Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nâng cao năng lực quản lý nhằm bảo tồn và phát triển du lịch bền vững động Phong Nha tại Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trong quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế, Ngành du lịch cũng đứng trước những thách thức to lớn, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong phương thức và năng lực quản lý nếu muốn thực sự trở thành ngành kinh tế ”mũi nhọn” của nền kinh tế.

Quảng Bình là một tỉnh có nhiều tài nguyên để phát triển các loại hình du lịch khác nhau. Bên cạnh các tài nguyên du lịch quan trọng và nỗi tiếng như bãi biển Nhật Lệ – Đồng Hới, bãi biển Đá Nhảy – Bố Trạch, suối nước khoáng nóng Bang – Lệ Thủy, di sản Thiên nhiên Thế giới VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được đánh giá là tài nguyên du lịch quí giá của Quảng Bình, đang trở thành điểm nhấn trong thu hút du khách đến với Quảng Bình.

VQG Phong Nha – Kẻ Bàng có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, đặc biệt là du hang động hay du lịch sinh thái. Từ khi đưa vào khai thác du lịch (năm 1995) đến nay lượng khách đến tham quan VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch VQG Phong Nha-Kẻ Bảng còn đơn điệu, chỉ tập trung đầu tư và khai thác loại hình du lịch tham quan hang động như động Phong Nha, động Tiên Sơn, động Thiên Đường và tuyến du lịch sinh thái suối nước moọc, còn lại các loại hình du lịch khác chưa được đầu tư khai thác, chất lượng các dịch vụ bổ trợ chưa cao.

Quá trình khai thác hoạt động du lịch tại động Phong Nha, thuộc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã và đang bộc lộ những hạn chế và bất cập nhất định như: Cơ sở hạ tầng cho khai thác động chưa đồng bộ, công tác quản lý và bảo vệ động chưa thực sự phù hợp, công tác thuyết minh, hướng dẫn bộc lộ nhiều hạn chế, công tác điều hành các hoạt động du lịch có tính chuyên nghiệp chưa cao, đội thuyền phục vụ khách chưa tương xứng, các dịch vụ hoạt động bổ trợ cho hoạt động du lịch còn yếu và thiếu.

Đặc biệt, mâu thuẫn giữa khai thác và bảo tồn tài nguyên đã xuất hiện và có chiều hướng gia tăng, đang trở thành nguy cơ đe dọa lên tài nguyên du lịch quí giá của địa phương, quốc gia và nhân loại. Việc du khách đi lại trực tiếp trên bề mặt hang động làm nền động xuống cấp nghiêm trọng; tình trạng chen lấn của khách khi tham quan và ùn tắc của thuyền du lịch trong những ngày cao điểm đang phá vỡ tính tự nhiên của hang động; hệ thống thạch nhũ, sông ngầm, cảnh quan và môi trường có dấu hiệu bị ô nhiểm hoặc bị xâm hại do nhiên liệu thừa và khói của động cơ thuyền, do hệ thống ánh sáng chưa hợp lý; đồng thời do tác động của yếu tố từ thiên tai hàng năm như lũ lụt, bồi đắp bùn cát, xói lở, sụt lún trong hang động. Những nhân tố đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo tồn và phát triển dịch vụ du lịch theo hướng bền vững. Thực trạng trên đặt ra nhiều thách thức đối với các nhà quản lý thuộc Ban quản lý VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và của chính quyền địa phương trong định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản lý nhằm bảo tồn và phát triển du lịch bền vững động Phong Nha tại Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng” để nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng thể của đề tài nhằm bảo tồn và khai thác du lịch bền vững động Phong Nha thông qua cải thiện năng lực quản lý của các đối tượng tham gia quản lý và khai thác động Phong Nha thuộc Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Để đạt mục tiêu trên, đề tài có các mục tiêu cụ thể cơ bản sau:

  • -Đánh giá lại các chiến lược khai thác động hiện tại để hình thành chiến lược khai thác bền vững và tối ưu.
  • -Đánh giá năng lực quản lý của các đối tượng tham gia quản lý và khai thác gồm Ban quản lý, các đơn vị khai thác dịch vụ và các bên liên quan từ đó xác định những hạn chế và khoảng cách trong năng lực quản lý so với yêu cầu.
  • -Xác định các định hướng và giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhằm bảo tồn và khai thác bền vững động Phong Nha theo mục tiêu đã xác định.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu chính là của đội ngủ cán bộ ban quản lý, các đơn vị khai thác, đơn vị cung cấp dịch vụ và các bên liên quan. Bên cạnh đó, du khách cũng là đối tượng chính của quá trình nghiên cứu khi đánh giá hiện trạng khai thác và xác định chiến lược khai thác.

Phạm vi

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện đối với các đối tượng liên quan đến quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ du lịch trong phạm vi động Phong Nha tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.

Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu tập trung vào hoạt động quản lý và khai thác các dịch vụ ở động Phong Nha tại VQG Phong Nha – Kẻ Bàng từ 2020-2024 , đặc biệt là thực trạng quản lý và khai thác động năm 2024. Tuy nhiên, đề xuất các giải pháp phát triển sẽ được đề xuất đến năm 2035.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Để tiến hành nghiên cứu này, một số phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ được phối hợp. Tùy theo câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng khác nhau.

4.1 Phương pháp thu thập số liệu

  • Số liệu thứ cấp

Nguồn số liệu thứ cấp là các báo cáo của sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, tài liệu liên quan đến Vườn quốc gia, thông tin đã được công bố. Số liệu này được sử dụng để làm rõ xu hướng du khách theo năm, mùa vụ, loại khách, doanh số, số ngày nghỉ, số doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, số cán bộ công nhân viên, cơ cấu theo trình độ, theo lĩnh vực. Bên cạnh đó các văn bản của các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý và khai thác động cũng được phân tích tổng hợp để làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng khai thác hiện tại của động Phong Nha.

  • Số liệu sơ cấp

Điều tra bằng bảng hỏi:

Có 3 loại điều tra bảng hỏi được thực hiện với ba đối tượng khác nhau -Bảng hỏi cho du khách:

Để đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với phương pháp khai thác hiện tại và kỳ vọng của họ về các phương pháp khai thác trong tương lai theo hướng bảo tồn và khai thác bền vững (phụ lục I).

Qui mô chọn mẫu: Du khách là 150 mẫu. Trong đó: Khách nước ngoài: 40 khách; khách trong nước: 110. Cơ cấu mẫu trên được lựa chọn trên cơ sở cơ cấu đối tượng khách hàng năm đối với dịch vụ du lịch động Phong Nha chủ yếu vẫn là khách nội địa.

Bảng hỏi cho các đơn vị cung cấp dịch vụ:

Nhằm đánh giá mức độ hài lòng đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ đối với phương pháp tổ chức, khai thác hiện tại, năng lực quản lý trong hoạt động cung cấp dịch vụ (phụ lục 2).

Qui mô mẫu là 150 mẫu. Trong đó: chủ nhà hàng, nhà nghỉ: 50 mẫu; chủ thuyền: 70 mẫu và chủ các quầy lưu niệm: 30 mẫu. Cơ cấu mẫu xác định như trên là dựa trên số lượng các đơn vị đang hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp dịch vụ.

Bảng hỏi cho cán bộ nhân viên Trung tâm Du lịch: Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Nhằm đánh giá mức độ hài lòng trong phương thức khai thác hiện tại và năng lực công tác quản lý của cán bộ, nhân viên trung tâm du lịch và các nhà quản lý của địa phương so với yêu cầu. (phụ lục 3)

Số lượng mẫu về cán bộ quản lý là 100 mẫu. Trong đó: Cán bộ gián tiếp: 20 mẫu; Cán bộ trực tiếp: 80  mẫu.

Phỏng vấn sâu:

Được sử dựng để làm rõ những đánh giá của du khách, đơn vị cung cấp dịch vụ và đơn vị quản lý.

4.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích

Phương pháp tổng hợp được sử dụng để hệ thống hóa tài liệu thu thập được làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá tình hình quản lý, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển các dịch vụ bổ trợ, kết quả hoạt động du lịch.

Phương pháp phân tích thống kê, phân tích kinh tế, phương pháp so sánh được sử dụng để xác định xu hướng biến động các chỉ tiêu liên quan đến quá trình quản lý, đầu tư phát triển và kết quả hoạt động của đơn vị quản lý động trong thời gian qua.

Phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) được sử dụng để kiểm định sự khác biệt trong đánh giá của những nhóm đối tượng khác nhau liên quan đến quá trình sử dụng dịch vụ và năng lực quản lý hiện tại.

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Nghiên cứu đã hệ thống hóa một cách khá đầy đủ và toàn diện cơ sở lý luận và thực tiển về năng lực quản lý, nâng cao năng lực quản lý và dịch vụ du lịch.

Với sự kết hợp các phương pháp khác nhau, nghiên cứu chỉ ra rằng hiện trạng khai thác động là thiếu bền vững do nhiều nguyên nhân khác nhau như cơ sở hạ tầng yếu kém, mức độ khai thác quá mức, năng lực quản lý còn hạn chế và một số yếu tố khác. Vì vậy, chiến lược khai thác động Phong Nha theo hướng bền vững đã được xác định là rất cần thiết.

Nghiên cứu cũng đã làm rõ năng lực quản lý của cán bộ quản lý cũng như các đối tượng cung cấp dịch vụ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là so với yêu cầu quản lý theo xu hướng bền vững. Vì vậy, nâng cao năng lực quản lý qua đào tạo hay đào lại là một yêu cầu bức thiết hiện nay. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục các biểu bảng, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được chia thành 3 Chương.

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
  • Chương 2: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
  • Chương 3: Định hướng và các giải pháp để nâng cao năng lực quản lý nhằm bảo tồn và phát triển du lịch bền vững động Phong Nha tại Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng 2025 – 2035.

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. DU LỊCH, THỊ TRƯỜNG DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1.1. Du lịch và các đặc trưng của hoạt động du lịch

Hoạt động du lịch đã có từ lâu và quá trình phát triển của nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loài người. Những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, du lịch phát triển nhanh ở nhiều nước trên thế giới và trở thành ngành kinh tế quan trọng, nguồn thu ngoại tệ lớn đối với nhiều quốc gia.

Tuy nhiên, khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau bởi nhiều lẽ như:

Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ khác nhau của các đối tượng khi tham gia vào “Hoạt động du lịch”. Đối với người đi du lịch thì đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một địa danh ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình. Đối với các chủ cở sở kinh doanh du lịch thì đó là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Đối với chính quyền địa phương có địa danh du lịch, thì đó là việc tổ chức các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động kinh doanh đa dạng giúp đỡ việc lưu trú, việc hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho dân cư, cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng v.v.. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Do được tiếp cận bằng nhiều khía cạnh nên cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch, sau đây là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến.

Đối với Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động cá nhân đi đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian dưới 12 tháng với những mục đích sau: Nghỉ ngơi thăm viếng, tham quan, giải trí, công vụ, mạo hiểm, khám phá, thể thao,…và những mục đích khác loại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày” [20].

Theo Đại học Kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) “Du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau, loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường kỳ” [11].

Trong khi đó, định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào 6-1991 xác định “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành kiếm lời trong phạm vi vùng tới thăm” [11, 44].

Tác giả Michael Coltman (Mỹ) lại cho rằng “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch” [45].

Ở Việt Nam, tác giả Phan Thị Thanh Tâm định nghĩa “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ sự tác động giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và đón tiếp khách du lịch” [29].

Một cách chính thống, Luật Du lịch Việt Nam xác định “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [19].

Tổng hợp các quan niệm trước nay trên quan điểm toàn diện và thực tiễn phát triển của ngành kinh tế du lịch trên trường quốc tế và trong nước. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội) đã nêu định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho đất nước (địa phương) làm du lịch và bản thân doanh nghiệp” [12 , tr 20]. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Qua nghiên cứu các khái niệm, định nghĩa về du lịch từ trước đến nay. Chúng ta thấy định nghĩa về du lịch là tương đối đa dạng. Tuy nhiên, có thể thấy chúng có những đặc điểm chính sau:

Du lịch là tổng hợp của nhiều hoạt động: Du khách trong một chuyến du lịch, bên cạnh các nhu cầu đặc trưng là: tham quan, giải trí, nghỉ ngơi dưỡng sức, chữa bệnh, còn có nhiều nhu cầu như ăn, ngủ, đi lại, mua sắm hàng hoá, hàng lưu niệm, đổi tiền, gọi điện, gửi thư, tham gia các dịch vụ vui chơi giải trí.  Các nhu cầu trên do nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao thông, bưu chính viễn thông  và các hoạt động khác đem lại. Do đó, hoạt động du lịch muốn có hiệu quả cao phải rất coi trọng phối hợp, điều hòa đồng bộ các hoạt động khác nhau, liên tục xử lý các quan hệ nảy sinh giữa các bên liên quan cung cấp dịch vụ, hàng hoá, khách du lịch và người tổ chức hoạt động du lịch một cách thông suốt, kịp thời trong không gian và thời gian hoạt động du lịch được tổ chức.

Tính chất của các hoạt động phục vụ cho một chuyến du lịch lại rất khác nhau. Mỗi một hoạt động phục vụ cho một nhu cầu nhất định nào đó của du khách và tạo nên những sản phẩm khác nhau trong ngành du lịch và tạo nên các ngành khác nhau trong nền kinh tế. Khi du lịch càng phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ngày càng nhiều. Các sản phẩm du lịch ngày thêm phong phú và có chất lượng cao hơn.

Trong một chuyến du lịch có bao nhiêu mối quan hệ nảy sinh, ít nhất cũng là quan hệ qua lại của 4 nhóm đối tượng liên quan: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch. Do đó, du lịch là một hoạt động mang tính xã hội, phát sinh, phát triển các tình cảm đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên.

Du lịch là một hoạt động có nội dung văn hóa, một cách mở rộng không gian văn hoá của du khách trên nhiều mặt: thiên nhiên, lịch sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc. Quá trình sử dụng sản phẩm du lịch, du khách có điều kiện nâng cao hiểu biết của chính cá nhân và xã hội ở trên các sản phẩm du lịch mà mình sử dụng. Do đó du lịch là hoạt động có nội dung văn hóa sâu sắc. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Sản phẩm du lịch gồm cả yếu tố hữu hình (là hàng hoá) và yếu tố vô hình (là dịch vụ du lịch). Yếu tố vô hình thường chiếm 90%. Theo ISO 9004: 1991 “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng”. Dịch vụ là kết quả hoạt động không thể hiện bằng sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế. Vì thế, du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ – sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi, không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng, tính không thể di chuyển, tính thời vụ, tính trọn gói, tính không đồng nhất… [12], [26].

Chất lượng dịch vụ du lịch chính là sự phù hợp với nhu cầu của khách hàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ là: sự tin cậy; tinh thần trách nhiệm; sự bảo đảm; sự đồng cảm và tính hữu hình. Trong 5 chỉ tiêu trên có 4 chỉ tiêu mang tính vô hình, 1 chỉ tiêu mang tính hữu hình (cụ thể biểu hiện ở điều kiện làm việc, trang thiết bị, con người, phương tiện thông tin), chỉ tiêu hữu hình là thông điệp gửi tới khách hàng về chất lượng của dịch vụ du lịch.

Sản phẩm du lịch thường gắn bó với yếu tố tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch có thể trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch. Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưa khai thác. Do đó, sản phẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch phải đến địa điểm có các sản phẩm du lịch tiêu dùng các sản phẩm đó, thỏa mãn nhu cầu của mình. Có thể nói, quá trình tạo sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về thời gian và không gian. Điều đó cho thấy việc “thu hút khách” đến nơi có sản phẩm du lịch là nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh doanh du lịch, đó cũng là nhiệm vụ của chính quyền địa phương và nhân dân cư trú quanh vùng có sản phẩm du lịch, đặc biệt trong điều kiện tiêu dùng các sản phẩm du lịch có tính thời vụ (do tính đa dạng và trải rộng trên nhiều vùng của các sản phẩm đó).

Có 3 yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sản phẩm du lịch, đó là: khách du lịch, nhà cung ứng du lịch và phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật.

Theo điểm 2, điều 10, chương I của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2013) “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.  Khách du lịch bao gồm: “Khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”, “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam”, “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” [36].

Trong 3 yếu tố trên thì dường như những quy định về khách hàng là có những hạn chế, nó bỏ qua nhiều khía cạnh phức tạp, đặc biệt là khía cạnh tâm lý của khách hàng. Theo Luật Du lịch được Quốc hội thông qua năm 2019 thì khái niệm khách du lịch về cơ bản cũng giống như khái niệm của Pháp lệnh Du lịch. Nhưng quyền của khách du lịch đã được xác định rõ hơn, tại điều 35 quy định quyền của khách du lịch: “Lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc du lịch theo đoàn; lựa chọn một phần hay toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịch của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch”, “Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợp đồng giữa khách du lịch và tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; được hưởng bảo hiểm du lịch và các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật” [25]. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Quyền của khách du lịch (theo Luật Du lịch) đã giải quyết được cơ bản quyền lợi của khách hàng khi tham gia du lịch; trên cơ sở đó các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch phải đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch phải có trách nhiệm tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch (nhu cầu sinh lý, an toàn, giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng, tự hoàn thiện) để cung ứng dịch vụ thoả mãn sự trông đợi của họ (sự tao nhã, sự sẵn sàng, sự chú ý cá nhân, sự đồng cảm, kiến thức, tính kiên định, tính đồng đội…).

Các nhà cung ứng du lịch bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cung cấp dịch vụ cho du khách. Thường được tổ chức theo mục tiêu tài chính hay theo quá trình.

Cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch: trước hết, là toàn bộ cơ sở hạ tầng xã hội bảo đảm các điều kiện phát triển cho du lịch; tiếp đến, là phương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác các tiềm năng du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hoá cung cấp thoả mãn nhu cầu của du khách. Các yếu tố đặc trưng trong hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch là: hệ thống khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ. Đó là những yếu tố chính, trực tiếp để tạo ra các dịch vụ du lịch.

Từ những đặc trưng trên, có thể thấy du lịch là một hoạt động đặc thù. Tính đặc thù thể hiện ở trong quá trình tiêu dùng sản phẩm, phát triển sản phẩm và quản lý các sản phẩm.

1.1.2. Các loại hình du lịch Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Có nhiều hình thức phân loại loại hình du lich khác nhau, tùy thuộc vào tiêu chí phân loại và mục đích của phân loại. Tuy nhiên, theo mục đích của quá trình tìm kiếm lợi ích trong hoạt động du lịch của du khách, chúng ta có thể phân loại du lịch thành các loại hình chính sau đây.

1.1.2.1. Du lịch sinh thái (hay các tên gọi khác như: du lịch khám phá, du lịch thám hiểm, du lịch dựa vào thiên nhiên, du lịch môi trường, du lịch có trách nhiệm, du lịch nhạy cảm …):

Đây là loại hình du lịch đang ngày càng được ưa chuộng trên thế giới. Thông qua loại hình du lịch này du khách có thể gần gũi hơn với thiên nhiên và qua đó thể hiện trách nhiệm của mình với thiên nhiên. Loại hình du lịch này rất đa dạng và mỗi nhóm du khách có thể tiếp cận với một cách khác nhau như có những du khách chọn loại hình khám phá nhằm tìm hiểu thế giới xung quanh để nâng cao hiểu biết của mình, có nhóm du khách thì chủ yếu muốn hòa mình vào thiên nhiên để trút đi không khí nặng nề của cuộc sống, có du khách thì muốn thể hiện trách nhiệm của mình với môi trường tự nhiên thông qua việc cải thiện môi trường tự nhiên. Nói chung du khách tham gia vào loại hình du lịch sinh thái này phải là những người có trách nhiệm với thiên nhiên, yêu thiên nhiên, bảo vệ thiên nhiên. Các đơn vị tổ chức chương trình du lịch này phải có trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn du khách còn thiếu ý thức với môi trường tự nhiên để hướng tới một mục tiêu góp phần chống ô nhiễm trên toàn cầu. Những nơi có thể tổ chức được loại hình du lịch này chủ yếu là các khu vực miền sông suối, đồi núi, đồng quê và đặc biệt là biển đảo. Loại hình du lịch này đi liền với tài nguyên du lịch còn khá hoang sơ, tự nhiên và chưa khai thác.

1.1.2.2. Du lịch hội nghị, hội thảo

Đây là loại hình kết hợp du lịch và tổ chức hoặc dự hội thảo, hội nghị. Là loại hình du lịch mới phát triển ở nước ta nhưng bước đầu đã đạt được nhiều kết quả đáng phấn khởi và khả quan. Loại hình du lịch này khi tổ chức phải đảm bảo đầy đủ các phương tiện vật chất phục vụ khách du lịch về việc tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị, đồng thời đội ngũ nhân viên tổ chức phải đảm bảo về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng tổ chức hội thảo hội nghị. Loại hình du lịch này thường mang về khoảng thu nhập cao vì hầu hết các thực khách tham gia loại hình này đều có khả năng chi trả rất cao.

1.1.2.3. Du lịch tham quan

Tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Đối tượng tham quan có thể là một tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kỳ thú, cũng có thể là tài nguyên du lịch nhân văn như một di tích một công trình đương đại hay một cơ sở nghiên cứu khoa học hay cơ sở sản xuất. Về mặt ý nghĩa, hoạt động tham quan là một trong những hoạt động để chuyến đi được coi là chuyến du lịch.

1.1.2.4. Du lịch giải trí Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Mục đích của chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bức ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe (vật chất cũng như tinh thần). Với mục đích này du khách chủ yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh, có không khí trong lành. Trong chuyến đi du lịch nhu cầu giải trí là nhu cầu không thể thiếu được. Do vậy ngoài thời gian tham quan, nghỉ ngơi, cần thiết phải có các chương trình vui chơi, giải trí cho du khách trong chuyến đi. Với sự phát triển của xã hội, mức sống gia tăng, số người đi du lịch phần nhiều mang mục đích giải trí, tiêu khiển bằng các trò chơi cũng gia tăng đáng kể. Để đáp ứng xu thế này cần quan tâm mở rộng các loại hình và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí như các công viên, các khu vui chơi giải trí.

1.1.2.5. Du lịch nghỉ dưỡng

Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khỏe cộng đồng. Theo một số học giả trên thế giới, với chế độ du lịch hợp lý, cộng đồng có thể giảm được trung bình 30% ngày điều trị bệnh trong năm. Ngày nay, nhu cầu nghỉ dưỡng càng lớn do sức ép của công việc căng thẳng, của môi trường ô nhiễm, của các quan hệ xã hội. Số người đi nghỉ nhiều lần trong năm cũng tăng lên rõ rệt. Theo thống kê, số người đi nghỉ cuối tuần ở các nước công nghiệp phát triển chiếm hơn 1/3 dân số.

1.1.2.6. Du lịch thể thao

Tham gia các hoạt động thể thao là nhu cầu thường thấy ở con người. Chơi thể thao nhằm mục đích nâng cao thể chất, phục hồi sức khỏe, thể hiện mình, được coi là một trong các mục đích du lịch. Đây là loại hình du lịch xuất hiện nhằm đáp ứng lòng đam mê các hoạt động thể thao của con người. Trong những dịp có thời gian rỗi, nhiều người thay vì chọn một chuyến đi nghỉ thụ động lại tìm đến những nơi có điều kiện để tự mình được chơi một môn thể thao nào đó nhưng không phải là tham gia thi đấu chính thức mà chỉ đơn giản là để giải trí. Các hoạt động thể thao như săn bắt, câu cá, bơi thuyền, lướt ván. Để kinh doanh loại hình này yêu cầu có các điều kiện tự nhiên thích hợp và có cơ sở trang thiết bị phù hợp cho từng loại hình cụ thể. Mặt khác nhân viên cũng cần được huấn luyện để có thể hướng dẫn và giúp đỡ cho du khách chơi đúng quy cách.

Có thể phân biệt thể thao chủ động và thể thao bị động. Du lịch thể thao chủ động là loại hình mà du khách tham gia trực tiếp vào một hay nhiều môn thể thao, trong đó có tất cả những môn thể thao mạo hiểm, nhằm mục đích thể hiện bản thân, rèn luyện sức khỏe. Du lịch thể thao thụ động là các chuyến đi để xem các cuộc thi đấu thể thao mà du khách ưa thích. Trong trường hợp này các cổ động viên chính là du khách.

1.1.2.7. Du lịch văn hóa Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch phổ biến hiện nay. Du lịch văn hóa rất đa dạng nhưng trong đó loại hình lễ hội có thể nói là loại hình thu hút du khách hơn cả. Chính vì vậy, việc khôi phục các lễ hội truyền thống, việc tổ chức, khai thác các lễ hội mới không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan, đoàn thể quần chúng, xã hội mà còn là một hướng quan trọng của ngành du lịch. Tham gia vào lễ hội, du khách muốn hòa mình vào không khí tưng bừng của các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng. Du khách tìm thấy ở lễ hội bản thân mình, quên đi những khó chịu của cuộc sống đời thường. Có lẽ vì thế nên du khách đi vì mục đích này ít quan tâm đến sự thiếu thốn trong dịch vụ hơn những du khách đi vì mục đích khác.

1.1.2.8. Du lịch tôn giáo

Từ xa xưa, du lịch tôn giáo là một loại hình du lịch phổ biến. Đó là các chuyến đi với mục đích tôn giáo như truyền giáo của các tu sĩ, thực hiện lễ nghi tôn giáo của tín đồ tại các giáo đường, dự các lễ hội tôn giáo. Ngày nay du lịch tôn giáo được hiểu là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thỏa mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo của tín đồ, hay tìm hiểu, nghiên cứu về tôn giáo. Điểm đến của du khách này là chùa chiền, nhà thờ, thánh địa.

1.1.2.9. Du lịch học tập-nghiên cứu

Loại hình du lịch này ngày càng trở nên phổ biến do nhu cầu kết hợp học tập, lý thuyết với tìm hiểu thực tiễn, học đi đôi với hành.

Tuy nhiên, có thể có nhiều mục đích khác nhau trong một chuyến du lịch và thường sự kết hợp này tạo nên tính đa dạng, phong phú trong các loại hình du lịch. Điểm mấu chốt đối với người cung cấp dịch vụ du lịch làm sao hiểu được mục đích chính của chuyến đi du lịch của du khách. Đây chính là cơ sở để hình thành các sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu của du khách cũng như mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.3. Vai trò của ngành du lịch đối với nền kinh tế Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Ngoài vai trò là đáp ứng nhu cầu cá nhân trong quá trình tiêu dùng các sản phẩm du lịch, ngành du lịch đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế địa phương hay nền kinh tế quốc dân.

Quá trình cung cấp các sản phẩm du lịch là quá trình cung cấp hay tạo công ăn việc làm cho người lao động. Thực tế chỉ ra rằng, quá trình phát triển hoạt động du lịch ở nhiều địa phương đi liền với quá trình thay đổi diện mạo cuộc sống ở địa phương đó ở cả cấp độ cá nhân, cộng đồng hay xã hội.

Phát triển du lịch sẽ làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương. Nguồn thu được xác lập từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở kinh doanh du lịch trực thuộc quản lý của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn.

Du lịch còn có vai trò quan trọng trong thu hút hay kích thích đầu tư. Hoạt động du lịch là cơ hội để quảng bá môi trường đầu tư hay là lĩnh vực đầu tư đầy hấp dẫn mà nhiều nhà đầu tư đang hướng đến. Trong những năm gần đây đầu tư cho du lịch chiếm một tỷ trọng đáng kể đối với hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên làm thế nào để những đầu tư trên thực sự trở thành đòn bầy cho kinh tế địa phương hay nền kinh tế vẫn chưa được các nhà quản lý xem xét, đánh giá một cách đầy đủ. Vì vậy, nhiều hoạt động đầu tư có thể trở thành rào cản đối với nền kinh tế địa phương.

Du lịch góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Trước hết, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành. Yêu cầu sự hỗ trợ liên ngành chính là cơ sở cho các ngành như: Giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, hải quan, đường sông vv… phát triển. Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa. Mặt khác, phát triển du lịch tạo ra các điều kiện để du khách tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước.

Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông công cộng, hệ thống điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng vv…Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại, vận chuyển, thông tin liên lạc và các nhu cầu khác của du khách, đòi hỏi cần có đầu tư nhằm cải thiện những điều kiện cơ sở hạ tầng trên, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và cả các cơ sở kinh doanh du lịch. Mặt khác, khách không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà trước và sau đó khách có nhu cầu đi lại giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó tạo điều kiện để ngành giao thông vận tải các vùng lân cận phát triển.

Với nền kinh tế quốc dân, du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia. Tỷ lệ đóng góp của ngành du lịch đối với GDP hay lực lượng lao động đang ngày một tăng. Ở Viêt Nam, theo số liệu thống kê của nền kinh tế, du lịch đóng góp 4,3 % vào GDP và sử dụng 3,3 % lực lượng lao động. Bên cạnh đó du lịch là hoạt động đóng góp quan trọng trong tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần cân bằng cán cân thanh toán. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Về mặt xã hội, bên cạnh tạo công ăn việc làm như trên, du lịch còn làm giảm quá trình đô thị hóa ở các nước kinh tế phát triển. Thông thường, tài nguyên du lịch thường ở những vùng xa xôi hẻo lánh, việc khai thác các tài nguyên du lịch đòi hỏi phải đầu tư về cơ sở hạ tầng ở các vùng này, làm thay đổi bộ mặt ở các vùng đó để góp phần làm giảm sự tập trung dân cư căng thẳng ở những vùng trung tâm.

Du lịch cũng góp phần đánh thức các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của các dân tộc. Khách du lịch thường thích mua các sản phẩm truyền thống của địa phương mà họ đến tham quan, thường thích đi tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử. Vì thế, đây là động lực để các di tích lịch sử này được trùng tu tôn tạo, các ngành nghề thủ công được khôi phục và phát triển.

Ngoài ra, du lịch làm tăng thêm sự hiểu biết chung về xã hội của người dân thông qua sự giao thoa văn hóa giữa khách du lịch và người bản địa. Kiến thức của một cá nhân không chỉ được cải thiện qua quá trình đào tạo mà một phần quan trọng là thông qua quá trình trải nghiệm. Du lịch chính là một nhân tố quan trọng trong quá trình đó.

Tuy nhiên, du lịch có thể tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực nhất định. Trên phương diện kinh tế, đây là ngành mang tính thời vụ cao và khá bấp bênh. Nếu nền kinh tế phụ thuộc lớn vào ngành du lịch thì tính ổn định của nền kinh tế thường không cao. Bên cạnh đó, sự phát triển của ngành du lịch thường kéo theo sự phát triển hay xâm nhập các tệ nạn xã hội, có thể làm thay đổi sâu sắc văn hóa truyền thống, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của dân cư.

1.1.4. Xu hướng, điều kiện phát triển du lịch

1.1.4.1. Các xu thế trong phát triển du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn nhất thế giới. Ở nhiều quốc gia du lịch là ngành kinh tế hàng đầu. Trong những năm tới dự đoán du lịch sẽ phát triển theo các xu hướng sau:

Trên khía cạnh cầu, có sự thay đổi sâu sắc trong nhu cầu du lịch do thay đổi thu nhập và mức sống.

Nhu cầu du lịch ngày càng tăng, du lịch trở thành một tiêu chuẩn đánh giá mức sống của dân cư. Du lịch quốc tế phát triển, phân bố các luồng khách, hướng du lịch thay đổi. Có sự thay đổi sâu sắc từ Âu sang Á khi Châu Á ngày càng thu hút nhiều khách du lịch.

Cơ cấu chi tiêu của du khách thay đổi theo hướng tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ cơ bản giảm tương đối, trong lúc tỷ trọng chi tiêu cho các dịch vụ bổ sung tăng lên. Cùng với thay đổi nhu cầu chi tiêu, du khách có nhu cầu thay đổi hình thức tổ chức chuyến đi theo hướng tự do hơn, đa dạng hơn. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Bên cạnh đó, mục đích du lịch và nhu cầu du lịch cũng có sự thay đổi đáng kể khi du khách thường chuyển sang có nhu cầu đi du lịch nhiều địa điểm trong một chuyến du lịch [12]. Vì vậy, những xu thế phát triển cầu du lịch cần phải được nghiên cứu để kịp thời đáp ứng.

Trên khía cạnh nguồn cung cũng có sự thay đổi căn bản trong tổ chức, điều hành cung cấp sản phẩm du lịch.

Với sự hình thành và phát triển của nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, tính cạnh tranh trong sản phẩm du lịch ngày càng cao. Chính vì thế, danh mục sản phẩm du lịch được mở rộng, phong phú, có nhiều sản phẩm độc đáo. Hệ thống tổ chức bán sản phẩm du lịch cũng phát triển, có nhiều hình thức tổ chức du lịch phù hợp với nhu cầu du lịch đa dạng. Vai trò của tuyên truyền quảng cáo trong du lịch ngày càng được nâng cao. Ngành du lịch ngày càng được hiện đại hoá trên tất cả các khâu.

Cùng với xu hướng trên, xu hướng quốc tế hoá trong phát triển du lịch là tất yếu khách quan. Các quốc gia, các địa phương có xu hướng giảm thiểu các thủ tục hành chính tạo điều kiện cho du lịch phát triển.

Khi tính liên kết ngày càng cao thì tính thời vụ trong du lịch ngày càng được khắc phục [12]. Đây là điều kiện trong việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng khắt khe của du khách.

1.1.4.2. Các điều kiện và yếu tố phát triển du lịch

Sự phát triển của du lịch đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định. Quản lý sự phát triển du lịch có nhiệm vụ quan trọng là tạo ra và bảo đảm các điều kiện đó.

Trước hết là các điều kiện chung, bao gồm: các điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động đi du lịch (đó là: thời gian rỗi của dân cư; mức sống vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao; điều kiện giao thông phát triển; điều kiện chính trị ổn định, hoà bình); các điều kiện có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh du lịch (như: tình hình phát triển kinh tế của đất nước; điều kiện chính trị ổn định, sự an toàn của du khách).

Tiếp đến, là các điều kiện đặc trưng, các điều kiện cần thiết đối với từng nơi, từng vùng. Đầu tiên phải kể đến là điều kiện về tài nguyên du lịch. Đây là điều kiện cần thiết, bởi vì không có tài nguyên du lịch thì khó có thể phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên ban tặng, cũng có thể do con người tạo ra. Các tài nguyên thiên nhiên thường do: địa hình đa dạng, phong phú; khí hậu ôn hoà, mát mẻ, thuận lợi cho nghỉ dưỡng; động thực vật phong phú, đặc sắc; tài nguyên nước; vị trí địa lý mang lại. Tài nguyên nhân văn là các giá trị văn hoá, lịch sử, các thành tựu chính trị, kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho phát triển du lịch ở một vùng, một địa danh nào đó có sức hấp dẫn khách du lịch đến với các mục đích khác nhau.

Các điều kiện phục vụ khách du lịch : Đây là các điều kiện về tổ chức như sự sẵn sàng chuyên nghiệp của bộ máy tổ chức chung và chuyên ngành với hệ thống thể chế quản lý đầy đủ, hợp lý và đội ngũ cán bộ với số lượng, cơ cấu, trình độ hiện có. Hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh như khách sạn, lữ hành, vận chuyển và các dịch vụ khác. Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm cơ sở vật chất thuộc hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc ngành du lịch.

Các điều kiện trên tác động cùng nhau hình thành nên chất lượng sản phẩm du lịch của từng doanh nghiệp, từng địa phương và từng nền kinh tế. Quan trọng nhất là làm thế nào để khai thác lợi thế về các điều kiện hay nhân tố hiện có của doanh nghiệp, địa phương hay nền kinh tế để tạo ra các sản phẩm đặc thù, nhằm thu hút một cách hiệu quả du khách, thông qua đáp ứng tốt nhất hay thỏa mản tốt nhất nhu cầu của họ.

1.1.5. Phát triển du lịch bền vững, những nguyên tắc để bảo tồn và phát triển du lịch bền vững Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

  • Phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại đến khả năng hưởng thụ du lịch của các thế hệ tương lai. Đó chính là sự phát triển du lịch bảo đảm sự hài hoà giữa 3 mục tiêu: kinh tế – xã hội và môi trường. Về kinh tế phải bảo đảm duy trì nhịp tăng trưởng theo thời gian và sự tăng trưởng phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động và hiệu quả cao chứ không phải chỉ dựa trên sự gia tăng của các yếu tố đầu vào. Về mặt xã hội, ít nhất phải được hiểu trên cơ sở quan điểm toàn diện và bình đẳng giữa những người, giữa các bên tham gia vào quá trình hoạt động du lịch không phải chỉ là thu nhập mà trên tất cả các phương diện khác. Về khía cạnh môi trường, sự phát triển du lịch cần đi liền với bảo vệ tài nguyên du lịch cũng như môi trường nhằm không làm giảm khả năng phát triển cũng như khả năng hưởng thụ sản phẩm du lịch trong tương lai. Như vậy, phát triển du lịch bền vững là mở rộng cơ hội lựa chọn hưởng thụ các sản phẩm du lịch của thế hệ hôm nay, nhưng không làm tổn hại đến cơ hội lựa chọn của thế hệ mai sau.

Phát triển du lịch bền vững và phát triển bền vững có mối quan hệ rất chặt chẽ. Trên thực tế, phát triển bền vững và phát triển du lịch bền vững đều liên quan đến môi trường. Trong du lịch, môi trường mang một hàm ý rất rộng. Đó là môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội; là yếu tố rất quan trọng để tạo nên các sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo. Rõ ràng nếu không có bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Du lịch bền vững là xu thế phát triển của ngành du lịch.

Ngoài sự phát triển thân thiện với môi trường, khái niệm bền vững còn hàm ý cách tiếp cận du lịch thừa nhận vai trò của cộng đồng địa phương, phương thức đối xử với lao động và mong muốn tối đa hóa lợi ích kinh tế của du lịch cho cộng đồng địa phương. Du lịch bền vững không thể tách rời phát triển bền vững.

Chính vì thế, tại hội nghị về môi trường và phát triển của liên hợp quốc tại Riode Janeiro năm 1992, tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đưa ra định nghĩa: “ Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai’’. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con người”. Định nghĩa này chứa đầy đủ các nội dung, các hoạt động, các yếu tố liên quan đến du lịch bền vững. Định nghĩa này cũng đã chú trọng đến cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa.

  • Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu phát triển một cách bền vững

Nguyên tắc 1: Đào tạo nhân viên, nâng cao năng lực quản lý. Việc đào tạo nguồn nhân lực trong đó có lồng ghép vấn đề phát triển du lịch bền vững vào thực tiễn công việc và cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương ở mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng các sản phẩm du lịch.

Nguyên tắc 2: Sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả. Việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và xã hội là hết sức cần thiết. Chính điều này sẽ khiến cho việc kinh doanh du lịch phát triển lâu dài.

Nguyên tắc 3: Giảm sự tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm chất thải. Việc giảm tiêu thụ quá mức tài nguyên như nước, năng lượng và giảm chất thải ra môi trường sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch.

Nguyên tắc 4: Duy trì tính đa dạng. Sự đa dạng muốn nói ở đây là đa dạng thiên nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hoá, việc duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hoá và xã hội là cốt yếu cho du lịch phát triển bền vững lâu dài, và cũng là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch.

Nguyên tắc 5: Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch. Tức là hợp nhất sự phát triển du lịch vào trong khuôn khổ quy hoạch chiến lược phát triển KT-XH cấp Quốc gia và địa phương, việc tiến hành đánh giá tác động môi trường sẽ tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch.

Nguyên tắc 6: Hỗ trợ kinh tế địa phương. Ngành du lịch mà hỗ trợ các hoạt động kinh tế của địa phương và có tính đến giá trị và chi phí về môi trường sẽ vừa bảo vệ được kinh tế địa phương phát triển lại vừa tránh được các tổn hại về môi trường.

Nguyên tắc 7: Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương. Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương và môi trường mà còn nâng cao chất lượng phục vụ du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ tài nguyên du lịch.

Nguyên tắc 8:Cần có sự đồng thuận giữa quần chúng và các đối tượng có liên quan. Việc trao đổi, thảo luận giữa ngành du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan liên quan khác nhau là rất cần thiết nhằm cùng nhau giải tỏa các mâu thuẩn tiềm ẩn về quyền lợi.

Nguyên tắc 9: Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm. Việc tiếp thị, cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hoá và xã hội ở nơi tham quan, đồng thời sẽ làm tăng thêm sự hài lòng của du khách.

Nguyên tắc 10: Coi trọng công tác nghiên cứu. Tiếp tục nghiên cứu và giám sát các hoạt động du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích có hiêụ quả các số liệu là rất cần thiết để giúp cho việc giải quyết những vấn đề tồn động và mang lại lợi ích cho các điểm tham quan, cho ngành du lịch và cho khách hàng [7].

1.2. NĂNG LỰC QUẢN LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC QUẢN LÝ Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

1.2.1. Khái niệm về năng lực quản lý và các yếu tố cấu thành

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực và năng lực quản lý. Theo quan điểm của UNDP thì “Năng lực là khả năng của con người, tổ chức, xã hội trong việc thực hiện chức năng, giải quyết các vấn đề và đạt được các mục tiêu đặt ra”. Với cách tiếp cận này, năng lực quản lý được định nghĩa là “Khả năng của tổ chức hay cá nhân trong việc thực hiện các chức năng, giải quyết các vấn đề và đạt được các mục tiêu”. Sử dụng cách tiếp cận theo định nghĩa này thì năng lực QLNN đối với du lịch đảm bảo Nhà nước thực hiện tốt các chức năng QLNN nhằm đạt được các mục tiêu QLNN đối với Du lịch. Năng lực QLNN có vai trò quan trọng đối với việc tạo thuận lợi trong hoạch định và kiểm tra định hướng phát triển cho du lịch, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả. Đối với doanh nghiệp hay tổ chức thì năng lực quản lý là sử dụng các nguồn lực nhằm thực hiện tốt chức năng của doanh nghiệp, đạt mục tiêu mà doanh nghiệp hay cơ sở đã xác định.

Theo tác giả Kelly và Rivenbard (2017) năng lực quản lý là khả năng hoàn thành các mục tiêu của chính sách quản lý, quản lý nguồn lực và quản lý các dự án hay hoạt động. Năng lực quản lý liên quan chặt chẽ đến năng lực tổ chức vì năng lực tổ chức sẽ hình thành môi trường mà trong đó năng lực quản lý thực hiện chức năng quản lý của mình.

Trong khi đó tác giả Walter Honadle và Howitt (1986) lại xác định năng lực quản lý một cách chi tiết hơn đó là năng lực xác định vấn đề, xác định các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề được lựa chọn, hình thành các chương trình nhằm thực hiện các chính sách, thu hút các nguồn lực tài chính, con người, vật chất và thông tin cần thiết cho triển khai chương trình, quản lý các nguồn lực, hướng dẫn và phối hợp các hoạt động của các chương trình và cuối cùng là đánh giá và đo lường các kết quả và quá trình thực hiện các chính sách và chương trình được thực hiện trong tổ chức. Khái niệm này cũng tương tự như khái niệm của tác giả Ingramham và Kneedler Donahue (2014) khi họ cho rằng năng lực quản lý là khả năng bên trong để quản lý, phát triển và phối hợp các nguồn lực tài chính, vật chất, nhân lực và thông tin hay bất cứ một loại nguồn vốn nào khác nhằm thực hiện các chính sách và chương trình của tổ chức. Năng lực quản lý cũng thể hiện khả năng phân phối nguồn lực đúng chỗ, đúng thời gian. Tổng hợp từ các khái niệm trên, năng lực quản lý của một tổ chức, đơn vị hay cá nhân có thể mô tả cơ bản trên sơ đồ 1.1.

Sơ đồ 1.1: Các yếu tố chính của năng lực quản lý

Năng lực quản lý phản ánh kết quả hay quá trình thực hiện quản lý của tổ chức trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Nếu năng lực quản lý tốt, kết quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chương trình càng hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của đơn vị đặt ra và ngược lại. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Trước hết, năng lực quản lý bị ảnh hưởng bởi khả năng xác định mục tiêu của đơn vị. Đây cũng là cơ sở để xác định các chính sách quản lý hay cơ cấu tổ chức chung nhằm thực hiện mục tiêu được xác định. Nếu năng lực quản lý tốt, mục tiêu của đơn vị được xác định phù hợp với nguồn lực mà đơn vị có hay có thể huy động. Vì vậy, mục tiêu của đơn vị có thể đạt được một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức và chính sách quản lý chung mà đơn vị sử dụng. Trong một mức độ nhất định nào đó, quá trình thay đổi cơ cấu tổ chức và chính sách quản lý chung sẽ không một sớm một chiều được thực hiện, phụ thuộc vào chức năng nhiệm vụ của đơn vị và sự độc lập của đơn vị trong thực hiện mục tiêu.

Năng lực quản lý của đơn vị phụ thuộc vào bốn kỹ năng cơ bản mà đơn vị có hay có thể xây dựng. Đó là kỹ năng quản lý tài chính, kỹ năng quản lý nhân lực, kỹ năng quản lý tài sản hay vốn và kỹ năng quản lý công nghệ hay thông tin. Bên cạnh đó, sự gắn kết và tương tác của những kỹ năng trên cũng là yếu tố quan trọng hình thành nên năng lực quản lý của đơn vị.

Trên phương diện tiến trình, năng lực quản lý phụ thuộc vào kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng huy động nguồn lực, kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch, kỹ năng giám sát và điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu được xác định.

Như vậy, năng lực quản lý có thể được hiểu trên nhiều góc độ khác nhau, tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, tùy thuộc vào loại hình của tổ chức hay đơn vị và nhiều yếu tố liên quan.

Từ khái niệm trên, nâng cao năng lực quản lý nói chung và nâng cao năng lực quản lý nhà nước nói riêng là xây dựng “năng lực cho tổ chức, cá nhân hay đơn vị”. Trên khía cạnh quản lý nhà nước, mục đích làm tăng chức năng quản lý ở những mặt về kế hoạch, chính sách và cải cách lĩnh vực công. Cách tiếp cận này giải quyết những vấn đề tăng trưởng tổng thể, đa mục tiêu liên quan đến nhiều tổ chức trong cả lĩnh vực công và lĩnh vực tư như môi trường, sức khỏe cộng đồng, xuất khẩu. Trên khía cạnh doanh nghiệp, mục đích của nâng cao năng lực quản lý nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn.

Nâng cao năng lực quản lý cũng là quá trình cải cách tổ chức do sự không đồng bộ những điều kiện hỗ trợ như trách nhiệm, minh bạch hóa, niềm tin xã hội đang làm hạn chế quá trình thực hiện các mục tiêu lựa chọn của tổ chức. Trong một phạm vi nhất định, đó cũng chính là khía cạnh môi trường thể chế riêng biệt của từng quốc gia, đơn vị là yếu tố quan trọng xác định tốc độ và hướng phát triển của đơn vị hay tổ chức.

Xét về lĩnh vực hoạt động QLNN, hiệu quả quản lý được nói đến như một công cụ quan trọng đảm bảo chất lượng phát triển. Không thể phủ nhận rằng cải thiện chất lượng QLNN sẽ góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN. Phân tích năng lực QLNN có ý nghĩa nhằm đánh giá đúng mức khả năng của bộ máy quản lý nhà nước, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan QLNN. Trên phạm vi doanh nghiệp, đó chính là tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp. Trong phạm vi nghiên cứu này, năng lực quản lý có tính chất đặc thù đó là vừa năng lực QLNN nhưng vừa là năng lực quản lý doanh nghiệp. Với tư cách là một đơn vị quản lý nhà nước, đó chính là quá trình nâng cao năng lực quản lý nhà nước của đơn vị quản lý động Phong Nha trong việc tạo môi trường cho các đơn vị kinh doanh dịch vụ phát triển hiệu quả. Tuy nhiên, nếu đứng trên góc độ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, đó chính là quá trình nâng cao năng lực quản lý của đơn vị trong thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ và tìm kiếm lợi nhuận đối với doanh nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu này là nâng cao năng lực quản lý đối với lãnh đạo, nhân viên, các đơn vị cung cấp dịch vụ tại Trung tâm du lịch nhằm bảo tồn và phát triển bền vững du lịch động Phong Nha tại Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Vì vậy có sự đan xen giữa năng lực quản lý nhà nước và năng lực quản lý doanh nghiệp. Hơn thế nữa, bản thân ban quản lý là một đơn vị quản lý sự nghiệp có thu. Vì vậy, tính đan xen trong năng lực quản lý nhà nước và năng lực quản lý doanh nghiệp càng rõ ràng.

Thực tế nghiên cứu cho thấy, muốn nâng cao năng lực quản lý thì phải đánh giá được kết quả hoạt động quản lý. Hay nói một cách khác đó chính là đánh giá quá trình thực hiện năng lực quản lý hiện trạng để hình thành chiến lược phát triển của doanh nghiệp hay đơn vị trong giai đoạn tới. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Có nhiều quan điểm khác nhau về kết quả hoạt động. Các định nghĩa cho thấy “kết quả hoạt động’’ gồm những khái niệm có thể thay thế cho nhau như “hoàn thành”, “thực hiện”, “thành tựu”. Hầu hết các khái niệm này đề cập đến tác động khách quan của các hành động. Nhưng có một số định nghĩa lại liên quan đến cảm nhận “thỏa mãn chủ quan” về hành động của ai đó. Thông thường, các tài liệu về quản lý hành chính công và kinh tế nhấn mạnh đến ý nghĩa thứ nhất của khái niệm, không chỉ vì nó được áp dụng một cách trực tiếp cho mọi người, mà do sự hài lòng mang tính chủ quan là điều rất khó đánh giá và không thể tổng hợp được. Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là phải nhận thức được rằng kết quả hoạt động là một khái niệm có tính tương đối và mang sắc thái văn hóa cụ thể.

Hiện nay, quá trình đánh giá kết quả cũng tồn tại nhiều quan điểm, cách lựa chọn mô hình đánh giá khác nhau. Người ta có thể căn cứ vào các yếu tố đầu vào hoặc đầu ra hoặc cả hai yếu tố đó.

Đầu vào là “các nguồn lực để tạo lên dịch vụ. Giá trị xã hội của đầu vào được tính bằng chi phí đầu vào. Tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động theo đầu vào là tính kinh tế, như việc mua sắm kịp thời các khoản đầu vào có chất lượng tốt với chi phí thấp nhất” [23, tr712].

Đầu ra chính là “bản thân dịch vụ. Giá trị xã hội của đầu ra được chiếu theo giá thị trường của dịch vụ tương tự hoặc dịch vụ tương đương gần nhất. (hoặc nếu không có dịch vụ tương đương thì được tính theo tổng chi phí cho một đơn vị). Tiêu chí đánh giá hoạt động tương ứng cho đầu ra là tính hiệu quả, nghĩa là giảm thiểu tổng chi phí cho đầu vào đối với một đơn vị đầu ra (hoặc tối đa số lượng đầu ra tương ứng với tổng chi phí đầu vào nhất định)”. [23, tr712]

Kết quả là “mục đích đạt được bằng việc tạo ra dịch vụ. Giá trị xã hội của kết quả thật khó đánh giá, trừ khi được biểu hiện bằng phản ứng của công chúng tại các diễn đàn chính trị. Tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động tương ứng với kết quả là tính hiệu lực, tức là tối đa hóa kết quả trong mối liên hệ với đầu ra được tạo ra”. [23, tr712]

Quá trình là “cách thức mà đầu vào được tiếp nhận, đầu ra được tạo ra và kết quả được đạt tới. Một quá trình tốt có giá trị cao nhưng giá trị này là không thể xác định được. Đối với đầu vào, một quá trình tốt bao gồm tuân thủ một cách thông minh việc tiếp nhận đầu vào và các quy tắc sử dụng, tất nhiên bảo đảm sự chính trực của quy trình. Trong một số lĩnh vực, chỉ số về quá trình là biểu hiện có giá trị về kết quả hoạt động khi không thể xác định một cách rõ ràng đầu ra”. [23, tr712]

Các chỉ số kết quả luôn có ý nghĩa nhiều hơn trong khi các chỉ số đầu ra luôn có tính khả thi hơn. Bằng cách kết hợp hai yếu tố này, cách đánh giá kết quả hoạt động sẽ thích hợp nhất đối với hoạt động QLNN khi có mối liên hệ trực tiếp và kịp thời giữa đầu ra của các cơ quan chính quyền và các kết quả mong muốn của các hoạt động đó.

Trên một mức độ nhất định nào đó kết quả quản lý là mức độ đạt được so với mục tiêu được xác định. Năng lực quản lý càng cao, kết quả quản lý so với mục tiêu đặt ra càng lớn. Chính vì thế nâng cao năng lực quản lý chính là nâng cao các kỹ năng quản lý nhằm có kết quả quản lý cao nhất trong điều kiện các nguồn lực được xác định. Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào năng lực xác định mục tiêu. Như vậy, các kết quả quản lý và mục tiêu có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau trên cơ sở cùng tác động lên việc xác định năng lực quản lý của đơn vị. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Trong khuôn khổ để tài, đánh giá kết quả của năng lực quản lý chủ yếu được thực hiện thông qua sự cảm nhận. Cách tiếp cận trên được lựa chọn dựa trên tính phức tạp nhiều đơn vị cùng tham gia quản lý, tính đa mục tiêu trong mỗi đơn vị, trong quá trình phát triển chung của hoạt động du lịch.

1.2.2. Nâng cao năng lực quản lý đối với hoạt động du lịch

Hoạt động quản lý ở bất kỳ lĩnh vực nào mong muốn có hiệu quả nhất định phải chia làm hai giai đoạn. Đó là giai đoạn đơn vị phải xác định các kỹ năng hay năng lực quản lý cần có đối với các mục tiêu quản lý cần lựa chọn và các kỹ năng quản lý còn thiếu hay hạn chế so với nhu cầu; giai đoạn tiếp theo là phải tiến hành nâng cao năng lực quản lý, kỹ năng quản lý nhằm làm hẹp khoảng cách giữa thực tiển so với nhu cầu.

Theo Wikipedia thì nâng cao năng lực được định nghĩa là “Các hoạt động tăng cường kiến thức, kỹ năng, hành vi của các cá nhân, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và các quá trình hoạt động, nhằm làm cho tổ chức có thể thực hiện sứ mệnh, mục đích của nó”.

Nhiều quan niệm cho rằng nâng cao năng lực có nghĩa là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Thực tế yếu tố này chỉ là vấn đề cơ bản của nội dung nâng cao năng lực. Ngoài năng lực bản thân, cải thiện môi trường cho nhà quản lý thể hiện hay thực hiện năng lực của họ cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình nâng cao năng lực quản lý. Trên thực tế, dù là bất kỳ ai đi nữa, người quản lý cần một môi trường tổ chức và thể chế hỗ trợ để thể hiện những cố gắng, khả năng và năng lực của bản thân họ. Sự không hợp lý của thể chế và tổ chức được coi như là một sự cản trở lớn đối với hiệu quả quản lý.

Theo cách tiếp cận này, hoạt động nâng cao năng lực quản lý trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng sẽ thể hiện hiệu quả hơn theo chiến lược gồm hai phần :

Thứ nhất, làm cho vai trò quản lý tương xứng với năng lực của nó. Khi mà năng lực quản lý yếu kém, thì việc đơn vị lựa chọn các hoạt động can thiệp vào đâu và can thiệp như thế nào là điều cần phải đánh giá cân nhắc cẩn thận.

Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý bằng cách cũng cố lại các thể chế. Điều này có nghĩa là vạch ra các quy tắc và qui định nhằm kiểm soát hiệu quả các hoạt động có thể làm hạn chế quá trình quản lý. Hay nói một cách khác là tạo một môi trường thể chế (vĩ mô và vi mô) để các cá nhân, cộng đồng có thể phát huy năng lực quản lý của họ.

Tuy nhiên, tất cả các yếu tố trên đều chỉ có thể thực hiện được thông qua quá trình cải thiện chất lượng nguồn nhân lực. Đó chính là quá trình phát triển nguồn nhân lực và đào tạo lại nguồn nhân lực.

Cán bộ quản lý là những người điều khiển, phối hợp các hoạt động kinh tế xã hội theo ngành, lĩnh vực hay các cấp chính quyền địa phương theo những cơ chế chính sách chung của Nhà nước. Những cán bộ này ngoài những kiến thức chuyên môn cần có về ngành, lĩnh vực mình phụ trách còn phải có năng lực quản lý, điều hành nhân lực, tài sản, ngân sách để đạt các mục tiêu được xác định. Do vai trò quan trọng của cán bộ quản lý trong hệ thống quản lý nhà nước hay trong đơn vị nên họ cần được lựa chọn, thử thách và bổ nhiệm theo đúng quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm được qui định. Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cần được tăng cường. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Đối với cán bộ quản lý trong ngành du lịch, đây là một ngành đặc thù tương đối mới trong nền kinh tế Việt Nam so với các ngành kinh tế khác, vì vậy năng lực của cán bộ quản lý về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế cả về chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm quản lý. Do đó, nhanh chóng bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại cho họ là yêu cấp thiết đối với tiến trình nâng cao năng lực quản lý trong hoạt động du lịch.

Quá trình đào tạo hay đào tạo lại là nhằm:

  • Khắc phục kịp thời những thiếu hụt về trình độ chuyên môn, hạn chế về năng lực quản lý để cán bộ thực hiện tốt nhiệm vụ được giao theo phân cấp quản lý của ngành.
  • Bổ sung những kiến thức, kỹ năng cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý về du lịch hang động nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả, bộ máy quản lý của đơn vị.

Tóm lại, nâng cao năng lực quản lý đối với hoạt động du lịch là quá trình nâng cao những kỹ năng quản lý chung  như tài chính, nhân lực, tài sản và công nghệ thông tin nhưng đồng thời cũng là quá trình nâng cao kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý đặc thù của ngành. Đây là cơ sở nhằm quản lý ngành một cách hiệu quả.

1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VỀ DU LỊCH HANG ĐỘNG MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Kinh nghiệm quản lý về du lịch cũng như hang động ở một số nước là những bài học quí giá trong quá trình quản lý hoạt động du lịch nói chung và quản lý hang động nói riêng. Nghiên cứu quá trình quản lý phát triển du lịch ở một số nước chỉ ra như sau:

  • Kinh nghiệm phát triển du lịch hang động của Malaysia

Malaysia là đất nước giàu tiềm năng du lịch, với nguồn tài nguyên thiên phong phú, các giá trị văn hóa dân tộc đặc sắc, hấp dẫn. Lịch sử đất nước Malaysia đã ghi nhận sự tồn tại của các nền văn hóa của các Quốc gia đã từng xâm chiếm Quốc gia này như Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan, Chiêm Thành, Thái lan, Nhật bản và văn hóa Malay bản địa. Tất cả các dân tộc trên đều đã lưu lại các dấu ấn văn hóa để hình thành nên nền văn hóa Malaysia ngày nay. Các giá trị văn hóa bản địa kết hợp với các giá trị văn hóa ngoại lai đã được nội địa hóa đã tạo thành một sản phẩm du lịch độc đáo khác của Malaysia – Du lịch văn hóa bản địa. Tất cả các yếu tố trên tạo thành một điểm độc đáo trong các sản phẩm du lịch văn hóa của Malaysia.

Với những lợi thế trên, Bộ Văn hóa – Nghệ thuật và Du lịch của Malaysia đã xác định mục tiêu phát triển chỉ đạo của ngành du lịch là hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở phát huy bản sắc văn hóa Malaysia truyền thống, không phủ nhận sự pha trộn của các dòng văn hóa ngoại lai nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa bền vững, độc đáo. Cùng với du lịch văn hóa, du lịch hang động cũng được đầu tư khai thác và phát triển tạo nên nhiều loại hình du lịch hấp dẫn và đặc sắc nhằm thu hút du khách [21]. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Quá trình phát triển du lịch hang động ở Malaysia đã chỉ ra một số kinh nghiệm tốt có thể tham khảo trong hoạt động quản lý động và phát triển loại hình du lịch đặc thù này qua kinh nghiệm quản lý hang động tại VQG Gunung Mulu.

Du lịch hang động ở đây được chia ra nhiều loại hình nhỏ tùy thuộc tiềm năng khai thác du lịch của hang động đó và được quản lý theo các quy định rất chặt chẽ, theo những qui chế khác nhau.

Hang động du lịch tham quan

Cho phép công chúng đến tham quan hang động dưới sự giám sát chặt chẽ để du khách có thể hiểu được quá trình hình thành hang động, sự phát triển và những giá trị đi kèm của hang động và những nỗ lực quản lý và bảo vệ hang. Những hang động phục vụ du lịch nói chung thường được cải tạo với các lối đi được xây dựng, tay vịn an toàn cho khách và hệ thống chiếu sáng nhân tạo để tăng tính trình diễn làm nổi bật những đặc điểm nổi trội của những nơi du khách đặt chân đến.

Hang động du lịch mạo hiểm

Cho phép công chúng đến tham quan hang động dưới sự giám sát chặt chẽ để du khách có cơ hội tìm hiểu lịch sử khám phá hang động và thám hiểm bên trong. Ngoài ra còn phục vụ những mục đích như đã nói trong phần hang động du lịch bên trên. Hang động phục vụ du lịch mạo hiểm cải tạo rất ít hoặc hầu như không được cải tạo ngoại trừ việc xác định một lối đi an toàn cho du khách đi trong hang động vì mặc dù có tên là “mạo hiểm” nhưng việc xác định trước những lối đi như vậy vẫn là cần thiết vì lý do xác định từ trước. Việc đi lại ngẫu nhiên không theo lối đi xác định trước và việc tìm kiếm những cơ hội để thám hiểm hang động ở những nơi chưa được biết đến bắt buộc phải bị cấm. Việc vào tham quan những hang động du lịch này phải có “phí dịch vụ” trả cho nhân viên hoặc người có trách nhiệm được cơ quan chủ quản giao nhiệm vụ quản lý hang động đó.

Những hang động tham khảo

Chỉ dành cho những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt hoặc những nơi có giá trị nghiên cứu khoa học đặc biệt, ví dụ như những hang động có giá trị tiêu biểu đại diện cho một hình thái hang động hoặc một dạng kiến tạo đá vôi điển hình. Việc quản lý cần tập trung vào bảo vệ giữ nguyên trạng của hang động tối đa.

Việc đến với các hang động này cần phải được giảm thiểu và chỉ có những hoạt động vì mục đích khoa học và không thể thực hiện ở bất cứ nơi nào khác và không mâu thuẫn với mục tiêu lâu dài cho hang động đó thì mới được chấp nhận.

Hang động có giá trị tự nhiên ngoại hạng Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Đó là hang động lớn thứ hai sau hang Sơn Đòong của VQG Phong Nha Kẻ Bàng, đã được khai thác du lịch. Một hiện tượng kỳ thú trong hang động ngoài những khối thạch nhũ kỳ vỹ là hơn 3 triệu con dơi cư trú trong hang. Hơn 3 triệu con dơi này sẽ bay ra khỏi hang vào lúc khoảng 6h chiều tạo thành một hiện tượng siêu nhiên.

Xây dựng các nội quy và quy định cùng các biển bảng quảng bá và chỉ dẫn được sử dụng rất có hiệu quả và khoa học.

Đây là công cụ hữu ích giúp các Ban giám đốc quản lý tốt các hoạt động đang diễn ra trong Vườn. Các biển báo được thiết kế đồ họa rất lôi cuốn người xem và nội dung mang tính quy định có kèm theo sự hài hước. Ngoài ra, các thông tin trong các biển còn mang tính giáo dục môi trường và bảo tồn cùng với những thông tin về các giá trị của Vườn rất hấp dẫn.

Ngoài ra, các đơn vị, công ty lữ hành khi đưa khách vào VQG phải tham gia các khóa đào tạo do VQG quy định và phải nộp chi phí cho việc học. Sau khóa học cán bộ của các công ty lữ hành được kiểm tra và cấp chứng chỉ để được đưa khách vào tham quan trong khu vực của Vườn theo quy định. Nếu các công ty lữ hành đưa khách vào tham quan mà không có chứng chỉ được cấp bởi VQG thì bắt buộc công ty đó phải thuê và tuân thủ theo Hướng dẫn viên của Vườn và trả phí theo quy định.

Có thể nói, phát triển du lịch dựa trên các di sản hay tài nguyên du lịch tự nhiên cũng là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ ở Việt Nam mà cả trên Thế giới. Nó góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Kinh nghiệm đa dạng hóa mục tiêu trong loại hình du lịch, kết hợp qui định rõ ràng, xây dựng cơ sở hạ tầng tương thích và nâng cao nhận thức của người sử dụng dịch vụ là những kinh nghiệm cần tham khảo trong quản lý du lịch hang động theo hướng bền vững ở các di sản văn hóa.

  • Kinh nghiệm phát triển du lịch hang động của Trung quốc

Hoạt động du lịch hang động phát triển không chỉ góp phần bảo tồn và phát triển các Di sản thiên nhiên thế giới, không chỉ phục vụ cho mục đích phát triển bền vững mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào việc phục hồi và tái phát triển các ngành công nghiệp và nghề thủ công truyền thống trong khu vực. Các ngành công nghiệp và nghề thủ công truyền thống tại khu vực được khôi phục ngoài mục đích cung cấp cho thị trường, khách du lịch những món hàng lưu niệm đặc sắc còn phục vụ cho mục đích xuất khẩu của Trung quốc.

Thông qua hoạt động du lịch, một số ngành nghề truyền thống và sản phẩm truyền thống của một số địa phương gần nơi du lịch được phát triển. Sự khôi phục các làng nghề truyền thống này không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập mà còn đóng góp quan trọng vào tiến trình phát triển chung của nền kinh tế.

  • Kinh nghiệm phát triển du lịch hang động và di sản ở New Zealand

New Zealand là một nền kinh tế có ngành du lịch, đặc biệt là du lịch di sản và du lịch hang động rất phát triển. Đây được xem nhu là ngành kinh tế mũi nhọn của New Zealand sau ngành nông nghiệp. Kinh nghiệm phát triển du lịch của New Zealand chỉ ra rằng. Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

Cần tạo ra nhiều loại hình du lịch khác nhau trên sơ sở các loại tài nguyên hiện có nhằm có thể thu hút du khách ở những địa điểm du lịch. Chính sự phát triển nhiều loại hình du lịch này nên khả năng giữ khách ở các điểm du lịch rất cao. Để làm được điều này, tính liên kết của các đơn vị cung cấp du lịch luôn được đề cao.

Bên cạnh đó, thông tin sản phẩm du lịch được quản bá rất đa dạng và phong phú. Với nhiều loại hình quảng bá khác nhau như sách hướng dẫn, internet, sách giới thiệu, sách chỉ dẫn các nơi lưu trú, các tour du lịch. Chính vì thế, người dân có nhiều kênh khác nhau để biết được sản phẩm du lịch của họ.

Quá trình đầu tư các cơ sở hạ tầng luôn đảm bảo hạn chế sự can thiệp của con người vào các cảnh quan. Mặc dầu cơ sở hạ tầng được phát triển rất tốt như hệ thống đường, điện, vệ sinh được đầu tư đầy đủ. Tuy nhiên, quá trình đầu tư luôn đảm bảo tính tự nhiên của các tài nguyên du lịch. Chính vì vậy, mức độ bảo tồn của Luận văn: Phát triển du lịch bền vững động Phong Nha Kẻ Bàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý động Phong Nha tại VQG Phong Nha

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *