Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan đến mọi cá thể xã hội. Các phương tiện truyền thông mới là một trong những thành tựu quan trọng nhất của loài người trong vòng hai thập kỷ trở lại đây và đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý xã hội và người dân nói chung. Sự ra đời của bất kỳ một công nghệ nào cũng có những ảnh hưởng nhất định đối với xã hội. Sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông mới trong thời gian vừa qua đã tạo nên những thay đổi xã hội sâu sắc. Những thay đổi ấy không chỉ dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài xã hội hay con người, mà nó còn thấm sâu, làm thay đổi bản chất xã hội, tâm lý, thói quen của con người đặc biệt là giới trẻ.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet ở Việt Nam, ngày càng có nhiều người sử dụng mạng xã hội để chia sẻ tin tức hằng ngày đồng thời có thể tìm hiểu về những thông tin cụ thể từ rất nhiều những chủ đề, lĩnh vực khác nhau. Giới trẻ Việt Nam có số lượng lớn, cơ cấu đa dạng, vừa có những đặc điểm thuận lợi cho việc tiếp thu các yếu tố tích cực, vừa có những đặc điểm dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực của phương tiện TTXH hoặc thúc đẩy những yếu tố tiêu cực từ môi trường phương tiện TTXH phát triển. Thực tế hiện nay cho thấy, đa số giới trẻ Việt Nam có thái độ, hành vi ứng xử tích cực và phù hợp trên môi trường mạng, tận dụng phương tiện TTXH như một kênh hữu hiệu phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống, làm chủ được bản thân trước những tác động của phương tiện TTXH. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận giới trẻ thiếu sự chuẩn bị về kỹ năng và tâm thế nên không tận dụng được lợi ích của phương tiện TTXH, thậm chí bị sa đà, chìm đắm trong thế giới ảo, chịu tổn hại về tinh thần, vật chất. Hơn nữa, một số thanh niên còn chọn cách nhập cuộc và cổ xúy cho những thái độ, hành vi, lối sống lệch lạc, đi ngược lại các giá trị đạo đức xã hội. Những tác động tiêu cực và tích cực trên nảy sinh một loạt những mâu thuẫn, xung đột, đòi hỏi cần kíp phải tháo gỡ [13].

Theo điều 27 Luật giáo dục 2013: “Mục tiêu ca giáo dc ph thông là giúp hc sinh phát trin toàn din về đạo đức, trí tu, th cht, thm m và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng to, hình thành nhân cách con người Vit Nam xã hi chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhim công dân; chun b cho hc sinh tiếp tc hc lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dng và bo v T quốc” [27]. Để đạt được mục tiêu này, nhà trường cùng các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường cần chung tay thực hiện các biện pháp giáo dục về mọi mặt để hướng tới xây dựng nhân cách toàn diện cho học sinh nói chung và học sinh THPT nói riêng. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Thực tế công tác GDĐĐ cho học sinh THPT trước ảnh hưởng của các phương tiện TTXH trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chủ yếu phụ thuộc vào giáo dục của mỗi gia đình, mỗi nhà trường, và tự nhận thức của mỗi học sinh; chưa có những biện pháp, các chương trình hành động cụ thể, đồng loạt, thống nhất để định hướng cho học sinh trong quá trình học tập và rèn luyện của mình. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương tiện TTXH đến GDĐĐ cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa xã hội trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thế hệ trẻ trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.

Với những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: Ảnh hưởng ca truyn thông xã hi đến giáo dục đạo đức cho hc sinh trong các trường THPT tnh Bc Kn” để nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể đóng góp vào sự phát triển GD&ĐT của tỉnh nhà.

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ học sinh THPT, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế tiêu cực của TTXH đến GDĐĐ học sinh THPT tỉnh Bắc Kạn.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách th nghiên cu

  • Ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh.

3.2. Đối tượng nghiên cu

  • Ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn.

4. Giả thuyết khoa học

TTXH là một hình thức tương tác hiện đại trong xã hội ngày nay, hình thức này đang có những tác động không nhỏ tới giới trẻ trong đó có học sinh THPT. Hiện nay, học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn chịu tác động của TTXH một cách khách quan theo hướng tự phát; Công tác quản lý giáo dục đạo đức dưới những tác động của TTXH trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn đã được quan tâm, tuy nhiên vẫn còn những bất cập, hạn chế nhất định. Nếu nghiên cứu được hệ thống lý luận, ảnh hưởng của TTXH xây dựng sẽ phát huy được những ảnh hưởng tích cực đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của TTXH đến GDĐĐ học sinh THPT. Từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đào tạo trên trên địa bàn tỉnh.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

  • 5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về ảnh hưởng của TTXH đối với GDĐĐ học sinh THPT.
  • 5.2. Đánh giá thực trạng ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh các trường THPT tỉnh Bắc Kạn.
  • 5.3. Đề xuất và khảo nghiệm một số biện pháp nhằm phát huy hiệu quả những ảnh hưởng tích cực đồng thời hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của TTXH trong GDĐĐ học sinh THPT tỉnh Bắc Kạn.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Gii hn khách thể điều tra

  • Giới hạn khách thể điểu tra ở bậc THPT, trong đó: Cán bộ Quản lý giáo dục 10; giáo viên 162; học sinh 300; phụ huynh 150

6.2. Gii hạn địa bàn nghiên cu

  • Đề tài nghiên cứu trên 03 trường THPT, đó là: Trường THPT huyện Chợ Đồn, THPT Thành phố Bắc Kạn và Trường THPT chuyên tỉnh Bắc Kạn.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lí lun

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu, văn bản có liên quan đến đề tài.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thc tin

  • Phương pháp quan sát: Thực hiện quan sát các đối tượng nghiên cứu trước ảnh hưởng TTXH trên các trường học, địa bàn, khu dân cư. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Chúng tôi sử dụng 04 mẫu phiếu hỏi để khảo sát đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh nhằm thu thập thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài.
  • Phương pháp phỏng vn: Tiến hành trao đổi phỏng vấn trực tiếp CBQL, GV để đưa ra những nhận xét trước ảnh hưởng của TTXH và thăm dò tính cần thiết, tính khả thi các biện pháp.

7.3. Các phương pháp hỗ tr

  • Đề tài sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý các số liệu thu được qua điều tra và khảo nghiệm.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn cấu trúc gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến GDĐĐ cho học sinh THPT.
  • Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của TTXH và GDĐĐ học sinh trong các trường THPT tỉnh Kạn.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh trong các trường THPT tỉnh Bắc Kạn.

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI ĐẾN GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Nhng nghiên cu v TTXH

Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2021: “Social networks and Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen sử dụng Internet của thế hệ trẻ). Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những hành vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về mạng xã hội, Internet. Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại.

Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với tên gọi “Young and old use social media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già sử dụng TTXH với những lý do đáng ngạc nhiên) đã cho thấy những lý do mà mọi người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương lai như thế nào. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: Is social networking bad for today’s generation ? (Có phải mạng xã hội là xấu đối với thế hệ ngày nay ?). Đã có rất nhiều ý kiến vào tranh luận, trong đó có 58% đồng ý rằng mạng xã hội đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, 42% không đồng ý và kể ra những ưu điểm mà mạng xã hội mang lại [dẫn theo 11].

Tác giả Pavica Sheldon, Đại học Alabama, Mỹ, trong cuốn sách (Social Media: Principles and Appliatons) (Các phương tiện TTXH: Nguyên tắc và ứng dụng) nghiên cứu về tác động đa dạng của phương tiện TTXH tới các lĩnh vực chính trị, giáo dục… đã dành hai chương riêng nghiên cứu về chứng “nghiện Social Media” và đánh giá các phương tiện TTXH và thảm họa truyền thông. Theo đó tác giả liệt kê và phân tích những hiện tượng trong giao tiếp và truyền thông mang hiệu ứng toàn cầu dưới tác động của phương tiện TTXH và hệ lụy của nó. Tác giả đồng thời cho rằng, internet và phương tiện TTXH không chỉ là môi trường công nghệ, môi trường kinh doanh hay liên kết xã hội mà còn là môi trường văn hóa, giáo dục rất quan trọng, ảnh hưởng tới việc hình thành nhân cách và góp phần định hình văn hóa nhân loại trong tương lai. Do đó việc tương tác với tinh thần tích cực và tham gia có trách nhiệm trên môi trường mạng giống như trong cuộc sống thực là văn hóa và kỹ năng phải có của tất cả cư dân mạng.

Việt Nam nghiên cứu về truyền thông xã hội có nhóm tác giả Trần Hữu Luyến và cộng sự trong nghiên cứu “Thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên hiện nay” đã chỉ ra rằng: trước tác động của các phương tiện TTXH, các bậc phụ huynh không nên cấm con cái sử dụng. Cha mẹ cần dành thời gian để lắng nghe, hiểu và quan tâm đến việc sử dụng các phương tiện TTXH của giới trẻ để có thể trả lời hay giúp đỡ con cái khi cần. Cha mẹ thường phóng đại quá mức về những nguy hiểm mà các phương tiện TTXH mang lại cho con cái. Các bậc cha mẹ nên xây dựng mối quan hệ tin tưởng với con cái và cũng cần nhập cuộc trang bị cho mình những kiến thức sử dụng các phương tiện TTXH để hướng dẫn con trẻ cách dùng hợp lý và để hiểu rằng việc sử dụng các phương tiện TTXH đúng đắn mang lại rất nhiều lợi ích cho giới trẻ. Các bậc phụ huynh cần thường xuyên nhắc nhở con cái về những điều được làm, không được làm trên môi trường TTXH, giúp thanh thiếu niên có nhận thức và có khả năng tránh những nguy cơ mất an toàn trên môi trường mạng [20].

Tác giả Lê Hải trong nghiên cứu “Phương tiện TTXH với giới trẻ Việt Nam” đã chỉ ra những đặc điểm tâm sinh lý của giới trẻ ảnh hưởng tới quá trình sử dụng các phương tiện TTXH; thực trạng sử dụng các phương tiện TTXH của giới trẻ Việt Nam hiện nay và mức độ làm chủ trong ứng xử của giới trẻ qua sử dụng các phương tiện TTXH. Xuất phát từ những tồn tại hiện nay trong sử dụng các phương tiện TTXH, tác giả đã đưa ra hệ giải pháp nhằm hạn chế các yếu tố tiêu cực, nhân rộng các yếu tố tích cực từ sự tác động của chính phương tiện TTXH [13].

1.1.2. Nhng nghiên cu về GDĐĐ Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN) nhà triết học nổi tiếng của Trung Quốc, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo đã rất coi trọng vai trò của GDĐĐ và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục cũng như về tâm lý học. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục được ghi trong Tứ thư và Ngũ Kinh nhưng cụ thể và tập trung nhất là các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu”. Khổng Tử xây dựng học thuyết “Nhân Trí – Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng GDĐĐ, ông chủ trương “Lễ trị”, lấy “ Lễ” để xử ở đời, người phải lấy tu thân làm gốc. Phương châm giáo dục này còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Socrate (469-399 TCN), nhà triết học cổ đại coi cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, con người phải tự ý thức, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học nhận thức. [dẫn theo 7].

Aristote (384 – 322 TCN) cho rằng: Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, tri thức sẽ khó thành đạt. Là người phát triển tư tưởng của Aristote, Xixêrô M.T (106 – 43 TCN) một lần nữa khẳng định: Triết lý về đạo đức là sự chuẩn bị tư duy để tiếp nhận hạt giống trí tuệ.[dẫn theo 7].

Thế kỷ thứ XVII, Komensky (1592 – 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác GDĐĐ với tác phẩm nổi tiếng – “Khoa sư phạm vĩ đại”. Komensky chủ trương việc giáo dục con người phải tiến hành theo qui luật chung của tự nhiên, bởi lẽ trước khi con người trở thành một thành viên của xã hội, con người vốn dĩ là một sinh vật hoàn thiện nhất của tạo hóa. Ông đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và môi trường bên ngoài để GDĐĐ học sinh. Ông luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em cũng như những cây nhỏ trong vườn ươm; “Để cây có lớn một cách lành mạnh, nhất thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót… ”. Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai là nghề nuôi dạy trẻ “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sng, trong mi sinh hoạt để tr em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…”.[dẫn theo 7].

C.Mác (1818-1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng “Con người phát trin toàn din s là mục đích của nn giáo dc cng sn chủ nghĩa và con người phát trin toàn diện là con người phát triển đầy đủ, ti đa năng lực sn có v tt c mi mặt đạo đức, trí tu, nhn thức, năng lc óc thm m và có khả năng cảm thụ được tt c nhng hiện tượng t nhiên xã hi xy ra xung quanh”.[dẫn theo 7]. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A.C Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông nhấn mạnh đến vấn đề GDĐĐ thông qua nhiều phương pháp như nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể. [dẫn theo 7].

Tại Việt Nam, vấn đề đạo đức, GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm, nổi bật là các công trình nghiên cứu có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này của các tác giả Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên, Hà Thế Ngữ, Phạm Hoàng Gia… và nhiều tác giả khác. Để tìm ra các giải pháp về GDĐĐ các tác giả đã tìm những cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phương pháp nghiên cứu.

Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả Hà Thế Ngữ đã đề cập đến vấn đề tổ chức quá trình GDĐĐ thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức cho học sinh [22].

Tác giả Thái Duy Tuyên đặc biệt nhấn mạnh rằng một vấn đề cấp bách trong giáo dục hiện nay là tăng cường GDĐĐ, sau khi phân tích sự biến đổi kinh tế – xã hội thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, tác giả đề xuất một số đổi mới về nội dung và phương pháp GDĐĐ và đặc biệt là việc quản lý của gia đình đối với học sinh [34].

Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong tác phẩm “Đạo đức học” đã đề cập đến các vấn đề GDĐĐ nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề GDĐĐ như phạm trù GDĐĐ trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu… từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và GDĐĐ cho học sinh trong nhà trường phổ thông [6].

Tại Hội thảo “GDĐĐ cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2017, Phạm Minh Hạc đã chỉ ra rằng: “Yếu t quyết định là ý thc t giáo dc thc s nghiêm khc – s phấn đấu hướng thin ca tng cá nhân, nht là ca hc sinh các lp cui cp trung học cơ sở, THPT và sinh viên,…kết hp cht chẽ GDĐĐ trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc bit là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhim v cp bách, nhim vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội” [12]. Bài phát biểu đã nhấn mạnh việc GDĐĐ cho học sinh, sinh viên trong đó có học sinh trung học cơ sở là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Tác giả Đặng Quốc Bảo trong bài viết “Rèn luyện lòng tự trọng trong giáo dục hiện nay” trên báo Giáo dục và thời đại số đặc biệt cuối tháng 5/2020 đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hi ta thi gian qua đã có rất nhiu c gắng GDĐĐ cho thế h tr, cho các thành viên. Tuy nhiên, ta mới chú ý đến GDĐĐ hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mc giáo dục hướng ni là giáo dc biết h thn, xu h, lòng chân chính t ái, t trng. Chiến lược giáo dc của đất nước ta trong thi kỳ đổi mi, mc tiêu Nhân cách – Nhân lc ca nn giáo dục nước ta trong thi kỳ đổi mi rt cn có s nhn mnh chủ đề này trong các bài hc về đạo làm người cho thế h trẻ” [1].

1.1.3. Nhng nghiên cu về tác động ca truyn thông xã hội đến giáo dc đạo đức cho hc sinh

Tác giả Đinh Quang Hà, trong nghiên cứu “Tác động của truyền thông đại chúng đến lối sống của sinh viên hiện nay” đã chỉ ra rằng: Truyền thông đại chúng trong xu thế toàn cầu đang có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến lối sống của thanh niên hiện nay. Các thông tin của phương tiện truyền thông đại chúng tác động vào trí thức sinh viên, hình thành tri thức, thái độ mới hay nhận thức, thái độ cũ. Sự thay đổi về ý thức tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về hành vi. Một trong những tác động tích cực nổi bật nhất của toàn cầu hóa truyền thông đại chúng cùng với ý thức đề cao tính cá nhân là việc soi chiếu các giá trị đạo đức dưới góc độ cá nhân, phẩm chất cá nhân. Nó tạo ra sự đồng nhất tương đối giữa quan niệm đạo đức và quy tắc ứng xử của một cộng đồng (ở đây là sinh viên Việt Nam nói riêng và giới trẻ nói chung) với những quan niệm đạo đức và ứng xử mang tính quốc tế. Với sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông hiện đại và việc mở rộng, đa dạng hóa giao lưu quốc tế, sinh viên ngày nay đã hòa kịp vào dòng chảy mới trong quá trình hội nhập. Điều đó tạo ra sự xích lại gần nhau của các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống trong một tinh thần cảm thông cởi mở. Có thể thấy những biểu hiện này trong các quan niệm đạo đức có liên quan đến các lĩnh vực đặc trưng của tuổi trẻ như : tình bạn, tình yêu… Các quan niệm đạo đức của sinh viên Việt Nam, bên cạnh những cái riêng của mình đã xuất hiện những cái chung hòa nhập cùng thế giới, mở ra những cơ hội giao lưu học hỏi.

Tác giả Lê Thị Mỹ Hà, trong nghiên cứu “Mạng xã hội và những tác động về mặt văn hóa – xã hội” đã chỉ ra rằng: trước sự phát triển của mạng xã hội, giới trẻ dễ dàng được nâng cao, bỏ sung kiến thức, kĩ năng đồng thời được tăng cường thêm các cơ hội và điều kiện để phát triển. Tuy nhiên giới trẻ cũng rất dễ bị dụ dỗ, lường gạt trước những tài khoản có mục đích xấu. Độ tin cậy của những thông tin trên mạng xã hội không cao, nhưng giới trẻ lại rất dễ tin vào bởi vốn sống, vốn kinh nghiệm của các em còn ít do đó dễ để lại những hậu quả khôn lường.

Tác giả Nguyễn Đình Toàn trong nghiên cứu “Hội chứng “nghiện” mạng xã hội” cũng đã chỉ ra hệ quả của việc “nghiện” mạng xã hội rất nhiều: năng suất lao động giảm, học tập sao nhãng, sức khỏe không tốt (giảm thị lực, mất ngủ, tinh thần mệt mỏi…). Bên cạnh đó, sự phát tán thông tin từ mạng xã hội rất nhanh và dễ dàng, tạo môi trường để những kẻ xấu lợi dụng gây hại đến tư tưởng, tinh thần của người dùng mạng xã hội. Cần phải có những định hướng cho giới trẻ để sử dụng điều độ, đúng cách để cải thiện cuộc sống theo muốn của gia đình, nhà trường và cá nhân trẻ.

Trước sự biến đổi sâu sắc của nền kinh tế tri thức, nền kinh tế thị trường, sự hội nhập và vấn đề toàn cầu hoá, nhân tố con người có vai trò đặc biệt trong việc giải quyết các xung đột về kinh tế, văn hoá – xã hội, sắc tộc, tôn giáo, vấn đề biến đổi khí hậu… Vì vậy, rất nhiều công trình khoa học đi sâu vào nghiên cứu GDĐĐ, đặc biệt là GDĐĐ học sinh phổ thông.

1.2. Một số vấn đề cơ bản về truyền thông xã hội Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

1.2.1. Khái nim

Khái niệm TTXH (social media) ra đời một vài thập kỉ trước đây với sự xuất hiện của mạng internet buổi sơ khai và hệ thống tin nhắn BBS (Bulletin Board System) [11]. Tuy vậy phải đến khi nền tảng Web 2.0 ra đời, với công nghệ giúp cho người dùng tự xây dựng được nội dung và kết nối với nhau, thì kỉ nguyên của TTXH mới thực sự bùng nổ. TTXH đến lúc này được hiểu là các nền tảng cung cấp cho người sử dụng internet dựa trên công nghệ web 2.0.

Andreas Kaplan và Michael Haenlein [dẫn theo 11] định nghĩa TTXH là “nhữngng dng internet xây dng trên nn tng công nghệ và lý tưởng ca web 2.0, mà tạo điều kin cho vic kiến tạo và trao đổi thông tin của người dùng”.

Theo định nghĩa chính thức của Chính phủ nhà nước CHXHCN Việt Nam [6], dưới đề xuất của bộ Thông Tin và Truyền thông, thì TTXH “là hệ thng thông tin cung cp cho cộng đồng người s dng mng các dch vụ lưu trữ, cung cp, s dng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin vi nhau, bao gm dch v tạo trang thông tin điện t cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trc tuyến, chia s âm thanh, hìnhnh và các hình thc dch vụ tương tự khác.” Murphy [dẫn theo 11] thì định nghĩa TTXH đơn giản là công cụ truyền thông mà công chúng có thể tạo ra và trao đổi thông tin trên mạng internet. Cần phải lưu ý sự khác biệt giữa TTXH (social media) và mạng xã hội (social network). Về mặt bản chất công nghệ, hai khái niệm này đều cùng chỉ một bản thể: đó là những website dựa trên nền tảng web 2.0 để giúp người sử dụng có thể tạo lập và truyền tải thông tin. Tuy vậy, thuật ngữ TTXH mang nghĩa rộng hơn, bao hàm cả phương tiện lẫn nội dung truyền thông, trong khi mạng xã hội nhấn mạnh nhiều hơn đến nền tảng công nghệ tạo ra nó. Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng cả hai thuật ngữ này với cùng một nội dung nghiên cứu. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

TTXH là các công nghệ qua máy tính tạo thuận lợi cho việc tạo ra và chia sẻ thông tin, ý tưởng, sở thích nghề nghiệp và các hình thức biểu hiện khác thông qua cộng đồng và mạng ảo. Sự đa dạng của các dịch vụ TTXH độc lập và tích hợp hiện đang có sẵn đưa ra những thách thức về định nghĩa. Tuy nhiên, có một số tính năng phổ biến để nhận diện TTXH là: 1) Phương tiện TTXH là tương tác Web 2 ứng dụng dựa trên Internet. 2) Nội dung do người dùng tạo ra, chẳng hạn như bài đăng văn bản hoặc nhận xét, ảnh số hoặc video kỹ thuật số và dữ liệu được tạo ra qua tất cả các tương tác trực tuyến, là huyết mạch của các phương tiện TTXH. 3) Người dùng tạo các cấu hình cụ thể cho từng trang web hoặc ứng dụng được thiết kế và duy trì bởi tổ chức TTXH. 4) TTXH tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các mạng xã hội trực tuyến bằng cách kết nối hồ sơ của người dùng với các cá nhân hoặc nhóm khác. Người dùng thường truy cập các dịch vụ TTXH thông qua các công nghệ dựa trên web trên máy tính để bàn, máy tính và máy tính xách tay hoặc tải các dịch vụ cung cấp chức năng TTXH tới các thiết bị di động của họ (ví dụ: điện thoại thông minh và máy tính bảng). Khi tham gia vào các dịch vụ này, người dùng có thể tạo các nền tảng tương tác cao thông qua đó các cá nhân, cộng đồng và tổ chức có thể chia sẻ, đồng tạo, thảo luận, và sửa đổi nội dung do người dùng tạo ra hoặc nội dung được tạo sẵn trực tuyến. Họ đưa ra những thay đổi đáng kể và lan rộng trong giao tiếp giữa các doanh nghiệp, các tổ chức, cộng đồng và cá nhân. 5) Các phương tiện TTXH thay đổi cách mà các cá nhân và tổ chức lớn giao tiếp. Những thay đổi này là trọng tâm của các lĩnh vực mới nổi của nghiên cứu kỹ thuật. Phương tiện TTXH khác với phương tiện truyền thông dựa trên giấy (ví dụ: tạp chí và báo chí) hoặc phương tiện truyền thông điện tử truyền thống như phát sóng truyền hình theo nhiều cách, bao gồm chất lượng, khả năng tiếp cận, tần suất, tính tương tác, khả năng sử dụng, tính trực tiếp và tính lâu bền. Các phương tiện TTXH hoạt động trong một hệ thống truyền dẫn đối thoại (nhiều nguồn cho nhiều người nhận). Điều này khác với các phương tiện truyền thống hoạt động dưới mô hình truyền đơn điệu (một nguồn cho nhiều người nhận), chẳng hạn như một tờ báo giấy được gửi cho nhiều thuê bao, hoặc một đài phát thanh phát các chương trình tương tự cho toàn bộ thành phố.

1.2.2. Đặc trưng ca truyn thông xã hi Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

TTXH Là một bộ phận cấu thành của truyền thông đại chúng, TTXH cũng là một hiện tượng xã hội đa chức năng, với một số chức năng xã hội cơ bản như: chức năng thông tin – liên kết xã hội; chức năng giáo dục tư tưởng, đạo đức, cổ vũ hành động; chức năng khai sáng, giải trí; chức năng giám sát – phản biện xã hội; chức năng quảng cáo – dịch vụ – thương mại…[8], [13], [14].

Tuy nhiên, những tác động của các phương tiện truyền thông nói chung không chỉ có tác động thuận, mang lại hiệu quả truyền thông, hiệu quả xã hội tích cực, mà còn có những tác động nghịch, khi mục đích truyền thông tích cực của chủ thể hướng đến và kết quả, hiệu quả thực sự xảy ra khác nhau. Đối với các phương tiện TTXH, với sự tham gia của đa dạng các chủ thể truyền thông cùng với những mục đích truyền thông khác nhau (cả mục đích tốt và mục đích xấu) và quá trình truyền thông khó kiểm soát thì những tác động nghịch của quá trình truyền thông càng dễ xảy ra, dẫn tới hiện tượng “phản chức năng” truyền thông – tạo nên những tác động tiêu cực về nhiều mặt tới xã hội và các cá nhân tham gia [24], [32].

TTXH ngoài những đặc điểm của các phương tiện truyền thông đại chúng, còn có những đặc điểm riêng đan xen giữa mặt tích cực và tiêu cực, cụ thể như sau:

Tính siêu liên kết xã hi là thuộc tính nổi bật nhất của TTXH. Không chỉ dừng lại ở chức năng thông tin như các phương tiện truyền thông đại chúng truyền thống, mục đích chính của phương tiện TTXH khi được thiết kế là dành riêng cho kết nối xã hội. Chức năng kết nối xã hội của TTXH đều được thể hiện rõ với các mức độ khác nhau, trong đó nhiều loại hình có tính kết nối, liên kết xã hội mang tính trội (mạng xã hội, diễn đàn xã hội, dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền internet, blog…). TTXH ban đầu ra đời để phục vụ các mối liên hệ liên cá nhân, tuy nhiên do đặc tính đa liên kết theo phương vô hướng tạo nên các mối quan hệ xã hội đan xen hết sức đa dạng giữa các thực thể tham gia, vượt ra ngoài nhiều giới hạn về địa lý, thời gian đã hình thành nên tính siêu kết nối xã hội của TTXH [13], [14].

Tính đồng đẳng gia nguồn phát và người nhận. Nếu quá trình truyền thông bằng các phương tiện truyền thông đại chúng thường là quá trình truyền thông như một đường thẳng (tuyến tính), với sự thụ động của người nhận thông tin (cùng với đó có sự áp đặt phần nào của người phát tin) thì trong quá trình TTXH, giữa người truyền thông tin và người nhận thông tin có quan hệ, vai trò bình đẳng ngang nhau, không chỉ dừng lại ở mức độ tương tác bình thường, mà còn ở mức độ cao hơn dẫn tới sự chuyển hóa lẫn nhau tức thời, khiến người phát tin có thể ngay sau đó trở thành người nhận tin và ngược lại. Tính đồng đẳng và tương tác cao ở mức độ chuyển hóa giữa nguồn phát và người nhận cũng là một đặc trưng nổi bật của các phương tiện TTXH [13], [14]. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Tính đa ứng dng,ng dng thông minh và tin ích: Không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin đơn thuần và kết nối xã hội, các phương tiện TTXH với đa ứng dụng trên môi trường mạng cho phép người sử dụng thực hiện đa tiện ích phục vụ cuộc sống sinh hoạt, công việc, học tập… như tìm kiếm tri thức, game thủ nhập vai trong các game trực tuyến, thanh toán online…

Khả năng số hóa thông tin và truyền thông đa phương tiện: Các thông tin giao tiếp trên các phương tiện TTXH thường được số hóa, thông tin được lưu trữ với dung lượng lớn. Thông tin có sự tích hợp đa phương tiện, cho phép người dùng chuyển tải thông điệp không chỉ bằng văn bản kí tự như truyền thống mà cùng lúc tích hợp cả văn bản, hình ảnh, âm thanh…[13], [14].

Môi trường t do thông tin và thông tin khó kim soát: Các phương tiện TTXH cho phép chuyển tải bất kỳ thông tin nào đến cộng động mạng, các thông tin không có sự chọn lọc và cũng khó có cơ quan nào có thể kiểm soát.

Chính môi trường tự do thông tin và những ứng dụng hữu ích là sức hút tự nhiên của các phương tiện TTXH. Cũng vì thế TTXH thường gắn liền với các hoạt động truyền thông không chính thức trong một xã hội mở. Truyền thông không chính thức cho phép các thực thể tham gia dễ dàng vào các nhóm xã hội nào đó để trò chuyện và đưa ra quan điểm về bất cứ vấn đề nào mà họ thích hoặc quan tâm, chia sẻ [13], [14].

Tuy nhiên mặt trái là, những thông tin không được kiểm chứng sự thực, thông tin xấu, độc, tiêu cực có thể dễ dàng được đưa lên mạng và có tác động tiêu cực khó lường với mỗi cá nhân người sử dụng, cũng như cộng đồng xã hội nói chung. Nhiều thông tin và giá trị trên các phương tiện truyền thông đại chúng là những thông tin và giá trị “ảo”, gây lệch chuẩn về giá trị đạo đức xã hội đối với người tiếp nhận [13], [14].

Tính nc danh, khả năng bảo mt gii hn và sự không đồng nht ca người dùng: Tính nặc danh là một đặc trưng của các phương tiện truyền thông đại chúng, bởi thông tin dù hướng tới đối tượng công chúng riêng song vẫn là đại chúng, hầu hết không ai biết ai. Đặc trưng này càng thể hiện rõ ở TTXH với khả năng siêu kết nối, những người trong phạm vi quen biết của một người dùng là có giới hạn, nhưng những người sẽ biết ở phạm vi rất rộng. Đặc trưng này khiến sức mạnh kết nối rất lớn, thông điệp có thể được khuếch tán không có giới hạn, song cũng tạo nên những mối quan hệ, những tương tác “ảo”, có thể phát sinh nhiều rủi ro [13], [14].

Mặt khác, trong môi trường mạng, tính bảo mật thông tin của người dùng là có giới hạn, phụ thuộc nhiều vào chất lượng bảo mật của ứng dụng – phần mềm; kỹ năng, kỹ thuật tự bảo vệ và việc sử dụng các phần mềm bảo mật an toàn của người dùng. Chủ thể sử dụng TTXH rất đa dạng, là tập hợp của một cộng đồng rộng lớn, ít có sự đồng nhất về thành phần xuất thân, trình độ học vấn, sở thích, quan điểm… Đặc điểm này khiến việc tạo nên sự đồng thuận rộng lớn hay tập hợp lực lượng để xử lý các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống không phải là việc dễ dàng. Tâm lý đám đông lại là một đặc trưng của các chủ thể tham gia TTXH, đôi khi tạo nên những hiệu ứng ngoài mong đợi của nguồn phát thông tin. [13], [14]

1.2.3. Các loi hình TTXH Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Các loại hình TTXH rất đa dạng, có sự biến đổi nhanh chóng theo nhu cầu của người sử dụng và sự phát triển của công nghệ truyền thông. Sự phân loại các phương tiện TTXH cũng rất phức tạp bởi tính đa dạng vốn có của nó, sự giao thoa đôi khi khó phân định ranh giới giữa các loại hình; xu hướng tích hợp về tính năng, ứng dụng lẫn nhau giữa các loại hình TTXH. Việc phân chia các loại hình TTXH thường dựa vào một số tiêu chí và căn cứ sau:

Th nht, phân loại theo mục đích, tính năng, chức năng của các phương tiện TTXH, TTXH có 8 loại hình: Mạng lưới các mối quan hệ (relationship networks); Mạng lưới chia sẻ các phương tiện, sản phẩm truyền thông; Ứng dụng đánh giá trực tuyến; Các diễn đàn thảo luận; Nền tảng xuất bản xã hội; Các trang đánh dấu trang web; Mạng dựa trên sở thích; Thương mại điện tử. Th hai, phân loại theo mức độ tiếp xúc-chất lượng của phương tiện truyền thông và sự tự thể hiện – tự giãi bày bản thân bao gồm 6 loại hình chính như: Dự án hợp tác; Các blog và tiểu blog; Cộng đồng chia sẻ nội dung; Mạng xã hội; Thế giới trò chơi ảo; Cộng đồng ảo. Th ba, Phân loại theo tính năng trội của mỗi loại hình TTXH. Đây là cách phân loại phổ quát nhất trên thế giới hiện nay [13].

  • Theo đó, TTXH gồm 1 số loại hình sau:

Mng xã hi (Social networks): Là dịch vụ kết nối các thành viên tham gia với nhau trên môi trường không gian mạng với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Mạng xã hội tương tác bằng cách kết thêm bạn, nhận xét về các thông tin cá nhân, gia nhập các nhóm và thảo luận. Mạng xã hội có nhiều tính năng được kết nối liên thông đa ứng dựng để người sử dụng chia sẻ thông tin như chat, bình luận, email, phim ảnh… Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo nhóm, sở thích cá nhân, lĩnh vực quan tâm… Mạng xã hội đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần của cuộc sống hằng ngày của hàng tỷ người trên thế giới.

Mạng xã hội là phương tiện phổ biến và có sức tác động lớn nhất trong các phương tiện TTXH. Những trang mạng xã hội nổi tiếng trên thế giới có hàng trăm triệu người tham gia như: Facebook, MySpace, Google +…; một số trang mạng xã hội có số lượng người tham gia nhiều như: Zing Me, Go.vn, Tamtay.vn…[13].

  • Trang chia s link và tin tc xã hi: Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Trang chia sẻ link (Social Bookmarking) là những trang giúp người sử dụng internet thuận lợi, dễ dàng hơn và truy cập có hệ thống tới các địa chỉ web thông qua việc đánh dấu trang, lưu trữ, quản lý, tìm kiếm địa chỉ những trang web yêu thích trực tuyến trên internet và chia sẻ nó với bạn bè, dựa trên các công cụ trình duyệt web thông qua các từ khóa phân loại. Trang chia sẻ link tương tác bằng cách đánh dấu các trang mạng và tìm kiếm các trang mạng dã được người khác đánh dấu. Những người được phép có thể xem một danh sách tổng hợp các link phân loại theo từ khóa, chuyên mục hoặc thông qua sự trợ giúp của các công cụ tìm kiếm, cho phép người dùng lưu và tổ chức liên kết với số lượng lớn các nguồn tài nguyên trực tuyến và các trang web. Những trang chia sẻ link được sử dụng nhiều trên thế giới như: Delicious, BlinkList, Simpy…[13].

Tin tức xã hội (Social news) là những trang web được tạo nên bởi chính sự đóng góp tin của những người dùng TTXH chứ không phải các cơ quan báo chí. Các trang web này tương tác bằng cách cho phép người dùng đăng tin tức, tiến hành bầu chọn các bản tin của người khác và bình luận những tin đó. Các mục tin có số phiếu cao nhất sẽ được hiển thị nổi bật nhất trên giao diện. Những trang tin tức xã hội nhiều người dùng ở Việt Nam là: Loantin, Linkhay…[13].

  • So với các loại hình TTXH khác, trang chia sẻ link và tin tức xã hội có ít người sử dụng hơn.

Trang chia sẻ hình ảnh, video (Social sharing) cho phép người dùng chia sẻ hình ảnh, video… Các trang web này đều cung cấp các tính năng xã hội, như khả năng tạo hồ sơ, nhận xét, bình luận về các hình ảnh, video được tải lên. Những trang chia sẻ hình ảnh, video nổi tiếng trên thế giới và Việt Nam là Youtube, Instagram…[13].

Các tiểu blog (Microblogging) là một dạng blog mà người dùng đăng các bài viết có nội dung ngắn gọn, dễ kết nối, chia sẻ thông tin cuộc sống, quan điểm, trạng thái cảm xúc… của mình với mọi người. Tiểu blog hạn chế rất thấp về kích thước nội dung (dưới 149 ký tự/tin) để khuyến khích người viết đăng tin thường xuyên. Các tiểu blog khá đơn điệu về cách thức thể hiện thông điệp, thường chỉ là kí tự văn bản nhưng bù lại nó có khả năng kết nối nhanh và mạnh, gần như không có giới hạn. Twitter là tiểu blog được sử dụng nhiều nhất trên thế giới.[13]. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Diễn đàn (Forums) trực tuyến là để mọi người (nhóm cộng đồng mạng) trao đổi, thảo luận hay tán gẫu về bất kỳ chủ đề nào quan tâm. Phương thức thường được dùng trong diễn đàn trực tuyến là người đầu tiên gửi lên một chủ đề sau đó những người tiếp theo sẽ viết những bài góp ý, thảo luận lên để trao đổi xung quanh vấn đề đó. Những quan điểm trao đổi, thảo luận không có giới hạn nào về nội dung, tuy nhiên thường vẫn phải tuân thủ theo một số quy định chung nhất định của diễn đàn do người quản lý (admin) tạo ra nhằm mục đích quản lý thành viên của diễn đàn [13].

  • Dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet (OTT)

Dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet là dịch vụ cho phép người sử dụng internet trên mạng viễn thông cố định hay trên mạng viễn thông di động thực hiện được việc gửi và nhận các tin nhắn, cuộc gọi, các thông điệp đa phương tiện… thông qua các phần mềm ứng dụng riêng. Các thiết bị có thể sử dụng các ứng dụng OTT rất đa dạng như: Viber, Zalo, Skype, Facebook Messenger…[13].

  • Phương tiện tìm kiếm xã hội và tìm kiếm tri thức (Social search and Social knowlegde)

Tìm kiếm xã hội: là công cụ tìm kiếm trên chính các trang mạng xã hội hoặc được các trang tìm kiếm thông thường liên kết với tính năng cập nhật thông tin người sử dụng trên các trang mạng xã hội để tìm kiếm thông tin liên quan về những người sử dụng các phương tiện TTXH. Điểm khác biệt giữa các trang tìm kiếm thông thường với tìm kiếm xã hội là các trang tìm kiếm xã hội có khả năng cá nhân hóa các kết quả tìm kiếm. Người dùng đều có thể tra cứu mọi thông tin có liên quan về những chủ thể thông tin từng được chia sẻ công khai (của bản thân người sử dụng hoặc của bạn bề người đó đăng lên) trên các phương tiện TTXH [13]. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Tìm kiếm tri thức: là những trang tiềm kiếm tri thức xã hội, trong đó nguồn tài nguyên tri thức được xây dựng và đóng góp bởi chính cộng đồng người dùng các phương tiện TTXH, không phải từ một nhà sản xuất đơn lẻ nào.

Đây là quá trình chia sẻ tri thức không ngừng, hình thành nên những kho tri thức số và trực tuyến khổng lồ. Thông tin tại các trang tìm kiếm tri thức đều cố gắng có nguồn gốc rõ ràng, song vẫn không tránh khỏi những thông tin thiếu chính xác, thiếu khách quan. Trang tìm kiếm tri thức xã hội được sử dụng nhiều trên thế giới và ở Việt Nam như: Wikipedia, Widia, Yahoo!Answer…[13].

Thực tế ảo và trò chơi tương tác cộng đồng (Virtual reality và Social Gamme) + Thực tế ảo: là thuật ngữ miêu tả một môi trường mô phỏng bằng máy tính. Đa số các môi trường thực tại ảo chủ yếu là hình ảnh hiển thị trên màn hình máy tính hay thông qua kính nhìn ba chiều, ngoài ra có thêm các loại giác quan khác như âm thanh hay xúc giác. Thực tế ảo là một hệ thống giao diện cấp cao giữa người sử dụng và máy tính. Hệ thống này mô phỏng các sự vật và hiện tượng theo thời gian thực và tương tác với người sử dụng qua tổng hợp các kênh cảm giác, với ba đặc điểm nổi bật là tương tác – đắm chìm – tưởng tượng, cho phép người dùng khi đeo kính đặc chủng hoặc được trang bị các công cụ kĩ thuật cần thiết thì không những nhìn thấy đối tượng đồ họa 3D nổi, điều khiển (xoay, di chuyển…) được đối tượng trên màn hình, mà còn sờ và cảm thấy chúng như có thật. Với sự phát triển của khoa học – công nghệ, thời đại của màn hình độ nét cực cao, âm thanh 3D, trí tuệ nhân tạo cao cấp thì công nghệ đang tạo ra những thế giới ảo vô cùng giống với thế giới thực. Những ứng dụng công nghệ của thực tế ảo có sự thâm nhập ngày càng sâu vào các trò chơi trực tuyến, tạo nên các game có sức hút mạnh mẽ, cho phép người chơi hóa thân vào nhân vật và tương tác với các nhân vật khác để trải nghiệm thực tế chưa bao giờ có được trong cuộc sống thực. Sức hấp dẫn này khiến người chơi, nhất là giới trẻ, bị “nghiện” các trò chơi trực tuyến nhập vai trong thế giới ảo hay hiện tượng mai một kĩ năng sống thực tế, chứng ảo tưởng, suy nhược thần kinh và sức khỏe [13].

Trò chơi tương tác cộng đồng: là các trò chơi trực tuyến được cung cấp bởi các nhà phát triển ứng dụng dựa trên nền tảng các phương tiện TTXH. Trò chơi tương tác cộng đồng thực chất chính là web-game (xây dựng trên môi trường web) nhưng được phổ biến và lan truyền mạnh trên các mạng xã hội, có thể lên đến hàng triệu người cùng tương tác với nhau. Ngoài ra do trò chơi tương tác cộng đồng đơn giản, dễ chơi, thuận tiện và không mất nhiều thời gian nên đã tiếp cận được thành phần, độ tuổi người chơi rộng hơn rất nhiều so với game truyền thống [13].

Trong đề tài nghiên cu ca mình, chúng tôi s dng cách phân loi thlàm cơ sở để thc hin nghiên c

1.2.4. Cơ chế tác động ca TTXH Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Cũng như những loại hình truyền thông khác, TTXH tác động trực tiếp vào quá trình nhận thức, ý thức, tư tưởng của mỗi cá nhân tham gia vào “cộng đồng mạng”, tạo nên những ảnh hưởng khác nhau tới mỗi người, nhóm cộng đồng và xã hội.

Khác với quá trình tác động của truyền thông truyền thống thường theo trật tự tác động tuyến tính một chiều, phản hồi hạn chế, TTXH có cơ chế đa giao tiếp và liên kết vô hướng.

Quá trình tác động của TTXH tới giới trẻ theo một cơ chế, chu trình truyền thông khá phức tạp, gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn tác động tới người nhận và giai đoạn thẩm thấu vào ý thức người nhận tạo nên những “biến đổi nhất định” về thái độ, tình cảm và hành vi của người sử dụng, đồng thời lan tỏa tạo nên những hiệu ứng xã hội ở các mức độ khác nhau.

Giai đoạn 1, giai đoạn tác động tới người nhn, cho thấy vai trò trung tâm của các phương tiện TTXH trong mọi quá trình truyền thông. Vai trò trung tâm này được tạo nên bởi chính những ưu việt (về công nghệ, sự tiện dụng, đa ứng dụng và tốc độ truyền tải thông tin) của các phương tiện TTXH. Các phương tiện TTXH cho phép một cơ chế phản hồi hết sức đa dạng, không chỉ bình luận, nhận xét như thông thường, mà có thể đánh giá, chấm điểm, mời gọi, giao dịch, nhập vai, thay đổi thông tin… Vai trò đồng đẳng giữa người truyền tin và nhận tin dẫn đến sự hoán vị gần như ngay lập tức giữa người phát và người nhận [13].

Giai đoạn 2 là giai đoạn thm thu vào ý thức người nhn để ra quyết định cuối cùng, đưa đến những “biến đổi nhất định” về thái độ và hành vi của người sử dụng, đồng thời lan tỏa tạo nên những hiệu ứng xã hội ở các mức độ khác nhau. Các phương tiện TTXH mang theo thông điệp truyền thông tác động trực tiếp vào ý thức của người sử dụng.

Khi tác động vào ý thức của người sử dụng, trước khi chuyển hóa thành những thái độ và hành vi cụ thể trong thực tiễn, các thông điệp truyền thông được “nhào nặn” với cơ chế phức tạp trong ý thức của mỗi người. Mỗi thông điệp truyền thông được người sử dụng đưa ra đều có ảnh hưởng bởi phông văn hóa, trình độ chính trị, trạng thái cảm xúc, trình độ học vấn, sự từng trải, tính cách, hoàn cảnh gia đình… của mỗi người. Tất cả những điều đó tạo nên sự phong phú, đa dạng của thông điệp TTXH [13].

Quá trình tác động của TTXH vừa tạo nên những liên kết xã hội rộng rãi, vừa tạo ra những hiệu ứng lan tỏa xã hội. Các phương tiện TTXH cũng có cơ chế siêu liên kết xã hội. Từ trung tâm là các phương tiện TTXH, các liên kết, thông tin giữa cá nhân – cá nhân, cá nhân – các nhóm xã hội, nhóm xã hội – nhóm xã hội… diễn ra hết sức đa dạng. Đồng thời, sức lan tỏa xã hội (hay hiệu lực truyền thông) của TTXH rất lớn, tức thời và mang tính tự phát, khó kiểm soát (bản thân cá nhân đăng tải thông điệp cũng không kiểm soát được thông tin khi nó đã được đăng). Nhiều thông điệp từ các phương tiện TTXH tạo nên những dư luận xã hội rộng lớn, làm thay đổi những quyết sách chính trị – xã hội, giúp xã hội tốt hơn hoặc ngược lại.

Khi tác động tới đối tượng cụ thể là giới trẻ, ngoài những yếu tố ảnh hưởng chung trên, quá trình truyền thông còn chịu sự quy định của những yếu tố thuộc về đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi riêng của giới trẻ [13].

1.3. Ảnh hưởng của TTXH đến GDĐĐ học sinh THPT Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

1.3.1. Giáo dục đạo đức cho hc sinh THPT

1.3.1.1. Một vài đặc điểm nhân cách la tui hc sinh THPT

Học sinh THPT nằm trong độ tuổi vị thành niên, là giai đoạn cuối của tuổi vị thành niên và giai đoạn giữa của tuổi thanh niên. Ở lứa tuổi này, các mối quan hệ ít mâu thuẫn hơn so với độ tuổi trước đó. Quan hệ với cha mẹ, thầy cô, bạn bè đã trở nên thuận lợi hơn do sự trưởng thành nhất định trong nhận thức của học sinh và sự thay đổi trong cách nhìn nhận của người lớn. Tuy vậy, tính chất ít xác định về quan hệ xã hội vẫn còn. Học sinh THPT có thể tự quyết định được một số vấn đề của bản thân hoặc tham gia vào việc ra các quyết định như lựa chọn nghề nghiệp, học hành, tình cảm… Trong quan hệ với bạn bè, học sinh THPT có thể tham gia vào nhiều nhóm bạn đa dạng hơn, thẩm mĩ, tình bạn, tình yêu được bộc lộ một cách rõ ràng. Đặc điểm nhân cách nổi bật là sự phát triển của tự ý thức và khẳng định cái tôi của bản thân, trong đó sự cường điệu tính độc đáo riêng, thường tìm cách để người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó nổi bật là đặc điểm của nhiều học sinh lứa tuổi này. Học sinh THPT đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình cảnh con người lý tưởng gần hơn với thực tế sinh hoạt hàng ngày. Lứa tuổi này đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội cho bản thân trong tương lai và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy. Các em đã nhận thức được rằng cuộc sống trong tương lai phụ thuộc vào việc mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không [9], [10].

Mối quan hệ giao tiếp với bạn bè được mở rộng và chiếm vị trí quan trọng, nhu cầu giao tiếp phát triển mạnh mẽ, các em thường so sánh mình với người khác để tìm hiểu, so sánh và xây dựng hình ảnh của bản thân. Bên cạnh đó ở lứa tuổi này xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt là tình yêu nam nữ, tuy nhiên mới dừng lại ở mức yêu đương bạn bè. Đời sống tình cảm đa dạng, phong phú; tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu yếu, trình độ giác ngộ, nhận thức về xã hội còn thấp. Là lứa tuổi mộng mơ, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp hình thức, có mới nới cũ. Là lứa tuổi rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại hoặc những điều cảm thấy chưa hài lòng. Là lứa tuổi đang phát triển về tài năng tiếp thu cái mới nhanh, thông minh sáng tạo nhưng cũng rất dễ sinh ra chủ quan nông nổi, kiêu ngạo, ít chịu học hỏi đến nơi đến chốn. Thích hướng về tương lai, ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ, một số ít có thái độ coi thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa hoa lãng phí, ăn chơi, đua đòi theo bạn bè…

1.3.1.2. V trí, vai trò ca GDĐĐ cho hc sinh THPT Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen, hành vi, chuẩn mực về đạo đức.

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và xây dựng thể hiện được những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội. Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng

Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đang tiến hành cải cách giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, hướng vào thực hiện giáo dục có chất lượng cao để chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội toàn cầu, nhà trường có vai trò quan trọng, giữ vị trí đặc biệt trong giáo dục [30].

GDĐĐ cho thế hệ trẻ là trách nhiệm của toàn xã hội, song giáo dục ở nhà trường giữ vai trò chủ đạo. GDĐĐ trong nhà trường là quá trình giáo dục bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể, có quan hệ biện chứng với các bộ phận khác: GDĐĐ (Đức dục); Giáo dục trí tuệ (Trí dục); Giáo dục thể chất; Giáo dục thẩm mỹ (Mỹ dục); Giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp trong đó GDĐĐ được xem là nền tảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm năng vững chắc cho các mặt giáo dục khác; GDĐĐ tạo ra nhịp cầu gắn kết giữa nhà trường và xã hội, con người và cuộc sống.[30].

Nhà trường THPT coi GDĐĐ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Mục đích giáo dục của nhà trường không ngoài mục đích hình thành và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Ở nhà trường GDĐĐ cho học sinh là hình thành ý thức đạo đức, hành vi thói quen đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi thói quen đạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức dân tộc, đạo đức cách mạng, đạo đức XHCN.

Giáo dục đạo đức ở trường THPT là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến những nhu cầu, chuẩn mực đạo đức theo yêu cầu của xã hội thành những phẩm chất, giá trị đạo đức cá nhân học sinh, nhằm góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội. GDĐĐ học sinh ở trường THPT là góp phần thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục – đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH là “Nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội”.[30].

1.3.1.3. Mc tiêu, nhim vụ và các con đường GDĐĐ cho hc sinh THPT

  • Mục tiêu, nhiệm vụ GDĐĐ cho học sinh THPT: GDĐĐ trong nhà trường THPT có nhiệm vụ cơ bản sau:

Giáo dục ý thức đạo đức: Cung cấp cho người học những chi thức cơ bản về chuẩn mực đạo đức, phẩm chất đạo đức, những yêu cầu của xã hội đối với hành vi đạo đức của mỗi cá nhân, từ đó giúp HS có ý thức và chịu trách nhiệm trước hành vi đạo đức của mình trong các mối quan hệ xã hội.

Giáo dục tình cảm niềm tin đạo đức: Qua quá trình giáo dục khơi dậy ở người học những rung động, xúc cảm trước hiện thực xung quanh, biết yêu ghét rõ ràng, biết đồng cảm, chia sẻ với người khác và có niềm tin vào đạo lý, vào những điều tốt đẹp của cuộc sống từ đó có thái độ ứng xử đúng đắn trước các diễn biến phức tạp của đời sống xã hội.

Giáo dục hành vi thói quen đạo đức: Là quá trình tổ chức rèn luyện đạo đức trong học tập, trong sinh hoạt, trong cuộc sống nhằm tạo thói quen, tạo lập được hành vi đạo đức đúng đắn, trở thành phẩm chất của nhân cách, trở thành thói quen nhân cách bền vững.[34] Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

  • b) Các con đường GDĐĐ cho học sinh THPT

Giáo dục thông qua dạy học: Một trong những con đường quan trọng nhất để giáo dục thế hệ trẻ là đưa HS vào học tập trong nhà trường. Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo chu đáo thực hiện. Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có một tập thể HS cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng. Nhờ học tập và thực hành theo những chương trình nội, ngoại khóa mà kỹ năng được hình thành, trí tuệ được mở mang, nhân cách được hoàn thiện. Dạy học là con đường giáo dục chủ đạo, ngắn nhất và có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm, vấp váp, thử sai trong cuộc đời. Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục.[34]

Giáo dục thông qua các tổ chức hoạt động phong phú và đa dạng: Toàn bộ cuộc sống của con người là một hệ thống liên tục hoạt động và con người lớn lên cùng các hoạt động đó. Vì thế, đưa con người vào các hoạt động thực tế phong phú và đa dạng là con đường giáo dục tốt. Con người có nhiều dạng hoạt động như; vui chơi, lao động sản xuất, hoạt động xã hội… mỗi dạng hoạt động có những nét đặc thù và đều có tác dụng giáo dục.

Giáo dục thông qua sinh hoạt tập thể: Tổ chức cho học sinh sinh hoạt tập thể là hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường. Tập thể là một tập hợp nhiều cá nhân cùng hoạt động theo một mục đích tốt đẹp. Hai yếu tố quan trọng của tập thể có ý nghĩa giáo dục lớn là chế độ sinh hoạt và dư luận tập thể. Chế độ sinh hoạt tập thể hợp lý, với kỷ luật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nền nếp tạo nên thói quen sống có văn hóa, hình thành ý chí và nghị lực. Dư luận tập thể lành mạnh luôn trợ giúp con người nhận thức những điều tố đẹp, điều chỉnh hành vi cuộc sống có văn hóa. Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người, tổ chức tốt các hoạt động tập thể là con đường đúng đắn [34].

Tự tu dưỡng: Nhân cách được hình thành bằng nhiều con đường trong đó có tự tu dưỡng hay còn gọi là tự giáo dục. Tự tu dưỡng biểu hiện ý thức và tính tích cực cao nhất của cá nhân đối với cuộc sống. Tự tu dưỡng được thực hiện khi cá nhân đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định, khi đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, những tri thức phong phú. Tự tu dưỡng là kết quả của quá trình giáo dục, là sản phẩm của nhận thức và sự tạo lập những thói quen hành vi, là bước tiếp theo và quyết định của quá trình giáo dục. Phối hợp các con đường giáo dục chính là nguyên tắc giáo dục phức hợp và cũng là nghệ thuật giáo dục.[34] Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

1.3.1.4. Nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ cho hc sinh THPT

  • a) Nội dung GDĐĐ cho học sinh THPT bao gồm:

Giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống: có ý tưởng XHCN, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào Đảng và Nhà nước.

Giáo dục các bổn phận đạo đức của học sinh với học tập, rèn luyện, có trách nhiệm với gia đình và xã hội: tự trọng, tự tin, tự lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối hận.

Giáo dục tinh thần đấu tranh khắc phục, ngăn chặn những biểu hiện thiếu đạo đức trong tư tưởng, tình cảm, hành động: tinh thần trách nhiệm cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, bảo vệ lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết.

Giáo dục ý thức xây dựng nếp sống văn minh, tích cực: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ tài nguyên, xây dựng xã hội dân chủ bình đẳng…

Mặt khác có ý thức chống lại những hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hòa bình, bảo vệ phát huy truyền thống di sản văn hóa của dân tộc và của nhân loại.

Ngày nay, trong nội dung GDĐĐ cho học sinh THPT có thêm một số chuẩn mực mới như tính tích cực xã hội, quan tâm đến thời sự, sống có mục đích, có tinh thần hợp tác với bạn bè, với người khác.[9], [30], [34]

  • b) Phương pháp GDĐĐ cho học sinh THPT:

Phương pháp GDĐĐ là cách thức hoạt động chung giữa giáo viên, tập thể học sinh và từng học sinh nhằm giúp học sinh lĩnh hội được nền văn hóa đạo đức của loài người và dân tộc. Có 3 nhóm phương pháp chính:

Phương pháp làm gương của giáo viên, người lớn: Người thầy luôn là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Nhân cách của người thầy có một ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giáo dục đào tạo cho học sinh. Lứa tuổi này các em có yêu cầu thầy cô giáo phải có phẩm chất tốt, là tấm gương về mọi mặt cho học sinh. Ở lứa tuổi này các em hiểu rõ mặt yếu của giáo viên, biết nhận xét đánh giá từng thầy cô, các em có xu hướng cảm phục những giáo viên giỏi, có phẩm chất cao quý và luôn tự hào về các giáo viên đó. Các em sẵn sàng làm theo sự hướng dẫn của họ và họ – những người thầy giáo cao quý đó thực sự là tấm gương sáng cho học viên noi theo. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Phương pháp nêu gương người tốt việc tốt: dùng những tấm gương sáng của cá nhân, tập thể để giáo dục, kích thích học sinh học tập và làm theo những tấm gương mẫu mực đó. Phương pháp có giá trị to lớn trong việc phát triển nhận thức và tình cảm đạo đức cho học sinh, đặc biệt giúp học sinh nhận thức rõ ràng hơn về bản chất và nội dung đạo đức.[9], [30], [34]

Phương pháp thông qua trải nghiệm của chính học sinh: (1) Phương pháp đóng vai: là tổ chức cho học sinh nhập vai vào nhân vật trong những tình huống đạo đức giả định để các em bộc lộ thái độ, hành vi, ứng xử; (2) Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho học sinh thực hiện những thao tác, hành động, lời nói phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua một trò chơi nào đó; (3) Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa giáo dục nhận thức với giáo dục các phẩm chất nhân cách cho học sinh. Thực hành nhiệm vụ này người học được rèn luyện tính tự lập cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch hành động, đến việc thực hiện dự án với nhóm bạn bè, tự kiểm tra đánh giá quá trình và kết quả thực hiện; (4) Phương pháp luyện tập: Là phương pháp đưa học sinh vào các hoạt động có kế hoạch, có mục đích trong một thời gian dài để tạo cho họ thói quen hành vi. Luyện tập càng sớm càng tốt, ngay từ lúc trẻ nhỏ trong gia đình, lớn lên trong nhà trường và thực hiện công việc phải tích cực và sáng tạo đó là con đường để hình thành nhân cách. Luyện tập càng đa dạng phong phú thì giá trị đạo đức càng cao. Do đó nhà trường cần tổ chức nhiều hoạt động để HS được rèn luyện là điều kiện thuận lợi giúp các em hình thành phát triển nhân cách, xây dựng ý thức đạo đức.[9], [30], [34]

  • c) Hình thức GDĐĐ cho học sinh THPT

Hiện nay có nhiều hình thức GDĐĐ cho học sinh THPT được sử dụng, nhưng nhìn chung có thể chia làm 2 loại:

Giáo dục đạo đức thông qua các môn học, đặc biệt là môn Giáo dục công dân nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, về tổ chức bộ máy Nhà nước CHXHCN Việt Nam, về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Giúp củng cố, mở rộng và khơi sâu các hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, hình thành những kinh nghiệm đạo đức, rèn luyện kỹ xảo và thói quen đạo đức thông qua nhiều hình thức tổ chức đa dạng: Hái hoa dân chủ; hội diễn văn nghệ; thi làm báo tường; thi kể chuyện; trò chơi, sân khấu hóa, tham quan…

1.3.2. Tác động của TTXH đến GDĐĐ cho học sinh trường THPT hin nay

Trong giai đoạn hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, TTXH rất phong phú, đa dạng đề cập đến rất nhiều vấn đề xã hội, nhiều lĩnh vực khác nhau ảnh hưởng trực tiếp và giãn tiếp đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới trẻ. Trong các trường THPT, với sự phát triển của tâm lý lứa tuổi, sở thích khám phá những điều mới lạ và nhu cầu mở rộng kiến thức phục vụ cho học tập và rèn luyện. Qua thực tế cho thấy, TTXH tác động rất mạnh mẽ đến giới trẻ nhất là học sinh trong các trường THPT. Từ những ảnh hưởng đó nó đã làm thay đổi đến nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện, nhất là mặt đạo đức.

Qua tác động của TTXH, về nhận thức: Dưới tác động của TTXH, nhận thức học sinh sẽ chịu những ảnh hưởng nhất định cả theo chiều hướng tích cực và tiêu cực. Về tác động tích cực, học sinh chuyển hóa từ cái chưa biết đến hiểu biết những kiến thức về giáo dục pháp luật, về quan hệ, ứng xử…Về góc độ tiêu cực, TTXH không phải lúc nào cũng tạo ảnh hưởng tốt mà có rất nhiều những tác động xấu đế nhận thức, thái độ, hành vi.

Về thái độ: học sinh hình thành hệ thống quan điểm, thái độ đối với mọi người xung quanh như: điều chỉnh bản thân, công việc, hoạt động và quan điểm đối với cộng đồng, xã hội.

Về hành vi: Nếu tiếp cận các trang mạng xã hội tích cực sẽ có ích trong vận dụng vào hoạt động thực tế và đây là những cơ hội để tìm tòi, sáng tạo, chia sẻ những thông tin tích cực, những gương người tốt, việc tốt. Từ những nhận thức như vậy, học sinh đã có những thái độ đúng đắn, biết cách khai thác và làm chủ bản thân trước những tác động của TTXH. Trên thực tế, học sinh cũng có nhiều những hành vi, cử chỉ tốt đẹp được lan truyền sâu rộng trong các trường học, là những tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Tuy nhiên, TTXH không phải thông tin nào cũng chứa đựng yếu tố tích cực, tiến bộ mà có những thông tin hàm chứa những nội dung xấu, độc, địa chỉ đen…Trong thực tế cũng đã từng có những học sinh có những nhận thức, thái độ, hành vi chưa thật sự đầy đủ, dẫn đến từ tác động của TTXH làm cho học sinh gây ra những vấn đề tiêu cực, nhạy cảm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng. Chính vì vậy, cần được các lực lượng giáo dục, nhất là nhà quản lý giáo dục cần có những biện pháp hiệu quả nhằm phát huy những tích cực và hạn chế những tiêu cực của TTXH để giáo dục đạo đức học sinh.

1.3.2.1. Những tác động tích cc

TTXH làm nảy sinh những nhu cầu đạo đức lành mạnh, các thông tin tốt, những chương trình hay, những tấm gương người tốt, việc tốt… được chia sẻ hàng ngày hàng giờ đã tác động to lớn đến giáo dục ý thức, hành vi đạo đức của từng người đặc biệt là thế hệ trẻ. Thông qua việc tiếp xúc hàng ngày, những giá trị đạo đức tốt đẹp được lan tỏa, từ đó giúp cho mỗi con người hướng tới việc hành động với những giá trị đạo đức tốt đẹp, lên án những hành vi trái ngược với luân thường, đạo lý, bị xã hội lên án.

TTXH giúp hình thành ý thức đạo đức chuẩn mực, qua các phương tiện TTXH, học sinh được tiếp cận nhiều luồng thông tin, nhiều cách lựa chọn về hành vi ứng xử, thái độ phù hợp, những lựa chọn cần phải hành động ngay tức khắc nhưng lại phải phù hợp với những giá trị đạo đức. Việc được tiếp cận thông tin hàng ngày cũng là một cách để thế hệ trẻ bồi đắp, hun đúc cho mình những giá trị tốt đẹp mà mình lựa chọn. Tuy nhiên TTXH là một không gian rất mở, vì vậy cũng cần có những biện pháp quản lý hữu hiệu đến từ các nhà quản lý, gia đình, nhà trường và mỗi cá nhân để giới trẻ có thể vừa trao đổi thông tin vừa học tập lẫn nhau những giá trị tốt đẹp.

TTXH định hướng thế hệ trẻ tới những giá trị nhân văn, trong một thế giới rộng mở thông tin, thế hệ trẻ dễ dàng được so sánh, trải nghiệm, thể hiện quan điểm của mình trước những hành vi, giá trị đạo đức được truyền thông chia sẻ. Nếu được định hướng đúng đắn, cùng với việc có một nền tảng nhân cách tốt, học sinh sẽ dễ dàng rút ra được cho mình những bài học, những giá trị đạo đức tốt đẹp để hoàn thiện nhân cách cá nhân. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

TTXH mang đến những bài học đạo đức chân thực từ cuộc sống, cùng với việc sử dụng mạng xã hội, các thông tin được cập nhật từng ngày, từng giờ một cách chân thực nhất. Các hiện tượng, các sự kiện, các hành vi cũng được truyền tải một cách chân thực nhất. Việc học sinh “trực tiếp” nhìn thấy, nghe thấy qua sự hỗ trợ của các phương tiện TTXH đã giúp cho học sinh nắm bắt được mọi nhiều nhanh hơn, chân thực hơn. Điều này là một lợi thế mà giáo dục nhà trường không có được [10].

Qua các phương tiện TTXH, nhất là mạng xã hội học sinh được tự do thoải mái thể hiện “cái tôi cá nhân” thông qua hàng loạt bài viết, hình ảnh, clip, bình luận cùng bạn bè trên mạng xã hội. Điều này giúp cho học sinh dễ dàng mở rộng giao tiếp, dễ dàng thiết lập các mối quan hệ xã hội. Thông qua những gì học sinh thể hiện trên mạng xã hội, nhà trường và gia đình, thầy cô và cha mẹ có thể nhận thấy được sự phát triển của học sinh, đồng thời có thể có những uốn nắn, hỗ trợ kịp thời trước những biểu hiện chưa tốt của học sinh trên các phương tiện TTXH [14].

Thông qua các phương tiện TTXH, các thành viên được kết nối với nhau rất đa dạng lứa tuổi, ngành nghề; không chỉ trong nước mà còn ở ngoài nước. Các bài viết được đăng tải trên các phương tiện TTXH giúp cho các thành viên đặc biệt là những người trẻ tuổi có thể cùng chia sẻ và trao đổi những kiến thức, kỹ năng…[13], [14].

Các phương tiện TTXH là một kênh thông tin quan trọng trong việc tập hợp và chia sẻ những thông tin về các trường hợp cần giúp đỡ, cần chia sẻ.

Thông qua Internet và mạng xã hội, ngày càng xuất hiện nhiều nhóm, hội làm công tác xã hội, những công việc thiện nguyện. Mạng xã hội đã kết nối những người có cùng chí hướng với nhau, có cùng sự cảm thông chia sẻ với cộng đồng, xã hội bằng những hành động như kêu gọi các thành viên của nhóm tham gia giúp đỡ người nghèo, chung tay bảo vệ môi trường…[32].

1.3.2.2. Nhng tác động tiêu cc

Hoạt động giao lưu kết bạn là một đặc trưng tâm lý của tuổi thanh niên. Tuy vậy cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông, dường như giới trẻ ngày càng ít tương tác trực tiếp với nhau. Việc giảm giao tiếp mặt đối mặt khiến cho việc phán đoán mức độ tin cậy của người khác là khó. Vì vậy dễ xuất hiện những tình huống xấu, bị lừa gạt, nhất là ở giới trẻ kinh nghiệm sống chưa nhiều. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện TTXH khiến cho giới trẻ dành thời gian truy cập ngày càng nhiều. Việc sử dụng mạng xã hội nếu như không có mục đích và kế hoạch thời gian cho công việc, học tập rõ ràng, người tham gia sẽ phí thời gian quý báu của mình. Mỗi con người, nhất là giới trẻ cần có môi trường giao tiếp năng động và có sự vận động, ngược lại nếu chỉ ngồi một chỗ quá lâu dẫn đến lười vận động, ngại giao tiếp với thế giới bên ngoài, tự cô lập bản thân trong thế giới thực.

Giới trẻ nói chung, học sinh THPT nói riêng đang trong độ tuổi muốn thể hiện mình nhưng lại hạn chế về kinh nghiệm sống, rất dễ bị lôi cuốn theo những ứng dụng, trò chơi được quảng cáo hàng ngày, tích hợp vào rất nhiều những ứng dụng phần mềm khác nhau. Từ không quản lý được chính mình, các em dễ bị sa đà, cuốn theo mà không thể thoát ra được. Từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ dẫn đến sự sa sút về cả thể chất và tinh thần.[14]

1.3.2.3. Quản lý tác động ca truyền thông đến giáo dục đạo đức cho hc sinh

Hiện nay, các phương tiện TTXKH là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại của giới trẻ, có sức hút và sự gắn bó tự nhiên ngày càng lớn tới đời sống của con người, của giới trẻ; người dùng dù ít hay nhiều, dù gián tiếp hay trực tiếp đều phải chịu tác động, ảnh hưởng của TTXH. Do đó cần phải quản lý và định hướng cho giới trẻ thích ứng và ứng xử phù hợp trước những tác động của TTXH.

Th nht, cần định hướng đúng và trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong khai thác dữ liệu trên Internet nói chung và TTXH nói riêng. Trong thực tế cách giáo dục thiên về lý thuyết trong nhà trường không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Vì vậy, để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của TTXH đến học sinh, cần thiết phải trang bị cho học sinh những kỹ năng sử dụng phương tiện TTXH.

Th hai, gia đình, nhà trường cần nắm bắt được tình trạng sử dụng mạng xã hội của con em mình, tình trạng lạm dụng và hạn chế những tác động xã hội tiêu cực từ hội chứng “nghiện phương tiện TTXH” của giới trẻ. Thực tế cho thấy hội chứng “nghiên phương tiện TTXH” gây nên những khủng hoảng về tâm sinh lý, tiêu tốn thời gian, tiền bạc, lệch lạc về kĩ năng giao tiếp, ảnh hưởng tiêu cực tới học tập, có thể khiến người dùng trở thành nạn nhân hay tội phạm mạng, có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo đức, phát triển nhân cách lệch lạc. Vì vậy người lớn cần phải biết được tình trạng của con em mình có lạm dụng các phương tiện TTXH hay không, từ đó có những phương cách hữu hiệu để quản lý trẻ, giúp trẻ có sự cân bằng và hài hòa trong lựa chọn và sử dụng các phương tiện TTXH yêu thích của mình.

Th ba, nhà trường và xã hội cần có những thông tin nhanh, kịp thời về các thay đổi trong các dịch vụ truyền thông mới từ đó kịp thời có những định hướng, hoạt động phù hợp trong giáo dục học sinh nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng. Từ sự chủ động của gia đình – nhà trường – cá nhân học sinh trước những tác động của TTXH, các hoạt động giáo dục sẽ diễn ra hiệu quả hơn, thiết thực hơn.

1.4. Quản lý giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

1.4.1. Lp kế hoch giáo dục đạo đức hc sinh trước tác động ca TTXH

Chương trình, kế hoạch đó là sự thống kê những công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: một tuần, tháng, học kỳ, năm học, dịp hè. Đó là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học. Kế hoạch rất cần trong hoạt động, sẽ làm cho công tác của nhà giáo dục có mục đích. Kế hoạch sẽ giúp nhà giáo dục không bị lôi cuốn vào những công việc lặt vặt, làm cho họ chủ động hơn, tự tin hơn trong công tác của mình. Lập kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục yêu cầu phải nắm chắc ba vấn đề quan trọng đó là: Làm cái gì?; Làm như thế nào? Ai làm ? Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động tuần, tháng, năm của giáo viên bao gồm các nội dung cụ thể và hình thức tổ chức hoạt động sao cho phù hợp, thời gian tiến hành hoạt động, chuẩn bị cho hoạt động thế nào,…

Quản lý các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh: Quản lý việc triển khai kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức học sinh và việc bồi dưỡng đến GV, cán bộ Đoàn – Đội; Quản lý việc thực hiện hoạt động bắt buộc, hoạt động tự chọn; Quản lý việc xây dựng kế hoạch về CSVC và các điều kiện khác thực hiện các hoạt động định hướng trong giáo dục đạo đức học sinh trước các tác động của TTXH; Quản lý kế hoạch kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động giáo dục đạo đức; Quản lý kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường… Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

1.4.2. Quản lý đội ngũ thực hin kế hoch giáo dục đạo đức học sinh trước tác động ca truyn thông xã hi

Trong quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung, quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh là một yếu tố quan trọng bởi chính yếu tố này làm nên thành bại của các hoạt động giáo dục đạo đức học sinh. Quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh bao gồm:

  • Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn thực hiện giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH

Đội ngũ cán bộ Đoàn có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Vì thế, việc quản lý được thể hiện ở những nội dung sau: việc xây dựng kế hoạch tuần, tháng, năm; sự đôn đốc đối thường xuyên; chỉ đạo hoạt động đối với các chi đoàn, quản lý việc theo dõi các hoạt động bắt buộc, thực hiện các hoạt động tự chọn và phối hợp với các lực lượng giáo dục khác.

  • Quản lý đội ngũ GV

Giáo viên là người thiết kế tổ chức thực hiện theo kế hoạch của lớp, khối lớp mình dạy; là người nắm quyền chủ động trong việc thực hiện các tác động giáo dục đến học sinh. Ngoài ra giáo viên còn tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động của trường, của địa phương nhằm tăng cường sự thống nhất các hoạt động giáo dục giữa gia đình – nhà trường – xã hội.

Quản lý GV thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trước các tác động của TTXH bao gồm: việc triển khai thực hiện kế hoạch việc kết hợp của GV lớp với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường như cán bộ Đoàn – Đội, Hội cha mẹ học sinh; việc đánh giá xếp loại HS; việc rút kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục, các chuyên đề.

Quản lý việc triển khai các hoạt động giáo dục trước các tác động của TTXH: người Hiệu trưởng phải nắm được hoạt động này diễn ra ở các lớp học như thế nào? Vai trò của GV ra sao? Thời gian, hình thức, nội dung thực hiện có đúng theo quy định không? Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán sự lớp điều hành có đáp ứng được yêu cầu phát huy sự chủ động của HS không hay vẫn mang tính áp đặt của GV? Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Quản lý việc phối hợp các lực lượng khác: để tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục đạo đức ở lớp mình phụ trách thì GV cần biết tiếp cận và huy động các lực lượng giáo dục cùng tham gia. GV với tư cách là người tham mưu, người tổ chức để các lực lượng này cùng tham gia vào quá trình hoạt động của HS. Trong việc phối hợp, GV chủ động đề xuất nội dung và cách thức phối hợp, hình thức đánh giá hiệu quả của sự phối hợp. Đặc biệt là khi tổ chức các CLB, các cuộc thi thì việc phối hợp với các lực lượng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, việc phối hợp với gia đình, với các tổ chức xã hội khác để hướng vào việc tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, rèn luyện… nhằm hình thành nhân cách cho các em.

1.4.3. Qun lý vic t chc hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trước tác động ca TTXH

Quản lý việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đước học sinh trước tác động của TTXH là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý của người hiệu trưởng. Để nội dung này thực sự hiệu quả đòi hỏi nhà quản lý cần phải tiến hành kiểm tra, đánh giá trên nhiều phương diện khác nhau: mục tiêu, các quy định về chương trình, thời gian biểu… nhằm phát hiện kịp thời những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của chúng để đề ra các biện pháp khắc phục.

Để quản lý việc tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH theo kế hoạch đã xây dựng của giáo viên, nhà quản lý phải nắm bắt thông tin nhiều chiều một cách chính xác, khách quan và hệ thống phản ánh đúng các kết quả đạt được trong hoạt động của nhà trường.

Quản lý việc giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH giúp hiệu trưởng nắm được hiệu quả và chất lượng của từng cá nhân, từng bộ phận, thấy rõ những mặt mạnh và những điểm còn hạn chế trong quá trình vận hành bộ máy của nhà trường, khẳng định những điều giáo viên đã làm được, chưa làm được trong giáo dục đạo đức học sinh trước những thay đổi nhanh của cuộc sống, từ đó có những hoạch định chiến lược phát triển cho những giai đoạn tiếp theo.

Công tác kiểm tra đánh giá việc tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức học sinh trước tác động của TTXH cũng cần phải dựa vào các tiêu chí, nguyên tắc có tính chất pháp quy, gắn với kiểm tra chuyên môn như kiểm tra hồ sơ sổ sách, dự khán các hoạt động mà giáo viên tổ chức cho học sinh…

1.4.4. Quản lý công tác đánh giá đạo đức hc sinh

Sau một hoạt động, GV đều phải đánh giá kết quả hoạt động của từng HS ở các mức độ và khía cạnh khác nhau. Kết quả đánh giá là một căn cứ để xếp loại của HS ở mỗi học kỳ và cuối năm học. Để việc đánh giá của GV được khách quan, GV phải dựa vào thang chuẩn đánh giá, theo một quy trình chặt chẽ và khoa học, đánh giá qua nhiều kênh như: HS tự đánh giá, tổ đánh giá, lớp đánh giá… Việc đánh giá kết quả hoạt động của HS tập trung vào ba yêu cầu: nâng cao nhận thức, rèn luyện các kỹ năng cơ bản của HS, bồi dưỡng thái độ, hứng thú, nhu cầu hoạt động và có 4 mức độ để đánh giá HS. Khi đánh giá, GV phải đánh giá một cách toàn diện, tránh quan điểm khắt khe, động viên và khích lệ là chính, nhìn nhận theo quan điểm động và chiều hướng phát triển.

Kết luận Chương 1 Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Các phương tiện truyền thông mới là một trong những thành tựu quan trọng nhất của loài người trong vòng hai thập kỷ trở lại đây và đang nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý. Truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và ảnh hưởng đến mọi cá thể xã hội, nhất là giới trẻ. Trong giai đoạn hiện nay, ảnh hưởng của TTXH đang tác động mạnh mẽ đến hoạt động giáo dục trong nhà trường, đặc biệt là công tác quản lý, giáo dục đạo đức cho học sinh.

Truyền thông xã hội ngày càng phát triển, là điều kiện thuận lợi và tích cực cho hoạt động tuyên truyền giáo dục trong nhà trường. Bởi vì, ảnh hưởng TTXH có những thuận lợi để khám phá tri thức, để nắm bắt thông tin, chia sẻ, kết nối… Tuy nhiên, TTXH ảnh hưởng cũng tiêu cực không nhỏ trong hoạt động giáo dục của nhà trường, đặc biệt là ở bậc THPT học sinh đã có nhiều thay đổi về tâm lý, lứa tuổi. Đó là hoạt động nhận thức, phân tích, cảm nhận, chia sẻ, bình luận còn nhiều hạn chế, chưa làm chủ được bản thân, chưa biết cách bảo vệ mình, ưa tìm tòi, khám phá cái mới lạ và thực tế đã có những vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức học sinh. Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục.

Trước những ảnh hưởng của TTXH tác động đến giáo dục nhà trường nói chung và giáo dục đạo đức học sinh nói riêng, trong giai đoạn hiện nay, các nhà quản lý giáo dục, các lực lượng giáo dục tiếp tục cần có những nhìn nhận, đánh giá đúng đắn và tìm ra các biện pháp quản lý hiệu quả trong GDĐĐ cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu GD&ĐT trong giai đoạn hiện nay.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng ảnh hưởng của truyền thông xã hội và GD

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến giáo dục […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537