Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số VN30 của thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT:

Để hiểu rõ hơn về thị trường chứng khoán Việt Nam quá các thời kỳ biến động kinh tế – chính trị, thông qua chỉ số VN30 đại diện cho các doanh nghiệp hàng đầu được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, luận văn tập trung nghiên cứu về sự tác động của của các biến số vĩ mô như giá vàng, giá dầu, lạm phát, lãi suất và chỉ số S&P 500 từ tháng 03/2016 đến tháng 06/2025. Với khung lý thuyết được xây dựng từ những nghiên cứu nổi bật liên quan trước đó, bài viết lựa chọn áp dụng mô hình hồi quy và dự báo dữ liệu chuỗi thời gian Vector Error Correction Model (VECM) theo phương pháp Johansen. Kết quả nghiên cứu thể hiện trong dài hạn các yếu tố lạm phát, lãi suất và chỉ số S&P 500 có tác động cùng chiều tích cực đến chỉ số VN30 nhưng yếu tố giá vàng và giá dầu lại có ảnh hưởng tiêu cực ngược chiều. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chỉ số VN30 đặc biệt không bị chi phối nhiều bởi các yếu tố vĩ mô được đề cập ngoại trừ chỉ số S&P 500. Tổng hợp lại quá trình phân tích, các hàm ý chính sách được đề xuất cho Chính phủ Việt Nam nhằm phục vụ cho công tác phát triển bền vũng thị trường chứng khoán và cũng như đưa ra các khuyến nghị làm tăng hiệu quả giao dịch cho các nhà đầu tư trên thị trường.

Từ khóa: Chỉ số VN30, yếu tố vĩ mô, mô hình VECM.

ABSTRACT:

This thesis investigates the impact of key macroeconomic variables including gold prices, oil prices, inflation, interest rates, and the S&P 500 Index on the VN30 Index, which represents the top-listed companies on the Ho Chi Minh City Stock Exchange. By analyzing data from March 2016 to June 2025, the study aims to provide deeper insights into the dynamics of Vietnam’s stock market across periods of economic and political fluctuations. A theoretical framework is developed based on prior influential studies and the analysis employs the Vector Error Correction Model (VECM) using Johansen’s methodology to capture both short-term and long-term relationships. The findings reveal that in the long run, inflation, interest rates, and the S&P 500 Index have a significantly positive impact on the VN30 Index, whereas gold and oil prices have a negative effect. In the short term, however, only the S&P 500 Index exhibits a meaningful influence. Based on these results, the study proposes policy implications for the Vietnamese government to support the sustainable development of the stock market and offers practical recommendations to improve investment strategies and market efficiency.

Keywords: VN30 Index, macroeconomic factors, VECM model.

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Đặt vấn đề Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, TTCK luôn đóng một vai trò cực kỳ quan trọng, góp phần tạo dựng môi trường luân chuyển vốn cho người dân và doanh nghiệp. TTCK còn là nơi để Chính phủ thực thi các chính sách vĩ mô nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Có thể nói, phát triển kinh tế không thể thiếu phát triển TTCK và ngược lại. Đây là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết đối với công cuộc đổi mới đất nước. Trải qua chặng đường 26 năm, TTCK Việt Nam đã có nhiều thăng trầm, đột phá và đang tiếp tục phát triển đi lên nên khó có thể không tồn tại những khó khăn và biến động trong bối cảnh nước ta là nước đang phát triển. Tính đến thời điểm 30/06/2025, UBCKNN đã ghi nhận 1585 doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK (trong đó: 389 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE, 308 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX, 888 doanh nghiệp niêm yết trên sàn UpCoM và các loại hình chứng khoán niêm yết khác). Riêng đối với TTCK trên ba sàn HOSE, HNX và UPCoM đến ngày 31/5/2024, tổng giá trị vốn hóa đã đạt vượt hơn 10 triệu tỷ đồng, tương đương 87.58% GDP 2024 (GDP theo giá hiện hành).

Dưới góc độ đầu tư kinh doanh thuần túy, TTCK còn là kênh đầu tư chính thống của các nhà đầu tư, doanh nhân trong nước và nước ngoài. Tương tự như các loại hàng hóa khác, chứng khoán (hay cổ phiếu) là một loại hình hàng hóa tài chính phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận và góp vốn kinh doanh hấp dẫn. Theo số liệu của UBCKNN tính đến thời điểm 30/06/2025, đã có tổng cộng 10,269,926 tài khoản được mở, bao gồm cá nhân và tổ chức cả trong và ngoài nước. Điều này cho thấy sự sôi động của thị trường đã thu hút rất nhiều nguồn lực của các nhà đầu tư tại Việt Nam, tạo nền móng nguồn vốn vững chải cho sự phát triển chung của cộng đồng đầu tư trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi với quy mô còn khiêm tốn so với các quốc gia tư bản phát triển khác, sức chống chịu có hạn nhưng độ mở lớn. Vì vậy, chỉ một tác động khách quan nhỏ cũng có thể ảnh hưởng lớn tới tình hình chung. Theo đó, TTCK cũng được xem như là hơi thở của nền kinh tế, phản ảnh sức khỏe chung của các doanh nghiệp đang hoạt động và niêm yết trên sàn chứng khoán. Đặc biệt trong nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung vào các doanh nghiệp lớn và tập đoàn niêm yết trên sàn HOSE – sàn giao dịch lớn nhất Việt Nam, thông qua việc đo lường và phân tích chỉ số VN30. Trong đó, chỉ số VN30 được xem là trụ cột quan trọng nhất cấu thành toàn bộ chỉ số VN-Index với rổ cổ phiếu sàng lọc bao gồm 30 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia với giá trị vốn hóa lớn nhất và tính khoản khoản cao nhất, chiếm đến 80% tổng giá trị vốn hóa thị trường và 60% tổng giá trị giao dịch. Việc khoanh vùng phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp đầu tàu của nền kinh tế sẽ giúp kết quả phân tích có chiều sâu và loại bỏ được các yếu tố gây nhiễu từ các doanh nghiệp nhỏ và chưa có bề dày lịch sử khác. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

Có thể thấy trong giai đoạn từ 2016 đến hiện tại, trải qua các biến động kinh tế toàn cầu lớn và nhỏ, đặc biệt là sự kiện đại dịch Covid-19 xảy ra đột ngột vào đầu năm 2020 kéo dài đến 2021 đã làm rung lắc toàn bộ nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng, từ đó để lại hậu quả suy thoái đáng kể. Để tìm hiểu rõ hơn về nguyên nhân và lý giải các hiện tượng gây ra biến động giá trong TTCK Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ VN30 CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM” trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2025.

  • Biểu đồ 1.1. Chỉ số VN-Index qua các năm
  • Biểu đồ 1.2. Chỉ số VN30 qua các năm

Đây là đề tài hóc búa từ xưa đến nay đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu trước đó, tuy nhiên vẫn chưa thể kết luận được chính xác quy luật vận hành của nền TTCK nói riêng và nền kinh tế nói chung. Nguyễn Thị Như Quỳnh và Võ Thị Hương Linh (2019) đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán tại Việt Nam”. Nguyễn Trà My (2023) với luận văn Thạc Sĩ “Tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán và chỉ số ngành tại Việt Nam”. Cuốn sách nổi tiếng của nhà kinh tế học Andrew Smithers với tiêu đề “The Economics of the Stock Market” đã chỉ ra rằng chi phí sử dụng vốn thay đổi theo đòn bẩy ở cấp độ kinh tế vĩ mô. Axel Dahlman (2023) cũng đã nghiên cứu đề tài “Macroeconomic variables and the stock market” để tìm ra mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK.

