Thực hiện thiết lập bảng khảo sát dành cho các đối tượng CBQL, GV, HS. Sau đó, tiến hành khảo sát thực tế trên 05 trường ( gồm 01 trường THPT chuyên Hùng Vương và 04 Trường THPT công lập) trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một.

Cách thức tiến hành: Thiết lập 02 phiếu khảo sát thực trạng và 01 phiếu khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất thực hiện. Đối tượng khảo sát được lựa chọn một cách ngẫu nhiên và khách quan.

  • 01 phiếu khảo sát thực trạng đối với đối tượng là CBQL, GV
  • 01 phiếu khảo sát thực trạng đối với đối tượng là HS
  • 01 phiếu khảo nghiệm tính khả thi và cần thiết đối với một số CBQL, GV của của 05 trường THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của 100% CBQL (67/67), 47% GV (210/449) và 6,3 % HS (374/5897) của 05 trường THPT trên địa bàn để tìm hiểu thực trạng công tác nghiên cứu khoa học của học sinh.

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Thu thập thêm thông tin một các trực tiếp; đối chiếu và so sánh kết quả khảo sát thực trạng. Trao đổi các vấn đề đó là thực trạng việc nghiên cứu khoa học của học sinh, việc hướng dẫn và quản lý hoạt động NCKH đối với học sinh của cán bộ quản lý với các đối tượng là học sinh các khối lớp, cán bộ quản lý, giáo viên. Phỏng vấn cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về chất lượng hoạt động NCKH của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Sử dụng ý kiến đóng góp của người được phỏng vấn đối với đề tài nghiên cứu; tập hợp được những ý tưởng mới, sáng tạo, những biện pháp hay đối với việc quản lý hoạt động giáo dục hoạt động NCKH của học sinh tại các trường THPT.

  • Nội dung: Liên quan đến việc quản lý hoạt động NCKH của học sinh tại các trường THPT.
  • Cách thức tiến hành: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp (mặt đối mặt)

7.2.3. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Mục đích: Tìm hiểu thực tế hoạt động quản lý giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh ở 05 trường THPT công lập tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Nội dung: Tìm hiểu cách thức tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh ở 05 trường THPT công lập tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; những nội dung đã được triển khai và hiệu quả mang lại thông qua các hoạt động.

Cách thức tiến hành: Tiến hành nghiên cứu các hồ sơ quản lý; kế hoạch; biên bản; báo cáo sơ kết, tổng kết; sản phẩm sau khi thực hiện của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có liên quan đến hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh ở 05 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Mục đích: Nhằm chứng minh tính khả thi và cần thiết của các biện pháp đề xuất trong quản lí hoạt động giáo dục NCKH của HS tại trường THPT trên địa bàn TP Thủ Dầu Một.

Nội dung: Thực hiện khảo nghiệm các biện pháp đã được đề xuất theo 5 mức độ về tính cấn thiết và khả thi ở các trường THPT tại trường công lập trên địa bàn TP Thủ Dầu Một.

Cách thực hiện: Tổ chức khảo nghiệm và thu kết quả khảo nghiệm để phân tích và đánh giá mức độ cần thiết và khả thi trong các biện pháp đề xuất thông qua sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 22.0 với 67 CBQL và GV đang công tác tại các trường THPT tại trường công lập trên địa bàn TP Thủ Dầu Một.

7.3. Phương pháp xử lí thông tin

Mục đích: Đánh giá một cách chính xác từ những số liệu khảo sát thực tế, đưa ra những nhận định cũng như những phân tích phù hợp trên cơ sở kết quả thu thập được. Đề xuất được một số biện pháp thực hiện mang tính khả thi cao.

Nội dung: Tiến hành mã hóa các câu hỏi (định tính và định lượng) từ bảng khảo sát; thiết lập thông tin và thực hiện các biện pháp tính toán phù hợp với nhu cầu cần phân tích của đề tài nghiên cứu. Xây dựng kết hợp các yếu tố khi phân tích, nhận định ra vấn đề cần quan tâm. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu trên phần mềm SPSS 20.

  • Cách thức tiến hành:

Đối với dữ liệu định tính: các cuộc phỏng vấn và những câu hỏi dạng định tính sẽ được phân tích bằng phương pháp trích lọc nội dung theo từng phần nghiên cứu. Các nội dung này được sử dụng phối hợp với dữ liệu định lượng để làm rõ hơn thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

Đối với dữ liệu định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tiến hành phân tích số liệu sau khi thực hiện khảo sát tại 05 trường THPT công lập trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Kết hợp với phần mềm bảng tính Microsoft Excel 2010 để thu được bảng số liệu cần thiết cho việc nghiên cứu.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Về lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh và công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

9. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo. Luận văn cơ bản gồm 03 chương:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
  • Chương 2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
  • Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên của khoa học và công nghệ. Isaac Newton từng nói “Điều chúng ta biết là một giọt nước. Điều chúng ta không biết là cả một đại dương”. Để tìm hiểu về “đại dương” kiến thức mênh mông ấy và phù hợp với cuộc sống kỉ nguyên công nghệ thì chúng ta không thể bằng lòng với kiến thức hạn hẹp trong những năm học ngồi trên ghế nhà trường mà phải học tập suốt đời . NCKH là công việc lấy đi nhiều công sức và thời gian của chúng ta nhưng qua NCKH chúng ta có thể thấy được một phần của đại dương kiến thức mênh mông, NCKH giúp chúng ta học được, biết được nhiều điều hữu ích cho chính cuộc sống của mình và hơn thế nữa đó là cách để làm cho mỗi chúng ta trở nên có giá trị hơn đối với xã hội.

NCKH đóng vai trò sứ mệnh to lớn trong quá trình giảng dạy ở trường THPT để gắn liền kiến thức với thực tiễn của cuộc sống, là căn cứ để nhà trường cập nhật, thay đổi phương pháp và nội dung giảng dạy nhằm đưa nền giáo dục hội nhập với thế giới.

1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nhà tâm lý Mỹ Carl Rogech ra đời cuốn “Phương Pháp dạy và học hiệu quả” đã đề cao phương pháp dạy học hình thành kĩ năng tự học cho sinh viên như cung cấp tài liệu, chia nhóm, phương pháp hướng dẫn người học tự nghiên cứu tài liệu, tự hoạch định mục tiêu, tự xem xét nguồn tài liệu, tự đánh giá việc học của mình… (Roger (Cao Đình Quát), 2001).

Luật giáo dục cao đẳng nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trong chương 1 điều 10 có ghi : “Nhà nước đảm bảo tự do NCKH, sáng tạo văn học…trong trường cao đẳng theo đúng pháp luật’’ coi đây là biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

Trong chiến lược của Bộ giáo dục Hoa Kỳ năm 1998-2000 xác định những vấn đề ưu tiên cho sinh viên NCKH.

Tác giả Francesco Cordasco và Eliiots S.M. Galner trong tác phẩm Research and Report Writing đã chỉ ra những kĩ năng cụ thể để hình thành NCKH cho sinh viên. (Francesco Cordasco, 1963)

Trong tài liệu ‘ The management of a student research’’ của tác giả Keith Howard và John A.Sharp ( singapore năm 1983) với nội dụng giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu, các vấn đề về chọn lựa đề tài, xây dựng kế hoạch nghiên cứu, tâp hợp, phân tích, xử lý và đánh giá kết quả NCKH. (Keith Howard, 1983)

Nội dung cuốn sách “Research skills for students” năm 1996 , tác giả Brian Allison đã nhấn mạnh các lý thuyết về NCKH, cung cấp kĩ năng thết kế một cuộc điều tra, thiết kế một bảng hỏi và những kĩ thuật khi sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. (Brian Allison, 1996)

Năm 1990, Gary Anderson (New York), trong tác phẩm “ Fundamentals of educational research, tác giả chú trọng đến việc tìm tòi các nguyên tắc, phương pháp cũng như công cụ, kỹ thuật NCKH để huấn luyện cho sinh viên. (Anderson, Gary, 1990)

Trong tài liệu hơn 1000 trang của sổ tay quốc tế Educational Research, Methodology and Measurement do John P.Keeves, Australia, tập thể tác giả đã giới thiệu các quá trình và phương pháp nghiên cứu giáo dục, đặc biệt là các thủ tục và kĩ thuật nghiên cứu, đo lường và sử dụng máy tính và các thiết bị kĩ thuật trong NCKH. (Jonh P.Keeves, 1996)

Theo tác giả Yael Friedler & PinchasTamir, trên trang Web https://doi.org/10.1080/00219266.1986.9654837 đã khẳng định ở trường THPT ở Israel có Dạy các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học cho học sinh trung học. Để cải thiện khả năng của các học sinh trung học, một mô-đun ban đầu có tên “Các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học” đã được phát triển. Mô-đun này bao gồm các lời mời để điều tra và một loạt các bài tập dẫn sinh viên dần dần từ đơn giản đến phức tạp hơn và một số kinh nghiệm giải quyết vấn đề rất phức tạp. Các khái niệm về nghiên cứu khoa học được phát triển trong bối cảnh lịch sử của họ để sinh viên có được hình ảnh thực tế về nghiên cứu khoa học cũng như khả năng làm việc trong việc áp dụng các kỹ năng tìm hiểu vào việc giải quyết các vấn đề mới lạ. Từ đó, học sinh có thể áp dụng các kỹ năng điều tra cơ bản như xác định vấn đề, xây dựng giả thuyết và thiết kế thí nghiệm. (Yael Friedler & PinchasTamir, 2010)

Theo tác giả Mehmet Aydeniz, Kristen Baksa & Jane Skinner trong Tạp chí Khoa học Giáo dục và Công nghệ tập 20, trang 40 (2011) có bài viết về: ”Hiểu về tác động của chương trình nghiên cứu khoa học dựa trên học việc đối với học sinh trung học”. Mục đích của nghiên cứu này là để hiểu tác động của chương trình học nghề đối với học sinh trung học. Hiểu về bản chất của yêu cầu khoa học. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Hiểu biết về khoa học và nghiên cứu khoa học được thu thập thông qua bảng câu hỏi mở. Các phát hiện cho thấy rằng mặc dù tham gia vào nghiên cứu khoa học đích thực đã giúp những người tham gia phát triển năng lực trong các phương pháp thử nghiệm (Kristen Baksa & Jane SkinnerMehmet Aydeniz, 2011)

Theo tác giả Lesley F. Roberts và Richard J. Wassersug trong tạp chí Nghiên cứu Khoa học Giáo dục tập 39, trang251 Từ256 (2009) ,các tác giả cũng thực hiện đã kiểm tra một chương trình nghiên cứu khoa học mùa hè thực hành cho học sinh trung học kéo dài từ năm 1958 đến năm 1972. Họ so sánh những người tham gia chương trình đó với sinh viên khoa học chỉ bắt đầu trải nghiệm nghiên cứu thực hành một lần ở trường đại học. Kết luận chỉ ra rằng những học sinh quan tâm đến khoa học và có cơ hội tham gia nghiên cứu khoa học ban đầu trong khi ở trường trung học có nhiều khả năng hơn trong việc bước vào và duy trì sự nghiệp trong khoa học so với những sinh viên mới NCKH khi vào đại học.

Các tác giả đã cho thấy rằng các chương trình nghiên cứu khoa học trung học thực hành nhiều hơn có thể giúp tăng số lượng học sinh tham gia và duy trì sự nghiệp khoa học. (Wassersug, 2009).

Tác giả Constance Hammond, David Karlin, Jean Thimonier ở Pháp có bài viết “Kinh nghiệm nghiên cứu khoa học sáng tạo cho trường trung học” mong muốn cung cấp một phong cách giảng dạy cho học sinh nghiên cứu khoa học bằng cách nhen nhóm bản chất tò mò, trí tưởng tượng, sáng tạo. Giúp học sinh trung học hiểu ý nghĩa của khoa học, cách khám phá thế giới theo cách các nhà khoa học làm việc. Bài viết có đề cập đến nghiên cứu xây dựng cầu nối giữa trường trung học sinh viên và các nhà khoa học, phòng thí nghiệm ở hội đồng nghiên cứu y học Pháp ở Đại học Aix-Marseille, Pháp. Học sinh có thể tham gia vào dự án thu nhỏ của nghiên cứu. Chiến lược này giúp học sinh học hỏi các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu, bao gồm suy nghĩ phức tạp và phê phán, phương pháp thí nghiệm, và làm việc nhóm,…. (Constance Hammond, David Karlin, Jean Thimonier, 2010)

Tại các trường phổ thông của Hàn Quốc hiện nay, các giáo viên đều được tham gia các lớp huấn luyện, đào tạo chuyên về khoa học và hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học và được cấp chứng chỉ về nghiên cứu. Do đó, giáo viên có thể tự tin huấn luyện cho các em học sinh nghiên cứu khoa học và giúp các em biến ý tưởng thành hiện thực. Các viện nghiên cứu khoa học có trách nhiệm hỗ trợ các chương trình nghiên cứu của người dân, trong đó có cả việc hỗ trợ cho các học sinh trung học nghiên cứu. Trong khi việc nghiên cứu khoa học trong các trường phổ thông tại Hàn Quốc luôn được hỗ trợ và dồn nhiều nguồn lực để “ươm mầm” (Hà Lan, 2025)

Ở nước ngoài, nhà nước cũng như các nhà giáo dục luôn đề cao vai trò của NCKH trong sinh viên ở các trường cao đẳng và đại học, cũng như việc NCKH ở học sinh THPT. Qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy rằng các tác giả không những quan tâm đến phương pháp luận về NCKH của sinh viên mà còn rất chú trọng việc tổ chức, kĩ năng NCKH để trang bị cho sinh viên . Có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp, cách thức giảng dạy, cách thức hướng dẫn học sinh THPT để tăng cường cho học sinh THPT khả năng tư duy sáng tạo trong bước đầu NCKH. Ở các nước phát triển, việc đầu tư cho bước đầu NCKH của học sinh THPT rất được ưu tiên.

1.1.2. Nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến khoa học công nghệ, Người cho rằng khoa học công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp đấu tranh và giải phóng dân tộc. Muốn xây dựng và phát triển đất nước thì phải quan tâm tới khoa học công nghệ, Người không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật để phục vụ nước nhà. (Hồ Chí Minh, 1996)

Từ nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của công tác quản lý hoạt động NCKH mà đã có các nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về tính hiệu quả của nó qua các đề tài như

Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH và lao động sản xuất trong nhà trường” mã số B91-38-14 do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm.

Năm 1995 Viện nghiên cứu phát triển giáo dục được Bộ GD&ĐT giao chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ của các trường đại học và cao đẳng Việt Nam” đề tài độc lập cấp Bộ, do Thân Đức Hiền làm chủ nhiệm.

Phan Huy Lê trong bài viết việc bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên đại học, đã đề xuất cách bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu cho sinh viên khi giảng dạy là kết hợp giảng kiến thức với phương pháp để họ không chỉ nâng cao kiến thức mà còn được rèn luyện tư duy, bồi dưỡng phương pháp khoa học. Bài viết “Công tác nghiên cứu khoa học với việc nâng cao chất lượng đào tạo” của Nguyễn Tấn Phát. Các tác giả đều nhấn mạnh việc đưa NCKH vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo ở các trường sư phạm. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Năm 1992, giáo trình “Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”của tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức đã đưa ra những khái niệm chung về phương pháp luận khoa học giáo dục, những nguyên tắc phương pháp luận và những giai đoạn nghiên cứu một đề tài khoa học để trang bị cho sinh viên , học sinh những kỹ năng cần thiết về NCKH.

Các giáo trình về phương pháp NCKH hay phương pháp luận NCKH của các tác giả : Phạm Viết Vượng, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Hộ,… đều nhằm cung cấp những kiến thức chung về phương pháp luận, cấu trúc công trình NCKH.

Tại hội thảo ngày 13/10/2025 Bộ GD&ĐT đã tổ chức hội thảo công tác đẩy mạnh công tác NCKH ở trường phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung của buổi hội thảo là những báo cáo chuyên đề liên quan đến công tác hướng dẫn học sinh NCKH, đánh giá dự án KH, lắng nghe những chia sẻ kinh nghiệm về công tác quản lý NCKH của học sinh ở trường phổ thông. Buổi hội thảo cho thấy rằng việc tham gia NCKH chính là khuyến khích các em nghiên cứu, sáng tạo, tự học, biết cách vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống. (sở giáo dục và đào tạo tỉnh ĐồngNai, 18/09/2025)

Điều này góp phần thúc đẩy đổi mới nội dung, chương trình, đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập; nâng cao chất lượng dạy học trong các cơ sở giáo dục trung học…

Thứ trưởng Bộ giáo dục Nguyễn Hữu Độ hi vọng, mỗi cán bộ quản lý, giáo viên sẽ là những tuyên truyền viên tích cực để đồng nghiệp, học sinh và phụ huynh của mình hiểu được mục đích, ý nghĩa và vai trò quan trọng của việc NCKH của học sinh.

Coi đây là một giải pháp quan trọng trong thời gian trước mắt góp phần đổi mới chất lượng giáo dục phổ thông, góp phần thực hiện hiệu quả của dạy học liên môn, giáo dục theo phương pháp STEM, tăng cường rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu, phát huy sự sáng tạo của học sinh… (Giáo dục thời đại, 2024).

Tại hội thảo ngày 13/10/2023 vể tổ chức hoạt động NCKH kĩ thuật của học sinh trường phổ thông tại trường chuyên Lê Quí Đôn, thành phố Vũng Tàu. Thứ trưởng bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Nghĩa khẳng định việc NCKH ở lứa tuổi học sinh phổ thông là lứa tuổi đang tập làm quen, đi những bước khởi đầu trong công tác tìm hiểu và NCKH. Vì vậy, nhà quan lý giáo dục cần phải tạo ra sân chơi thật sự đúng nghĩa, thiết thực, vừa sức với các em, làm sao để thông qua sân chơi khoa học này, giúp học sinh phát triển năng lực, phẩm chất tốt nhất, tiến đến đổi mới sáng tạo trong công tác dạy và học. (Giáo dục thời đại, 2023)

Như vậy, qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy rằng các tác giả trong nước đề cao ý nghĩa của việc NCKH trong nhà trường, chủ yếu đã đưa ra những lý thuyết về phương pháp luận, nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH trong nhà trường (cụ thể là trường đại học), còn rất ít những nghiên cứu lý luận về hoạt động NCKH và quản lý NCKH trong nhà trường THPT. Bộ GD&ĐT đã cho biết những ý nghĩa to lớn và cho biết sự quan tâm đặc biệt, cũng như những định hướng của nhà quản lý về của hoạt động NCKH của học sinh THPT.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

1.2.1. Khái niệm nghiên cứu khoa học, hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

  • Khái niệm khoa học

Khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ảnh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như của hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực. Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. (Viện nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, 2026)

Theo https://voer.edu.vn/ thì khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,… về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. (Tài nguyên giáo dục mở, 2026)

Trong đề tài này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học của Luật khoa học và công nghệ hiện hành. Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, qui luật của tự nhiện, xã hội và tư duy. Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, khoa học đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra cơ sở vật chất của xã hội, hoàn thiện các quan hệ xã hội và hình thành con người mới.

  • Nghiên cứu khoa học Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường. (Viện nghiên cứu phát triển TP Hồ Chí Minh, 2026)

Là một hoạt động trí tuệ có đích, có hệ thống nhằm đạt đến sự hiểu biết khách quan về các sự vật, hiện tượng, các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; trên cơ sở đó sáng tạo các giải pháp tác động vào các sự vật, hiện tượng nhằm phục vụ lợi ích, nhu cầu của con người, của xã hội.

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội hướng vào tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để cải tạo thế giới”. (Vũ Cao Đàm, 1998)

Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2013), Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.

Theo tác giả Nguyễn Viết Vượng cho rằng nghiên cứu khoa học là hoạt động nhận thức thế giới khách quan, là quá trình sáng tạo, phát hiện chân lý, phát hiện những qui luật của thế giới, do độ ngũ các nhà khoa học thực hiện, nhằm vận dụng những hiểu biết ấy vào cuộc sống.

Luật khoa học và công nghệ 2000 qui định nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu sự vật hiện tượng, qui luật tự nhiên, xã hội, tư duy, sáng tạo các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn.

Như vậy, nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Hoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội. Chủ thể của NCKH là các nhà khoa học có phẩm chất trí tuệ và tài năng đặc biệt được đào tạo bài bản. Khách thể của NCKH là sự vật, hiện tượng, tư duy mà nhà khoa học đã nghiên cứu, khám phá ra.

Nghiên cứu khoa học còn có vai trò làm thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của người đọc, thuyết phục người đọc tin vào bản chất khoa học và kết quả thực nghiệm nhằm đưa người đọc đến quyết định và hành động phù hợp để cải thiện tình hình của các vấn đề đặt ra theo chiều hướng tốt hơn. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Hoạt động nghiên cứu khoa học

Hoạt động NCKH chính là quá trình NCKH, đó là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm là hệ thống tri thức khoa học đã và đang được ứng dụng vào thức tiễn. Hoạt động nghiên cứu là tổ hợp của nghiên cứu, nghiên cứu ứng dụng và trển khai được mục tiêu của khoa học đề ra. Hoạt động NCKH cũng giống như hoạt động sản xuất, hoạt động giáo dục….

  • Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

Nghiên cứu khoa học của học sinh là một quá trình tác động của chủ thể quản lý đến học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức thế giới khách quan, vận dụng những tri thức mới nhằm cải tạo thực tiễn.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT: là những hoạt động khám phá những điều mới mẻ đối với học sinh trong phạm vi giáo dục của nhà trường. Hoạt động NCKH của học sinh khác với hoạt động NCKH của các nhà khoa học về qui mô, độ khó, tính mới của vấn đề nghiên cứu. Cái mới trong hoạt động NCKH của học sinh là cái mới đối với nhận thức của học sinh, không bắt buộc phải là cái mới của nhân loại. Hoạt động NCKH của học sinh thường mang tính chất tập dượt nghiên cứu là chính. Tuy vậy hoạt động NCKH của học sinh phải đảm bảo các bước cơ bản của một quá trình NCKH. (Cao Thị sông Hương, 2025)

Hoạt động NCKH đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao. Hoạt động nghiên cứu khoa học giúp học sinh từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phương pháp nghiên cứu, tự tu dưỡng, rèn luyện những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đề ra, học sinh bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học, qua đó có thể mở rộng, đào sâu và hoàn thiện vốn hiểu biết.

Qua hoạt động nghiên cứu khoa học, học sinh có điều kiện rèn luyện, thể hiện tài năng của mình. Thực hiện được phương hướng này sẽ có hai tác dụng quan trọng là giúp học sinh có tiềm lực hoạt động khoa học, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức khoa học của bản thân để góp phần giải quyết những vấn đề khoa học mới do thực tiễn cuộc sống nảy sinh, rèn luyện tác phong phẩm chất tốt đẹp của nhà nghiên cứu (làm việc có kế hoạch, tỉ mỉ, nghiêm túc…), có tác dụng rèn luyện học sinh phương pháp tư duy, tạo điều kiện cho hoạt động tự học, tự chiếm lĩnh tri thức. Đồng thời nó còn làm cho nhà trường THPT và học sinh có điều kiện thâm nhập thực tiễn xã hội, hòa được vào nhịp sống xã hội và tích cực đóng góp có hiệu quả vào sự phát triển của xã hội.

1.2.2. Quản lý Nhà trường, quản lý trường trung học phổ thông

  • Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm về quản lý nhà trường như sau:

Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 1996)

Theo Thái Văn Thành: “Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản lý vĩ mô. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến” (Thái Văn Thành, 2007)

Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. Những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau.

  • Quản lý trường THPT

Quản lí trường trung học phổ thông thực chất là quản lí quá trình giáo dục, đào tạo. Tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo có rất nhiều nhân tố khác nhau: mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, đội ngũ người dạy, tập thể người học, hình thức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, bộ máy đào tạo, quy chế đào tạo. Quản lí trường trung học phổ thông chính là quản lí những nhân tố đó, trong đó quản lí đội ngũ người dạy và tập thể người học được coi là trung tâm, vì đây là các nhân tố tạo động lực của quá trình giáo dục, đào tạo.

Quản lí nhà trường trung học phổ thông có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên và học sinh và các lực lượng trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến. (Trần Kiểm, 2002)

Như vậy, quản lí nhà trường trung học phổ thông là hệ thống tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhà trường (hiệu trưởng; các phó hiệu trưởng) đến tập thể đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và các điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

1.2.3. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

Theo tác giả Vương Thanh Hương: Quản lý NCKH “Là công tác tổ chức và quản lý việc thực hiện đề tài, đề án, chương trình khoa học – công nghệ theo những quy trình được thống nhất nhằm đạt được kết quả và hiệu quả cao nhất”

  • Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh

Quản lý hoạt động NCKH của học sinh là tác động của chủ thể quản lý đến hoạt động NCKH của học sinh nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, thúc đẩy phong trào NCKH của học sinh trong trường.

Quản lý hoạt động NCKH của học sinh là tập trung vào các điều kiện,biện pháp, cơ chế, xây dựng các quy chế để thúc đẩy, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của học sinh, đồng thời khơi dậy lòng say mê khoa học ở học sinh, phát hiện những tài năng trẻ để bồi dưỡng đào tạo. Nếu khéo tổ chức và hỗ trợ thì chắc chắn học sinh sẽ tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị cao.

Nội dung công tác quản lý NCKH của học sinh bao gồm việc quản lý học sinh tham gia thực hiện các đề tài NCKH, các dự án… dưới sự hướng dẫn của giáo viên; học sinh tham gia áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào thực tiễn; học sinh tham gia các cuộc thi như sáng tạo trẻ, khoa học kĩ thuật các cấp, hoạt động trãi nghiệm sáng tạo trẻ,và các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc học tập và làm việc tại trường THPT.

Tóm lại, việc quản lý NCKH của học sinh THPT là thực hiện một cơ chế quản lý tối ưu nhằm sử dụng nguồn lực trong nhà trường một cách có hiệu quả. Tiếp cận đặc điểm học sinh THPT, tiếp cận đặc điểm hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của học sinh , tiếp cận đặc điểm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý học sinh , tiếp cận tổng hợp (văn hoá- đạo đức, tâm lý…) sẽ giúp xây dựng cơ chế thích hợp cho việc quản lý học sinh nói chung và việc quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học nói riêng của học sinh THPT

1.3. Lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

1.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trường trung học phổ thông

NCKH của học sinh THPT là những hoạt động giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, học đi đôi với hành; đồng thời là cách tiếp cận, làm quen với phương pháp, kỹ năng NCKH, rèn luyện cách làm việc tự lực, làm việc nhóm và phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và sinh hoạt. Từ đó, nhằm phát hiện các tài năng, là cơ sở xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nghiên cứu khoa học giúp học sinh bổ sung những kiến thức không được học trong chương trình chính khóa, lấp đầy những kiến thức về đời sống xã hội để làm giàu vốn sống cho bản thân. Trong quá đi khảo sát hay thực tế, các học sinh sẽ phải vận dụng những kỹ năng ít khi dùng đến, qua đó em hiểu sâu hơn hơn về những điều còn bỏ ngỏ ở trường phổ thông hay những bài học trong sách.

NCKH giúp học sinh đào sâu hơn những kiến thức được học. Nghiên cứu khoa học sẽ phát huy khả năng phân tích, đánh giá, liên tưởng, kết hợp với những điều mới để giải quyết những vấn đề đang quan tâm, thắc mắc,… từ một vấn đề sẽ mở rộng ra nhiều vấn đề làm phong phú kiến thức cũng như vốn sống chúng ta.

NCKH giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng như thuyết trình ,viết báo cáo, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng tổ chức,…học sinh trở thành trung tâm của giáo dục.

Học sinh NCKH trong nhà trường góp phần tích cực vào việc đổi mới giáo dục, đổi mới phổ thông theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học. Hoạt động NCKH là môi trường để học sinh nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo, khơi dậy sự nhiệt tình, tính chủ động say mê NCKH; giúp học sinh phát huy được tính sáng tạo, phát triển năng lực nghiên cứu, phong cách làm việc khoa học. (Giáo dục thời đại, 2025)

Với các thầy cô giáo, hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học giúp chính thầy cô đổi mới cách dạy học, nếu định hướng tốt, các thầy cô còn giúp các em học sinh phát huy tối đa khả năng chủ động, sáng tạo và thu nhận nhiều kiến thức hữu ích trong quá trình nghiên cứu. Từ đó, thầy cô có thể đổi mới cả cách đánh giá kết quả học tập của học sinh và tiến tới nâng cao chất lượng giảng dạy. (Hà Lan, 2025)

1.3.2. Nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Nghiên cứu các đề tài thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hành vi.
  • Nghiên cứu các dự án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hành vi.
  • Nghiên cứu các đề án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội hành vi.
  • Tham gia vào các cuộc thi sáng tạo KHKT các cấp, cuộc thi sáng tạo trẻ, các hoạt động trải nghiệm, giáo dục stem với các lĩnh vực sau: khoa học động vật, khoa học xã hội hành vi,hóa sinh, y sinh và y học sức khỏe, kĩ thuật y sinh, sinh học tế bào và phân tử, sinh học trên máy tính và sinh tin, khoa học trái đất và môi trường, hệ thống nhúng , năng lượng hóa học, năng lượng vật lý, kĩ thuật cơ khí , kĩ thuật mội trường, khoa học vật liệu , toán học, vi sinh , vật lý và thiên văn, khoa học thức vật , robot và máy tính thông minh, phần mềm và hệ thống, y học chuyển dịch.(theo thông tư 32/2023 của Bộ GDĐT)
  • Hoạt động câu lạc bộ kỹ năng.
  • Liên kết NCKH với các trường đại học trong và ngoài tỉnh.

1.3.3. Phương pháp nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn là các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vận động của đối tượng đó, giúp người nghiên cứu thu thập thông tin hoặc làm nảy sinh các ý tưởng nghiên cứu và đề xuất sáng tạo.
  • Phương pháp quan sát khoa học: Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó.
  • Phương pháp điều tra: Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn.
  • Phương pháp thực nghiệm khoa học: Là phương pháp thu thập các sự kiện trong những điều kiện được tạo ra một cách đặc biệt (tạo ra kinh nghiệm mới, lý thuyết mới để khẳng định những mối liên hệ dự kiến sẽ có trong những điều kiện mới) đảm bảo cho sự thể hiện tích cực, chủ động của các hiện tượng, sự kiện nghiên cứu.
  • Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, đem lý luận phân tích thực tế, từ phân tích thực tế lại rút ra lý luận cao hơn.
  • Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia là phương pháp có ý nghĩa kinh tế, nó tiết kiệm về thời gian, sức lực, tài chính để triển khai nghiên cứu.

Tuy nhiên nó chủ yếu dựa trên cơ sở trực cảm hay kinh nghiệm của chuyên gia, vì vậy chỉ nên sử dụng khi các phương pháp không có điều kiện thực hiện, không thể thực hiện được hoặc có thể sử dụng phối hợp với các phương pháp khác.

  • Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu lý thuyết thường bắt đầu từ phân tích các tài liệu để tìm ra cấu trúc, các xu hướng phát triển của lý thuyết. Từ phân tích lý thuyết, lại cần tổng hợp chúng lại để xây dựng thành một hệ thống khái niệm, phạm trù tiến tới tạo thành lý thuyết khoa học mới.
  • Phương pháp lịch sử: là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó đã từng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong).

1.3.4. Hình thức nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

  • Thông qua công tác tuyên truyền dưới cờ.
  • Tuyên truyền, triển lãm thành tựu NCKH của học sinh trong và ngoài nhà trường.
  • Tổ chức diễn đàn. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
  • Bố trí phòng sinh hoạt các câu lạc bộ và hoạt động câu lạc bộ kỹ năng.
  • Giảng dạy tích hợp, lồng ghép.
  • Liên kết NCKH với các trường đại học trong và ngoài tỉnh.
  • Phối kết hợp với chính quyền, gia đình, các tổ chức chính trị-xã hội trong và ngoài nhà trường về vấn đề NCKH.
  • Ngoại khóa, trải nghiệm sáng tạo, tổ chức các cuộc thi sáng tạo trẻ, hội thi ý tưởng,…
  • Theo thông tư 32/2023 có hai hình thức dự án NCKH của HS tại trường THPT là dự án khoa học và dự án kỹ thuật.

Tiêu chí đánh giá một dự án / đề tài NCKH của HS theo thông tư 32/2023 của Bộ GDĐT

  • Câu hỏi nghiên cứu (10 điểm)/ Vấn đề nghiên cứu (10 điểm)
  • Thiết kế và phương pháp (15 điểm)
  • Thực hiện: thu thập, phân tích và giải thích dữ liệu (20 điểm)/ Thực hiện:
  • Xây dựng và kiểm tra (20 điểm)
  • Tính sáng tạo (20 điểm)
  • Trình bày (35 điểm): ) Áp phích (Poster) (10 điểm) và Phỏng vấn (25 điểm)

1.4. Lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

1.4.1 Tầm quan trọng của quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

Làm gì để học sinh đam mê NCKH? Làm sao để hoạt động NCKH được nhân rộng và phát triển thực chất trong các nhà trường là vấn đề đòi hỏi có sự vào cuộc từ phía các thầy cô giáo và Ban Giám hiệu nhà trường.

Nhà trường cần tổ chức các hoạt động trải nghiệm, tìm kiếm ý tưởng và tổ chức các cuộc thi cấp trường bắt đầu bằng việc phát động xây dựng “Ý tưởng sáng tạo” trong học sinh. Ý tưởng phải xuất phát từ chính bản thân học sinh trong quá trình học tập và nhu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn đời sống. Học sinh hiện thực hóa ý tưởng một cách tự nguyện, đam mê và kiên trì thực hiện.

Việc giải quyết vấn đề kinh phí và cơ sở vật chất đầu tư cho hoạt động NCKH cần có sự hỗ trợ, kết hợp từ phía nhà trường với Ban đại diện cha mẹ học sinh ngay từ đầu năm học để dự toán hỗ trợ nguồn kinh phí cho các đề tài. Làm tốt công tác vận động, huy động nguồn kinh phí để hỗ trợ công tác NCKH… Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Việc tài trợ cho nghiên cứu và vấn đề chất lượng đòi hỏi có sự đồng thuận. Có những yêu cầu kiểm soát về đạo đức nghiên cứu và về pháp lý phải được tuân thủ. Nghiên cứu cũng có thể chứa đựng nhiều rủi ro, chấp nhận rủi ro là một phần không thể thiếu, nhưng rủi ro cũng cần phải được nhận thức rõ và được quản lý.

Nhà trường phải làm sao để hoạt động NCKH trong học sinh là môi trường để học sinh nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo, khơi dậy sự nhiệt tình, tính chủ động say mê NCKH; giúp học sinh phát huy được tính sáng tạo, phát triển năng lực nghiên cứu, phong cách làm việc khoa học, sự tìm tòi, ý thức mong muốn cải tiến và đổi mới trong chính mỗi sản phẩm nghiên cứu của mình.

Mục đích của việc lên kế hoạch là xác định ưu tiên cho phát triển và tác động đến việc triển khai nguồn lực.Trong nghiên cứu khoa học của nhà trường, nếu các nhà lãnh đạo không tập trung vào thế mạnh của mình và xây dựng cho nó phát triển, họ sẽ khiến nhà trường bị bất lợi một cách nghiêm trọng. Nếu không nắm bắt được những cơ hội tốt nhất khi nó đến, thì những sáng kiến đề xướng đó có thể sẽ bị dập tắt và kế hoạch nghiên cứu sẽ gặp nguy cơ trở thành phản tác dụng.

Nếu không có sự quản lý nghiên cứu khoa học của các nhà quản lý trong nhà trường, chỉ để cá nhân làm NCKH thì sẽ giảm năng suất của hoạt động NCKH vì điều kiện nghiên cứu của nhà trường tác động trực tiếp đến hoạt động NCKH của cá nhân. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào quản lý có hiệu quả theo một cách nào đó duy trì được một môi trường làm việc trong đó hoạt động nghiên cứu có thể nảy nở và đơm hoa kết trái.

NCKH là hoạt động hữu ích, hỗ trợ tích cực cho hoạt động chuyên môn trong nhà trường. Việc thành công hay thất bại khi thực hiện dự án NCKH đều mang lại một giá trị nhất định cho học sinh. Do đó, NCKH tại nhà trường là hoạt động ươm mầm cho tương lai, hình thành và phát triển cho học sinh tố chất và năng lực của người làm công tác nghiên cứu sau này và những lợi ích mà chỉ trải qua thực hiện NCKH, học sinh mới có cơ hội được tiếp cận, rèn luyện, trải nghiệm trong thực tiễn…

1.4.2. Quản lý hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trường trung học phổ thông theo quan điểm tiếp cận theo chức năng

Mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh THPT là nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo, khơi dậy sự nhiệt tình, tính chủ động say mê NCKH; giúp học sinh phát huy được tính sáng tạo, phát triển năng lực nghiên cứu, phong cách làm việc khoa học, sự tìm tòi, ý thức mong muốn cải tiến và đổi mới trong chính mỗi sản phẩm nghiên cứu của mình. Để làm được điều này, nhà quản lý cần thực hiện một quy trình quản lý từ việc lập kế hoạch, xác định mục tiêu hoạt động NCKH, đề xuất, định hướng những vấn đề mang tính thời sự, để công tác NCKH hướng vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, làm cho công tác NCKH có hiệu quả thiết thực.

Với tiếp cận chức năng quản lí, quản lí hoạt động giáo dục NCKH bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục NCKH. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

  • Xây dựng chiến lược và kế hoạch hóa nhiệm vụ giáo dục NCKH của học sinh trung học phổ thông

Nhà quản lý cần phải xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể nhằm khai thác hết các chức năng quản lý giáo dục, đồng thời cũng vạch ra kế hoạch có tính chiến lược cho hoạt động này dựa trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo của nhà trường một cách cụ thể.

  • Xác định và hình thành ý tưởng, mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh.
  • Lên kế hoạch đảm bảo nguồn nhân lực, tài lực, vật lực, trí lực của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu quản lý hoạt động NCKH của học sinh.
  • Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH.
  • Lập kế hoạch đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH.
  • Lập kế hoạch tổ chức sân chơi cho học sinh tham gia
  • Lập kế hoạch liên kết học tập với các trường đại học, gặp gỡ các chuyên gia.
  • Kế hoạch thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục học sinh NCKH ở trường THPT.
  • Kế hoạch thành lập ban kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục học sinh NCKH ở trường THPT.
  • Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các đoàn thể trong trường trong việc tổ chức thực hiện giáo dục NCKH cho học sinh.

Tổ chức, triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

  • Tổ chức, triển khai kế hoạch NCKH của học sinh THPT là giai đoạn cụ thể hóa những ý tưởng đã được kế hoạch hóa nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
  • Nhà trường xác định nội dung giáo dục cho học sinh Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán trong NCKH.
  • Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị, các phòng thí nghiệm phục vụ NCKH.
  • Hình thành các tập thể nghiên cứu mạnh dưới sự dẫn dắt của các giáo viên cốt cán khoa học đầu đàn.
  • Hình thành các câu lạc bộ như robocon, olimpia, văn học, …tạo điều kiện cho HS có sân chơi bổ ích.
  • Tổ chức, chỉ đạo cho các đoàn thể, các tổ chuyên môn về nội dung, thời gian, địa điểm hoạt động của các câu lạc bộ, các hội thi liên quan đến NCKH trong nhà trường.
  • Tổ chức cho giáo viên hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch các đề tài, dự án.
  • Tổ chức, chỉ đạo duyệt kinh phí, bố trí thời gian, thời điểm thực hiện hợp lí.
  • Tổ chức cho giáo viên, học sinh tham gia các lớp tập huấn về
  • Tổ chức, chỉ đạo học tập NCKH cho học sinh với các trường đại học, học sinh có cơ hội tiếp xúc với các chuyên gia.
  • Tổ chức các cuộc thi trong nhà trường như ‘hội thi ý tưởng’’, ‘sáng tạo trẻ’’,…
  • Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các thành tựu NCKH của học sinh trong tỉnh, ngoài tỉnh, trên thế giới.
  • Thành lập ban chỉ đạo hoạt động giáo dục NCKH của học sinh ở trường THPT.
  • Thành lập ban kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục NCKH của học sinh ở trường THPT.

Chỉ đạo hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

Chi bộ nhà trường, ban giám hiệu, các tổ chức bên trong nhà trường chỉ đạo hoạt động NCKH của học sinh bao hàm việc liên kết, tập hợp, hướng dẫn, điều hành, tác động đến các cá nhân, các đơn vị, các tổ chức đoàn thể…

  • Hiệu trưởng ra quyết định thành lập ban quản lý hoạt động NCKH của học sinh.
  • Chỉ đạo giáo viên các bộ môn toán, lý, hóa, tin , các môn xã hội thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.
  • Phân công các tổ chuyên môn, cán bộ giáo viên tìm hiểu tài liệu, các nghiên cứu về các lãnh vực đề tài, dự án NCKH, chuẩn bị các điều kiện thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH.
  • Hiệu trưởng ra quyết định tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi ý tưởng, sáng tạo trẻ…
  • Hướng dẫn cụ thể học sinh hoạt động NCKH ở các câu lạc bộ.
  • Tuyên dương khen thưởng cá nhân tập thể thực hiện tốt hoạt động NCKH Lãnh đạo nhà trường thường xuyên động viên, khích lệ, tạo động lực cho giáo viên hướng dẫn và học sinh thực hiện NCKH .
  • Tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và hỗ trợ kinh phí triển khai NCKH, cũng như các giải thưởng vinh danh các đề tài tiên tiến xuất sắc góp phần tạo lợi ích về vật chất cũng như tinh thần của học Từ đó, học sinh có thêm động lực tham gia nhiều hơn hoạt động NCKH, phát huy trí tuệ, tiềm năng, ý chí, trách nhiệm, niềm tự hào và lòng say mê NCKH.
  • Quan tâm đến việc lựa chọn học sinh thực hiện. Phối hợp với gia đình, các doanh nghiệp để hỗ trợ về kinh phí thực hiện dự án. Động viên, khuyến khích, tạo động lực cho học sinh tham gia và hoàn thành NCKH.
  • Thường xuyên kiểm tra, rút kinh nghiệm.

Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục nghiên cứu khoa học của học sinh trung học phổ thông

  • Kiểm tra việc thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung NCKH khi giảng dạy trên lớp.
  • Kiểm tra các tổ chuyên môn, giáo viên, học sinh về tiến trình thực hiện các nội dung đề tài, dự án NCKH.
  • Kiểm tra hoạt động NCKH ở các câu lạc bộ.
  • Đánh giá ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo (trong và ngoài nhà trường), cuộc thi ý tưởng, sáng tạo trẻ…
  • Đánh giá hoạt động liên kết NCKH với các trường đại học, liên kết với các chuyên gia.
  • Đánh giá của nhà quản lý về hoạt động NCKH của HS có thể được liệt kê và đánh giá qua sản phẩm là số lượng các bài báo, sản phẩm NCKH, báo cáo chuyên đề, hội thảo cấp trường, số lượng các đề tài, sản phẩm đạt giải trong các kỳ thi sáng tạo KHKT dành cho học sinh.
  • Đánh giá ứng dụng kết quả NCKH và công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.
  • Các sản phẩm NCKH được vận dụng vào thực tiễn. Trưng bày các sản phẩm và ứng dụng của sản phẩm vào phòng truyền thống.
  • Điều chỉnh kế hoạch, phương thức tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục NCKH cho HS cho phù hợp mang lai hiệu quả tốt hơn.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh trường trung học phổ thông Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

1.5.1 Yếu tố khách quan

Sự quan tâm, giúp đỡ, động viên về vật chất, tinh thần của gia đình. Trong quá trình hoạt động NCKH của HS không có sự hỗ trợ từ phía gia đình nên công tác mua vật tư đến kinh phí thực nghiệm thiếu thốn, sự động viên của gia đình cũng hạn chế bởi không ít phụ huynh cho rằng việc NCKH sẽ ảnh hưởng đến việc học tập ở nhà trường. Sự quan tâm của các mạnh thường quân như hội phụ huynh, các cơ quan đơn vị. Được sự đồng thuận trên sẽ tạo điều kiện cho nhà trường vận dụng được tài lực phục vụ cho việc phát triển NCKH trong nhà trường. Nguồn lực tài chính cho hoạt động giáo dục NCKH của HS. Nguồn kinh phí để nghiên cứu các dự án khoa học còn hạn hẹp. Nhiều dự án chỉ dừng lại ở mặt ý tưởng bởi khả năng thực thi là không thể và vượt qua ngoài khả năng của HS, phụ huynh và nhà trường về mặt kinh phí.

Hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục và dạy học. Về phía các nhà trường hiện nay, còn thiếu các điều kiện để nghiên cứu, đặc biệt là phòng thí nghiệm, dẫn đến nhiều dự án không thành công như mong đợi.

Chế độ, chính sách, khen thưởng với HS và giáo viên hướng dẫn. Hiện tại ngành giáo dục chưa có một văn bản chính thức về chế độ, chính sách khen thưởng cho HS và giáo viên hướng dẫn, việc khen thưởng tùy thuộc vào tình hình kinh tế của từng địa phương, từng trường.

Sự phát triển của Khoa học công nghệ, cuộc cách mạng 0 như hiện nay là điều kiện tốt nhất của các nhà quản lý, cũng như học sinh và giáo viên hướng dẫn có đầy đủ các điều kiện nghiên cứu, học tập, tham khảo.

Nội dung, chương trình các môn học trong nhà trường THPT. Chương trình giáo dục của trung học phổ thông nặng nề về kiến thức hàn lâm, thiếu thực hành thí nghiệm, các môn học không có sự kết hợp liên môn. Do đó HS rất khó khăn trên con đường tìm kiếm các ý tưởng NCKH, lên kế hoạch để phát triển NCKH.

Sự hội nhập và giao lưu học tập với các trường đại học, các đơn vị. Nhiều HS thiếu sự chủ động để nhận được tư vấn từ các nhà khoa học trong các trường ĐH, viện nghiên cứu. Bản thân các em tự mày mò nên đi sai định hướng cần nghiên cứu ban đầu hoặc trong quá trình thực nghiệm gặp khó khăn nên không đạt được hiệu quả.

1.5.2. Yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường. Nhà trường thường tập trung giáo dục văn hóa, ít chú trọng giáo dục NCKH. Một số giáo viên còn cho rằng đây chỉ là những hoạt động phong trào. Công tác giáo dục NCKH cho HS cần được chú trọng vì ý nghĩa to lớn trong đổi mới giáo dục hiện nay.

Kiến thức, năng lực của cán bộ quản lý, giáo viên. Bản thân trong đội ngũ cán bộ quản lý, GV nhiều người còn chưa có kinh nghiệm trong quản lý NCKH, GV ngại khó, sợ thêm việc nên thiếu sự nhiệt tình. Thậm chí nhiều thầy cô khá bỡ ngỡ, lúng túng trong công tác NCKH nên “ngại” hướng dẫn, giúp HS tìm tòi vấn đề. Nhiều phương pháp NCKH đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, sự tỉ mỉ và cần ứng dụng kiến thức khoa học công nghệ nên rất khó hướng dẫn cho HS trong quá trình nghiên cứu.

Xu hướng chọn nghề của HS. Việc lựa chọn con đường để vào đời bằng thi tuyển vào các trường trung học chuyên nghiệp, đặc biệt là cao đẳng, đại học vẫn là ưu tiên hàng đầu của học sinh. (Huỳnh VănSơn, 2011). Nhóm HS khác lại lựa chọn tính chất quan trọng của nghề nghiệp, khả năng đáp ứng được yêu cầu của công việc, khả năng của bản thân. Do đó, việc học tập kiến thức sách giáo khoa là ưu tiên hàng đầu của HS, việc NCKH ở nhà trường bị hạn chế.

Đặc điểm về tâm sinh lí của HS. Học sinh THPT chưa phát triển tư duy một cách tối đa. Hoạt động NCKH là hoạt động khá mới mẻ, đòi hỏi tư duy sáng tạo, thúc đẩy quá trình phát triển toàn diện của HS. Tuy nhiên, đây cũng là một nhiệm vụ học tập khiến các em thấy bỡ ngỡ và gặp khó khăn, thiếu hụt trong nhận thức và lúng túng trong cách làm.

Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

Trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, công tác nghiên cứu khoa học là hoạt động không thể thiếu trong trường phổ thông. Đây là một hoạt động giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống, học đi đôi với hành; đồng thời là cách tiếp cận, làm quen với phương pháp, kỹ năng NCKH, rèn luyện cách làm việc tự lực, làm việc nhóm và phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.

Để công tác NCKH ở trường THPT có hiệu quả cao thì vai trò của nhà quản lý là rất quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn. Quản lý hoạt dộng NCKH của học sinh THPT là một bộ phận của quản lý giáo dục có mối liên hệ chặt chẽ với quản lý giảng dạy, có sự phối hợp với các tổ chức bên trong và bên ngoài nhà trường để tăng cường hoạt động NCKH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục toàn diện của nước ta.

Với cách tiếp cận theo chức năng, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh THPT bao gồm các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục.

Kết quả tìm hiểu, nghiên cứu ở chương 1 là cơ sở, là nền tảng để xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của học sinh. Thông qua nội dung chương 1 là cơ sở lý luận để tác giả xây dựng bộ công cụ nghiên cứu hoạt động giáo dục NCKH cho học sinh và quản lý hoạt động NCKH của học sinh THPT trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý nghiên cứu khoa học của học sinh THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng QL nghiên cứu khoa học của học sinh THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537