Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế tri thức đang là vấn đề được quan tâm, trí tuệ trở thành động lực của sự phát triển. Bởi vậy, GD&ĐT được coi là nhân tố quyết định cho sự phát triển tương lai của mỗi cá nhân, quốc gia và dân tộc. Xuất phát từ vấn đề đó, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục, văn hóa, nếp sống văn hoá.

Học sinh là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, đất nước. Học sinh hôm nay là những công dân của thế giới mai sau. Bảo vệ và chăm sóc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội và của mỗi gia đình. Trong giáo dục thì giáo dục những hành vi văn minh cho học sinh là không thể thiếu được. Những hành vi có ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của học sinh đến môi trường xung quanh(Thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình).Đối với học sinh tiểu học, việc hình thành những hành vi ban đầu có ý nghĩa vô cùng to lớn. Chẳng thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “Uốn cây từ thủa còn non. Dạy con từ thủa con còn thơ ngây”. Thói quen có văn minh là nền tảng đạo đức của mỗi con người, là hành vi văn hóa. Ngay từ nhỏ học sinh cần được uốn nắn, giáo dục từ cử chỉ, lời nói, hành động văn minh, thì lớn lên mới trở thành người có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Làm thế nào để giáo dục học sinh những hành vi văn minh đạt kết quả cao? Đối với học sinh tiểu học những lời giảng giải, giải thích đơn thuần không đem lại hiệu quả cao trong giáo dục do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh ở lứa tuổi này dễ nhớ nhanh quên. Mặt khác những lời rao giảng thường gây cho học sinh áp lực tâm lý, trẻ căng thẳng trong quá trình tiếp nhận vì thế quá trình chuyển đổi từ kiến thức thành nhận thức, từ nhận thức tới hành động, từ hành động thành thói quen học sinh tiểu học hiểu “Văn minh là gì?”, “Vì sao phải giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh?”, “Làm thế nào để giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh?. Bởi ở lứa tuổi này ta không thể đem những lý thuyết khô khan để rao giảng cho học sinh hiểu. Tư duy của học sinh tiểu học ở giai đoạn này là tư duy “trực quan hình tượng”. Học sinh học mà chơi – chơi mà học, học sinh chỉ tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm khi được truyền đạt một cách dễ hiểu, gần gũi với học sinh.

Trong công cuộc đổi mới xã hội hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu của nhân loại, khi yếu tố con người được đặc biệt coi trọng thì tiềm năng trí tuệ, cùng với sức mạnh tinh thần, đạo đức của con người ngày càng được đề cao. Để làm nên được sức mạnh tinh thần đó cần phải có sự kết tinh giữa những giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức hiện đại. Vì vậy giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ nói chung và cho học sinh tiểu học nói riêng cần phải được coi trọng đặc biệt.

Thực tiễn việc chỉ đạo công tác giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học còn nhiều hạn chế số lượng học sinh cá biệt vẫn không giảm sau mỗi năm ở các bậc học nói chung và bậc tiểu học nói riêng.

Những bất cập trong công tác chỉ đạo còn nhiều hạn chế cần có biện pháp tháo gợ mà chưa có đề tài nghiên cứu nào được vận dụng, vì vậy chúng ta cần có sự quan tâm đúng mức của nhà trường, gia đình và xã hội.

Trong những năm học vừa qua giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học đã được tiến hành trong các nhà trường vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Chính vì vậy, tác giả đã lựa đề tài Quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú ở các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên, đề xuất biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh, nhằm giúp cho học sinh có nhận thức và hành vi văn minh, phù hợp môi trường giáo dục trong xã hội hiện đại góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh tiểu học.

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 4.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học.
  • 4.2. Khảo sát phân tích thực trạng về nếp sống văn minh và quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • 4.3. Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

5. Phạm vi nghiên cứu

  • Biện pháp xác định cho Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm, Công đoàn, đoàn thanh niên.
  • Số liệu khảo sát từ năm 2017 đến năm 2018.

6. Giả thuyết khoa học

Trong xã hội hiện đại, cần giáo dục cho học sinh NSVM. Thực tiễn nếp sống văn minh của học sinh các trường tiểu học bán trú ở huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên còn nhiều hạn chế. Nếu xác định được biện pháp quản lý giáo dục NSVM cho học sinh bán trú các trường tiểu học trong huyện dựa vào đặc điểm của học sinh và đặc điểm của từng trường bán trú tiểu học sẽ nâng cao chất lượng giáo dục NSVM cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng toàn diện cho học sinh tiểu học trong huyện.

7. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp nghiên cứu, phân tích, so sánh, tổng hợp các tài liệu, tư liệu sách báo, công trình khoa học, văn bản, chỉ thị thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý giáo dục, quản lý giáo dục nếp sống văn minh; nghiên cứu các tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học có liên quan đến đề tài.

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát các hoạt động của học sinh bán trú các hoạt động của các đoàn thể, ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn thanh niên trong việc quản lý nếp của học sinh bán trú nhằm thu thập thông tin cần thiết về đối tượng, khách thể nghiên cứu.

Phương pháp điều: Nhằm thu thập thông tin thực tiễn từ CBQL, GV và học sinh các trường tiểu học về Quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; trên cơ sở đó phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề này.

Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành trao đổi trực tiếp nhằm thu thập thông tin bổ sung sau khi điều tra bằng phiếu hỏi nhằm thu thập các ý kiến sâu hơn của GV và học sinh mục đích mục đích phỏng vấn là để thu thập những thông tin cụ thể, sinh động và biết được một số biểu hiện NSVM của học sinh bán trú tiểu học là cơ sở phục vụ hoạt động phân tích và đánh giá thực trạng.

Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin ý kiến lãnh đạo phụ trách bậc Tiểu học của Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Hiệu trưởng các trường tiểu học có uy tín… để hoàn thiện các giải pháp đề xuất.

7.3. Phương pháp thống kê toán học Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

  • Sử dụng toán thống kê nhằm sử lý số liệu điều tra, từ đó thu được kết quả phù hợp để đánh giá thực trạng.
  • Để có được các số liệu khoa học, đề tài sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, từ đó phục vụ cho hoạt động phân tích, đánh giá thực trạng và khảo nghiệm.

8. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

  • Chương 1: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên..
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO HỌC SINH BÁN TRÚ CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề về quản lý giáo dục Nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học

Văn minh là nền tảng tinh thần của xã hội. Theo unessco nếp sống văn minh phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống diễn ra trong quá khứ cũng như trong hiện tại, nó cấu thành hệ thống có giá trị, truyền thống thẩm mĩ và lối sống mà trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình, các giá trị nói trên tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng đồng được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân tộc.

Trong tác phẩm “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính(1875-1921) Là một nhà dịch thuật và biên khảo xuất sắc đã phản ánh một cách khách quan thói quen, nếp sống tốt đẹp của con người Việt Nam kể từ thời xa xưa cho đến đầu thế kỷ XX bên cạnh đó, tác phẩm cũng mạnh dạn phê phán các yếu tố lạc hậu, cổ hủ trì trệ trong các phong tục, thói quen, nếp sống… không phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa của dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhấn mạnh việc xây dựng “đời sống mới”, cách làm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ lòng nhân ái, kính già, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn trung thực, yêu lao động, yêu đồng bào và Tổ quốc. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề nếp sống văn minh, NSVM, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng XH mới, con người mới. Vấn đề nghiên cứu nếp sống, NSVH đã được đề cập trong rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước.

Từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất trong đại hội IV lần thứ V của Đảng đã đề ra đường lối xây dựng “nếp sống mới có văn hóa” vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất. Trong đại hội V, Nghị quyết đã nhấn mạnh “kiên trì nếp sống mới lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị, bảo vệ và phát triển các giá trị tinh thần. Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín, dị đoan… tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm, lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân”

Nghị quyết đại hội ĐCSVN lần thứ VII nhấn mạnh” Xây dựng gia đình văn hóa mới có ý nghĩa quan trọng trong tình hình hiện nay, góp phần phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi người… hình thành nhân cách cao đẹp và nếp sống văn minh.

Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 khóa VIII ngày 16/7/1998 của BCH TW ĐCSVN ra đời, đay là Nghị quyết định hướng chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nội dung nghị quyết bao gồm 6 vấn đề quan trọng, trong đó vấn đề giáo dục tư tưởng đạo đức, nếp sống được đặt nên hàng đầu. Nhiều thuật ngữ nếp sống được nhắc đến trong toàn văn của Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 như “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau: có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước… Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh… Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, đạo đức, nếp sống văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý trí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước. Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng…

Khuyến khích nhân dân các xã, phường, thôn ấp, cụm dân cư, khu tập thể, xí nghiệp, cơ quan xây dựng các quy ước về nếp sống văn hóa, giữ gìn trật tự vệ sinh công cộng, bảo vệ môi trường, cảnh quan sạch đẹp…”.

Để hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, nhà nước, các nhà khoa học, văn hóa, giáo dục… tập trung nghiên cứu nếp sống, NSVM của các tầng lớp nhân dân, do vậy có nhiều sách các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Bàn về lối sống và nếp sống XHCN của nhà XB văn hóa Hà Nội-1985. Cuốn sách cung cấp một số lý luận cơ bản chung quanh vấn đề xây dựng lối sống, nếp sống XHCN, mạnh dạn đề xuất những khuôn mẫu và những biện pháp để xây dựng nếp sống XHCN ở nước ta.

Tác phẩm của Nguyễn Lân: Con người văn minh sống như thế nào, (Nxb TN, Hà Nội, 1995) đã đề cập đến vấn đề nếp sống văn minh của thế hệ trẻ; trước tình hình một bộ phận thanh thiếu niên học sinh ngang ngược, không kính già mến trẻ, ăn nói thiếu văn hóa, hành động bừa bãi… làm cho gia đình, XH lo lắng, bi quan về tương lai dân tộc, bên cạnh sự lơ là của gia đình, sự sơ xuất của trường học lý do chính là từ nhỏ đến lớn, thanh thiếu niên chưa có “những ý niệm minh bạch về nếp sống văn minh của con người, mặc dù có nhiều sách lý luận, nhiều bài giảng chính trị nhưng thanh niên, thiếu niên, học sinh chưa biết được những điều cụ thể trong nếp sống hằng ngày{28}. Tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra những nếp sống văn minh trong đời sống hằng ngày của bản thân(rèn luyện về thể chất, tinh thần, về tập quán), nếp sống văn minh trong gia đình, quan hệ hàng xóm làng bản, quan hệ với thầy và bạn, quan hệ với đồng nghiệp, đồng sự, nếp sống văn minh ở ngoài đường, nơi công cộng và trong giao tiếp. Có thể nói, đây là một tác phẩm, có giá trị ở hiện tại và tương lai sau này trong việc giáo dục, rèn luyện thế hệ học sinh để trở thành những con người có nếp sống văn minh. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm xuất bản năm (2001) về xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã nói đến vấn đề trọng tâm của phát triển văn hóa, việc hình thành nền tảng tinh thần của xã hội VN hiện đại đặt ra cho văn hóa những trọng trách, đó là mối quan tâm thường xuyên đến nhân tố con người, không ngừng cổ vũ, hướng dẫn con người tới các giá trị chân, thiện, mỹ, phấn đấu cho hạnh phục chính đáng, của chính mình và góp ngày càng nhiều cho XH. Kiên quyết lên án sự suy thoái đạo đức, lối sống, bài trừ các thói hư, tật xấu, đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, quan liêu, vô trách nhiệm, coi thường kỷ cương, phép nước. Đề cao và nhân rộng những tấm gương tốt đẹp trở thành nếp sống lành mạnh của xã hội.

Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề, có thể thấy rằng chủ trương của Đảng, Nhà nước về vấn đề xây dựng NSVM nhân dân ta đã có từ lâu, có một số nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà khoa học,… đã có các công trình nghiên cứu về nếp sống của HS,SV, song ít thấy công trình nghiên cứu chuyên sâu về quản lý NSVM của học sinh bán trú. Xuất phát từ lý do trên tác giả mạnh dạn chọn vấn đề thực trạng quản lý nếp NSVM của học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điên Biên nghiên cứu nhằm mục đích góp phần trực tiếp vào quản lý NSVM của học sinh bán trú các trường tiểu học huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên ngày một nâng cao và phát triển hơn.

1.2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

  • Quản lý

Trong nghiên cứu khoa học, có rất nhiều quan niệm về quản lý theo những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự đa dạng về cách tiếp cận, dẫn đến sự phong phú về quan niệm. Sau đây là một số khái niệm thường gặp:

Theo F. Taylor: “Quản lý là biết được chính sác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F. Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình [Error! Reference source not found., tr.11].

Cùng thời với F. Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H. Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó. Theo H. Fayon: “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” (dẫn theo [15, tr.32]).

Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm. Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” [17, tr.33].

Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” (dẫn theo [Error! Reference source not found., tr.17]).

Việt Nam tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [20, tr.74].

Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [Error! Reference source not found.]

Theo Trần Quốc Thành: “Quản lý là sựu tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình quản lý xã hội, hành và hành động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan” (dẫn theo [15, 11]). Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức” [10, tr.16].

Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.

Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý:

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì quản lý có 4 chức năng: “Kế hoạch hóa – Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra” [1, tr,6-8]. Có thể khái quát 4 chức năng như sau:

 Kế hoạch hóa: Là quá trình xác định mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu. Thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ những hoạt động vào công tác kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi cụ thể và ấn định tường minh các nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu.

Tổ chức thực hiện: Là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những hoạt động thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách hợp lý.

Chỉ đạo/ Lãnh đạo: Là chỉ dẫn, động viên, điều chỉnh và phối hợp các lực lượng để thực hiện kế hoạch đã đề ra.

Kiểm tra, đánh giá: Là chức năng dùng để kiểm tra trạng thái của hệ thống, kiểm tra kết quả thực hiện kế hoạch so với mục tiêu đề ra, kiểm tra còn nhằm phát hiện sai sót để kịp thời uốn nắn, sửa chữa trong quá trình thực hiện kế hoạch.

  • Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp,… chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt những mục tiêu giáo dục đề ra. Chủ thể quản lý là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của giáo dục, trung tâm ra quyết định điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra. Đối tượng quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất kĩ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục, đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra.

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của giáo dục, của sự phát triển tâm lý thể lực của trẻ” [20].

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất” [Error! Reference source not found., tr.68]

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng thực hiện được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất” [13, 89].

Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến Địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục đào tạo. Hiểu một cách cụ thể là:

  • Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý.
  • Quản lý giáo dục là sự tác động lên tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt mục đích đã định.

Trên cơ sở lý luận chung ta thấy rằng thực chất của nội dung quản lý hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh.

Tóm lại, “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”

  • Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Theo các tác giả M.I.Kônđakôp, P.V.Zimin, N.I.Xaxerđôtôp: “Quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội – kinh tế và tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [Error! Reference source not found., tr.12].

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [Error! Reference source not found., tr.205].

Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường. Do đó quản lý nhà trường là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo. Bản chất quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và học để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.

Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục. Quản lý nhà trường được quy định với bản chất lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý. Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học sinh được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội. Vì vậy, thực chất quản lý giáo dục là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu đề ra. Trường học là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục.

1.2.2. Quản lí trường bán trú

  • Trường bán trú

Trường bán trú là loại hình trường chuyên biệt nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà nước thành lập trường nội trú nhằm đào tạo các bậc học cho đối tượng con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện KT-XH khó khăn, là nơi đào tạo cán bộ cho các vùng dân tộc [24, tr.2].

Trường bán trú có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển KT-XH và củng cố an ninh quốc phòng ở các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa.

Trường bán trú là loại trường chuyên biệt mang tính phổ thông, dân tộc và nội trú. Trường phổ thông dân tộc bán trú còn là nơi để thực hiện chế độ chính sách của Đảng, nhà nước đối với học sinh phổ thông dân tộc thiểu số một cách khá đầy đủ và toàn diện nhất.

  • Nhiệm vụ của trường bán trú Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Theo điều lệ trung học trường bán trú ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ như các trường phổ thông bình thường còn phải thực hiện các nhiệm vụ sau(điều 4 – quyết định số 49/QĐ ngày 25/8/2008 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường bán trú):

  • Tuyển sinh đúng đối tượng theo kế hoạch được giao hàng năm.
  • Giáo dục học sinh về truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
  • Giáo dục lao động hướng nghiệp, giúp học sinh định hướng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, giáo dục học sinh ý thức phục vụ quê hương sau khi tốt nghiệp.
  • Tổ chức chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh phổ thông bán trú.
  • Có kế hoạch theo dõi số học sinh đã tốt nghiệp nhằm đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục.

Hệ thống trường bán trú

Theo điều 5 của quyết định số 49/QĐ ngày 25/8/2008 ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường bán trú của Bộ GD & ĐT đã ban hành:

Hệ thống trường nội trú gồm có:

  • Trường bán trú cấp huyện đào tạo cấp THCS được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo vùng dân tộc.
  • Trường bán trú cấp tỉnh đào tạo cấp THPT được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Để đào tạo nguồn cán bộ là con em dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện KT- XH đặc biệt khó khăn.
  • Quản lí trường bán trú

Hệ thống trường bán trú thuộc hệ thống trường phổ thông công lập, vì thế nên việc quản lý nhà trường bán trú được thực hiện theo sự phân cấp quản lý như sau:

  • Trường bán trú cấp huyện do phòng GD&ĐT quản lý.
  • Trường bán trú cấp tỉnh và trường bán trú cấp huyện có mở cấp THPT do Sở GD&ĐT quản lý.
  • Quản lí các trường bán trú nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả tốt nhất, cụ thể:
  • Mục tiêu: Nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả cao nhất, đặc biệt là các hoạt động giữ giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh.

Nội dung: Thực hiện chương trình của trường phổ thông; Tổ chức hoạt động nội trú và nuôi dưỡng học sinh nội trú; Tổ chức hoạt động nội trú gồm: Hoạt động lao động, văn hóa, thể thao. Cụ thể: Lao động công ích, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc, giao lưu văn hóa và các hoạt động xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh; Nuôi dưỡng học sinh nội trú: hoạt động nuôi dưỡng bao gồm tổ chức bếp ăn tập thể đảm bảo dinh dưỡng theo đúng chế độ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe học sinh. Hoạt động nuôi dưỡng thực hiện công khai dân chủ, tôn trọng phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc [24, tr.6].

1.2.3. Khái niệm về nếp sống văn minh, giáo dục nếp sống văn minh. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

  • Khái niệm về “Nếp sống”

Trong cuộc sống, những ý nghĩa, việc làm, sinh hoạt,… được lặp đi, lặp lại hàng ngày, dần trở thành thói quen, thành một hệ thống tập quán tạo nên nếp sống. nói cách khác, nếp sống bao gồm những nhân cách, những quy ước… đã trở thành thói quen trong lĩnh vực của cuộc sống như: trong sản xuất có cách thức trồng trọt, chăn nuôi… trong sinh hoạt có thói quen ăn, mặc, ở, giao tiếp… trong đời sống XH có phong tục, tập quán, lễ phép, lễ nghi, pháp luật… Nhờ có nếp sống mà những kinh nghiệm quý báu của con người và XH được giữ gìn và phát triển và cũng nhờ có nếp sống mà con người và XH không cần phải đi đường vòng, không phải bắt đầu lại quá trình lịch sử mà nhân loại đã trải qua.

Trong từ điển Tiếng Việt(18), nếp có hai nghĩa: Theo nghĩa thứ nhất: vệt hằn trên bề mặt nơi bị gấp lại của vải, luak, da,v.v.(quần áo còn nguyên nếp, nếp nhăn trên má); theo nghĩa thứ hai: Lối, cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen (nếp sống văn minh, thay đối nếp suy nghĩ).

Một số tác giả đã có những khái niệm khác nhau về “Nếp sống” như sau: Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng: “Nếp sống” là nếp sống đã đi vào nề nếp được XH quy định bởi những pháp chế, tập tục hay luật lệ được dư luận đông đảo quần chúng của XH chấp nhận.

Theo tác giả Lê Như Hoa: “Nếp sống” là những hành vi ứng Xử của con người đã được lặp đi, lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen, thành phong tục được XH công nhận.

Tác giả Thanh Lê cho rằng: “Nếp sống” là những quy ước được lặp đi, lặp lại và trở thành thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán và hành vi đạo đức.

Qua tìm hiểu, nghiên cứu, nghiên cứu chúng tôi hiểu khái niệm nếp sống là những biểu hiện hành vi ứng xử của con người trong các lĩnh vực của cuộc sống(sản xuất, sinh hoạt, đời sống XH, gia đình,…).

  • Khái niệm về “Văn minh” Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Văn minh là do con người tạo ra, đến lượt mình con người, lại trở thành một sản phẩm của văn hóa, của XH. Để có một sự hài hòa giữa XH,văn hóa và con người, sự tồn tại của một cộng đồng, một dân tộc… buộc phải quy định những khuôn mẫu, tiêu chí văn hóa cho những con người trong cộng đồng, trong XH, trong một quốc gia. Sự quy định ấy phải thể hiện bằng pháp chế, bằng dư luận, bằng cách tạo nên những thói quen, phong tục tập quán, truyền thống…

Người “văn minh” là người hiểu biết, tiến bộ luôn vươn tới tầm cao.Vậy nếp sống văn minh là tổng hoà những cái đẹp của diện mạo, tác phong, hành vi, cử chỉ. Vẻ đẹp bên trong là nhân cách bộc lộ ra bên ngoài là nếp sống. Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích lũy tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người hình thành cho đến thời điểm xét đến. Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu.

“Văn minh”“nền văn hóa có đặc trưng riêng tiêu biểu cho một xã hội rộng lớn, một thời đại hay cả nhân loại”.Văn minh” biểu hiện ở trình độ phát triển cao của văn hóa về phương diện vật chất theo hướng xóa bỏ những lạc hậu, thấp kém để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn.

Văn minh” là một khái niệm khá rộng lớn nói về trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài ngoài, có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng. Ví dụ, “văn minh Ai Cập; văn minh phương Đông…”. Hiểu theo nghĩa hẹp thì văn minh là chỉ con người, sự vật nếp sống, nếp sinh hoạt đã được định hình với những đặc trưng trong sáng, đẹp đẽ của nền văn hóa phát triển cao. Ví dụ, “một nếp sống văn minh, một con người văn minh”.