Vì vậy với mục đích của luận văn này, tác giả mong muốn hỗ trợ tổng hợp và thỏa lắp các khoản trống tri thức của những nghiên cứu trước đó. Hơn nữa, đề tài này của tác giả cũng sẽ góp phần quan trọng cho sự định hướng và phát triển chung của nhiều phía, bao gồm cả chủ thể vĩ mô là nhà nước và chủ thể vi mô là nhà đầu tư. Đối với chủ thể nhà nước, đề tài sẽ nỗ lực đóng góp thêm vào công cuộc cải cách thể chế, xây dựng chính sách kinh tế phù hợp, mang tính định hướng bền vững cho TTCK. Đối với chủ thể nhà đầu tư, đề tài sẽ cung cấp tổng quan các yếu tố có thể hỗ trợ dự đoán kết quả thị trường, chỉ ra xu hướng vận động và phòng ngừa các rủi ro gây thua lỗ hoặc suy thoái của TTCK.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

1.3.1. Mục tiêu tổng quát

Xây dựng mô hình nghiên cứu của các tác nhân ảnh hưởng đến sự biến động giá của cổ phiếu niêm yết từ năm 2016 đến 2025 nhằm đưa ra dự báo về các viễn cảnh của TTCK trong tương lai. Từ đó kết luận hàm ý hỗ trợ Chính phủ và nhà đầu tư trong việc đánh giá những yếu tố quyết định đến sức khỏe của TTCK nhằm thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô và kế hoạch đầu tư sinh lời bền vững.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

  • Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá VN30 trong giai đoạn từ trước và sau đại dịch Covid-19.
  • Phân tích chiều hướng tác động và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá VN30 trong giai đoạn từ trước và sau đại dịch Covid-19.
  • Xây dựng các hàm ý chính sách điều hành TTCK và nền kinh tế vĩ mô của Chính phủ Việt Nam và hỗ trợ các nhà đầu tư trong việc đầu tư hoặc giao dịch cổ phiếu.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

Đề tài sẽ tập trung ba vấn đề nổi bật như sau:

  • Những yếu tố nào trực tiếp ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian 9 năm gần nhất ?
  • Chiều hướng và mức độ tác động của các yếu tố đó đến chỉ số giá chứng khoán tại Việt Nam như thế nào ?
  • Hàm ý chính sách cho Chính phủ và nhà đầu tư dựa trên kết quả của các yếu tố đã nghiên cứu nhằm phát triển TTCK trong tương lai ?

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là chỉ số VN30 và các yếu tố tác động trực tiếp đến chỉ số VN30. Trong đó, chỉ số VN30 bao gồm 30 doanh nghiệp có giá trị vốn hóa và thanh khoản lớn nhất được niêm yết trên sàn HOSE. Về các yếu tố tác động, nghiên cứu chỉ tập trung vào các biến vĩ mô do nội tại rổ cổ phiếu thuộc chỉ số VN30 đã được sàng lọc kỹ lưỡng bởi quy định pháp luật, tuân thủ các tiêu chí đánh giá tại tại Quy tắc xây dựng, quản lý Bộ chỉ số HOSE-Index phiên bản 4.0

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về không gian: Phạm vi nghiên cứu sẽ được thực hiện và giới hạn tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Về thời gian: Đề tài nghiên cứu sẽ tập trung vào giai đoạn từ tháng 03/2016 đến tháng 06/2025 (hơn 9 năm) và được phân tích định lượng dựa theo dữ liệu tháng được thống kê từ Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Chuỗi thời gian thu thập sẽ bao gồm 112 tháng tương ứng 112 quan sát cho từng biến số đề xuất trong mô hình nghiên cứu bên dưới. Đối với các phân tích định tính, để dễ dàng so sánh trực quan bằng biểu đồ, tác giả sẽ tổng hợp theo dữ liệu năm.

1.6. Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này, tác giả sẽ áp dụng kết hợp cả 2 phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để sàng lọc và đưa ra kết quả phù hợp nhất với diễn biến thực tiễn của TTCK Việt Nam.

Về phương pháp định tính, thông qua các tài liệu chính thống được công bố, tác giả sẽ tiến hành đối chiếu, so sánh và tổng hợp dữ liệu thứ cấp, từ đó đưa ra kết luận dựa trên sự phân tích trực quan. Phương pháp nghiên cứu này có thể hỗ trợ kiểm định cho phần nghiên cứu định lượng với việc đọc hiểu đơn giản các biểu đồ thể hiện chỉ số của các dữ liệu nghiên cứu.

Về phương pháp định lượng, dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm trước đây, mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ (VECM) được sử dụng để nghiên cứu tác động của các yếu tố đến chỉ số giá VN30. Tuy nhiên, với dạng dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu chuỗi thời gian và để tránh hiện tượng đồng liên kết, tác giả mở rộng mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ (VECM) theo phương pháp Johansen để ước lượng (∆Yt = Γ1ΔYt−1 + Γ2ΔYt−2 + ⋯ + Γk−1ΔYt−(k−1) + ΠYt−1 + ut).

Bên cạnh đó, sau khi đã thực hiện xong bước ước lượng mô hình, tác giả sẽ kết hợp thêm các kiểm định để tăng tính phù hợp cho mô hình nghiên cứu, bao gồm: kiểm định tính dừng của phần dư, kiểm định phân phối chuẩn của phân dư và kiểm định phương sai thay đổi. Tiếp đến, nhằm mở rộng hơn kết quả của nghiên cứu, tác giả sẽ tiến hành kiểm định nhân quả Granger để tìm ra mối quan hệ qua lại giữa các biến (phụ thuộc lẫn độc lập) trong mô hình. Cuối cùng, để dự báo hiệu quả hơn về rủi ro kinh tế vĩ mô, bước phân tích phản ứng đẩy và phân rã phương sai sẽ được áp dụng để đo lường mức độ ảnh hưởng tương đối của các cú sốc gây ra do biến độc lập lên biến phụ thuộc.

Từ cả hai phương pháp nghiên cứu nêu trên, kết quả nghiên cứu sẽ có tính chặt chẽ, chính xác và tin cậy, làm nền tảng lý luận vững chắc cho đề tài.

1.7. Nội dung của nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ bám sát vào các mục tiêu nghiên cứu như đã nêu, bắt đầu từ việc đề xuất mô hình đến các bước phân tích từng biến số và đưa ra kết luận cuối cùng về sự ảnh hưởng đối với chỉ số giá VN30 và nền kinh tế. Đây sẽ là định hướng xuyên suốt của luận văn này. Ngoài ra, nghiên cứu cũng sẽ xem xét đánh giá mối tương quan giữa những yếu tố vi mô của doanh nghiệp đối với các yếu tố vĩ mô.

1.8. Đóng góp của nghiên cứu

Đề tài này được kỳ vọng có những đóng góp quan trọng và tích cực cho Chính phủ, nhà đầu tư và các chuyên gia, nhà khoa học như sau:

  • Nghiên cứu sẽ chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng then chốt, có mối quan hệ chặt chẽ đối với sự biến động giá trên TTCK Việt Nam.
  • Dựa trên kết luận nghiên cứu, Chính phủ có thể xem xét thêm các chính sách hỗ trợ điều hành nền kinh tế sao cho phù hợp. Về phía nhà đầu tư, đây sẽ là nền tảng kiến thức vũng vàng làm hành trang cho chiến lược đầu tư / giao dịch cổ phiếu trên TTCK, qua đó cung cấp góc nhìn bao quát hơn thay vì chỉ tập trung vào sự biến động giá đơn thuần.
  • Về mặt học thuật, đề tài nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các chuyên gia, nhà khoa học nhằm mở rộng nghiên cứu về các vấn đề trên TTCK Việt Nam.

1.9. Khe hở của các nghiên cứu trước Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Nhìn chung, các nghiên cứu trước đây đã xác định một số yếu tố như lạm phát, lãi suất, lượng cung tiền, GDP và tỷ giá có ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu niêm yết trên TTCK. Tuy nhiên, các yếu tố như giá vàng, giá dầu và chỉ số S&P500, vốn là những yếu tố có khả năng tác động đến TTCK nói chung và chỉ số VN30 nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ phân tích tác động của giá vàng, giá dầu và chỉ số S&P500 đối với chỉ số VN30, cũng như mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố này.

1.10. Tính mới của đề tài nghiên cứu

Do sự tồn tại của TTCK Việt Nam chỉ vỏn vẹn hơn 26 năm so với toàn thế giới, hầu như các nghiên cứu trước đây chưa thể làm rõ được các áp lực và dự báo chiều hướng biến động nếu như xảy ra các biến cố lớn gây ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế thế giới. Cụ thể là khủng hoàng ngân hàng toàn cầu năm 2008 xảy ra khi TTCK vẫn còn rất non trẻ. Và để đo lường thực nghiệm sức chịu đựng của TTCK trong thời kỳ phát triển hiện đại, yếu tố đại dịch Covid-19 sẽ giúp các chuyên gia và nhà đầu tư hiểu hơn về bức tranh đầu tư cũng như góp phần hỗ trợ trong việc quản trị rủi ro hệ thống.

1.11. Kết cấu của đề tài

Luận văn trình bày bao gồm 5 chương, theo thứ tự sau:

  • Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm các nội dung sau: đặt vấn đề, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả cũng thêm vào kỳ vọng đóng góp của đề tài cho các nghiên cứu sau này.

  • Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này được xem là nền tảng cho cả luận văn thông qua việc trình bày lý thuyết của các khái niệm kinh tế vĩ mô và TTCK, từ đó xây dựng khung lý thuyết để tạo lập mô hình nghiên cứu phù hợp. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành lược khảo các tài liệu tham khảo trước đây bao gồm tài liệu quốc tế và tài liệu trong nước để đảm bảo tính toàn diện, bao trùm của nghiên cứu, phù hợp với xu hướng thời đại khi so sánh. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

  • Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày phương pháp đã được thực hiện trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời, trình bày các công đoạn tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng, bao gồm: nội dung các phương pháp, xây dựng quy trình nghiên cứu và giải thích phương thức chọn mẫu, đề xuất các giả thiết, phương pháp kiểm định mô hình nghiên cứu và sau cùng tiến hành phân tích định lượng thông qua dữ liệu thứ cấp đã thu thập.

  • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Dựa vào kết quả kiểm định các biến và mô hình nghiên cứu đã thực hiện bằng phần mềm Eview 10, tác giả tiến hành thảo luận và diễn giải ý nghĩa của số liệu một cách phù hợp.

  • Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Trình bày tóm lược lại những kết luận và đề xuất một số hàm ý chính sách cho Chính phủ trong việc điều hành chính sách vĩ mô. Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị cần thiết giúp các nhà đầu tư cải thiện hiệu suất sinh lời trên TTCK Việt Nam.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày tổng quan về chủ đề nghiên cứu, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng và ý nghĩa thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số VN30 của TTCK Việt Nam”. Bên cạnh đó, chương này cũng giới thiệu khung phương pháp nghiên cứu được áp dụng và mô tả sơ lược về dữ liệu sử dụng trong quá trình nghiên cứu. Đây là chương mang tính định hướng chung cho xuyên suốt luận văn này. Bài viết bao gồm 5 chương, trong đó các chương tiếp theo sẽ đi sâu phân tích từng khía cạnh cụ thể của đề tài.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Cơ sở lý thuyết

2.1.1. Thị trường chứng khoán và cơ sở hình hành giá chứng khoán

Thị trường chứng khoán, hay còn gọi là thị trường vốn, là một phần của hệ thống thị trường tài chính. Tại đây, các giao dịch vay vốn dài hạn (trên một năm) được thực hiện. Hình thức vay vốn diễn ra thông qua việc các tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu huy động vốn sẽ phát hành các loại chứng khoán có kỳ hạn từ 2, 5, 10 năm hoặc lâu hơn, và nhà đầu tư sẽ mua các chứng khoán này, tức là cung cấp vốn (Trịnh Thị Hoa Mai, 2003). Khi TTCK vận hành hiệu quả, dòng vốn được điều tiết từ nơi có vốn dư thừa đến nơi cần vốn, qua đó góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động phát triển của doanh nghiệp cũng như sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Đây chính là vai trò then chốt của thị trường chứng khoán.

Giá cả cân bằng trên bất kỳ thị trường nào cũng đều đóng là chỉ báo quan trọng, phản ánh chính xác tình hình thực tế của thị trường đó. Tương tự, chỉ số giá chứng khoán thể hiện một bức tranh tổng quan về thị trường chứng khoán, nơi các dòng vốn trong nền kinh tế liên tục dịch chuyển. Chỉ số này có thể được tính dựa trên mức giá trung bình của tất cả các loại chứng khoán đang được giao dịch. Ví dụ như chỉ số KOSPI của Hàn Quốc, Chỉ số SSE Composite Index của Trung Quốc và chỉ số VN-Index của Việt Nam. Ngoài ra, cũng có những chỉ số chỉ đại diện cho một nhóm chứng khoán nhất định, điển hình như chỉ số Nikkei 225 của Nhật Bản hay chỉ số Nasdaq 10 của Hoa Kỳ hoặc chỉ số VN30 của Việt Nam.

2.1.2. Chỉ số giá chứng khoán (VN-Index) Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Theo Nguyễn Thị Minh Huệ và Trần Đăng Khâm (2018), chỉ số VN-Index là chỉ số chứng khoán đầu tiên và chính thức của Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM. Chỉ số này được xây dựng nhằm phản ánh diễn biến giá cả chung cũng như xu hướng của toàn bộ cổ phiếu đang niêm yết trên sàn HOSE.

Dựa trên phương pháp Passcher, chỉ số VN-Index được tính bằng cách lấy bình quân gia quyền của toàn bộ cổ phiếu trong rổ tính toán, so với phiên giao dịch gần nhất hoặc ngày gốc và quy ra bằng điểm. Công thức được thể hiện như sau:

Trong đó:

  • VnIndex: Là chỉ số giá VN-Index được tính theo phương pháp
  • Pit: Là giá cổ phiếu i thời kỳ
  • Pi0: Là giá cổ phiếu i thời kỳ gốc.
  • Qit: Là khối lượng (quyền số) thời điểm tính toán (t) hoặc cơ cấu của khối lượng thời điểm tính toán.
  • i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá.

Rổ đại diện cho chỉ số được chọn từ những cổ phiếu tiêu biểu, đại diện cho toàn bộ thị trường, và thường xuyên được điều chỉnh để thay thế các cổ phiếu không còn tiêu biểu những cổ phiếu tiêu biểu hơn dựa trên ba tiêu chí chính: số lượng cổ phiếu niêm yết, giá trị niêm yết và tỷ lệ giao dịch trên thị trường.

2.1.3. Chỉ số VN30

Bên cạnh chỉ số VN-Index, Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, xây dựng và chính thức đưa vào vận hành chỉ số VN30-Index kể từ ngày 06 tháng 02 năm 2012 nhằm phản ánh diễn biến của nhóm 30 cổ phiếu có giá trị vốn hóa và thanh khoản hàng đầu trên thị trường. Cụ thể, nhóm cổ phiếu niêm yết trên sàn HOSE này phải chiếm từ hơn 80% tổng giá trị vốn hóa và khoảng 60% tổng giá trị giao dịch của toàn thị trường, qua đó thể hiện vai trò đại diện đáng kể cho TTCK Việt Nam.

Việc sử dụng song song chỉ số VN30-Index được kỳ vọng sẽ phản ánh chính xác hơn mối quan hệ cung – cầu của cổ phiếu trên thị trường, một yếu tố mà chỉ số VN-Index đôi khi chưa thể hiện chính xác.

2.1.4. Phương pháp xây dựng chỉ số VN30 Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Theo quy định của Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, việc cơ cấu lại danh mục cổ phiếu trong rổ chỉ số VN30-Index được thực hiện định kỳ hai lần mỗi năm, vào ngày thứ Hai của tuần thứ tư trong tháng 1 và tháng 7. Quy trình lựa chọn 30 cổ phiếu thành phần của chỉ số VN30-Index được tiến hành theo bốn bước cụ thể như sau:

Bước 1: Lựa chọn 50 cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường bình quân ngày cao nhất trong vòng sáu tháng gần nhất, đồng thời loại trừ các cổ phiếu nằm trong diện cảnh báo, bị kiểm soát, tạm ngừng giao dịch, hoặc có thời gian niêm yết dưới sáu tháng. Tuy nhiên, đối với 5 cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường thì yêu cầu về thời gian niêm yết được nới lỏng xuống còn tối thiểu ba tháng.

Bước 2: Loại khỏi danh sách các cổ phiếu có tỷ lệ lưu hành tự do (free-float) dưới 5%, nhằm đảm bảo tính thanh khoản và khả năng giao dịch thực tế của các mã cổ phiếu được chọn.

Bước 3: Các cổ phiếu còn lại được xếp hạng theo giá trị giao dịch bình quân ngày trong sáu tháng theo thứ tự giảm dần. Trong đó, 20 cổ phiếu có giá trị giao dịch cao nhất sẽ được lựa chọn trực tiếp vào rổ VN30. Đối với các cổ phiếu xếp hạng từ 21 đến 40, thứ tự lựa chọn ưu tiên được dành cho các cổ phiếu thuộc danh mục cũ, sau đó mới xem xét đến các cổ phiếu mới, nhằm duy trì tính ổn định và liên tục của bộ chỉ số.

Bước 4: Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tổ chức cuộc họp hội đồng để rà soát và đánh giá lần cuối cùng. Danh mục cổ phiếu VN30-Index mới sẽ được công bố chính thức trước thời điểm áp dụng một tuần.

Nguyễn Thị Minh Huệ và Trần Đăng Khâm (2018) đã thể hiện công thức tính chỉ số VN30 như sau:

Trong đó: Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

  • CMV (Current market value) được tính theo phương trình:
  • i = 1, 2,.., n
  • n: Số cổ phiếu trong rổ chỉ số.
  • pi: Giá cổ phiếu i trong rổ chỉ số tại thời điểm tính toán.
  • si: Khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán.
  • fi: Tỷ lệ free-loat của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán.
  • ci: Hệ số giới hạn tỷ trọng vốn hóa của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán.

BMV (Base Market Value) là hệ số chia trong công thức tính chỉ số VN30-Index. Khi CMV thay đổi do các yếu tố phi giá như chia tách, phát hành thêm cổ phiếu hoặc thay đổi số lượng lưu hành, BMV sẽ được điều chỉnh nhằm đảm bảo tính liên tục và nhất quán của chỉ số, tránh gây nhiễu do các biến động mang tính kỹ thuật.

  • Tỉ lệ free-float: là tỉ lệ cổ phiếu sẵn sàng tự do chuyển nhượng trên thị trường theo công thức:

2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán (VN-Index và VN30)

  • Lạm phát:

Trong các học thuyết tiền tệ hiện đại, lạm phát luôn được đề cập như là một yếu tố quan trọng hàng đầu có tác động trực tiếp đến nền kinh tế. Nó được hiểu là việc mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ tăng lên một cách liên tục và có hệ thống trong một khoảng thời gian nhất định, dẫn đến sự suy giảm sức mua thực tế của đồng tiền. Theo Milton Friedman (1970), lạm phát là một hiện tượng tiền tệ luôn xảy ra ở khắp mọi nơi, khi lượng tiền tăng nhanh hơn sản lượng.

Lạm phát ở mức cao thường phản ánh sự bất ổn vĩ mô trong nền kinh tế, khi lượng cung tiền vượt quá nhu cầu thực tế trên thị trường. Trong bối cảnh này, chi phí sử dụng vốn của các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng, từ đó làm giảm khả năng sinh lợi. Lợi nhuận giảm sút kéo theo sự sụt giảm trong nhu cầu đối với cổ phiếu, đặc biệt trong điều kiện lãi suất tăng do hệ quả tất yếu của lạm phát cao, khiến cho kênh đầu tư vào thị trường cổ phiếu trở nên kém hấp dẫn hơn do lợi suất giảm và rủi ro gia tăng (Phan Ngọc Trung, 2016). Hệ quả là TTCK có thể phải đối mặt với đợt điều chỉnh giảm mạnh, bắt nguồn từ làn sóng rút vốn khỏi thị trường của các nhà đầu tư. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Ngoài ra đối với góc nhìn của nhà đầu tư, khi lạm phát gia tăng, giá trị thực của đồng tiền bị suy giảm, người dân có xu hướng chuyển dịch tài sản từ các công cụ tài chính có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hoặc trái phiếu, cổ phiếu sang các loại tài sản thực như vàng, bất động sản (Nguyễn Thị Như Quỳnh và Võ Thị Hương Linh, 2019). Xu hướng này dẫn đến tình trạng một lượng lớn vốn nhàn rỗi của xã hội bị ‘đóng băng’ dưới dạng tài sản kém sinh lời, hay còn gọi là tài sản chết.

Đào Thị Hồ Hương và Nguyễn Thị Kim Chung (2022) đã thực nghiệm hiệu quả của chỉ số VN30 thông qua mô hình ước lượng FMOLS và kết luận có sự tồn tại mối quan hệ nghịch biến trong dài hạn tại mức ý nghĩa 5% giữa tỷ lệ lạm phát và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trong rổ VN30.

  • Lãi suất:

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm mà người vay phải trả cho người cho vay để sử dụng một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là chi phí của việc sử dụng vốn hoặc lợi tức từ việc cho vay vốn (Mishkin, F. S., & Eakins, S. G., 2018). Các Ngân hàng Trung ương sử dụng lãi suất như một công cụ để kiểm soát cung tiền, điều tiết lạm phát, và ổn định kinh tế vĩ mô (Blanchard, O., & Johnson, D. R., 2012).

Sự biến động của lãi suất trên thị trường tài chính có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của nhà đầu tư. Cụ thể, khi lãi suất giảm, sức hấp dẫn của các kênh tiết kiệm truyền thống tại ngân hàng suy giảm, từ đó thúc đẩy dòng vốn dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác có khả năng sinh lời cao hơn, trong đó nổi bật là TTCK (Samuelson, P. A., & Nordhaus, W. D.,2010). Sự gia tăng dòng vốn đầu tư vào thị trường này làm gia tăng nhu cầu đối với cổ phiếu, qua đó góp phần đẩy giá chứng khoán tăng lên. Ngược lại, khi lãi suất có xu hướng tăng, nhà đầu tư có xu hướng rút vốn khỏi TTCK để chuyển sang gửi tiết kiệm nhằm đảm bảo lợi suất an toàn hơn (Nguyễn Trung Trực, 2021). Hoạt động bán tháo cổ phiếu trong bối cảnh này có thể gây áp lực giảm giá trên TTCK.

Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam đã chỉ ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19, NHNN Việt Nam đã liên tiếp điều chỉnh giảm lãi suất trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2021. Trong bối cảnh đó, chỉ số VN-Index đã phục hồi mạnh mẽ và đạt mức cao nhất vào cuối năm 2021, phản ánh mối liên hệ tích cực giữa lãi suất thấp và sự hồi phục của TTCK (State Bank of Vietnam, 2021). Tiếp sau đó là diễn biến theo chiều ngược lại ghi nhận vào giai đoạn cuối năm 2021 và đầu năm 2022, NHNN đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và tăng lãi suất khiến cho giá cổ phiếu liên tục giảm sâu.

  • Giá dầu thô Brent: Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Dầu thô Brent (Brent Crude) là một trong những loại dầu chuẩn (benchmark crude oil) được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để định giá dầu mỏ, đặc biệt là ở thị trường châu Âu, Trung Đông và châu Phi. Đây là loại dầu nhẹ và ngọt với hàm lượng lưu huỳnh thấp, dễ chế biến thành xăng và dầu diesel. Dầu Brent được khai thác chủ yếu tại khu vực Biển Bắc, gần Vương quốc Anh và Na Uy.

Giá dầu Brent thường được các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách theo dõi như một công cụ chỉ báo cho áp lực lạm phát cũng như chi phí sản xuất nhằm điều chỉnh chính sách tiền tệ và phân tích rủi ro về biến động năng lượng toàn cầu (Hamilton, J. D., 2009). Ngoài ra, chỉ số giá dầu Brent còn được xây dựng để làm cơ sở cho thị trường phái sinh như hợp đồng tương lai (futures), quyền chọn (options), và các quỹ ETF (Exchange Traded Fund) với giá trị giao dịch hàng ngày lên tới hàng trăm tỷ USD.

Theo Bouri, E và các cộng sự (2020), trong các giai đoạn khủng hoảng, ví dụ như đại dịch Covid-19 và khủng hoảng tài chính năm 2008, mối liên hệ giữa giá dầu và chứng khoán có xu hướng dao động chặt chẽ và mạnh hơn. Tuy nhiên, trong các bối cảnh bình thường, ảnh hưởng của giá dầu đến TTCK lại không đồng đều mà khác nhau theo ngành. Chẳng hạn ngành năng lượng hưởng lợi khi giá dầu tăng, ngược lại ngành vận tải hoặc hàng không thường chịu thiệt hại (Kilian, L., & Park, C., 2009).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã ghi nhận sự tồn tại của mối quan hệ giữa giá dầu thô và chỉ số VN-Index. Nguyen và Le (2019) đã sử dụng mô hình GARCH và VAR để phân tích mối quan hệ phi tuyến tính giữa giá dầu và chỉ số VN-Index trong giai đoạn từ 2010 đến 2018 và cho thấy rằng TTCK phản ứng mạnh mẽ hơn khi giá dầu tăng đột ngột so với khi giảm. Hoàng và các cộng sự (2020) cũng đã chỉ ra giá dầu có ảnh hưởng đáng kể đến độ biến động của VN-Index, đặc biệt trong các giai đoạn bất ổn như khủng hoảng giá dầu 2014 – 2015 và chiến tranh Nga – Ukraine đầu năm 2022. Trong thực tế, các giai đoạn giá dầu tăng mạnh thường đi kèm với sự tăng trưởng tích cực của nhóm cổ phiếu dầu khí, kéo theo chỉ số VN-Index cũng tăng trong ngắn hạn. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

  • Giá vàng quốc tế:

Hội đồng Vàng Thế giới (2020) đã đưa ra khái niệm giá vàng quốc tế là mức giá chuẩn toàn cầu của vàng, thường được niêm yết bằng đồng USD/ounce (1 ounce ≈ 31,1035 gram) và được xác lập thông qua giao dịch trên các thị trường tài chính quốc tế, đặc biệt là thị trường London và New York.

Giá vàng quốc tế được xác lập thông qua hai hình thức chính là giá cố định và giá giao dịch theo thời gian thực (Baur, D. G., & McDermott, T. K., 2010). Trong đó, giá cố định (Gold Fixing) được thiết lập hai lần mỗi ngày tại London (London Bullion Market Association – hay còn gọi là sàn LBMA) nhằm phản ánh sự đồng thuận của các ngân hàng lớn trong việc định giá vàng vật lý. Giá giao dịch theo thời gian thực (Spot Price) thì để thể hiện mức giá giao dịch vàng ngay lập tức trên thị trường tài chính thông qua các sàn giao dịch lớn trên thế giới như COMEX (Commodity Exchange Inc.), NYMEX (New York Mercantile Exchange).

Giá vàng quốc tế giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu với nhiều chức năng thiết yếu. Trước hết, vàng được xem như một phương tiện lưu trữ giá trị hiệu quả, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát cao hoặc khủng hoảng tài chính nhờ khả năng duy trì sức mua theo thời gian (Baur và Lucey, 2010). Bên cạnh đó, giá vàng quốc tế còn giống như một công cụ phòng ngừa rủi ro khi thường biến động ngược chiều với các tài sản rủi ro như cổ phiếu, bất động sản,.. qua đó giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu tổn thất (Capie, Mills và Wood, 2005). Ngoài ra, các nhà đầu tư thường dựa vào giá vàng để nghiên cứu về chỉ báo tâm lý thị trường, phản ánh kỳ vọng và mức độ lo ngại của người dân đối với các rủi ro vĩ mô toàn cầu như khủng hoảng chính trị hay suy thoái kinh tế (Lucey và Li, 2015). Hơn nữa, không chỉ đóng vai trò trên thị trường tài chính, giá vàng quốc tế còn có ý nghĩa trong lĩnh vực quản lý dự trữ ngoại hối, khi nhiều ngân hàng trung ương vẫn duy trì vàng như một phần quan trọng trong danh mục dự trữ nhằm ổn định ngân khố quốc gia (O’Connor và các cộng sự., 2015).

Đối với thị trường Việt Nam, Pham và cộng sự (2021) đã phân tích dữ liệu từ 2012 đến 2020 bằng mô hình GARCH và đưa ra kết luận rằng vàng đóng vai trò như tài sản trú ẩn an toàn trong thời kỳ bất ổn của TTCK Việt Nam, đặc biệt trong các cú sốc tiêu cực của VN-Index. Một nghiên cứu khác của Nguyen và Vu (2019) cũng cho thấy giá vàng tăng thường đi kèm với sự sụt giảm của VN-Index trong các đợt biến động thị trường lớn. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

  • Chỉ số S&P 500:

Chỉ số S&P 500 (Standard & Poor’s 500) là một chỉ số giá chứng khoán được tính theo phương pháp vốn hóa gia quyền, dựa trên 500 công ty có vốn hóa lớn và có tính thanh khoản cao nhất niêm yết trên sàn NYSE hoặc NASDAQ. Chỉ số này thường được sử dụng như một thước đo phổ biến đại diện cho thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ và đóng vai trò như một chỉ báo tài chính toàn cầu. Biến động của nó gây ảnh hưởng đến tâm lý các nhà đầu tư toàn cầu, dòng vốn quốc tế, và những cú sốc tài chính xuyên biên giớ (Zhang, Y., & Zhou, H., 2016).

Công thức tổng quát của chỉ số S&P 500 được thể hiện như sau:

Trong đó:

  • Pi: là giá cổ phiếu i
  • Qi: là khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu i
  • D: (hay Divisor) là ước số do S&P quản lý để duy trì tính liên tục của chỉ số khi có các thay đổi như chia tách cổ phiếu, cổ tức bằng cổ phiếu hoặc thay đổi thành phần chỉ số.

Các thành phần cổ phiếu cấu thành S&P 500 được rà soát hàng quý bởi Ủy ban chỉ số của S&P Dow Jones Indices, dựa trên đánh giá chuyên môn thay vì các quy tắc cứng nhắc, nhằm đảm bảo chỉ số tiếp tục đại diện một cách chính xác nhất cho nền kinh tế Hoa Kỳ.

Một số nghiên cứu định lượng đã chỉ ra rằng: trong dài hạn có tồn tại mối quan hệ đồng biến giữa S&P 500 và VN-Index, nhưng mức độ tương quan không cao do độ mở thị trường tài chính Việt Nam còn hạn chế (Nguyen & Pham, 2021). Ngược lại trong ngắn hạn, các cú sốc tiêu cực từ S&P 500 có thể gây hiệu ứng lan truyền nhanh sang VN-Index qua yếu tố tâm lý (Nguyen, 2020).

2.2. Tổng quan các lý thuyết hiện hữu Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

TTCK là một bộ phận trọng yếu của hệ thống tài chính, phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư và hiệu quả hoạt động của nền kinh tế. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, nhiều lý thuyết đã được xây dựng nhằm giải thích cơ chế vận hành, hành vi của các chủ thể tham gia cũng như sự biến động của giá chứng khoán. Các lý thuyết này không chỉ góp phần hình thành nền tảng lý luận cho nghiên cứu học thuật, mà còn cung cấp cơ sở cho việc ứng dụng trong thực tiễn đầu tư và quản lý thị trường.

  • Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient-market hypothesis):

Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) do Eugene Fama (1970) đề xuất là một trong những nền tảng quan trọng của tài chính học hiện đại. Theo lý thuyết này, giá chứng khoán trên thị trường phản ánh đầy đủ, chính xác và tức thời mọi thông tin sẵn có, vì vậy không một nhà đầu tư nào có thể liên tục đạt được lợi nhuận vượt trội so với mức trung bình của thị trường thông qua việc sử dụng các thông tin công khai. Fama chia thị trường hiệu quả thành ba dạng: (1) hiệu quả dạng yếu (weak form), trong đó giá chứng khoán phản ánh toàn bộ thông tin trong quá khứ, khiến việc phân tích kỹ thuật không thể mang lại lợi thế; (2) hiệu quả dạng trung bình (semi-strong form), khi giá đã phản ánh toàn bộ thông tin công khai, khiến cả phân tích cơ bản lẫn kỹ thuật đều không giúp dự đoán được biến động giá; và (3) hiệu quả dạng mạnh (strong form), khi giá phản ánh cả thông tin công khai lẫn thông tin nội bộ, làm cho ngay cả nhà đầu tư nội gián cũng không thể thu được lợi nhuận vượt trội. Lý thuyết này cung cấp cơ sở cho nhiều nghiên cứu thực nghiệm và định hướng cho các chiến lược đầu tư thụ động, song cũng gặp nhiều thách thức từ các phát hiện của tài chính hành vi, cho thấy thị trường thực tế có thể không luôn hoàn toàn hiệu quả.

  • Lý thuyết tài chính hành vi (Behavioral Finance Theory):

Lý thuyết tài chính hành vi ra đời như một phản biện đối với các giả định truyền thống của lý thuyết thị trường hiệu quả, đặc biệt là giả định về tính hợp lý tuyệt đối của nhà đầu tư. Thay vì cho rằng các quyết định đầu tư luôn được đưa ra dựa trên thông tin đầy đủ và lý trí, trường phái tài chính hành vi cho rằng các yếu tố tâm lý, cảm xúc và sai lệch nhận thức (cognitive biases) có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của nhà đầu tư và sự biến động của giá chứng khoán. Nền tảng của lý thuyết này được đặt bởi Kahneman và Tversky (1979) với Lý thuyết triển vọng (Prospect Theory), cho rằng con người có xu hướng đánh giá rủi ro và lợi nhuận theo cách phi tuyến, chịu ảnh hưởng bởi cảm nhận chủ quan về lãi – lỗ.

Các nghiên cứu sau đó của Shiller (1981, 2000), Barberis và Thaler (2003) cùng nhiều học giả khác đã củng cố quan điểm rằng thị trường không phải lúc nào cũng phản ánh thông tin một cách hiệu quả, mà thường xuyên xuất hiện các hiện tượng như bong bóng giá, hiệu ứng bầy đàn, và giao dịch quá mức. Do đó, tài chính hành vi đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích những sai lệch thực nghiệm mà các lý thuyết cổ điển không lý giải được, đồng thời mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu hành vi đầu tư và dự báo biến động thị trường. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

  • Lý thuyết mạng lưới tài chính (Financial Network Theory):

Lý thuyết mạng lưới tài chính là một hướng tiếp cận hiện đại trong nghiên cứu thị trường tài chính, xuất phát từ quan điểm rằng hệ thống tài chính toàn cầu hoạt động như một mạng lưới phức tạp (complex network), trong đó các tổ chức tài chính, nhà đầu tư và công cụ tài chính có mối liên kết chặt chẽ và sự tương tác qua lại. Thay vì xem thị trường như tập hợp các cá thể ra quyết định độc lập, lý thuyết này tập trung phân tích cấu trúc mạng lưới – tức là cách thức các mối quan hệ về vốn, tín dụng, hoặc sở hữu chéo hình thành nên một hệ thống có tính liên thông và phụ thuộc lẫn nhau.

Các nghiên cứu tiêu biểu của Allen và Gale (2000), Battiston và các cộng sự (2012) và Elliott và các cộng sự (2014) đã cho thấy rằng chính sự kết nối trong mạng lưới tài chính vừa mang lại khả năng phân tán rủi ro, vừa tiềm ẩn nguy cơ lan truyền rủi ro hệ thống khi xảy ra cú sốc tài chính. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, lý thuyết mạng lưới tài chính ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong việc đánh giá sức chịu đựng của hệ thống tài chính, phân tích rủi ro lan truyền, cũng như thiết kế chính sách giám sát vĩ mô nhằm hạn chế hiệu ứng dây chuyền trên TTCK và thị trường vốn.

2.3. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài

Từ xưa đến nay, đã có rất nhiều tài liệu bao gồm: sách, giáo trình, bài báo khoa học, tạp chí,.. nghiên cứu về tổng quan của TTCK và sự biến động giá của nó. Trải qua mỗi thời kỳ của từng nền kinh tế, các nhà nghiên cứu sẽ chọn lọc và tìm ra các yếu tố mang tính quyết định đến sự biến động của TTCK.

Tripathy (2011) đã tiến hành điều tra về tính hiệu quả của thị trường, mối quan hệ nhân quả giữa các biến kinh tế vĩ mô và TTCK Ấn Độ bằng cách sử dụng các phương pháp: kiểm định Ljung-Box Q, kiểm định Breusch-Godfrey LM, kiểm định nghiệm đơn vị Unit Root, kiểm định nhân quả Granger. Nghiên cứu xác nhận sự tồn tại của hiện tượng tương quan chuỗi trong thị TTCK Ấn Độ và các biến số kinh tế vĩ mô, cho thấy rằng điều này phù hợp với Giả thuyết thị trường hiệu quả. Sau đó, kiểm định nhân quả Granger đã chỉ ra sự tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa TTCK với lãi suất và tỷ giá hối đoái; TTCK quốc tế với khối lượng giao dịch của BSE; tỷ giá hối đoái với khối lượng giao dịch của BSE. Ngoài ra, tác giả cũng phát hiện mối quan hệ nhân quả một chiều chạy từ TTCK quốc tế đến TTCK trong nước, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát đã gây ra sự biến động giá đáng kể cho TTCK. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Nghiên cứu của Chan Ching Siang và Patricia Rayappan (2023) tiến hành xem xét ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô đến hiệu suất TTCK ở Malaysia từ tháng 1/2015 đến tháng 12/2021. Trong đó, các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm trong nghiên cứu này là tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái thực, cung tiền M2 và lãi suất ngắn hạn. Tác giả đã sử dụng cả hai phương pháp: kiểm định đồng liên kết Johansen để làm rõ tác động lâu dài của các biến độc lập đến hiệu suất của TTCK Malaysia và mô hình VAR để định lượng tác động. Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái thực, tỷ lệ lạm phát (dài hạn) và chính sách lãi suất qua đêm (dài hạn) có tác động cùng chiều đến chỉ số KLCI. Tuy nhiên, cung tiền M2 lại có tác động ngược chiều (dài hạn) đến chỉ số KLCI. Điểm mới của nghiên cứu này là đã kiểm tra ảnh hưởng của các biến số kinh tế vĩ mô đối với hiệu suất TTCK ở thị trường mới nổi.

Neifar Malika (2023) đã áp dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến (mô hình NARDL) để tìm ra bằng chứng về mối quan hệ trong dài hạn giữa giá cả chứng khoán và giảm phát. Ngoài ra, hai biến độc lập là lãi suất và tỷ giá hối đoái lại có tác động ngược chiều với TTCK trong dài hạn.

Trong nghiên cứu của Krishna Bahadur Thapa (2023), tác giả đã thống kê dữ liệu từ tháng 06/2005 đến tháng 11/2023 của bốn chỉ số bao gồm: CPI, tỷ giá hối đoái, cung tiền và kiều hối để đo lường động lực của TTCK. Cụ thể, mô hình VAR được áp dụng để phân tích mức độ ảnh hưởng các của biến độc lập trên đối với TTCK và kiểm định Granger được áp dụng để xác định mối quan hệ nhân quả giữa các biến. Kết quả cho thấy rằng chỉ số giá TTCK bị ảnh hưởng nhiều nhất từ tỷ giá hối đoái và kiều hối, trong khi đó CPI và cung tiền lại có tác động không đáng kể. Ngoài ra, tác giả nhận thấy rằng chỉ tồn tại sự tác động một chiều giữa CPI, cung tiền và kiều hối đối với chỉ số giá TTCK, ngược lại tỷ giá hối đoái và chỉ số giá TTCK thì lại có tác động qua lại lẫn nhau (hai chiều). Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Edirisingha và các cộng sự (2023) đã thu thập dữ liệu tháng từ năm 2008 đến 2020 của NHTW Sri Lanka để đo lường chỉ số giá chứng khoán tại quốc gia này. Các biến độc lập đề xuất bao gồm GDP, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, cung tiền và khoản dự trữ bắt buộc. Các công cụ nghiên cứu được nhóm tác giả sử dụng bao gồm kiểm định ADF về tính dừng, kiểm định đồng liên kết Johansen và mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ VECM. Kết quả sau đó chỉ ra tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều có tác động đến chỉ số giá chứng khoán của Sri Lanka, trong đó: lãi suất, tỷ giá hối đoái và cung tiền có tác động ngược chiều và GDP, tỷ lệ lạm phát và dự trữ bắt buộc lại có tác động cùng chiều. Ngoài ra, kiểm định nhân quả Granger cũng nhận thấy sự tồn tại của tác động một chiều giữa chỉ số giá chứng khoán đối với tỷ giá hối đoái. Kiểm định Granger cũng khẳng định sự tồn tại mối quan hệ tác động hai chiều giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái tại mức ý nghĩa 1% và 5%. Hơn nữa tại mức ý nghĩa 10%, GDP lại có tác động một chiều với lãi suất; cung tiền có tác động một chiều với tỷ giá hối đoái; dự trữ bắt buộc và cung tiền thì lại có tác động qua lại lẫn nhau. Tuy nhiên, kết luận cuối cùng nghiên cứu đã ghi nhận tất cả các biến độc lập đều có tác động đáng kể đến chỉ số giá chứng khoán của Sri Lanka tại mức ý nghĩa 10%, và tỷ lệ lạm phát là biến có ảnh hưởng tương đối lớn hơn so với các biến còn lại.

Khi nghiên cứu về tác động của yếu tố vĩ mô đối với hiệu suất TTCK của Malaysia, Siow và các cộng sự (2023) đã xây dựng mô hình hồi quy với năm biến vĩ mô bao gồm tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, giá dầu thô, FDI và tỷ lệ thất nghiệp. Với dữ liệu thu thập hằng quý từ năm 2011 đến năm 2020, nhóm tác giả sử dụng phần mềm EViews 10 để thực hiện các phương pháp nghiên cứu là kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định Johansen và hồi quy VECM. Kết quả cuối cùng cho thấy tỷ giá hối đoái và giá dầu thô có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất TTCK của Malaysia. Ngược lại, nghiên cứu cũng khám phá ra rằng tỷ lệ lạm phát, FDI và tỷ lệ thất nghiệp lại ít có tác động nhất đến TTCK. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Tại I-rắc, Amani Amer Najiand và các cộng sự (2022) đã tìm hiểu về sự biến động của TTCK qua các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, thu nhập quốc dân, tỷ lệ lao động, lãi suất và tăng trưởng GDP. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ World Bank theo từng năm, tính từ 1988 đến 2020. Phương pháp nghiên cứu chính được nhóm tác giả áp dụng là mô hình ARDL cho thấy sự tương quan dương mạnh mẽ giữa các biến kinh tế vĩ mô đối với TTCK của I-rắc. Kết luận của nghiên cứu nêu rõ trong thời kỳ lạm phát, khả năng chi trả cổ tức của doanh nghiệp tăng lên và tỷ suất cổ tức tăng sẽ cải thiện hiệu suất của TTCK. Ngoài ra, trong các giai đoạn thúc đẩy tăng trưởng GDP, các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá cổ phiếu. Tương tự, khi thu nhập quốc dân cao, các cá thể doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu suất tổng thể và tăng lợi nhuận cổ phiếu của họ. Hơn nữa, kết quả cũng chỉ ra rằng sự gia tăng tỷ lệ lao động làm tăng năng suất hàng hóa và dịch vụ và hiệu quả của các hoạt động kinh doanh khác, do đó cũng thúc đẩy lợi nhuận cổ phiếu. Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu, lãi suất cho vay phù hợp nhằm cung cấp vốn để mở rộng kinh doanh sẽ kéo theo việc tăng lợi nhuận của cổ phiếu.

Coretha Komba và các cộng sự (2024) đã phân tích sự ảnh hưởng của biến động lãi suất và tỷ giá hối đoái đối với lợi nhuận cổ phiếu của ngành tài chính ở Tanzania. Nghiên cứu lựa chọn áp dụng dữ liệu chuỗi thời gian thứ cấp từ tháng 4/2014 đến tháng 2/2021. Trong bài viết, nghiên cứu sử dụng mô hình ARDL để đo lường các tác động dài hạn và ngắn hạn của biến độc lập đối với lợi nhuận cổ phiếu. Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch đảo dài hạn giữa lãi suất và lợi nhuận cổ phiếu của ngành tài chính. Tuy nhiên, trong giai đoạn cụ thể từ tháng 6/2014 đến tháng 4/2021, lãi suất không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận cổ phiếu bất chấp chiều hướng ngược lại. Bên cạnh đó, tỷ giá hối đoái lại có ảnh hưởng đáng kể đến biến động lợi nhuận cổ phiếu trong ngắn hạn. Nghiên cứu khuyến nghị Chính phủ nên thực hiện các chính sách để ổn định việc tăng tỷ giá hối đoái và kiểm soát biến động lãi suất để thúc đẩy niềm tin của các nhà đầu tư, do ảnh hưởng đáng kể của chúng đối với sự biến động của TTCK.

2.4. Tổng quan các nghiên cứu trong nước Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Tại Việt Nam, công cuộc đổi mới nền kinh tế bao cấp (kể từ Đại hội Đảng lần thứ 6 năm 1986) tính đến nay chỉ mới 38 năm và TTCK được khai sinh chỉ vọn vẹn 26 năm (theo Nghị định số 48/CP của Chính phủ năm 1998). Vì vậy, luận văn này sẽ tập trung tham khảo các tài liệu trong nước vào giai đoạn gần nhất để phù hợp với quy luật phát triển.

Nguyễn Thị Như Quỳnh và cộng sự (2019) đã đo lường tác động của sáu yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: giá dầu, CPI (đại diện cho lạm phát), cung tiền M2, lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá vàng đối với chỉ số VN-Index. Dữ liệu được thu thập từ tháng 12/2000 đến tháng 12/2018 và xử lý bằng phần mềm Eview 10. Thông qua xây dựng mô hình hồi quy VECM, nghiên cứu cho thấy trong dài hạn lạm phát tác động tích cực đến chỉ số VN-Index, lãi suất thì tác động tiêu cực đến chỉ số này. Còn trong ngắn hạn, chỉ số VN-Index chủ yếu chịu tác động bởi chỉ số VN-Index tháng liền trước. Ngoài ra, nhóm tác giả còn ghi nhận sự tồn tại của mối quan hệ cùng chiều giữa chỉ số VN-Index đối với lãi suất, cung tiền, giá dầu và mối quan hệ ngược chiều giữa chỉ số VN-Index đối với lạm phát và tỷ giá. Tuy nhiên, giá vàng lại không có nhiều ảnh hưởng đến chỉ số VN-Index trong cả ngắn và dài hạn.

Dương Ngân Hà (2018) đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và biến động của TTCK Việt Nam kể từ thời điểm TTCK bắt đầu giao dịch (từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2018). Từ đó chỉ ra mức độ tác động của lạm phát tới chỉ số giá VN-Index trong dài hạn. Trong đó, chỉ số VN-Index được tính trung bình cộng các ngày giao dịch trong tháng đó. Đối với lạm phát, chuỗi dữ liệu về sự thay đổi của CPI được sử dụng để đại diện cho sự thay đổi về lạm phát theo tháng tương ứng với giá trị của chỉ số VN-Index bình quân tháng. Bằng việc áp dụng phương pháp kiểm định Granger, nhóm tác giả đã khẳng định sự biến động của chỉ số CPI có tác động tới sự thay đổi chỉ số VN- Index trung bình tháng. Mặc dù có sự thay đổi lớn trong chỉ số CPI, nhưng chỉ số VN-Index phải đợi tới sáu tháng trước khi có tác động trực tiếp.

Trong nghiên cứu về các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến vốn hóa của TTCK, Lại Cao Mai Phương và các cộng sự (2023) đã thu thập dữ liệu của các biến từ World Bank tính theo năm từ 2008 đến 2019. Nhóm tác giả áp dụng phương pháp hồi quy GMM để chứng minh các biến số vĩ mô như lạm phát, lãi suất, FDI có tác động mạnh mẽ đến vốn hóa của TTCK. Trong đó, vốn FDI càng cao thì TTCK sẽ phát triển tích cực, ngược lại lạm phát và lãi suất càng cao sẽ cản trở sự phát triển của TTCK. Tuy nhiên, các biến còn lại là tỷ giá hối đoái và tăng trưởng GDP lại không có sự ảnh hưởng nào đến TTCK. Do đó, các nhà hoạch định chính sách công và nhà đầu tư nên tập trung vào lạm phát, lãi suất và FDI. Ngoài ra, trong nghiên cứu này cũng cho thấy các TTCK thuộc nhóm phát triển hơn sẽ có giá trị vốn hóa cao hơn đáng kể so với các TTCK của nhóm kém phát triển. Vì vậy, hàm ý đối với các nước thuộc nhóm kém hơn là cần quan tâm đến ổn định kinh tế vĩ mô và có giải pháp thu hút FDI một cách bền vững, lâu dài để đóng góp vào sự phát triển chung của TTCK. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Bài nghiên cứu của Nguyễn Kim Quốc Trung (2022) ước tính các biến số kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại Việt Nam từ quý 1/2009 đến quý 4/2019. Dựa trên mô hình tự hồi quy ARDL đã được sử dụng, kết quả cho thấy tồn tại tính đồng liên kết giữa giá cổ phiếu và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Tác giả cũng phát hiện ra độ trễ tối ưu trong mô hình ARDL là (1, 2, 1, 2, 0, 0, 2). Cụ thể, các bằng chứng có ý nghĩa thống kê chứng minh rằng CPI, GDP, lãi suất, cung tiền và giá dầu đều là những yếu tố quyết định giá cổ phiếu ở Việt Nam. Trong đó, CPI và GDP có tác động cùng chiều đối với TTCK, trong khi lãi suất, cung tiền và giá dầu có tác động ngược lại.

Nguyễn Hoàng Tiến và các cộng sự (2021) đã tiến hành đo lường tác động của bốn yếu tố thị trường và dịch Covid-19 bao gồm: chỉ số S&P500, giá dầu, giá vàng và tổng số ca nhiễm lên chỉ số VN-Index trong giai đoạn từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2021. Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định nghiệm đơn vị và mô hình hồi quy ARDL để đánh giá tác động dài hạn và ngắn hạn của các biến độc lập. Kết quả cho thấy trong dài hạn, chỉ số S&P500, giá dầu và giá vàng có tác động đến VN-Index. Trong đó, VN-Index có mối quan hệ cùng chiều với chỉ số S&P500 và giá dầu, tuy nhiên lại ngược chiều với giá vàng. Đặc biệt, nghiên cứu chỉ ra tổng số ca nhiễm lại không có tác động đến chỉ số VN-Index vì không đáp ứng điều kiện về tính dừng.

2.5. Tổng quan các nghiên cứu khác Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Đào Phương Thảo và các cộng sự (2022) đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC đã kiểm toán của 34 doanh nghiệp thực phẩm niêm yết trên sàn HOSE trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2019. Bằng việc sử dụng mô hình hồi qui bội và mô hình Jones (1991) cải tiến bởi Kothari và cộng sự (2005), các tác giả đã nhận thấy đối với doanh nghiệp lập BTCT hợp nhất và có đòn bẩy tài chính cao hơn sẽ có mức độ điều chỉnh lợi nhuận lớn hơn, trong khi đó doanh nghiệp qui mô lớn hơn có mức độ điều chỉnh lợi nhuận nhỏ hơn.

Bài nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phương và cộng sự (2022) về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam đã tiến hành sàng lọc dữ liệu từ BTCT đã kiểm toán của 15 NHTM có quy mô từ nhỏ tới lớn và cấu thành 62% tổng tài sản của cả hệ thống ngân hàng trong giai đoạn từ 2014 đến 2020. Thông qua mô hình hồi quy tuyến tính đa bội và các mô hình phân tích nhân tố khác, kết quả thế hiện quy mô tài sản của ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu, rủi ro thanh khoản, thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời. Trong khi đó chi phí quản lý, rủi ro tín dụng và thuế có tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với khả năng sinh lời.

Trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến 2019 của Trương Thanh Hằng và cộng sự (2022), nhóm tác giả sử dụng mô hình chỉ số Zscore điều chỉnh của Edward I.Altman để đo lường nguy cơ phá sản với mẫu nghiên cứu gồm 439 doanh nghiệp niêm yết. Với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14, ba mô hình hồi quy đã được sử dụng là mô hình bình phương bé nhất (Pools OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM). Kết quả chỉ ra sáu nhân tố tác động đến nguy cơ phá sản doanh nghiệp bao gồm: Quy mô doanh nghiệp, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất thanh toán hiện thời, đòn bẩy tài chính, mức độ thâm dụng vốn và quy mô công ty kiểm toán. Trong đó có ba nhân tố giải thích được 86,78% biến động của nguy cơ phá sản doanh nghiệp, cụ thể là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và tỷ suất thanh toán hiện thời có tác động thuận chiều đến chỉ số Zscore, làm giảm nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp niêm yết, đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều đến chỉ số Zscore, làm tăng nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp niêm yết. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

Có thể thấy, trong các nghiên cứu trước đây, đặc biệt đối với các yếu tố vi mô trong riêng từng doanh nghiệp chưa thể khái quát toàn bộ quy luật vận hành của chỉ số VN30. Do rổ chỉ số này được cấu thành từ đồng thời và phức hợp các doanh nghiệp hàng đầu, cũng như được sàng lọc chặt chẽ bởi Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh thông qua Quy tắc xây dựng và quản lý Bộ chỉ số HOSE-Index (tại Quyết định số 747/QĐ-SGDHCM). Việc áp dụng những yếu tố kế toán tài chính trên sổ sách lên bản thân chỉ số VN30 là không cần thiết và cũng chúng không thể hiện nhiều mối tương quan mật thiết hoặc sức ảnh hưởng đến lăng kính vĩ mô trong nghiên cứu này.

  • Bảng 2.1. Lược khảo các nghiên cứu quá khứ

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 tổng hợp các khái niệm và thông tin liên quan đến đề tài, góp phần diễn giải các thuật ngữ kinh tế được sử dụng trong nghiên cứu, cũng như phân tích cách thức các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá chứng khoán. Ngoài ra, chương này còn xem xét và đánh giá các nghiên cứu liên quan trước đó nhằm hiểu rõ hơn về mối tương quan thực tiễn giữa các yếu tố vĩ mô và chỉ số chứng khoán. Thông qua quá trình khảo sát, nhận thấy rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô không tác động một cách riêng lẻ đến chỉ số chứng khoán, mà thường ảnh hưởng đồng thời và phức hợp. Do đó, kết quả nghiên cứu có thể sẽ không hoàn toàn phản ánh đúng theo lý thuyết trong mọi trường hợp. Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán

One thought on “Luận văn: Ảnh hưởng đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán

  1. Pingback: Luận văn: KQNC đến chỉ số VN30 ở thị trường chứng khoán

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *