Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. CẢI CÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY

Trước yêu cầu khách quan và đòi hỏi cấp bách thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ của cách mạng, từ năm 2010, việc cải cách hệ thống thuế đã được tiến hành (cải cách thuế bước 1). Từ năm 2019 đến nay, ngành thuế bước sang giai đoạn cải cách thuế bước 2 và đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Có thể nói từ năm 2010 đến nay, khi điều hành cải cách hệ thống thuế, tình hình trong nước và thế giới có nhiều yếu tố không thuận lợi. Nhằm bảo đảm được những mục tiêu lớn đặt ra trong quá trình cải cách, toàn ngành thuế đã nỗ lực xây dựng một hệ thống chính sách, một cơ chế quản lý phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới.

Cải cách thuế bước 1 (2010 – 2018): trong giai đoạn này Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành một loạt các sắc thuế mới với mục tiêu thống nhất chế độ thuế giữa các thành phần kinh tế (hướng nội).

Ngày 08/8/2010, Hội đồng nhà nước đã công bố 3 luật thuế mới bao gồm thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đồng thời trong năm 2010, nhà nước cũng tiếp tục hoàn thiện một số loại thuế như thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, Pháp lệnh thuế nhà đất, Pháp lệnh thuế tài nguyên, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.

Năm 2013, tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi luật thuế xuất nhập khẩu, thuế lợi tức, thuế tiêu thụ đặc biệt. Năm 2014, ban hành luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Cải cách thuế bước 2 (2019 – nay): Cải cách thuế bước 2 nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, làm cho hệ thống chính sách thuế phù hợp với nền kinh tế thị trường đã từng bước hình thành trên thực tế, đồng nhất hóa chế độ thuế gián thu với các quốc gia trong khu vực (hướng ngoại), thúc đẩy qúa trình hội nhập kinh tế trong khu vực và trên thế giới.

Theo đó, Quốc hội đã ban hành, sửa đổi, bổ sung một số loại thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế chuyển quyền sử dụng đất,… ngoài ra, để phù hợp với tình hình mới của đất nước và xu hướng hội nhập quốc tế, nhà nước đã tiến hành sửa đổi luật ngân sách nhà nước, luật ngân hàng nhà nước, luật khuyến khích đầu tư trong nước,…

2.2. THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG THUẾ CỦA VIỆT NAM Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

2.2.1 Những kết quả đạt được

2.2.1.1. Đảm bảo động viên số thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước

Từ năm 2010 đến nay, qua một quá trình hơn 15 năm thực hiện cải cách thuế, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, từng bước thích ứng yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính sách thuế mới gồm chín sắc thuế cơ bản và một số khoản thu dưới hình thức phí và lệ phí đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Tổng thu thuế và phí luôn hoàn thành vượt mức dự toán thu hàng năm được Quốc hội thông qua, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Năm 2020, tăng 13,7 lần so với năm 2010. Số thu về thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 chỉ chiếm 76,78%, đến năm 2023 đã chiếm 92,9%. Tỷ lệ động viên qua thuế và phí/GDP đã đạt và vượt mục tiêu đề ra, đến năm 2023 đạt 21,8% GDP. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Tổng thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 – 2025 đạt 770.000 tỷ đồng, vượt 150.000 tỷ đồng so với kế hoạch (tăng 18,3 % so với kế hoạch), tỷ lệ động viên bình quân đạt 22,5% so với GDP, tốc độ tăng thu bình quân hàng năm đạt 18,3%/năm (mục tiêu 12%/năm). Riêng số thu từ thuế và phí trung bình 5 năm ước đạt 708.000 tỷ đồng.

Đặc biệt, năm 2025 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm 2021 – 2025 (năm cuối cùng của Đại hội IX) qua đi với đầy sóng gió, thiên tai, dịch bệnh diễn ra ác liệt và trên diện rộng, giá cả vật tư, nguyên liệu, xăng dầu, sắt thép, năng lượng có nhiều diễn biến đột xuất, không lường trước được,… mặc dầu vậy, năm 2025, ngành tài chính đã khắc phục khó khăn và về đích thắng lợi. Thu ngân sách nhà nước so với nhiệm vụ được Quốc hội giao (183.000 tỷ đồng) tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước đã hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức dự toán cả năm, đưa tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 vượt ngưỡng 200 ngàn tỷ đồng (đạt 211.400 tỷ đồng) gấp 2,03 lần tổng thu thực tế năm 2021, tăng 15,5% so với mức được quốc hội phê chuẩn, vượt 26,7% so với thực tế thực hiện năm 2024.

  • Biểu số 2.1: Tổng thu ngân sách nhà nước so với GDP (%)
  • Biểu số 2.2: Tốc độ tăng trưởng thuế và phí qua các năm (%)

Nhờ thu ngân sách nhà nước tăng khá nên nhà nước có thêm thực lực để đầy mạnh đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế – xã hội, giáo dục, văn hóa, y tế, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện xóa đói giảm nghèo, tăng thêm dự trữ,…

Trong thời gian qua cũng đánh dấu một tín hiệu đáng mừng – đó là độ nổi của các sắc thuế cơ bản trong nền kinh tế như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp,… đã có dấu hiệu khả quan. Điều đó chứng tỏ chính sách thuế đã và đang từng bước bám sát với thực tế đời sống kinh tế xã hội của đất nước. Ta có thể tham khảo độ nổi của một sắc thuế tiêu biểu của Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 như sau:

  • Biểu số 2.3: GDP thực tế của Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025
  • Biểu số 2.4: Độ nổi của thuế VAT

Qua hai biểu trên ta thấy mặc dù phần trăm thay đổi thuế VAT so với phần trăm thay đổi của GDP có xu hướng không đều nhưng nhìn chung, đều ở mức xấp xỉ hoặc lớn hơn 1, qua đó đã phản ánh mức độ quyện chặt của thuế vào hoạt động kinh tế là khá cao, nó phản ánh sự phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau giữa thuế và tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Hơn nữa, thời gian qua cũng phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước, trong đó thuế nội địa chiếm tỷ trọng ngày càng cao, điều đó phản ánh sự phát triển của kinh tế trong nước, trong đó các khoản thu từ doanh nghiệp nhà nước ước đạt 37.800 tỷ đồng, vượt 1.010 tỷ đồng, tăng 6,4% so với dự toán, tăng 15,9% so với năm 2024. Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục duy trì tiến độ đóng góp khá và vững chắc vào ngân sách nhà nước, đạt 20.500 tỷ đồng, vượt 2.550 tỷ đồng, tăng 14,2% so với dự toán và tăng 39,5% so với năm trước. Thu từ khu vực kinh tế dân doanh dạt 16.800 tỷ đồng, tăng 26,7% so với 2024. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Trong số 14 chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước được giao năm 2025, chỉ riêng các khoản thu phí, lệ phí (chỉ đạt 91,7% dự toán) và thu từ qũy đất công ích, hoa lợi công sản tại xã (đạt 98,6% dự toán) không đạt kế hoạch, còn lại 12 chỉ tiêu đều đạt và vượt dự toán.

  • Biểu số 2.5: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước năm 2025 (Đơn vị: %)

Qua biểu trên cũng cho thấy, thu nội địa năm qua tăng đáng kể trong đó thuế giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng khá lớn trong các nguồn thu thường xuyên, đồng thời thuế thu nhập doanh nghiệp cũng tăng lên, trong khi đó thuế xuất nhập khẩu đang dần chiếm tỷ trọng thấp hơn do các cam kết quốc tế của Việt Nam trong việc miễn giảm thuế và khẳng định sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua.

2.2.1.2. Hệ thống chính sách thuế góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Tác dụng của thuế ngày nay không chỉ giới hạn ở chỗ tạo khoản thu chủ yếu cho Nhà nước, mà còn sử dụng để tác động vào mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội. Nói khác đi, thuế là một công cụ thuộc chính sách tài chính vĩ mô chứa đựng nhiều mục tiêu: tạo số thu ngân sách nhà nước; tăng cường quản lý các hoạt động kinh tế – xã hội, điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện;

Trong những năm qua, hệ thống chính sách thuế được hoàn thiện theo hướng giảm mức điều tiết, mở rộng diện chịu thuế nên hầu hết các sắc thuế đã thực hiện tốt chức năng điều tiết thu nhập của doanh nghiệp và dân cư. Đặc biệt, các luật thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân được sửa đổi, bổ sung đã góp phần mở rộng, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Như vậy, thuế có tác dụng:

  • Có vị trí quan trọng trong việc kiểm kê, kiểm soát; quản lý, hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất.

Thông qua việc xây dựng đúng đắn cơ cấu: đối tượng nộp thuế; đối tượng tính thuế; thuế suất, chế độ miễn giảm; phương pháp quản lý thu thuế và chế độ sổ sách kế toán mà thuế sẽ:

  • Khuyến khích nâng đỡ những hoạt động kinh doanh cần thiết làm ăn có hiệu quả cao;
  • Thu hẹp, kìm hãm những ngành nghề mặt hàng cần hạn chế sản xuất, hạn chế tiêu dùng theo hướng tiết kiệm chống xa hoa, lãng phí; Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.
  • Thuế góp phần hướng dẫn và khuyến khích hợp tác đầu tư với nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và bảo vệ sản xuất nội địa.

2.2.1.3. Hệ thống chính sách thuế được hoàn thiện theo hướng đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế

Trong cơ chế thị trường, các quy luật khách quan được phát huy tác dụng một cách tối đa. Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng phân cực đối lập nhau: một bên là thiểu số người giầu có thu nhập cao, còn đại bộ phận dân cư chỉ đạt được mức tăng thu nhập rất nhỏ. Tình trạng trên không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan đến đạo đức, công bằng xã hội. Mà thực sự sự phát triển kinh tế – xã hội về mọi mặt của một quốc gia là kết quả của nỗ lực cộng đồng. Bởi vậy, sự can thiệp, điều tiết của nhà nước là đặc biệt hữu ích, trong đó thuế là một công cụ có vai trò quan trọng.

Việc điều hòa thu nhập xã hội phần nào được thực hiện thông qua thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Thuế đánh cao vào những hàng hóa – dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu nhập của các công ty, cá nhân có thu nhập cao so với bình quân xã hội.

Ví dụ: Theo luật thuế giá trị gia tăng năm 2017, được sửa đổi năm 2023 và 2025 thì thuế giá trị gia tăng ở nước ta hiện có 3 mức thuế suất:

  • 0% áp dụng đối với hàng hóa dịch vụ xuất khẩu, kể cả hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng xuất khẩu;
  • 5% đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hoặc phổ thông;
  • 10% áp dụng đối với nhóm hàng hóa, dịch vụ cần điều tiết.

Trong biểu thuế nhập khẩu, hầu hết các hàng hóa thiết yếu đối với nhu cầu của nhân dân đều đánh thuế thấp. Ngược lại, các hàng hóa và sản phẩm như ô tô (chở người), rượu, bia, nguyên liệu sản xuất thuốc lá,… chẳng những chịu thuế nhập khẩu cao mà còn chịu cả thuế tiêu thụ đặc biệt.

Song công cụ thực thụ, trực tiếp thực hiện công bằng xã hội phải là thuế trực thu mà điển hình là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Khi bàn về vai trò của thuế trong việc điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng trong phân phối, người ta còn bàn luận đến việc áp dụng thuế lũy tiến. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc có nên áp dụng thuế lũy tiến đối với thuế trực thu hay không và cũng có rất nhiều cách lý giải khác nhau, trong đó cách lý giải nghiêng về hướng nhất trí với việc đánh thuế lũy tiến vì:

  • Thuế lũy tiến giúp cho việc phân phối đồng đều gánh nặng thuế khóa giữa những cá nhân có mức thu nhập chênh lệch nhau;
  • Phân phối hợp lý tương đối hơn cả với thu nhập xã hội và tài nguyên xã hội;
  • Góp phần ổn định và phát triển kinh tế;
  • Đạt năng suất cao trong thu thuế.

2.2.1.4. Hệ thống chính sách thuế đang được hoàn thiện dần để tiệm cận với thông lệ và các cam kết quốc tế, từng bước thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

Biểu thuế xuất, thuế nhập khẩu được thiết kế phù hợp với thông lệ quốc tế. Bỏ quy định tính thuế nhập khẩu theo bảng giá tối thiểu; bắt đầu áp dụng Hiệp định trị giá hải quan GATT/WTO đối với hàng hóa nhập khẩu từ 01/1/2024.

Cụ thể, theo thông tư số 113/TT- BTC ngày 18/12/2025 của Bộ Tài chính ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu thì thuế suất thuế xuất khẩu được quy định cho từng mặt hàng cụ thể.

Thuế suất thuế nhập khẩu: thuế suất đối với hàng hoá nhập khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng, gồm thuế suất ưu đãi, thuế suất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường:

Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam (nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ nêu ở đây do Bộ Thương mại thông báo). Thuế suất ưu đãi được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi do Bộ Tài chính ban hành. Đối tượng nộp thuế tự khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về xuất xứ hàng hóa.

Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam theo thể chế khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan hoặc để tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại biên giới và trường hợp ưu đãi đặc biệt khác.

Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam. Thuế suất thông thường được áp dụng thống nhất bằng 150% mức thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng quy định tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi.

Cắt giảm thuế quan theo hiệp định thương mại Việt – Mỹ và các cam kết cắt giảm thuế với các nước APEC. Đặc biệt trong nội dung đàm phán gia nhập WTO giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, với các cam kết khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường trên nhiều lĩnh vực quan trọng và Mỹ sẽ tiếp cận thị trường Việt Nam dễ dàng hơn và sẽ được hưởng những quy chế đãi ngộ quốc gia trên các lĩnh vực dịch vụ và giảm thuế suất trên một số sản phẩm cụ thể. Chẳng hạn, đối với lĩnh vực nông nghiệp của Mỹ xuất khẩu vào Viêt Nam, ngay sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết giảm thuế, hiện nay Việt Nam đang áp thuế suất trung bình lên các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ là 27%. Việt Nam cam kết, sẽ có 75% sản phẩm nông nghiệp Mỹ hưởng thuế suất dưới 15%, trong đó có các mặt hàng: bông, thịt bò, quả hạnh, nho tươi,… Đối với sản phẩm công nghiệp, ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam sẽ giảm thuế suất đáng kể đánh vào các sản phẩm công nghiệp chế tạo. Trên 94% các sản phẩm công nghiệp và tiêu dùng của Mỹ vào Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế từ 15% trở xuống (nhiều mặt hàng cắt giảm ngay, một số mặt hàng cắt giảm trong lộ trình kéo dài 2 năm).

2.2.2 Một số điểm chưa phù hợp giữa pháp luật thuế của Việt Nam với các quy định của WTO và những bất cập của hệ thống thuế Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

2.2.2.1. Những điểm chưa phù hợp

Cùng với quá trình tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, các chính sách tài chính, đặc biệt là chính sách thuế ở Việt Nam đã từng bước được sửa đổi, bổ sung theo định hướng của các nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong bản thân chính sách thuế của nước ta vẫn còn chứa đựng nhiều điểm bất hợp lý và chưa phù hợp với các thông lệ quốc tế, thể hiện trên một số khía cạnh:

  • (1) Từng sắc thuế còn chứa định tính không công bằng và chưa bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế khác nhau

Một trong những nguyên tắc quan trọng và bao trùm nhất của WTO và được áp dụng như một nguyên tắc cơ bản trong mậu dịch khu vực và các hiệp định thương mại song phương là không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này được thể hiện dưới hai dạng đối xử tối huệ quốc (MFN – Most Favoured Nation) và đãi ngộ quốc gia (NT -National Treatment), trong đó đòi hỏi mỗi nước không được thực hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nước ngoài thông qua các loại thuế và phí nội địa nhằm xác định chuẩn mực công bằng giữa các đối tượng nộp thuế khác nhau.

Nếu chiếu theo nguyên tắc chung của các tổ chức quốc tế về việc không phân biệt đối xử thì trong các chính sách thuế của Việt Nam có thể nhận thấy những bất ổn:

Hiện nay, thuế tiêu thụ đặc biệt quy định miễn giảm thuế đối với các cơ sở lắp ráp ô tô, cơ sở sản xuất bia bị lỗ; áp dụng thuế suất khác nhua đối với sản phẩm trong nước và nước ngoài như đối với thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu có thuế suất 70%, còn bằng nguyên liệu trong nước chỉ có mức thuế suất 52%; ô tô nhập khẩu thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt là 100%, nhưng ô tô sản xuất trong nước thuế suất giảm chỉ còn 95%. Những quy định này vi phạm các nguyên tắc về đối xử quốc gia của WTO. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Hệ thống thuế thu nhập cá nhân chưa đảm bảo sự công bằng giữa các đối tượng nộp thuế khác nhau, thể hiện rõ ràng nhất trong trường hợp cá nhân kinh doanh phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo mức thuế suất 28%, nhưng cá nhân không kinh doanh phải nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao theo biểu thuế lũy tiến từng phần với mức thuế suất lên tới 40%. Do vậy, nhiều trường hợp cá nhân không kinh doanh phải nộp thuế thu nhập cao hơn cá nhân kinh doanh. Điều đó phản ánh sự điều tiết thu nhập không bình đẳng về nghĩa vụ thuế của các thành viên trong xã hội, không khuyến khích người lao động sáng tạo, tăng năng suất lao động để nâng cao thu nhập. Vì vậy, nguyên tắc đối xử bình đẳng của các tổ chức quốc tế sẽ bị vi phạm khi chúng ta hội nhập sâu hơn vào hệ thống thương mại quốc tế.

Sự phân biệt về khởi điểm chịu thuế của người Việt Nam và người nước ngoài trong thuế thu nhập cá nhân cũng lộ rõ sự điều tiết thu nhập một cách bất bình đẳng giữa người Việt Nam và người nước ngoài, mặc dù điều kiện đó thể hiện rõ sự ưu đãi đối với người nước ngoài nhằm thu hút đầu tư vào trong nước, song lại trái với nguyên tắc về đối xử quốc gia của các tổ chức quốc tế.

Hơn nữa, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao mới chỉ điều chỉnh thu nhập từ tiền công, tiền lương và các khoản phụ cấp và tiền thưởng mang tính chất tiền lương và tiền công của người lao động mà chưa thực sự điều chỉnh được tất cả các khoản thu nhập phát sinh trong đời sống kinh tế, xã hội. Với phạm vi điều chỉnh hẹp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã gây nên sự bất bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế của mọi thành viên trong xã hội.

Quy định về ưu đãi thuế cho Việt kiều khi đầu tư về Việt Nam vi phạm quy định về không phân biệt đối xử trong Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với các nước.

  • (2) Hệ thống chính sách thuế còn nhiều điểm chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa bảo đảm tính tương thích với hệ thống thuế các nước trong khu vực

Một nguyên tắc khác trong hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chính sách ban hành trong lĩnh vực thương mại của mỗi nước đều phải đảm bảo tính hợp lý để giảm thiểu sự tùy tiện và tránh tham nhũng. Các nước thành viên phải đưa ra những chính sách công khai, minh bạch (transparency), giảm bớt các luật lệ và các thủ tục hành chính liên quan đến quá trình tự do hóa thương mại. Thế nhưng biểu thuế suất thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu của nước ta cao hay thấp lại dựa trên mục đích sử dụng chứ không dựa trên tính chất của hàng hóa, điều đó trái với thông lệ quốc tế, nó chẳng những gây phức tạp trong công tác quản lý thu thuế mà còn tạo nên những khe hở để trốn thuế, lậu thuế. Ví dụ, hàng hóa do quốc phòng an ninh nhập khẩu không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trong khi các doanh nghiệp nhập khẩu về cũng những hàng hóa đó lại chịu thuế giá trị gia tăng.

Việc cho phép áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi cho các doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu cao và thu chênh lệch giá đối với hàng nhập khẩu là vi phạm quy định về cấm trợ cấp xuất khẩu của WTO.

Quy định cho phép khấu trừ khống thuế giá trị gia tăng đầu vào của các mặt hàng nông, thủy sản mua trực tiếp của nông dân có mục đích hỗ trợ cho ngành sản xuất nông nghiệp đang gặp khó khăn, đồng thời đảm bảo tính liên hoàn của Luật thuế giá trị gia tăng, nhưng việc khấu trừ khống thuế đầu vào hiện hành chỉ căn cứ vào bảng kê là thiếu căn cứ khoa học, thiếu chính xác, không đảm bảo tính minh bạch của luật thuế. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Việc tiếp tục mở rộng thời hạn ưu đãi thuế đối với đầu tư nước ngoài là không phù hợp với việc các nước không chấp nhận kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp từ khoán thuế trong hiệp định tránh đánh thuế hai lần đã ký với Việt Nam. Biện pháp này không những gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước, mà còn không đem lại hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Hệ thống thuế thu nhập cá nhân chưa đảm bảo triệt để tính minh bạch, rõ ràng theo nguyên tắc của các tổ chức quốc tế. Trong quan hệ điều chỉnh giữa thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao phát sinh hành vi: Nếu là một cá nhân vừa có thu nhập từ kinh doanh vừa có thu nhập từ tiền lương và các khoản thu nhập khác thì bị điều chỉnh bởi hai Luật thuế khác nhau, gây ra sự phức tạp và không phù hợp với thông lệ quốc tế.

  • (3)  Hệ thống thuế của nước ta còn phức tạp, chưa thể hiện sự đơn giản, rõ ràng và minh bạch theo các nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế

Trên cơ sở nguyên tắc công khai và minh bạch, tất cả các chính sách và biện pháp nhằm tự do hóa thương mại của mỗi nước đều phải đưa ra công khai để một thành viên có thể hiểu được các thành viên khác đang làm gì và thực hiện tới đâu, từ đó nắm được những thông tin cần thiết để có những biện pháp ứng xử kịp thời với những đối xử không công bằng trong quan hệ thương mại.

Tuy nhiên, đối chiếu với nguyên tắc trên có thể nhận thấy hệ thống thuế ở nước ta còn quá phức tạp, thuế được sử dụng để phục vụ nhiều chính sách xã hội khác nên đã làm mất đi tính trung lập của công cụ thuế và trái với nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, minh bạch của hệ thống thuế trong các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Chẳng hạn, trong chính sách thuế còn quy định quá nhiều đối tượng không chịu thuế, nhiều trường hợp miễn giảm thuế khác nhau. Nguyên nhân là do hệ thống chính sách thuế vừa nhằm mục tiêu đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa thực hiện các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ, vừa thực hiện chính sách xã hội, làm cho hệ thống thuế trở nên phức tạp, mất tính trung lập của thuế.

Chính sách thuế còn có sự phân biệt về thuế suất giữa các ngành nghề khác nhau dẫn tới khó khăn trong việc phân bổ chi phí, tạo nên khe hở cho hành vi tránh thuế và đem đến sự bất bình đẳng trong kinh doanh giữa các ngành nghề. Một số chính sách xã hội được đưa vào thực hiện trong chính sách thuế dưới hình thức miễn giảm thuế đã làm hệ thống thuế trở nên phức tạp hơn và mất đi tính trung lập của thuế: giảm và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các đối tượng là thương binh, người tàn tật, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

2.2.2.2. Những bất cập của hệ thống thuế hiện hành khi gia nhập WTO

  • Thuế gián thu trong tổng thu thuế còn chiếm tỷ trọng lớn

Thuế gián thu còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách nhà nước, vì vậy khi thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình sẽ làm ảnh hưởng đáng kể tới nguồn thu NSNN và làm tăng chi phí đầu vào.

  • Biểu số 2.6: Tỷ trọng thuế trực thu, gián thu trong tổng thu thuế (% tổng thu thuế)

Qua biểu đồ cho thấy, tỷ trọng các sắc thuế trực thu và gián thu trong tổng thu ngân sách nhà nước từ giai đoạn 2015 – 2025 đã có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỷ trọng thuế trực thu và giảm tỷ trọng thuế gián thu. Thu từ thuế trực thu giai đoạn 2014 – 2020 đạt 36,4% tổng thu thuế, và đã tăng lên 41,8% trong giai đoạn tiếp theo (2021 -2025). Trong khi đó, tỷ trọng thu từ thuế gián thu cũng giảm tương ứng, từ 63,6% tổng thu thuế cho giai đoạn 2015 – 2020 xuống còn 56,9% giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, thuế gián thu hiện vẫn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng thu ngân sách từ thuế, đạt trung bình 63,6% tổng thu từ thuế (2015 – 2020) và 56,9% (2021 – 2025).

Như vậy, cơ cấu thu từ thuế gián thu chiếm tỷ trọng khá lớn. Đây là loại thuế có tính chất dễ thu do không gây tác động trực tiếp lên người nộp thuế. Tuy nhiên, các loại thuế gián thu, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng có tính chất lũy thoái và đánh vào các đối tượng nghèo nhiều hơn là đối tượng giàu, do đó tính công bằng chưa cao.

Trong khi đó, thu từ thuế giá trị gia tăng lại đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu từ thuế gián thu (Năm 2025 chiếm khoảng 54,6% trong tổng thuế gián thu).

Ngoài ra, thuế xuất nhập khẩu hiện nay cũng chiếm số lượng tương đối lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước (năm 2025 chiếm khoảng 18,8%) và để thực hiện đầy đủ các cam kết theo tiến trình hội nhập của Việt Nam đối với khu vực thương mại tự do ASEAN và tổ chức thương mại thế giới (WTO) dự kiến gia nhập cuối năm 2026, Việt Nam sẽ còn phải cắt giảm hơn nữa nhiều mức thuế nhập khẩu, do vậy tỷ trọng thu từ thuế nhập khẩu trong các năm tới sẽ còn giảm, điều này cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến nguồn thu ngân sách nhà nước. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

(2) Một số loại thuế quan trọng còn có những bất cập cần sửa đổi Đối với thuế gián thu

  • Thuế giá trị gia tăng:

Thuế giá trị gia tăng được Việt Nam đưa vào áp dụng bắt đầu từ 01/1/2019, trong thời gian hơn 7 năm thực hiện, thuế giá trị gia tăng đã tỏ rõ những ưu điểm của nó, tuy nhiên trong quá trình hội nhập nó còn bộc lộ những nhược điểm cần phải sửa đổi, như:

  • Về đối tượng không chịu thuế GTGT

Theo quy định của Luật thuế GTGT hiện hành đang có quá nhiều đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT (gồm 29 nhóm hàng hóa, dịch vụ), làm cho chính sách thuế trở nên phức tạp. Nguyên nhân của tình trạng trên là do hệ thống chính sách thuế vừa nhằm mục tiêu đảm bảo nguồn thu cho NSNN, vừa thực hiện chính sách xã hội. Trong nhiều trường hợp, việc miễn thuế GTGT có thể gây bất lợi cho người được miễn thuế cũng như các đối tượng khác có liên quan. Trường hợp các ngành sử dụng nguyên liệu không thuộc diện chịu thuế GTGT để sản xuất ra sản phẩm chịu thuế GTGT (hoặc ngược lại) là những ví dụ minh họa rất điển hình. Với trình độ phát triển kinh tế như Việt Nam hiện nay, thuế Giá trị gia tăng rất có thể sẽ là loại thuế chính để tạo nguồn thu cho NSNN trong tương lai. Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm nguồn thu. Do vậy, những quy định quá rộng đối với đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn  thu cũng như có thể làm mất tính trung lập đối với sắc thuế này.

  • Về thuế suất

Xét trong dài hạn, việc quy định 3 loại mức thuế suất thuế giá trị gia tăng như hiện nay là phức tạp và không hiệu quả. Mặc dù, chi phí cận biên của việc áp dụng cơ chế đa thuế suất không lớn hơn đáng kể so với chi phí của việc quản lý thuế giá trị gia tăng với một mức thuế suất thống nhất, song càng nhiều thuế suất thì càng dễ nhập nhằng và tùy tiện khi vận dụng, càng tạo cơ hội cho trốn lậu thuế, làm tăng chi phí thanh tra kiểm soát thuế và làm giảm tính hiệu quả của sắc thuế này. Đối với các cơ sở kinh doanh nhiều mặt hàng có các mức thuế suất thuế giá trị gia tăng cao, thấp khác nhau, thuế giá trị gia tăng đã được đưa vào khấu trừ sẽ có xu hướng tìm cách tính ở mức thuế suất cao, hy vọng được khấu trừ nhiều. Ngược lại, khi tính thuế giá trị gia tăng đầu ra sẽ áp dụng mức thuế suất nhằm làm giảm số thuế giá trị gia tăng phải nộp. Hơn nữa, việc xác định mức thuế suất thuế giá trị gia tăng giảm hay mức cao (ngoài mức phổ thông) nhằm thực hiện các mục tiêu công bằng hay tạo nguồn thu đều là không hiệu quả. Kinh nghiệm từ đa số các nước áp dụng chế độ thuế giá trị gia tăng (ngoại trừ các nước Tây Âu) để áp dụng một mức thuế suất đồng nhất loại thông dụng ngoài mức thuế suất 0% đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.

Theo quy định hiện hành, mức thuế suất 5% được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ cụ thể được liệt kê rõ ràng trong các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ áp dụng mức thuế suất 10% cũng tương tự như vậy, mặc dù đã có quy định bao trùm tất cả các hàng hóa, dịch vụ không được liệt kê riêng rẽ. Chúng tôi cho rằng, cách thức quy định theo phương pháp liệt kê như vậy phức tạp một cách không cần thiết và trái với nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, minh bạch của

  • Về phương pháp tính thuế Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Luật thuế GTGT quy định có 2 phương pháp tính thuế là khấu trừ và tính trực tiếp trên GTGT, song với trình độ quản lý thu thuế ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế nên đã tạo ra sự phức tạp, kém hiệu quả, thiếu minh bạch của thuế giá trị gia tăng.

Phương pháp trực tiếp không phải là phương pháp dùng để tính và thu thuế trong thực hành thuế. Đó chỉ là một cách tiếp cận khoa học trong nghiên cứu nhằm chỉ rõ thuế giá trị gia tăng là loại thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm mỗi khi có giá trị gia tăng xuất hiện. Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng trong luật thuế giá trị gia tăng là thiếu tính thực tế vì đối tượng áp dụng phương pháp này đa số là những hộ kinh doanh nhỏ không thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ nên hầu hết số thuế được định đoạt dựa trên cơ sở mức thuế khoán. Chính vì vậy mà việc xác định giá trị gia tăng làm cơ sở tính thuế giá trị gia tăng hầu như chỉ tồn tại về mặt lý thuyết và không phù hợp với thông lệ quốc tế.

  • Về quy định ngưỡng chịu thuế giá trị gia tăng

Theo quy định của luật thuế giá trị gia tăng hiện hành, các cơ sở kinh doanh -bao gồm cả cá nhân kinh doanh, có hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đều là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng, ngoại trừ các cơ sở kinh doanh có thu nhập hàng tháng dưới mức tiền lương tối thiểu của công chức nhà nước. Trên thực tế, phương pháp trực tiếp được áp dụng chủ yếu đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ có chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ chưa hoàn thiện. Tuy vậy, một trong những yêu cầu cơ bản của thuế giá trị gia tăng là đảm bảo tính hiệu quả trong công tác quản lý. Với các cơ sở kinh doanh nhỏ, doanh số hoạt động thấp, việc quản lý thu thuế, nộp thuế tốn kém, không hiệu quả. Do vậy, hầu hết các nước có áp dụng chế độ thuế giá trị gia tăng thường đề ra một mức ngưỡng doanh thu và miễn thuế cho các cơ sở kinh doanh nhỏ. Đối với nước ta, Luật thuế giá trị gia tăng hiện hành chưa quy định ngưỡng miễn thuế đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ dựa trên doanh thu, do vậy mà nó vừa không đảm bảo tính hiệu quả của thuế giá trị gia tăng, vừa chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.

  • Về cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Để được hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, luật thuế giá trị gia tăng có những quy định khác nhau tùy thuộc vào tính chất và hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể:

Đối với các doanh nghiệp bán hàng trên thị trường nội địa: Thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết, không được hoàn lại cho đến khi được chuyển sang tháng tiếp theo trong vòng 3 tháng.

Đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp mới thực hiện đầu tư trong vòng hơn 1 năm, chưa bắt đầu hoạt động, hoặc doanh nghiệp đầu tư vào các dự án sản xuất mới nhưng chưa bắt đầu hoạt động: Nếu có mức thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ dồn tích vượt ngưỡng 200 triệu đồng thì được hoàn thuế.

Mặc dù về nguyên tắc, thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ sẽ được hoàn lại đầy đủ sau mỗi kỳ tính thuế, nhưng trên thực tế, để tránh phát sinh chi phí hành chính của việc hoàn các loại thuế nhỏ, nhiều nước đã quy định thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết sẽ được chuyển sang kỳ sau trong một số kỳ tính thuế. Như một giải pháp thay thế, một số nước yêu cầu thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết dồn tích phải vượt mức ngưỡng quy định trước khi được hoàn. Mức ngưỡng này có ý nghĩa là mức tối thiểu chứ không phải là một phương sách để khước từ hay trì hoãn việc hoàn thuế.

Các quy định về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam hiện nay không những phức tạp một cách không cần thiết như: Phân biệt giữa chi đầu tư của doanh nghiệp mới và chi đầu tư của doanh nghiệp hiện có khi đầu tư vào dự án mới không phục vụ cho mục đích kinh tế rõ ràng, đồng thời gây khó khăn cho công tác quản lý. Chẳng hạn, một doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường nội địa phải chuyển sang kỳ sau phần thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ trong thời gian 3 tháng (không có mức ngưỡng nào cả), trong khi đó, một doanh nghiệp khác chỉ xuất khẩu một phần nhỏ hàng hóa của mình lại có thể xin hoàn thuế trong kỳ hiện tại, miễn là số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ lớn hơn mức ngưỡng quy định. Để phù hợp với nguyên tắc đơn giản, rõ ràng, minh bạch của WTO, việc áp dụng có tính chất phân biệt các quy định hoàn thuế giá trị gia tăng khác nhau dựa trên cơ sở tính chất và lĩnh vực hoạt động của đối tượng nộp thuế nên được xóa bỏ.

  • Thuế xuất, nhập khẩu: Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Nhìn tổng quát sau 13 năm thực hiện, luật thuế xuất nhập khẩu đã góp phần phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, bảo hộ hợp lý, kịp thời đối với sản xuất trong nước. Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, luật thuế xuất nhập khẩu đang tồn tại những bất cập, một số nội dung cần phải điều chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng. Một số bất cập và hạn chế lớn là:

  • Về giá tính thuế:

Thực tế những năm qua cho thấy, những quy định về giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu như vừa qua tuy có phù hợp với điều kiện Việt Nam nhưng xét về lâu dài lại chưa thật sự phù hợp với bản chất của việc mua bán hàng hóa và thông lệ quốc tế. Việc đặt ra một Bảng giá tính thuế để áp dụng đối với những trường hợp “có giá thấp so với giá mua bán thực tế” (Ví dụ như việc áp dụng giá tham khảo của Cửa khẩu Hải quan Hải Phòng tháng 5/2026 đối với 4 chiếc xe ô tô cũ nhập khẩu) như luật thuế xuất, nhập khẩu hiện hành còn mang tính áp đặt, không phản ánh đúng giá thực tế phải thanh toán của hàng nhập khẩu và không phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

  • Về thu thuế nhập khẩu bổ sung:

Tuy luật thuế xuất nhập khẩu hiện hành đã đề cập và quy định việc đánh thuế bổ sung đối với trường hợp nước ngoài bán phá giá, trợ giá hoặc phân biệt đối xử với hàng của Việt Nam, song đây chỉ là những quy định chung nhất, tồn tại mang tính hình thức. Bên cạnh đó, một số thuật ngữ và quy định thu thuế nhập khẩu bổ sung đối với các trường hợp này trong luật thuế xuất, nhập khẩu còn chưa rõ, chưa thống nhất với thuật ngữ chuẩn quy định trong các Hiệp định về chống bán phá giá và Hiệp định chống trợ cấp của WTO, dễ gây hiểu nhầm cho đối tác thương mại trong quá trình đàm phán các Hiệp định thương mại song phương và đa phương.

Hiện nay, những quy định về quy trình, thủ tục điều tra, cách thức và biện pháp áp dụng thuế chống trợ cấp, thuế chống bán phá giá tuy có được quy định trong Pháp lệnh về chống trợ cấp và Pháp lệnh chống bán phá giá vừa được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua, song về lâu dài để đảm bảo thuận tiện cho quá trình thực hiện, các vấn đề liên quan đến “quyền” được đánh thuế chống trợ cấp, thuế chống bán phá giá phải được quy định cụ thể trong luật thuế xuất nhập khẩu vì đây là một bộ phận cấu thành trong chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Thế nhưng, các thuật ngữ như “thuế chống bán phá giá”, “thuế chống trợ cấp” và “thuế chống phân biệt đối xử” hiện mới chỉ được nêu trong các Pháp lệnh nói trên của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chưa được khẳng định và định danh rõ trong Luật này. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

  • Về thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế:

Thực tế hiện nay cho thấy, quy định về thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế có điểm không còn phù hợp với điều kiện mở rộng đối tượng, loại hình và quy mô hoạt động xuất nhập khẩu.

Đối với thời điểm tính thuế: Hiện đang có sự bất cập, thiếu thống nhất giữa quy định của Luật Hải quan với các văn bản hướng dẫn của Luật thuế xuất nhập khẩu. Trong thời gian qua, việc quy định và kê khai trước đã phát huy tác dụng tốt, tạo sự thông thoáng cho công tác thông quan hàng hóa, giảm thiểu sự ùn tắc của hàng hóa tại cửa khẩu. Tuy nhiên, do thời điểm nộp tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc phạm vi quy định của Luật Hải quan nên vấn đề này cần phải được xem xét, đưa vào sửa đổi Luật Hải quan để đảm bảo sự thống nhất thực hiện.

Đối với thời hạn nộp thuế: Theo thông lệ quốc tế, thuế nhập khẩu thường được nộp trước khi giải phóng hàng. Tuy nhiên, khi ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2018 và năm 2025, Quốc hội đã kéo dài và cho áp dụng thời hạn nộp thuế nhập khẩu khác nhau đối với các chủng loại hàng hóa sử dụng cho các mục đích khác nhau, trong đó thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu nhập khẩu để sản xuất được kéo dài đến 9 tháng. Trong bối cảnh của những năm cuối thập niên 90 khi mà số đối tượng tham gia hoạt động xuất nhập khẩu còn chưa nhiều, quy định này đã có những tác dụng tích cực, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhất là sau khi Luật doanh nghiệp và Luật thương mại được ban hành, số lượng các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu ngày càng tăng, đã đặt ra nhiều vấn đề trong công tác quản lý, thu thuế, trong đó có yêu cầu về quản lý và theo dõi các doanh nghiệp được hưởng thời gian ân hạn thuế. Con số doanh nghiệp mất tích, nợ đọng thuế nhập khẩu đã không ngừng tăng, đòi hỏi phải cân nhắc, xem xét quy định về thời điểm tính thuế và thời hạn nộp thuế trên nhiều phương diện.

  • Đối với chính sách ưu đãi đầu tư về thuế nhập khẩu:

Kể từ khi ban hành đến nay, các quy định về miễn, giảm thuế trong luật thuế xuất nhập khẩu đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung, mở rộng hơn so với trước. Tuy nhiên, do được ban hành từ những năm đầu của quá trình chuyển đổi kinh tế nên một số quy định đến nay đã không còn phù hợp. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Bất cập lớn nhất là hiện nay vẫn còn tồn tại song song các chế độ ưu đãi về miễn giảm thuế nhập khẩu khác biệt nhau áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Nếu sự phân biệt đối xử về chính sách theo chiều hướng không thuận đối với với các nhà đầu tư trong nước không được khắc phục thì cùng với việc mở cửa thị trường, chỗ đứng của các nhà đầu tư trong nước sẽ chịu nhiều thách thức. Sự phân biệt này đi ngược với định hướng phát huy nội lực mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện, tạo nên sự đối xử không bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

Các quy định về ưu đãi thuế nhập khẩu còn được thể hiện ở nhiều văn bản khác nhau. Sự tồn tại song song của 4 hệ thống luật điều chỉnh các ưu đãi về thuế nhập khẩu đối với hoạt động đầu tư (gồm Luật thuế xuất nhập khẩu, Luật đầu tư nước ngoài, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật dầu khí và Luật khoa học công nghệ) đã tạo nên một môi trường pháp lý chồng chéo và không minh bạch.

Yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong thời gian tới là trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế cần phải coi trọng hơn nữa yếu tố nội lực, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước phát triển. Chính vì vậy, các chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu phải hướng tới sự thống nhất, khung pháp lý điều chỉnh chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu phải được quy định trong hệ thống pháp luật về thuế.

  • Thuế tiêu thụ đặc biệt:

Qua hơn 15 năm thực hiện, thuế tiêu thụ đặc biệt đã góp phần quan trọng trong việc hướng dẫn phát triển sản xuất và tiêu dùng xã hội, cùng với các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, bước đầu hình thành một hệ thống chính sách thuế mới tương đối đồng bộ trong điều kiện hiện nay ở nước ta, góp phần động viên nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, khoản thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt hàng năm chiếm từ 15 đến 18% trong tổng số thuế gián thu. Với những kết quả đạt được đó, có thể thấy việc ban hành và áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt thời gian qua là hợp lý, đúng đắn. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt hiện hành ở nước ta còn có những vấn đề cần khắc phục:

Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế: Theo quy định hiện hành thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ thu đối với 8 loại hàng hóa và 5 loại dịch vụ. Như vậy, đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay ở nước ta còn khá hẹp, còn nhiều loại hàng hóa, dịch vụ lẽ ra phải được điều chỉnh bởi thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa được đưa vào diện chịu thuế như các loại thiết bị điện, điện tử gia dụng cao cấp,… ngược lại, có trường hợp hàng hóa đáng ra phải khuyến khích tiêu dùng để đảm bảo sức khoẻ như ô tô từ 16 -24 chỗ ngồi, có trường hợp lại thể hiện sự phân biệt đối xử giữa hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước,…điều này không phù hợp với nguyên tắc đối xử quốc gia khi Việt Nam gia nhập WTO.

Thứ hai, về thuế suất, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt hiện nay khá phức tạp, trong 8 mặt hàng chịu thuế có đến 12 mức thuế suất cao thấp khác nhau từ 15 – 100%. Đối với mỗi loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau có mức thuế suất tương ứng khác nhau, trong một số trường hợp đối với cùng một loại hàng hóa nhưng lại chia theo các tiêu chí khác nhau để áp dụng các mức thuế suất rất chênh lệch nhau, nên biểu thuế càng thêm phức tạp, làm cho việc xác định mức thuế suất áp dụng chính xác rất khó khăn và dễ bị vận dụng tùy tiện. Ví dụ, như mặt hàng thuốc lá, nếu sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước thì áp dụng thuế suất 45%, nhưng chủ yếu bằng nguyên liệu nhập khẩu thì thuế suất 65%,…

Thứ ba, về vấn đề miễn giảm thuế, theo quy định hiện hành của chính sách thuế tiêu thụ đặc biệt thì với các cơ sở sản xuất bia quy mô nhỏ (có công suất 10 triệu lít/năm) đang hoạt động nếu nộp đủ thuế tiêu thụ đặc biệt mà bị lỗ, thì được xét giảm thuế tiêu thụ đặc biệt tương ứng với số lỗ trong năm xét giảm thuế. Quy định này trong chừng mực nào đó không khuyến khích các cơ sở sản xuất nói trên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng sản xuất. Ngoài ra quy định phân biệt giữa ô tô sản xuất trong nước và ô tô nhập khẩu để miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt nhằm bảo hộ cho ngành lắp ráp ô tô còn khá non trẻ ở nước ta trong thời gian qua cũng không còn phù hợp nữa vì nó vi phạm các cam kết theo chương trình CEPT, và vi phạm nguyên tắc đãi ngộ quốc gia của WTO. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Thứ tư, về giá tính thuế, theo quy định của luật hiện hành đối với rượu, bia sản xuất trong nước giá tính thuế thuế tiêu thụ đặc biệt do Chính phủ quy định. Có thể nói, quy định này đã thể hiện sự phân biệt đối xử với rượu bia nhập khẩu và không phù hợp với nguyên tắc của WTO.

  • Đối với thuế trực thu
  • Thuế thu nhập đối với người có thu nhập

Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 14/PL – UBTVQH11 ngày 24/3/2024 (Được cụ thể hóa bằng Nghị định số 147/2024/NĐ – CP của Chính phủ ngày 23/7/2024 và thông tư số 81/2024/TT – BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành) đã đi vào cuộc sống và làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước trong việc điều tiết thu nhập của một bộ phận người có thu nhập cao, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn có những vấn đề cần phải điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế:

Tại điều 3, Nghị định 147 quy định: Tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập về lãi suất tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán.

Như vậy, có thể hiểu thực chất các khoản thu nhập nêu trên là các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng hiện tại do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chưa quản lý thu, tuy nhiên điều này còn có sự bất cập, đó là khoản thu nhập về lãi mua cổ phiếu (cổ tức) là khoản thu nhập đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bởi khoản thu nhập này được phân phối sau thuế tại nơi bán cổ phiếu và vì vậy, về nguyên tắc nó phải được xếp vào nhóm không chịu thuế thu nhập cá nhân mới đảm bảo chính xác và phù hợp với thông lệ quốc tế. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Các chuyên gia tài chính cũng cho rằng, việc thu thuế thu nhập với người có thu nhập cao hiện nay đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế và rất phi kinh tế. Chẳng hạn, cùng là đối tượng chịu thuế với thu nhập 5 triệu đồng/tháng nhưng nó chưa phân biệt được giữa người độc thân và người có gia đình cũng như chưa xác minh được cụ thể nguồn thu của đối tượng chịu thuế,…

Ví dụ: Tại Thái Lan luật thuế thu nhập cá nhân cho phép người nộp thuế được khấu trừ tất cả các chi phí có liên quan đến công việc, tiền bảo hiểm, tiền đóng vào qũy bảo hiểm xã hội tư nhân, lãi vay ngân hàng để mua hoặc xây nhà,… thu nhập còn lại được tiếp tục khấu trừ 10%, chỉ phải nộp thuế trên 90% thu nhập còn lại. Ngoài ra, Thái Lan cũng quy định rất rõ mức chi phí được khấu trừ, chẳng hạn chi phí nuôi 1 con, 2 con,… mức chi phí cho bản thân người nộp thuế,…

Còn ở Singapore, người nộp thuế được khấu trừ chi phí sinh hoạt cho bản thân, chi phí nuôi dưỡng người tàn tật, nuôi con thứ 1, 2, 3, 4, 5; cha mẹ ông bà, nộp tiền bảo hiểm nhân thọ, học phí, viện phí, sinh đẻ, thuê người giúp việc,… trong khi đó, Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân hiện hành lại không cho phép chiết trừ gia cảnh, như vậy chưa phù hợp với chuẩn mực chung của hệ thống thuế trên thế giới.

Về thuế suất, theo các chuyên gia về thuế, thuế suất hiện nay là quá cao, hiện Pháp lệnh thuế thu nhập cá nhân quy định mức thuế suất thu nhập cá nhân với những người trong nước là 10% nếu có thu nhập từ 5 – 15 triệu đồng/tháng; 20% (thu nhập từ 15 – 25 triệu đồng/tháng), 30% ( từ 25 – 40 triệu đồng/tháng), thuế suất cao nhất lên đến 40% (đối với người có thu nhập trên 40 triệu đồng/tháng), đối với người nước ngoài cũng tương tự. Thuế suất này cao hơn nhiều so với một số nước, lãnh thổ ở Châu Á mà người dân có thu nhập cao hơn người dân Việt Nam rất nhiều, chẳng hạn như Singapore thuế suất cao nhất là 22%; Nhật: 37%; Thái Lan: 37%; Phillipines: 32%; Malaysia: 28%; Hồng Kông (Trung Quốc) 17%. Điều này cũng có khả năng làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam khi hội nhập vào hệ thống kinh tế thế giới.

  • Thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ 01/1/2024, khi đi vào cuộc sống có thể nói luật này đã góp phần tạo sự thống nhất và hợp lý hơn trong việc thực hiện huy động ngân sách nhà nước từ một sắc thuế quan trọng có tính chất trực thu là thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy vậy, hiện nay thuế thu nhập doanh nghiệp cũng còn những bất cập nhất định:

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã giảm từ 32% xuống còn 28% (trừ các đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư) đã là bước cải cách quan trọng, nhưng so với các nước trong khu vực hoặc nước láng giềng Trung Quốc (thuế suất thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 25%) thì mức thuế suất này hãy còn cao, cần giảm hơn nữa. Mặt khác, có thể nhận thấy là với các đối tượng trong diện được ưu đãi đầu tư hiện nay, ngoài việc được hưởng các mức thuế suất ưu đãi (20%; 15%; 10%,…) các doanh nghiệp thuộc diện này còn được hưởng các mức thời gian miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhất định tính từ khi có thu nhập chịu thuế. Quy định này nhiều khi làm cho công tác quản lý, theo dõi việc thực hiện chính sách ưu đãi khá phức tạp, rối rắm, thậm chí gây nhiều tranh cãi. Chẳng hạn đối với các Hợp tác xã sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn đồng bằng, ngoài việc được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% trong 10 năm kể từ khi đi vào hoạt động, giảm 50% trong 10 năm kể từ khi đi vào hoạt động, còn được miễn 2 năm và giảm 50% cho 2 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế. Đối với các hợp tác xã thành lập tại các địa bàn miền núi thì các mức ưu đãi còn cao hơn,…

  • Về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất

Điều 12, Nghị định 164/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về thuế thu nhập doanh nghiệp có ghi: “…Đối tượng nộp thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất là tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất,…”.

Tuy nhiên, căn cứ để tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động này như doanh thu, chi phí,… đến nay còn rất khó xác định chính xác và thống nhất mà chủ yếu là do các giao dịch trong nền kinh tế của ta chưa minh bạch và chặt chẽ. Mặt khác, việc thực hiện chính sách này còn thiếu đồng bộ. Trong khi đó, chúng ta còn có quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất, càng làm cho việc thực hiện khó khăn hơn.

  • Về kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp: Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

Điều 21, Nghị định 164/2023/NĐ – CP quy định: “… Cơ sở kinh doanh có trách nhiệm kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, có chia ra từng qúy theo mẫu tờ khai của cơ quan thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất là ngày 25 tháng 1 hàng năm hoặc ngày 25 của tháng kế tiếp tháng kết thúc năm tài chính đối vói cơ sở kinh doanh có năm tài chính khác năm dương lịch. Theo quy định hiện hành, đây cũng là căn cứ cơ bản để “tạm” thu nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hàng qúy đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, cách kê khai thuế theo quy định nêu trên còn mang nặng tính kế hoạch mà chưa chú trọng thông tin từ phía doanh nghiệp và bảo đảm sát thực tế. Bởi lẽ, việc biến động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường là bình thường và vì vậy việc kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp nếu làm với từng kỳ ngắn hơn so với thực hiện cả năm như đã nêu sẽ mang lại hiệu quả hơn nhiều.

Tại Thông tư 128/2024/TT – BTC ban hành mẫu tờ khai tự quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 27/12/2024 của Bộ Tài chính áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp, tuy nhiên mẫu tờ khai còn dài, chi tiết quá mức không cần thiết.

Tiểu kết chương 2

Qua phân tích thực trạng của hệ thống thuế và một số sắc thuế hiện hành tại Việt Nam hiện nay, cho thấy bên cạnh những thành tựu to lớn của quá trình cải cách hệ thống thuế Việt Nam từ năm 2010 đến nay, vẫn còn những tồn tại, những bất cập, đặc biệt là một số điểm chưa phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Điều đó, đòi hỏi phải có lộ trình, với những giải pháp cụ thể nhằm xây dựng hệ thống thuế của Việt Nam tiệm cận dần với chuẩn mực chung về thuế quan của thế giới, từ đó giúp Việt Nam hội nhập thành công vào kinh tế khu vực và thế giới. Luận văn: Thực trạng hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hệ thống thuế hiện hành của Việt Nam

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537