1.2.4. Giáo dục nếp sống văn minh

Giáo dục NSVM là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm bồi dưỡng cho học sinh phẩm chất, năng lực, trí thức cần thiết về giá trị vật chất và tinh thần, kinh nghiệm ứng xử, lối sống, ngôn ngữ,… nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện của người học trong đời sống văn hóa xã hội. Chính vì vậy, quan tâm đến việc giáo dục NSVM là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua.

Nhiệm vụ vận dụng các giá trị văn hóa để giáo dục học sinh là mục tiêu lớn của ngành giáo dục đã được khẳng định trong luật giáo dục: “thừa kế và phát huy truyền thống tốt đẹp, xây dựng nếp sống văn minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại” [17, tr.2].

Trường bán trú có chức năng giáo dục NSVM cho học sinh nhằm đảm bảo quyền của học sinh trong giáo dục. Nhờ có giáo dục NSVM, học sinh của các trường bán trú được phát triển toàn diện, trở thành những công dân có tri thức, có NSVM của con người hiện đại.

1.3. Giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú ở trường tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

1.3.1. Đặc điểm trường tiểu học bán trú và đặc điểm học sinh của nhà trường

  • Đặc điểm trường tiểu học bán trú

Điều lệ trường tiểu học Ban hành kèm theo Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện phổ cập giáo dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và giúp các cơ quan có thẩm quyền quản lí các hoạt động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn trường được phân công phụ trách. Xây dựng, phát triển nhà trường theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhiệm vụ phát triển giáo dục của địa phương. Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục. Quản lí cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh. Quản lí, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật. Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiện hoạt động giáo dục. Tổ chức cho cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Trong công tác giáo dục, bậc Tiểu học là bậc học giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho học sinh nhằm xây dựng và phát triển con người làm chủ tương lai cho đất nước. Trong đó giáo dục nếp sống văn minh là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản nhất trong các bậc học của học sinh nhằm làm cho nhân cách được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những nhận thức, ý thức tình cảm đạo đức, có những thói quen, hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân đối với mọi người xung quanh. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Được hình thành từ cuối những năm 50 của thế kỉ XX, mô hình trường bán trú (BT) là loại trường chuyên biệt. Ngoài nhiệm vụ giáo dục của trường phổ thông, trường bán trú còn thực hiện nhiệm vụ tạo nguồn cán bộ, lực lượng lao động có trình độ văn hóa, kỹ thuật, có sức khỏe và phẩm chất tốt để tham gia xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Sau nhiều năm xây dựng và phát triển, hệ thống trường bán trú đã hình thành và phủ kín các tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi, tạo cơ hội thuận lợi cho trẻ em dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới được tiếp cận với nền giáo dục có chất lượng.

Hệ thống trường bán trú đã trở thành mái nhà chung, là cánh cửa mở ra tương lai cho hàng nghìn học sinh người dân tộc thiểu số thuộc các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Ở chung một mái trường, xa gia đình đó là thực tế chung của rất nhiều học sinh tại các trường bán trú toàn quốc. Với các em, thầy giáo, cô giáo tại đây không chỉ truyền thụ cho kiến thức mà còn là chỗ dựa tinh thần, hướng dẫn các em những kĩ năng ứng xử, ăn, uống, ngủ, nghỉ để các em rèn luyện nên người. Trong công tác giáo dục đời sống bán trú, nhà trường luôn gắn kết chặt chẽ giữa dạy chữ với rèn người. Nhà trường tổ chức thực hiện nhiều chuyên đề như giáo dục và chăm sóc sức khỏe vị thành niên; công tác vệ sinh cá và bảo vệ môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm; giáo dục và rèn luyện NSVM cho học sinh ở các trường bán trú.

Đến nay, tất các dân tộc thiêu số của nước ta đều có con em theo học tại trường bán trú. Các trường đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh các dân tộc thiểu số. Những giải pháp tích cực của ngành GD và ĐT cùng các địa phương đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường bán trú. Học sinh các trường bán trú có phẩm chất tốt, giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời tiếp thu các nét đẹp văn hóa ứng xử văn minh, tiên tiến thông qua các hoạt động của nhà trường.

Giáo dục NSVM là một bộ phận rất quan trọng của quá trình sư phạm, đặc biệt là ở Tiểu học. Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ văn minh hàng ngày. Có thể nói, nhân cách của học sinh Tiểu học thể hiện trước hết qua hành vi NSVM. Điều này thể hiện qua thái độ cư xử đối với ông bà, cha mẹ, anh chị em ruột trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè qua thái độ với học tập, rèn luyện hàng ngày. Vì vậy, giáo dục NSVM cho học sinh Tiểu học giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Vì bậc Tiểu học là bậc học nền tảng. Sự phát triển nhân cách bắt nguồn từ môi trường này. Các nề nếp, thói quen, các cử chỉ hành vi nếp sống văn minh đều được xây dựng từ đây. Đó là các ý thức như: giữ gìn vệ sinh chung nơi công cộng, chấp hành luật lệ giao thông, giúp đỡ người già neo đơn, giúp người có hoàn cảnh khó khăn, gặp hoạn nạn, nói lời hay lịch sự,…

Vấn đề giáo dục nhân cách, hình thành NSVM luôn là một nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với các nhà trường. Và đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mà Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, hơn bao giờ hết, các nhà trường tiểu học cũng cần xác định rõ mục tiêu của giáo dục học sinh nếp sống văn minh và coi đây là yếu tố không thể thiếu được trong hành trình đưa các em trở thành con người hữu ích của xã hội.

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ của giáo dục tiểu học là giáo dục cho học sinh ở hai mặt chính: Đức dục và Trí dục. Đức dục và Trí dục phải được tiến hành song song và đồng bộ. giáo dục NSVM là việc giáo dục cho học sinh nhân cách sống, biết yêu quê hương, đất nước, con người, biết cách cư xử lễ phép với mọi người xung quanh, sống và làm việc theo pháp luật, hiểu và tôn trọng tập tục truyền thống của ông cha, biết điều hay lẽ phải, tránh những thói hư tật xấu, biết yêu thương giúp đỡ người kém may mắn hơn… Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Công tác học sinh bán trú là một nội dung giáo dục đặc thù quan trọng trong kế hoạch giáo dục học sinh của các trường bán trú.

+ Tầm quan trọng của quản lý công tác học sinh bán trú.

Thông qua quản lý, các hoạt động của công tác học sinh bán trú được thực hiện như: tổ chức và quản lý học sinh bán trú, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng học sinh, tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục có mục đích nhằm tăng cường quá trình tự học, tự giáo dục… Hoạt động công tác học sinh bán trú gồm:

  • Tổ chức và quản lý học sinh bán trú.
  • Tổ chức giáo dục học sinh bán trú.
  • Tổ chức và hướng dẫn học sinh tự học.
  • Tổ chức đời sống vật chất và chăm sóc sức khỏe cho học sinh bán trú.
  • Tổ chức đời sống tinh thần cho học sinh bán trú.

Tính chất của công tác quản lý học sinh bán trú.

  • Tính tuân thủ pháp luật.
  • Tính phù hợp, tự nguyện.
  • Tính mềm dẻo, linh hoạt.

Trường bán trú tiểu học là đơn vị cơ sở của bậc tiểu học nên quản lý trường tiểu học là khâu cơ bản của hệ thống quản lý ngành học. Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý hiệu trưởng đến tập thể cán bộ, giáo viên để họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc giáo dục học sinh thực hiện mục tiêu đối với từng độ tuổi và mục tiêu của bậc học. Đối tượng quản lý trường bán trú tiểu học là học sinh từ 6 đến 11 tuổi. Đối tượng quản lý này, tính chủ động thấp, còn non nớt và hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn. Giáo viên chủ nhiệm, các đoàn thể trong các nhà trường không chỉ đóng vai trò là nhà giáo mà còn là người mẹ, người cha thứ hai của học sinh nhằm vun đắp tập hồn học sinh, chăm sóc thông qua giao tiếp tình cảm, tổ chức các hoạt động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày tại trường.

Quản lý thực sự là việc lựa chọn các giải pháp, biện pháp quản lý sao cho phù hợp với tình hình hiện tại, đồng thời cũng chính là ta biết cách tận dụng những lợi thế ta có, từ đó khắc phục giảm thiểu những bất lợi trong công tác quản lý theo đúng xu hướng thời đại, biết tận dụng và khai thác tối đa những phương tiện hiện đại, khoa học kĩ thuật hiện đại vào công tác quản lý nhằm nâng cao hiệu quả. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Quản lý nhân lực (con người, bộ máy): đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên và học sinh; các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường; bộ máy quản lý và tổ chức thực hiện công tác học sinh bán trú; năng lực, phẩm chất, khả năng đáp ứng, sở trường, kinh nghiệm,…

  • Quản lý vật lực: Đất lai, điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và các điều kiện đáp ứng khác.
  • Quản lý tài chính: Các nguồn tài chính có thể phục vụ cho công tác HS bán trú (ngân sách Nhà nước cấp, nguồn xã hội hóa, các nguồn thu hợp pháp khác của nhà trường).
  • Công cụ quản lý.
  • Xây dựng Kế quản lý và Kế hoạch hoạt động công tác học sinh bán trú năm học.
  • Ban hành nội quy quy định về công tác HS bán trú của nhà trường.
  • Tổ chức bộ máy quản lý HS bán trú.
  • Xây dựng bộ công cụ (Tiêu chí) đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của công tác học sinh bán trú trong nhà trường.

Người quản lý của một nhà trường có biện pháp quản lý phù hợp với trường mình thì công tác quản lý ở đó sẽ tốt, phong trào sẽ từng bước đi lên và chất lượng giáo dục ở đơn vị đó sẽ tốt và bền vững hoặc ngược lại.

  • Đặc điểm học sinh trường tiểu học bán trú:

Học sinh trường tiểu học bán trú chủ yếu là học sinh dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, các nét tâm lý như ý chí, óc quan sát, tính kiên trì, tính kỷ luật, các kỹ năng sống cần thiết… Do các em quen sống trong môi trường nông thôn miền núi tự do trong sinh hoạt nên khi bước sang môi trường tập trung với những yêu cầu cao mang tính kỷ luật, quy định chung, chặt chẽ là một khó khăn mà các em không dễ khắc phục và hình thành ngay.

Học sinh bán trú thường có hoàn cảnh kinh tế gia đình ở mức trung bình, nhiều em là con hộ nghèo và cận nghèo. Trong thời gian học tập tại trường, các em có ở tại trường.

Trong học tập, nhiều em chưa tích cực, chủ động, chưa có phương pháp học tập đúng đắn, động cơ và mục đích học tập chưa rõ ràng; các em ngại giao tiếp, trao đổi với bạn bè và thầy cô. Do ở vùng núi, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhiều bậc cha mẹ do thiếu hiểu biết về chăm sóc con cái hoặc điều kiện kinh tế không cho phép nên thiếu sự quan tâm đúng mức tới con em mình…

Từ các đặc điểm nêu trên đòi hỏi các hoạt động học tập dành cho học sinh bán trú phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi và hoàn cảnh của các em. Các lực lượng giáo dục, đặc biệt là nhà trường cần biết phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm lý lứa tuổi này, để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức, quản lý phù hợp, phát huy được tính tích cực chủ động của các em, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập.

1.3.2. Ý nghĩa, sự cần thiết của giáo dục Nếp sống văn minh cho học sinh trường bán trú tiểu học Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Giáo dục NSVM cho học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể nên phải đảm bảo chặt chẽ của quy trình quản lý giáo dục. Quy trình giáo dục NSVM cho học sinh là một quy trình mang tính toàn vẹn và thống nhất từ: “Lập kế hoạch – tổ chức thực hiện – chỉ đạo – kiểm tra, đánh giá kết qủa “. Mỗi chức năng có vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen nhau, bổ sung cho nhau; thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo cơ sở, điều kiện cho các chức năng tiếp theo.

Công tác giáo dục NSVM cho học sinh bán trú tiểu học trong giai đoạn hiện nay càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn, cần thiết hơn khi toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh “. Nó sẽ là nguồn lực tinh thần to lớn thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Giáo dục NSVM cho học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở các nhà trường tiểu học có vai trò định hướng. Đó là sứ mệnh lịch sử – vinh dự và trách nhiệm mà xã hội giao cho các nhà trường và mỗi chúng ta nói riêng, ngành GD&ĐT nói chung. NSVM được truyền đạt lại và thay đổi có chọn lọc từ thế hệ này sang thế hệ khác và ngày càng được bổ sung phong phú thêm theo sự phát triển của xã hội.

1.3.3. Mục tiêu nội dung, giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú các trường tiểu học

Mục tiêu

  • Nhằm khơi dạy niềm tự hào của các thế hệ học sinh ngày nay và việc kế thừa, gìn giữ truyền thống tốt đẹp ở nhà trường.
  • Tạo sự chuyển biến từng bước về nhận thức và hành vi cho học sinh tiểu học trong sinh hoạt và đời sống, góp phần đào tạo, xây dựng các thế hệ con người ngày càng văn minh góp phần xây dựng đất nước phồn vinh giàu đẹp. Cung cấp những kiến thức cơ bản về NSVM, các hành vi giao tiếp, ứng xử…

Hướng dẫn xây dựng các kiến thức cơ bản về NSVM, các hành vi giao tiếp,ứng xử theo hướng phát huy và thừa kế và phát huy truyền thống phù hợp với đời sống hiện tại.

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò trách nhiệm của học sinh trong việc giữ gìn và hình thành cho học sinh NSVM.

Nội dung: Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Nội dung giáo dục NSVM cho học sinh bán trú tiểu học phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của học sinh, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp học sinh phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp học sinh biết yêu mến, lễ phép, kính trọng ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, yêu quý anh, chị,em, bạn bè,thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên,yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học; đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa tiểu học và cấp trung học cơ sở; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống kinh nghiệm của học sinh, chuẩn bị cho học sinh từng bước hòa nhập vào cuộc sống.

Tập trung chỉ dẫn hành vi cá nhân cụ thể về ăn, mặc, nghe, nói, cử chỉ cơ bản; hướng dẫn về giao tiếp và ứng xử thanh lịch, văn minh. Các nội dung đề cập ở mức sơ đẳng nhất, gần gũi và dễ vận dụng trong đời sống hằng ngày.

1.3.4. Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú tiểu học

Phương pháp:

Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của nhà giáo dục và tập thể học sinh đến người được giáo dục thông qua việc tổ chức một cách hợp lý về mặt sư phạm những hoạt động và giao lưu của học sinh nhằm hình thành ý thức, bồi dưỡng tình cảm, rèn luyện kỹ xảo và thói quen hành vi nhân cách của họ. Phương pháp giáo dục có quan hệ với phương tiện giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục. Phương tiện giáo dục bao gồm các loại hình hoạt động khác nhau của học sinh cũng như các vật thể và sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần được sử dụng trong quá trình giáo dục.

Thuật ngữ phương pháp trong tiếng Hy Lạp là “Méthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì vậy, phương pháp là hệ thống những hành động tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định. Từ khái niệm trên ta thấy phương pháp có cấu trúc phức tạp, bao gồm mục đích được đề ra, hệ thống những hành động (hoạt động), những phương tiện cần thiết (phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ), quá trình làm biến đổi đối tượng, kết quả sử dụng phương pháp (mục đích đạt được). Khi sử dụng đúng phương pháp sẽ dẫn đến kết quả theo dự định. Nếu mục đích không đạt được thì có nghĩa là phương pháp không phù hợp với mục đích hoặc nó không được sử dụng đúng. Bất kỳ phương pháp nào, dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp thực hành sản xuất, để thực hiện có kết quả vào đối tượng nào đó thì cũng phải biết được tính chất của đối tượng, tiến trình biến đổi của nó dưới tác động của phương pháp đó. Nghĩa là phải nhận thức những quy luật khách quan của đối tượng mà chủ thể định tác động vào thì mới đề ra những biện pháp hoặc hệ thống những thao tác cùng với những phương tiện tượng ứng để nhận thức và để hành động thực tiễn.

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học với sự tương tác lẫn nhau, trong đó phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, còn phương pháp học có tính chất độc lập tương đối, chịu sự chi phối của phương pháp dạy, song nó cũng ảnh hưởng trở lại phương pháp dạy. Phương pháp dạy học là tổ hợp những biện pháp với tư cách là những thành phần cấu trúc của nó, song việc phân như vậy cũng chỉ có tính chất tương đối. Chẳng hạn giảng giải là phương pháp dạy học trong tiết học lĩnh hội tri thức mới nhưng lại là một biện pháp của phương pháp công tác trong phòng thí nghiệm. Điều đó có nghĩa là trong những điều kiện nhất định, chúng có thể chuyển hoá lẫn nhau.

  • Phân tích số liệu tổng hợp các mặt của hoạt động giáo dục trong các năm, qua đó đánh giá đúng tình hình thực tế, thực trạng của đề tài đang nghiên cứu. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.
  • Lắng nghe các em nói lên những suy nghĩ, dẫn đến việc làm chưa phù hợp với chuẩn đạo đức người học sinh.
  • Nghiên cứu tìm hiểu các phong tục tập quán địa phương, tâm tư tình cảm và nguyện vọng của học sinh. Đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa gia đình nhà trường và xã hội trong mọi hoạt động.
  • Thảo luận với đồng nghiệp để tìm ra các phương pháp hay, phù hợp và hiệu quả trong việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.
  • Nghiên cứu các tài liệu in, báo đài, mạng intenet về các phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường nói chung và học sinh bán trú nói riêng.

Đối với giáo dục tiểu học, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếp, chú trọng giáo dục NSVM, thể hiện sự yêu thương, tạo sự gắn bó của người lớn với học sinh; chú trọng đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho học sinh có cảm giác an toàn về thể chất, tinh thần; tạo điều kiện cho học sinh được tích cực hoạt động giáo lưu cảm xúc. Đối với giáo dục tiểu học phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu hứng thú theo phương châm”chơi mà học, học mà chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm sáng tạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ.

Kết hợp hài hòa giữa giáo dục học sinh trong nhóm bạn bè với giáo dục cá nhân, chú ý đến đặc điểm riêng của từng học sinh đề có phương pháp phù hợp với độ tuổi, với khả năng của từng học sinh, nhu cầu hứng thú và với điều kiện thực tế.

  • Hình thức:

Hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó.

Hình thức giáo dục là hình thức tổ chức quá trình giáo dục trong đó diễn ra sự gắn bó liên kết giữa hoạt động dạy, hoạt động học và sự tương tác đa chiều giữa các chủ thể dạy và học.

Hiện nay, việc tổ chức nuôi dạy học sinh trường bán trú có các hình thức sau:

  • Học sinh học tập, ăn, ở nội trú tại trường. Hình thức tổ chức này được tiến hành phổ biến ở các trường bán trú của các địa phương.
  • Học sinh học tập, ăn, ở bán trú tại trường bán trú, nhưng học tại tiểu học của địa phương.
  • Vị trí công tác học sinh bán trú trường tiểu học.
  • Công tác học sinh nội trú là một nội dung giáo dục đặc thù quan trọng trong kế hoạch giáo dục học sinh của trường bán trú. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.
  • Tầm quan trọng của quản lý công tác học sinh bán trú.

Thông qua quản lý, các hoạt động của công tác học sinh bán trú được thực hiện như: tổ chức và quản lý học sinh bán trú, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng học sinh, tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục có mục đích nhằm tăng cường quá trình tự học, tự giáo dục… Hoạt động công tác học sinh nội trú gồm:

  • Tổ chức và quản lý học sinh bán trú.
  • Tổ chức giáo dục học sinh bán trú
  • Tổ chức và hướng dẫn học sinh tự học.
  • Tổ chức đời sống vật chất và chăm sóc sức khỏe cho học sinh bán trú.
  • Tổ chức đời sống tinh thần cho học sinh bán trú.

Tính chất của công tác quản lý học sinh bán trú.

  • Tính tuân thủ pháp luật.
  • Tính phù hợp, tự nguyện.
  • Tính mềm dẻo, linh hoạt.

Một số yêu cầu trong công tác quản lý học sinh bán trú.

  • Nắm vững các quy định về tổ chức và hoạt động của trường bán trú và các quy định khác có liên quan.
  • Nắm rõ nội dung hoạt động của công tác HS bán trú và yêu cầu quản lý các hoạt động đó.
  • Tổ chức tốt bộ máy quản lý học sinh bán trú.
  • Huy động, quản lý, sử dụng, khai thác tốt các nguồn lực cho công tác HS bán trú.
  • Nắm rõ đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán của từng dân tộc trong cộng đồng học sinh các dân tộc trong nhà trường.
  • Vai trò của các nhà trường bán trú đối với HS của mình là toàn diện và trực tiếp.
  • Môi trường đa dân tộc và đa văn hóa.
  • Những thay đổi về đạc điểm tâm lý nhận thức của học sinh.
  • Sự thay đổi và thích nghi với môi trường học tập, sinh hoạt của HS dân tộc khi về trường bán trú.

Các trường bán trú tổ chức hoạt động công tác HS bán trú bao gồm các hoạt động chính sau:

  • Tổ chức và quản lý học sinh bán trú.
  • Tổ chức giáo dục học sinh bán trú
  • Tổ chức và hướng dẫn học sinh tự học.
  • Tổ chức đời sống vật chất và chăm sóc sức khỏe cho học sinh bán trú.
  • Tổ chức đời sống tinh thần cho học sinh bán trú.

1.4. Quản lý giáo dục “Nếp sống văn minh” cho học sinh trường tiểu học bán trú Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

1.4.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh trường tiểu học bán trú

Nhiệm vụ đầu tiên cơ quan quản lý giáo dục, ban giám hiệu các trường tiểu học trong quản lý hoạt động giáo dục NSVM là quản lý việc đánh giá, xác định yêu cầu của việc quản lý giáo dục NSVM đánh giá đội ngũ giáo viên, cụ thể: Đánh giá đội ngũ xác định yêu cầu cũng như đưa ra những kết luận về các nội dung cần giáo dục.

Trong khi khảo sát có thể điều chỉnh nội dung khảo sát cho phù hợp với điều kiện, sát với hoàn cảnh thực tiễn. Sau khi khảo sát, tiến hành phân tích các thông tin đã thu thập được. Dựa vào kết quả phân tích, định hướng về những nội dung cần thiết phải bồi dưỡng, tiến hành triển khai bồi dưỡng thí điểm để rút kinh nghiệm, sau đó lập kế hoạch để triển khai bồi dưỡng trên diện rộng. Để xác định nhu cầu bồi dưỡng một cách chính xác thì cơ quan quản lý giáo dục cũng như BGH các trường tiểu học cần tìm hiểu kỹ nhận thức giáo viên về sự cần thiết, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức. Giáo viên tiểu học trong các nhà trường cần có kiến thức giáo dục NSVM đa dạng và phong phú. Vì vậy cần phải xây dụng tổ chức, tạo điều kiện cho giáo viên được tập huấn, trau dồi kiến thức. Đây là cơ sở ban đầu để tiến hành các nội dung tiếp theo.

Xây dựng là kế hoạch chức năng quan trọng của hoạt động quản lý. Xây dựng kế hoạch thường xuyên liên tục, cập nhật cái mới, phương pháp giáo dục mới. là một nhiệm vụ quan trọng của cơ quan quản lý giáo dục. Kế hoạch phải mang tính thống nhất, toàn diện,, tăng cường tính thực tiễn trong nội dung và phương pháp bồi dưỡng.

Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục NSVM mang tính dài hạn được dựa trên nhu cầu phát triển giáo dục về số lượng, đối tượng, nội dung và cần có sự phân loại để xác định phân loại cho từng hình thức cụ thể. Kế hoạch giáo dục ngắn hạn phải được cơ quan quản lý giáo dục xây dựng thông qua việc kiểm tra, đánh giá của hoạt động giáo dục NSVM.

Mục tiêu tiền đề cho việc xây dựng chương trình giáo dục NSVM. Trong xây dựng cần xây dựng mục tiêu cụ thể hóa, tiêu chuẩn hóa, tính dự báo. Mục tiêu càng cụ thể càng thiết thực, càng phù hợp thì càng có nhiều khả năng biến thành hiện thực.

Xác định mục tiêu của hoạt động giáo dục NSVM. Cơ quan quản lý cần xác định hoạt động giáo dục NSVM hướng vào đối tượng nào, đồng thời xác định những kiến thức, kỹ năng và có thái độ cho đối tượng cần giáo dục. Dự kiến các nguồn lực(nhân lực, tài lực, vật lực và thời gian) cho hoạt động giáo dục. Đây là công việc chuẩn bị về lĩnh vực tổ chức nhằm định hướng cho những ai để làm công việc giáo dục NSVM. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Dự kiến các biện pháp thực hiện và hình thức thực hiện mục tiêu. Dự kiến các hình thức tổ chức là việc làm không kém phần quan trọng. Việc này được thực hiện khi triển khai chương trình giáo dục. Nó thể hiện tổ chức tập trung về thời gian, hay tập trung giai đoạn… và cuối cùng là đánh giá.

Tóm lại, xây dựng kế hoạch giáo dục NSVM là khâu đầu tiên của quá trình quản lý bằng kế hoạch. Kết quả của nó chính là chương trình hành động của cơ quan QLGD trong hoạt động giáo dục NSVM tạo tiền đề cho quá trình quản lý hoạt động giáo dục.

1.4.2. Tổ chức giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh trường tiểu học bán trú

Tổ chức là chức năng được tiến hành sau khi lập kế hoạch nhằm chuyển hóa những mục đích, mục tiêu hoạt động được đưa ra trong kế hoạch thực hiện. nhờ đó mà tạo ra mối quan hệ giũa các đơn vị, các bộ phận liên quan trong bộ phận được liên kết thành bộ máy thống nhất, chặt chẽ và cơ quan QLGD có thể điều phối các nguồn lực phục vụ ngày một tốt hơn cho quản lý hoạt động giáo dục NSVM. Phương pháp làm việc của cơ quan QLGD có nghĩa quyết định cho việc chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực. Để tổ chức tốt kế hoạch thì cơ quan QLGD cần thực hiện các vấn đề sau: Tổ chức tốt bộ máy nhân lực để thực hiện hoạt động giáo dục NSVM cho học sinh. Điều đó có nghĩa là tổ chức như thế nào, bồi dưỡng cái gì… Người trực tiếp giáo dục học sinh có thể là giáo viên hoặc các đoàn thể.

1.4.3. Chỉ đạo giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh trường tiểu học bán trú

Chỉ đạo là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người, xét từ những phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia, nhóm quốc gia. Đây cũng là một hoạt động mang ý nghĩa quyết định mang tính chất sống còn của chủ thể tham gia các hoạt động xã hội, nhân loại. Quản lý chỉ đạo đúng đắn thành công, ổn định phát triển bền vững. Còn chỉ đạo sai dẫn đến thất bại.

Chỉ đạo vốn là chức năng được thể hiện rõ rang trong nội hàm của khái niệm quản lý. Cũng chính chức năng thể hiện năng lực của chủ thể quản lý trong công tác quản lý giáo dục NSVM. Sau khi lập kế hoạch và cơ cấu bộ máy, khâu vận hành, điều kiện hệ thống cốt lõi của chức năng chỉ đạo. Nội dung của chức năng này là liên kết các thành viên trong tổ chức, tập hợp động viên phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

Trong quá trình quản lý, nhà trường phải thường xuyên nắm chắc vai trò chỉ đạo, điều hành của mình, xử lý thông tin chính xác, kịp thời, chỉ đạo mọi hoạt động một cách đúng đắn, kiên quyết để quá trình quản lý GDNSVM đạt hiệu quả cao.

Điều khiển bộ máy hoạt động hiệu quả bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của các cấp quản lý.

1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh trường tiểu học bán trú Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Hoạt động quản lý nào cũng không thể thiếu được khâu kiểm tra, đánh giá. Chức năng này xuyên suốt chu trình quản lý hoạt động giáo dục NSVM. Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch giáo dục NSVM cho học sinh bán trú tiểu học tiến hành ở tất cả các khâu như: Lập kế hoạch giáo dục có tính khả thi, phù hợp với thực trạng và đáp ứng nhu cầu của giáo dục NSVM không? Cách thức tổ chức tiến hành giáo dục như thế nào để có hiệu quả? Hoạt động kiểm tra sẽ giúp cho các cấp quản lý giáo dục theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động, từ đó sẽ có những quyết định điều chỉnh, uốn nắn nếu cần thiết.

Để làm tốt việc kiểm tra cần thực hiện những nội dung sau: Thu thập thông tin phản hồi. Chỉ có kiểm tra mới có được những thông tin phản hồi đáng tin cậy. Việc xử lý đúng đắn các thông tin giúp cho người quản lý tác động kịp thời vào tổ chức, điều chỉnh mục tiêu và ra quyết định cho chu trình quản lý mới; Phát hiện được thực hiện tiếp nối quá trình đánh giá, bao gồm phát hiện những yếu tố tích cực, những kinh nghiệm tốt và lệch lạc trong hoạt động thực tiễn, đo chính xác độ sai lệch và xác định nguyên nhân sai lệch; Điều chỉnh: Phát huy thành tích, uốn nắn và sửa chữa những sai lệch, xử lý những vi phạm.

Các hình thức tiến hành kiểm tra: Kiểm tra đột xuất; Kiểm tra định kỳ (Theo thời gian); Kiểm tra toàn diện, Kiểm tra chuyên đề (Theo nội dung); Kiểm tra trục tiếp; kiểm tra gián tiếp (Theo phương pháp); Kiểm tra toàn bộ, Kiểm tra có lựa chọn (Theo số lượng của đối tượng kiểm tra). Khi tiến hành kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục NSVM cần kiểm tra số lượng và đối tượng tham gia GD. Kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch, nội dung, hình thức, điều kiện tổ chức và hiệu quả của hoạt động này. Sau đó tiến hành đánh giá kết của hoạt động giáo dục NSVM trên cơ sở đối chiếu với những mục tiêu đã đề ra.

Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động, là quá trình không thể thiếu được trong tổ chức các hoạt động giáo dục. Đây là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý đồng thời mở ra một chu trình quản lý mới. Kiểm tra gắn liền với đánh giá kết quả đạt được của mục tiêu, phân tích được nguyên nhân thành công và hạn chế để rút ra bài học kinh nghiệm. Bên cạnh đó, kiểm tra còn có chức năng khuyến khích, động viên người làm tốt, ngăn chặn những sai sót có thể xảy ra.

Chức năng này liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện xem xét tình hình thực hiện công việc so với yêu cầu để từ đó đánh giá đúng đắn.

Kiểm tra, đánh giá là sự so sánh đối chiếu trình độ kiến thức, kỹ năng, thái độ đã được hình thành ở người học với những yêu cầu xác định của mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo. Mục tiêu dạy học là cơ sở cho việc xác định nội dung, xây dựng chương trình dạy học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức quá trình dạy học. Đồng thời mục tiêu dạy học chi phối toàn bộ quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, từ việc xác định mục đích kiểm ta, đánh giá đến việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, yêu cầu kiểm tra, đánh giá.

Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng của chu trình dạy học, song cũng có thể xem là bước khởi đầu cho chu trình tiếp theo với chất lượng mới hơn của cả một quá trình.

Từ một phương diện khác, có thể xem kiểm tra, đánh giá là hoạt động nhằm rút ra những phán đoán về giá trị đạt được và những quyết định cần thiết trên cơ sở thông tin và số liệu thu thập được.

Kiểm tra, đánh giá là một hoạt động mà thực chất là quá trình “đo lường”, cho nên việc xác định trình độ kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng mà học viên đạt được không tiến hành theo phép đo mà bằng thang điểm hay bậc thang xếp hạng.

Kiểm tra, đánh giá là hai mặt của một quá trình, kiểm tra là thu thập thông tin, số liệu, bằng chứng về kết quả đạt được, đánh giá là so sánh đối chiếu với mục tiêu dạy học đưa ra những phán đoán kết luận về thực trạng và nguyên nhân của kết quả đó. Đánh giá gắn liền với kiểm tra, nằm trong chu trình kín của quá trình dạy học.

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho học sinh bán trú tiểu học

1.5.1. Các yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

Toàn cầu hóa làm cho mọi mặt hoạt động và đời sống con người kém an toàn tạo ra nguy cơ đánh mất nếp sống văn hóa và xâm phạm nền độc lập tự chủ của đất nước.

Do đặc trưng của kinh tế xã hội của địa phương đồng bào dân tộc miền núi còn chậm phát triển nên ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục NSVM cho học sinh.

Cơ sở vật chật đã được đầu tư xong vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu giáo dục cho học sinh hiện nay.Các yếu tố môi trường phong tục, tập quán, của đồng bào dân tộc, phương tiện giáo dục… có ảnh hưởng đến việc giáo dục NSVM cho học sinh.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

Ngoài những khó khăn chung của lứa tuổi, các em hầu hết là con em các dân tộc thiểu số, từ vùng sâu vùng xa xuống học tập và sinh hoạt tập thể, mang theo rất nhiều tập tục lạc hậu, nhiều thói quen trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản thân CB GV chưa quan tâm nhiều việc rèn luyện, giáo dục NSVM cho học sinh. Đa phần gia đình của học sinh khi đã gửi con em bán trú vào nhà trường họ có suy nghĩ đơn giản là giao trách nhiệm giáo dục hoàn toàn cho nhà trường.

Vì thế nhiều gia đình học sinh hầu như ít liên lạc với nhà trường, không có sự kiểm tra việc học tập, sinh hoạt của con em mình. Chỉ có nhà trường, GVCN chủ động liên lạc với cha mẹ học sinh. Cho nên công tác phối kết hợp trong giáo dục toàn diện của nhà trường gặp khó khăn.

Kiểm tra, đánh giá sẽ giúp hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên có trách nhiệm GDNSVM cho học sinh phát hiện các sai sót, kịp thời điều chỉnh các tác động quản lý để đưa hoạt động giáo dục đến kết quả mong muốn. Đồng thời kiểm tra cũng giúp Hiệu trưởng phát hiện những cách làm hay, các giá trị văn hóa tiêu biểu có ảnh hưởng tốt trong cộng đồng để nhân rộng. Đồng thời qua kiểm tra cũng loại bỏ những nếp sống lạc hậu tồn tại trong cuộc sống của học sinh.

Sự nhận thức của học sinh về NSVM còn mờ nhạt chưa được hình thành trong mỗi học sinh, các em học sinh bán trú tiểu học chưa nhận thức được về ý nghĩa, mục đích của việc rèn luyện NSVM.

Kết luận chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

NSVM là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội. NSVM chỉ được hình thành thông qua quá trình giáo dục, đó là một quá trình lâu dài, liên tục xen kẽ giữa giáo dục, tự giáo dục, giáo dục lại và mang tính nghệ thuật. Giáo dục NSVM là một bộ phận quan trọng trong nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh. Đối với việc hình thành các phẩm chất phù hợp với chuẩn mực và yêu cầu của XH là vấn đề mang tính cốt lõi. Có thể nói giáo dục NSVM cho học sinh là một bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục nói chung trong nhà trường. Muốn nâng cao chất lượng giáo dục thì khâu then chốt phải là nâng cao chất lượng quản lý giáo dục NSVM cho học sinh đặc biệt là học sinh bán trú tiểu học. Trong quá trình quản lý giáo dục NSVM, những người làm công tác quản lý giáo dục phải hiểu sâu sắc tâm lý lứa tuổi, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế xã hội, đặc biệt là nắm chắc lý luận của khoa QLGD, đánh giá một cách đúng mực thực trạng quản lý giáo dục NSVM trong nhà trường để từ đó lập kế hoạch, chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục NSVM cho học sinh. Trong quản lý hoạt động giáo dục NSVM cho học sinh phải tác động đến cả tập thể sư phạm, tập thể học sinh và sự tham gia đóng góp của lực lượng xã hội góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Đặc biệt, đối với những trường tiểu học, để quản lý giáo dục NSVM cho học sinh thành công thì các nhà quản lý phải có nghiệp vu sư phạm nghề nghiệp, có kế hoạch xây dựng nội dung, chương trình, hình thức, giải pháp và tổ chức thực hiện các quá trình giáo dục đạo đức một cách khoa học và hợp lý nhất.

Quản lý nhà trường bao gồm nhiều mặt: quản lý trình độ phát triển của đội ngũ, cơ sở vật chất kỹ thuật, kết quả đào tạo, quản lý các tổ chức sư phạm, quản lý học sinh trong nhà trường… Song, một trong những yếu quan trọng của quản lý nhà trường là chính là quản lý học sinh nói chung và quản lý NSVM nói riêng, bao gồm cà học sinh ngoại trú và bán trú nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản của giáo dục. Tuy nhiên, hoạt động quản lý nếp sống và NSVM của HS bán trú là rất cần thiết và quan trọng. Bởi nhà trường không chỉ quản lý việc học tập mà còn phải quản lý toàn bộ hoạt động ăn ở, sinh hoạt…bao gồm cả hoạt động tự học, hoạt động văn hóa, thể thao, các hành vi ứng xử trong giao tiếp và trong cuộc sống của học sinh. Mọi hoạt động quản lý này đều phải có tổ chức và điều hành do vậy người quản lý trong trường học phải chú trọng đến phương pháp, nội dung, các khâu tổ chức kiểm tra, đánh giá các mặt hoạt động của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi phục vụ cho hoạt động học tập và giải trí của học sinh có như vậy việc đào tạo của nhà trường mới đạt hiệu quả cao nhất. Luận văn: Quản lý giáo dục nếp sống văn minh ở học sinh bán trú.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh học sinh bán trú

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *