Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp trong nước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1.1. Tiêu đề: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước

1.2. Tóm tắt

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu các nhân tố quyết định và sự lan tỏa không gian của năng suất doanh nghiệp trong ngành chế biến chế tạo Việt Nam giai đoạn 2010-2019. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy không gian để ước lượng sự phụ thuộc không gian của TFP cấp doanh nghiệp. Kết quả ước lượng cho thấy, sự lan tỏa công nghệ diễn ra tích cực giữa các doanh nghiệp trong vùng và hiệu ứng này giảm đi nhanh chóng theo khoảng cách không gian. Ngoài ra, nghiên cứu phát hiện năng suất của doanh nghiệp được hưởng lợi từ R&D, xuất khẩu của chính họ, mật độ việc làm, cạnh tranh thị trường và chi tiêu. Các phân tích sâu hơn cho thấy sức mạnh của hiệu ứng lan tỏa chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác: diện tích khu vực, sự hiện diện của FDI, chính sách hành chính, hiệu ứng biên giới, cơ sở hạ tầng, yếu tố tài chính, các dịch vụ tiện ích và nguồn lực con người. Các yếu tố này tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối thông suốt giữa các trung tâm kinh tế lớn với nhau tạo ra hiệu ứng lan tỏa liên vùng mạnh mẽ. Từ những phát hiện trên nghiên cứu đề xuất các hàm ý quản trị quan trọng.

1.3. Từ khóa: Phát triển kinh tế, hồi quy không gian, lan tỏa, TPF, Việt Nam

ABSTRACT

1.1. Tilte: Technological spillover effects from FDI and decisive factors on the performance of domestic enterprises.   

1.2. Abstract

The thesis aims to study the determinants and spatial spillovers of enterprise productivity in the manufacturing industry in Vietnam in the period 2010-2019. We use a spatial regression model to estimate the spatial dependence of enterprise-level TFP. The results show that the technology spillover occurs positively among firms in the region, and this effect decreases rapidly with spatial distance. Furthermore, the results also show that firm productivity depends on firm characteristics and local market conditions. Further analysis shows that spillover effects’ strength is affected by many other factors: area, presence of FDI, administrative policy, border effect, infrastructure, weak financial factors, utility services, and human resources. These factors create favorable conditions for the smooth connection between major economic centers, creating strong inter-regional spillover effects. From the above findings, the study proposes important policy implications.

1.3. Keywords: Real estate projects, real estate project transfer, enforce the law, protecting investors’ interests      

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU

1.1. Lý do chọn đề tài Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Tại các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam việc thu hút được vốn đầu tư nước ngoài FDI (Foreign Direct Investment) luôn được xem là những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển. Nhiều chính sách ưu đãi FDI được chính phủ của các nước đưa ra với kỳ vọng tích cực về những tác động trực tiếp như bổ sung vốn đầu tư, tăng thu ngân sách, tạo việc làm tăng thu nhập xuất khẩu. Quan trọng hơn, FDI được kì vọng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa công nghệ tích cực tác động trực tiếp đến cải tiến trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất, từ đó nâng cao năng suất của doanh nghiệp và kinh tế trong nước (Blomstrom & Kokko, 1998; Javorcik, 2004; Newman & ctg, 2015). Trong khi tác động trực tiếp của FDI được phân tích rộng rãi thì tác động lan tỏa là hướng nghiên cứu khá mới và nhận được nhiều sự quan tâm trong thời gian gần đây. Do đó, việc đánh giá ảnh hưởng từ hoạt động FDI và đánh giá lại các nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam là rất cần thiết. Đây là lý do tại sao đề tài “Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nước” được đề xuất, trong đề tài này tác giả sẽ cố gắng giải thích những phát hiện có liên quan mật thiết trong bối cảnh chính sách FDI có quá nhiều ưu đãi với nhà đầu tư và trong thực tiễn đang bộc lộ như ô nhiễm môi trường, né tránh thuế và nhập khẩu công nghệ lạc hậu.

1.2. Tính cấp thiết của đề tài

Các nghiên cứu về lan tỏa công nghệ từ FDI cho thấy nhiều bằng chứng trái chiều tại các nước tiếp nhận, bao gồm cả Việt Nam. Một số nghiên cứu chỉ ra FDI ảnh hưởng tích cực đến năng suất của doanh nghiệp trong nước (Caves, 1974; Li & cộng sự, 2001; Kohpaiboon, 2006; Le & Pomfret, 2011; Nguyễn Khắc Minh & Nguyễn Việt Hùng, 2012). Một số khác tìm thấy bằng chứng về những ảnh hưởng tiêu cực hoặc không tồn tại hiệu ứng lan tỏa từ công nghệ FDI (Aitken & Harrison, 1999; Khawar, 2003; Truong & cộng sự, 2015). Từ bối cảnh đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định giả thuyết liệu hiệu ứng lan tỏa công nghệ  của FDI có tồn tại ở Việt Nam hay không; các nhân tố nào có ý nghĩa trong việc tiếp thu ảnh hưởng đến hiệu ứng lan tỏa từ công nghệ FDI và các nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước.

Ở trong nước, hướng nghiên cứu này được thực hiện trong những năm gần đây và chủ yếu kiểm định hiệu ứng lan tỏa từ hoạt động FDI. Kể đến, Lê Thanh Thúy (2005) thiết lập các kênh lan tỏa từ FDI tại Việt Nam. Kết quả ước lượng cho thấy phương pháp ước lượng dữ liệu bảng khắc phục khả năng thiên lệch của phương pháp truyền thống. Tuy nhiên, việc sử dụng hồi quy dữ liệu bảng cho cỡ mẫu khá nhỏ có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả. Tương tự, Truong, Juthathip, & Eric (2015) cũng vận dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng nhưng có đóng góp mới khi kiểm định hiệu ứng lan tỏa tác động từ chính sách bảo hộ thương mại và đặc trưng FDI. Kết quả ước lượng cho thấy hạn chế của chính sách nhập khẩu làm giảm năng suất và khả năng hấp thụ từ hoạt động FDI của doanh nghiệp trong nước. Nguyễn Khắc Minh & ctg (2012) thực hiện kiểm chứng các kênh lan tỏa theo “chiều dọc” và “chiều ngang” cho 31.509 doanh nghiệp chế biến chế tạo trong nước, giai đoạn 2000–2010. Khẳng định hoạt động FDI có ảnh hưởng tích cực đến năng suất doanh nghiệp nội địa. Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào liên quan đến hiệu ứng lan tỏa theo “chiều dọc” và “chiều ngang”. Nhìn chung, phần lớn các nghiên cứu trong nước tập trung vào kiểm định hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến năng suất doanh nghiệp nhiều hơn là kiểm định sự ảnh hưởng từ những yếu tố khác như: R&D, hoạt động xuất khẩu (EX) và bỏ qua yếu tố tương tác không gian của năng suất doanh nghiệp giữa các vùng nhằm mục đích tuyến tính hóa các tham số trong mô hình phân tích nên dẫn đến những nhận định trái ngược (Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh, 2016). Do vậy, việc đánh giá lại  hiệu ứng lan tỏa từ kênh lan truyền là rất cần thiết. Đây là lý do tại sao nghiên cứu được đề xuất, tác giả sẽ cố gắng giải thích những phát hiện có liên quan mật thiết đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trong nước.

So với các nghiên cứu trước thì nghiên cứu này có một số điểm khác biệt. Trước tiên, phân tích sâu mức độ phụ thuộc không gian của năng suất doanh nghiệp và cung cấp bằng chứng trực tiếp về sự lan tỏa hội tụ. Thứ hai, trong đặc tả mô hình thực nghiệm cho phép tính toán được các tác động lan tỏa riêng lẻ từ các loại hình doanh nghiệp ở trong và ngoài khu vực. Cuối cùng, nghiên cứu xét xem liệu ảnh hưởng lan tỏa công nghệ có liên quan đến yếu tố địa lý hay không.

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Trên cơ sở phân tích hiệu ứng lan tỏa không gian của công nghệ đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Việt Nam, đề tài đề xuất hàm ý quản trị nhằm khuếch đại hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI và các giải pháp rút ngắn khoảng cách công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục tiêu tổng quát, đề tài có những mục tiêu cụ thể sau:

Thứ nhất, mô hình hóa các kênh lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước. Đồng thời lựa chọn mô hình nghiên cứu để đánh giá hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước.

Thứ hai, trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu để đánh giá hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI. Ước lượng các tác động lan tỏa đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ ba, đề xuất kiến nghị nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực từ hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong nước.

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1.  Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng lan tỏa không gian của công nghệ và các nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp trong nước.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4.2.1. Phạm vi nội dung và không gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện cho các doanh nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam bằng ước lượng mô hình Cobb-Douglas theo hồi quy không gian. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Bằng việc mở rộng mô hình Cobb-Douglas nghiên cứu tìm kiếm các nhân tố có ảnh hưởng đến năng suất doanh nghiệp và kiểm chứng mức độ lan tỏa theo khoảng cách từ các nhân tố này.

1.4.2.2. Phạm vi thời gian

Nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa công nghệ sử dụng dữ liệu cấp doanh nghiệp của ngành chế biến chế tạo của Việt Nam từ năm 2010-2019 và kiến nghị đến 2025. Việc nghiên cứu hiệu ứng lan tỏa từ 2010 trở đi có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lại hiệu quả hoạt động doanh nghiệp trong nước kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.

1.4.2.3. Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài cần tập trung trả lời các câu hỏi sau:

(i). Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI có tồn tại ở Việt Nam hay không?

(ii). Những nhân tố nào có ý nghĩa trong việc tiếp thu ảnh hưởng đến hiệu ứng lan tỏa từ công nghệ FDI, và các nhân tố này có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các doanh nghiệp trong nước. Theo kênh truyền dẫn nào?

(iii). Doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi điều gì từ các kinh nghiệm quốc tế về hoạt động lan tỏa công nghệ từ FDI để áp dụng cho hoạt động sản xuất trong nước?

(iv). Kết quả nghiên cứu về hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đã thực hiện như thế nào? Sử dụng phương pháp gì? Mô hình nghiên cứu được chọn lựa có phù hợp cho nghiên cứu?

1.5. Phương pháp nghiên cứu 

Đề tài sẽ kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thống kê: các số liệu được thu thập từ các các nguồn cơ bản Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà Nước, World Bank… được điều chỉnh bằng phương pháp thích hợp trước khi đem vào phân tích.

Phương pháp trực quan hóa dữ liệu: phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ hơn các phân tích định tính bằng hình vẽ, bảng biểu và sơ đồ làm cho các vấn đề trở nên dễ hiểu hơn, tăng tính thuyết phục và giá trị của các lập luận.

Sử dụng phương pháp kinh tế lượng: sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy không gian. Bên cạnh đó, kết hợp các phần mền chuyên dụng: Eview 10; Stata 17…

1.6. Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài với tên gọi “Hiệu ứng lan tỏa công nghệ đến hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp trong nước” đạt một số kết quả quan trọng. Cụ thể, như sau:

  • Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy không gian để ước lượng sự phụ thuộc địa lý của TFP cấp doanh nghiệp. Qua đó, cung cấp bằng chứng bằng chứng trực tiếp về sự lan tỏa hội tụ.
  • Thông qua đặc tính mô hình hồi quy không gian cho thấy sức mạnh hiệu ứng lan tỏa phụ thuộc vào các những yếu tố nào.
  • Tính toán được tác động riêng lẻ của các loại hình doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.
  • Xem xét mức độ ảnh hưởng lan tỏa công nghệ trong và ngoài tỉnh có phản ứng với các yếu tố địa lý hay không.

1.7. Bố cục của đề tài

Bố cục của đề tài được chia thành 5 chương.

  • Chương 1. Giới thiệu
  • Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
  • Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5. Kết luận & hàm ý quản trị

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Phương pháp hồi quy không gian là một kỹ thuật cho phép chúng ta tính toán được sự phụ thuộc giữa các quan sát khu vực, vùng gần nhau về mặt địa lý. Được phát triển từ mô hình hồi quy tuyến tính, các phương pháp hồi quy không gian xác định các nhóm “láng giềng gần nhất” và cho phép sự phụ thuộc giữa các vùng quan sát (Anselin, 1988; LeSage, 2005). Phương pháp hồi quy không gian có thể áp dụng cho những tình huống này bằng cách dựa vào phép loại suy cho một nhóm gồm “m-láng giềng gần nhất” có thể được hiểu là một nhóm gồm m thể chế gần giống nhau nhất. Đây là sự khái quát hóa các láng giềng dựa trên khoảng cách có thể được sử dụng để cấu trúc sự phụ thuộc trong hành vi, dẫn đến một mô hình chính thức tương tự với “láng giềng gần nhất” xét trên góc độ địa lý. Nói một cách khác, khác với hồi quy tuyến tính thì phương pháp mô hình hồi quy không gian cho phép chúng ta tính toán được sự phụ thuộc giữa các quan sát khi các quan sát được thu thập tại các tỉnh/vùng trong cùng khu vực tài phán. Cụ thể, dạng thức của một mô hình hồi quy không gian cho phép đo lường mức độ tương tác của ba loại tác động: tác động tương tác nội sinh của biến phụ thuộc; tác động tương tác ngoại sinh giữa các biến giải thích và tác động tương tác giữa các thành phần ngẫu nhiên. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

2.1. Một số khái niệm về lan tỏa công nghệ và hiệu quả doanh nghiệp

2.1.1. Công nghệ và lan tỏa công nghệ 

  • Khái niệm công nghệ

Các nhà nghiên cứu đã xem xét và đánh giá định nghĩa thuật ngữ “công nghệ” từ nhiều khía cạnh khác nhau theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhiều cuộc hội thảo chuyên thảo luận về khái niệm công nghệ để hiểu biết một cách rõ ràng về bản chất của công nghệ và phân loại công nghệ đã diễn ra ở nhiều nước.

Từ gốc “công nghệ” theo tiếng Anh là sự tổng hợp của hai cụm từ “technic” và “logic” để tạo thành “technology” có nghĩa hàm ý rằng đây là sự kết hợp giữa kỹ thuật và quy trình có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau và gọi là quy trình kỹ thuật hay công nghệ.

  • Theo nghiên cứu Kumar & Persaud (1999), công nghệ bao gồm hai thành phần chính:

Thành phần chính thứ nhất là thành phần vật lý bao gồm các đối tượng như sản phẩm: dụng cụ, thiết bị, các đồ án, kỹ thuật và các quy trình.

Thành phần chính thứ hai là thành phần thông tin bao gồm: bí quyết trong quản lý, tiếp thị, sản xuất, kiểm soát chất lượng, độ tin cậy, lực lượng lao động lành nghề và liên quan với nhiều lĩnh vực khác.

Các định nghĩa về công nghệ trước đó của Sahal (1981) thì xem công nghệ là “cấu hình”, xem xét đối tượng được chuyển giao công nghệ dựa trên một bộ quy trình và sản phẩm được xác định. Các nghiên cứu tiếp sau đó về chuyển giao công nghệ (CGCN) đã thực hiện kết nối công nghệ với tri thức và chú ý nhiều hơn đến quá trình tự nghiên cứu và hoạt động phát triển (Dumning, 1994).

Nghiên cứu của Lan & Young (1996) thì cho rằng, công nghệ luôn gắn kết với các kết quả đạt được nhất định, giải quyết các vấn đề nhất định, hoàn thành một số nhiệm vụ nhất định bằng các kỹ thuật cụ thể, sử dụng kiến thức và khai thác các tài sản. Khái niệm công nghệ không chỉ liên quan đến công nghệ thể hiện trong sản phẩm mà nó còn gắn liền với kiến thức hoặc thông tin sử dụng nó, ứng dụng và quy trình phát triển sản phẩm (Lovel, 1998: Bozeman, 2000)

Công nghệ là tài sản vô hình của doanh nghiệp bắt nguồn từ các hoạt động của DN và không dễ dàng chuyển nhượng do quá trình học tập nghiên cứu là dần dần và chi phí chuyển giao kiến thức ngầm cao hơn (Rodasevic, 1999). Kiến thức công nghệ là tài sản vô giá của doanh nghiệp, không bao giờ dễ dàng chuyển nhượng từ DN này sang DN khác bởi quá trình học hỏi công nghệ là cần thiết để đồng hóa và tiếp thu công nghệ được chuyển giao (Lin, 2003). Bozeman (2000) cho rằng công nghệ và kiến thức không thể tách rời, đơn giản là vì khi một sản phẩm công nghệ được chuyển giao hoặc lan tỏa, kiến thức là thành phần của công nghệ cũng được lan tỏa. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Định nghĩa mới đây của công nghệ được Maskus (2004) mở rộng trong đó công nghệ được định nghĩa là tất cả những gì cần thiết được sử dụng nhằm đạt được một kết quả sản xuất nhất định từ một phương thức cụ thể kết hợp hoặc xử lý các đầu vào bao gồm các quy trình sản xuất, cấu trúc tổ chức trong nội bộ doanh nghiệp, kỹ thuật quản lý, phương tiện tài chính, phương thức tiếp thị hoặc bất kỳ phương thức phối kết hợp nào khác và đây là khái niệm công nghệ sẽ được sử dụng trong bài luận này.

Ngoài việc hiểu khái niệm về công nghệ, việc phân loại công nghệ cũng rất quan trọng trong việc giải thích các loại công nghệ thể hiện trong sản phẩm, quy trình sản xuất và vốn nhân lực của doanh nghiệp. Phân loại công nghệ ban đầu được phát triển bởi Mansfeld (1975) thành công nghệ hiện hữu và công nghệ không hiện hữu và sau đó được tiếp tục mở rộng bởi Madeuf (1984) bao gồm vốn con người, vốn vật chất và công nghệ không hiện hữu. Robock (1980) và Chudson (1971) đã xây dựng phân loại công nghệ bằng cách phân biệt các thiết kế sản phẩm, kỹ thuật sản xuất và các chức năng quán lý. Madeuf (1984) thì đề xuất phân biệt giữa “công nghệ được chuyển nhượng” và “công nghệ xã hội hóa”. “Công nghệ được chuyển nhượng” bao gồm thông tin không miễn phí như bí quyết bí mật công nghệ. Ngược lại, “công nghệ xã hội hóa” không có bất kỳ giao dịch trao đổi nào. Trong khi đó, Dalgic (2013) thì khẳng định công nghệ là một loại sản phẩm được tạo ra do kết quả của các hoạt động R &D và được thể hiện trong hàng hóa vốn, hàng hóa trung gian và trong hàng hóa cuối cùng.

  • Khái niệm về lan tỏa công nghệ

Mục tiêu chính của các mô hình tăng trưởng kinh tế là xác định nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung, các lý thuyết đều cho thấy công nghệ và TBCN luôn được coi là nền tảng cốt lõi của phát triển kinh tế. Theo lý thuyết tân cổ điển trong mô hình Solow, công nghệ được coi như một biến ngoại sinh, công nghệ mới sẽ lan tỏa ngay và không tốn kém. Công nghệ là một hàng hóa công cộng thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ). Các mô hình lý thuyết tăng trưởng mới của Arrow (1962), Lucas (1988), Romer (1986) được xây dựng dựa trên kinh tế bên ngoài Marshallian thì cho rằng sự tăng trưởng của năng suất lao động là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm của người lao động. Theo đó, sự tích lũy kiến thức, thay đổi công nghệ và năng suất lao động trở thành yếu tố quan trọng của tăng trưởng. Tuy nhiên, kiến thức, công nghệ vẫn được coi là hàng hóa công nghệ không cạnh tranh và không loại trừ.

Sau đó, Romer (1987, 1990) là người đã đưa ra ba giả định rõ ràng về công nghệ để phát triển mô hình của mình: Thứ nhất, công nghệ là một đầu vào không cạnh tranh, thứ hai công nghệ là loại trừ một phần và thứ ba là tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi đầu vào công nghệ không cạnh tranh và loại trừ một phần. Vì thế, không giống như mô hình tăng trưởng tân cổ điển, công nghệ thay đổi và không còn được coi là ngoại sinh trong mô hình Romer. Sau đó, một số nhà kinh tế đã hình thành nên lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh. Các nghiên cứu tăng trưởng nội sinh đang phát triển nhanh chóng nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về định dạng mô hình.

Công nghệ khác với sản phẩm đơn thuần vì chi phí cận biên của việc sử dụng công nghệ có thể bị lờ đi, bị bỏ qua bởi các doanh nghiệp khác và không phân bổ vào sản xuất của các doanh nghiệp này (Grossman và Helpman, 1997). Đặc điểm không cạnh tranh và chỉ loại trừ một phần của công nghệ cho phép chuyển giao lợi ích của công nghệ đến các doanh nghiệp có hiệu suất tương đối thấp.

Sự lan tỏa công nghệ nằm ở trung tâm của lý thuyết tăng trưởng mới. Đây là một khái niệm phức tạp, thường xuyên bị hiểu lầm hoặc nhầm lẫn với các vấn đề khác liên quan chẳng hạn như áp dụng công nghệ hay CGCN. Ngoài ra, nó thường được sử dụng thay thế cho lan tỏa R&D. Theo Romer (1990), đầu tư vào công nghệ do vậy không chỉ đem lại lợi ích cho nhà đầu tư mà có thể góp phần mang lại lợi ích cho các ngành, doanh nghiệp khác. Kiểu ngoại ứng này được gọi là “lan toả công nghệ” (Romer, 1990), cấu thành nên động lực ban đầu của nghiên cứu này. Như vậy, lan tỏa công nghệ xuất hiện khi một DN nhận được lợi ích kinh tế từ hoạt động R&D của DN khác mà không phải chia sẻ bất kỳ chi phí nào. Sự khác biệt đáng kể nhất giữa lan tỏa công nghệ và chuyển giao công nghệ là liệu doanh nghiệp đổi mới công nghệ có thể nhận được thặng dư phúc lợi từ việc chuyển nhượng kiến thức không. Griliches (1979,1992) đã xác định hai kiểu khác nhau của các khái niệm lan tỏa công nghệ. Tuy nhiên, trong thực tế không phải có thể dễ dàng phân tách được chúng (TunKoo, 2005).

Khái niệm đầu tiên thường được gọi là lan tỏa công nghệ theo chiều ngang. Đây về cơ bản là một câu hỏi về lan truyền kiến thức. Nghiên cứu được thực hiện trong một doanh nghiệp có thể kích thích việc tạo ra kiến thức công nghệ mới hoặc kích thích quá trình tạo ra kết quả từ những ý tưởng trước đó trong một doanh nghiệp khác. Trong trường hợp này, kiến thức mới không còn là hàng hóa mới và trở thành một phần của kho kiến thức chung (tức là hàng hóa công cộng). Đó là loại lan tỏa mà trực tiếp tạo ra đổi mới và thay đổi năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Vì vậy, loại lan tỏa này tập trung vào mối liên kết dựa trên nền tảng công nghệ và có thể xảy ra mà không cần liên kết đầu vào – đầu ra trực tiếp giữa các ngành. Một ví dụ minh họa cho các liên kết dựa trên công nghệ là khái niệm sự gần gũi về công nghệ do Jafe (1986) phát triển. Nó giả định rằng một doanh nghiệp có thể được hưởng lợi từ những khám phá mới được thực hiện bởi một doanh nghiệp khác nếu hai doanh nghiệp sử dụng các quy trình tương tự (không nhất thiết phải được kết nối trong chuỗi cung ứng). Công nghệ, kiến thức như một hàng hóa công cộng một phần, không cạnh tranh và không thể loại trừ. Việc mượn ý tưởng từ một số nghiên cứu khác sẽ không làm cho những nhà phát minh, đổi mới ban đầu bị giảm kho kiến thức có sẵn. Tuy nhiên, điều này có thể làm xói mòn lợi nhuận từ đổi mới nếu kiến thức bị rò rỉ, giúp các đối thủ bắt chước.

Khái niệm thứ hai thường được gọi là sự lan tỏa theo chiều dọc. Hoạt động R&D được thực hiện ở một doanh nghiệp (người bán) có thể mang lại lợi ích cho một doanh nghiệp khác (người mua) vì sự cải thiện chất lượng được thể hiện trong các đầu vào thường không hoàn toàn thuộc về người bán do cạnh tranh. Do đó, kiểu lan tỏa này tập trung vào các mối liên kết dựa trên giao dịch và thường xảy ra trong chuỗi cung ứng giữa người mua và nhà cung cấp. Về mặt phúc lợi, sự đổi mới công nghệ dẫn đến giảm chi phí của DN bán, sẽ làm giảm chỉ phí của doanh nghiệp mua và do đó làm tăng mức độ thặng dư sản xuất của doanh nghiệp mua. Khái niệm lan tỏa này tập trung vào các mối liên kết dựa trên các giao dịch và thường xảy ra dọc theo chuỗi nhà cung cấp của người mua. Ví dụ rõ ràng nhất về lan tỏa dọc xảy ra trong ngành công nghiệp máy tính. Chất lượng của sản phẩm liên quan đến máy tính đã được cải thiện đáng kể nhưng giá của chúng có xu hướng ổn định hoặc thậm chí bị giảm, mang lại lợi ích cho DN mua nó.

Lan tỏa công nghệ như vậy có thể được hiểu là tác động gián tiếp xảy ra khi sự hiện diện của các doanh nghiệp này làm cho các doanh nghiệp khác thay đổi hành vi và hoạt động của mình như nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi công nghệ, thay đổi chiến lược sản xuất kinh doanh. Các định nghĩa cụ thể từng kênh lan tỏa công nghệ sẽ đưa ra cái nhìn rõ nét hơn về lan tỏa công nghệ và các hiệu ứng của nó.

2.1.2. Các kênh lan truyền Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Lan tỏa công nghệ được ghi nhận thông qua các kênh tác động chủ yếu: mô phỏng, sao chép hay bắt chước, dịch chuyển lao động, xuất khẩu, liên kết sản xuất và cạnh tranh. Các kênh tác động này thể hiện theo các chiều khác nhau trong chuỗi cung ứng sản xuất và thể hiện trong hình 3.1 Những tác động lan tỏa này được sinh ra từ cả những ngoại ứng nội ngành (hiệu ứng lan tỏa ngang: nghĩa là trong cùng một ngành) lẫn những ngoại ứng liên ngành (hay hiệu ứng lan tỏa dọc) hình thành những mối liên kết xuôi, liên kết ngược trong chuỗi cung ứng sản xuất.

Hình 2.1. Sơ đồ của các kênh lan truyền lan tỏa công nghệ

Hiệu ứng lan tỏa theo chiều ngang là tác động lan tôa công nghệ diễn ra trong cùng một ngành. Teece (1977) gợi ý hai kênh chính đối với các lan tỏa ngang: sự di chuyển lao động trình độ cao (Fosfri và cộng sự, 2001, Gorg và Strobl, 2005) và sự bắt chước, mô phỏng hay sao chép công nghệ (tác động trình diễn). Một kênh lan tỏa ngang nữa xuất phát từ sự gia nhập của các doanh nghiệp công nghệ cao hơn có khả năng lan tỏa cũng kích động cạnh tranh trên thị trường. Áp lực cạnh tranh thúc giục các doanh nghiệp công nghệ thấp hơn buộc phải tự nâng cao năng lực bằng việc sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực hiện có hoặc áp dụng những thói quen tổ chức mới, ứng dụng các công nghệ hiện đại nếu muốn tồn tại và phát triển (tác động cạnh tranh) (Aitken và Harrison, 1999, Glass và Saggi, 2002). Tuy nhiên, không phải tác động nào trong những tác động này nhất thiết phải dương. Những động thái trên thị trường lao động như tình trạng chảy máu chất xám sang các doanh nghiệp công nghệ cao, hạn chế CGCN hay áp lực cạnh tranh quá mạnh của các doanh nghiệp công nghệ cao sẽ đẩy các doanh nghiệp công nghệ thấp hơn không những thụt lùi về sau mà còn rơi ra khỏi thị trường sẽ tạo ra những tác động lan tỏa ngang âm (AItken và Harrison, 1999).

Hiệu ứng lan tỏa theo chiều đọc là các hiệu ứng lan tỏa công nghệ tiềm năng xuất hiện giữa các nhà cung cấp và khách hàng. Trong chuỗi cung ứng sản xuất, để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, các doanh nghiệp cần mua các nguyên vật liệu trung gian. Có 2 loại hiệu ứng lan tỏa dọc xảy ra trong chuỗi cung ứng sản xuất này:

Hiệu ứng lan tỏa ngược là hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ các khách hàng là các DN công nghệ cao tới các DN cung cấp đầu vào trung gian. Nếu có được hợp đồng cung cấp đầu vào cho các DN công nghệ cao, các DN đặt hàng có thể yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp đầu vào công nghệ thấp hơn cung cấp sản phẩm với chất lượng tiêu chuẩn cao hơn, nhờ đó tạo động lực cho các DN công nghệ thấp hơn buộc phải cải tiến quy trình công nghệ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Các DN cung cấp đầu vào có thể sẽ được hưởng lợi từ quá trình tự cải tiến công nghệ hoặc từ chính hoạt động chuyển giao kiến thức kinh nghiệm của các DN đặt hàng. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Hiệu ứng lan tỏa xuôi là hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ các DN có công nghệ cao cung cấp đầu vào trung gian tới các khách hàng tại địa phương. Sự sẵn có các đầu vào tốt hơn do doanh nghiệp công nghệ cao cung cấp làm tăng hiệu quả của các DN sử dụng các đầu vào này. Tuy nhiên, cũng có nguy hiểm là các đầu vào được sản xuất tại địa phương của các doanh nghiệp công nghệ cao thì đắt hơn và ít phù hợp hơn đối với những yêu cầu tại địa phương. Khi đó sẽ hình thành một lan tỏa xuôi âm.

Cuối cùng, biệu ứng lan tỏa ngược cũng đi từ doanh nghiệp công nghệ cao qua các nhà cung cấp địa phương của nó đến các khách hàng địa phương của các nhà cung cấp này. Markursen và Venables (1999) gợi ý một sự đánh đổi giữa cạnh tranh thị trường sản phẩm tăng lên, mà họ cho là có một tác động ngược lên năng suất, đầu ra của các khách hàng địa phương của họ. Khi ảnh hưởng từ kênh lan tỏa dọc đủ mạnh, các DN công nghệ cao có thể kích cầu đối với các sản phẩm trung gian sản xuất tại địa phương. Sự kích cầu này khuyến khích các nhà cung cấp địa phương đầu tư và sản xuất các đầu vào theo các tiêu chuẩn chất lượng cao hơn (Blomstrom và Kokko, 1998). Việc này không chỉ có một tác động dương lên năng suất của các nhà sản xuất hàng hóa trung gian địa phương mà còn có thể kích thích năng suất của các khách hàng địa phương của họ.

2.1.3. Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp

Hiệu quá doanh nghiệp thể hiện cách thức tổ chức sử dụng các yếu tố đầu vào, tài nguyên của DN để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Hiệu quả được cải thiện khi với cùng một đầu vào có thể tạo ra nhiều sản phẩm đầu ra hoặc khi cùng một lượng đầu ra được sản xuất với ít đầu vào hơn. Hiệu quả xác định thành công của một DN. Nếu một DN đạt mức hiệu quả cao có nghĩa là doanh nghiệp có thể vận hành và quản lý tốt các nguồn đầu vào, từ đó cải thiện sản phẩm dịch vụ, tăng giá trị doanh nghiệp.

Năng suất cũng là một dấu hiệu phản ánh hiệu quả trong sản xuất. Năng suất có thể được cải thiện khi sản xuất được tiến hành một cách hợp lý. Năng suất thấp hơn cho thấy sự lãng phí và sử dụng các nguồn lực không hiệu quả. Năng suất cao hơn phản ánh mức lợi nhuận cao hơn. Năng suất chính là hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực đầu vào để sản xuất sản phẩm đầu ra trong doanh nghiệp. Do vậy, để có đánh giá đầy đủ về hiệu quả DN Việt Nam, luận văn sử dụng hai chỉ tiêu phản ánh hai khía cạnh hiệu quả khác nhau của DN đó là hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp.

  • Hiệu quả kỹ thuật

Các nghiên cứu khác nhau định nghĩa hiệu quả theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm đo lường hiệu quả được Koopmans (1951) và Debreu (1951) thảo luận lần đầu vào năm 1951. Sau đó, năm 1957 là Farrell (1957) đã đưa ra các nghiên cứu thực nghiệm để đo lường TE. Hollingsworth và Parkin (1998) đưa ra khái niệm hiệu quả là “phân bổ nguồn lực khan hiếm để tối đa hóa khả năng đạt được mục tiêu (trích trong Bdour và Al-khoury, 2008). Farrel (1957) phân loại hiệu quả thành 02 thành phần. Thành phẩn thứ nhất là hiệu quả kỹ thuật (TE), được thể hiện bằng khả năng một doanh nghiệp có thể tạo ra một lượng sản phẩm đầu ra tối đa trong điều kiện đầu vào và công nghệ cho trước hoặc khả năng tiết kiệm tối đa các yếu tố đầu vào mà vẫn cho phép sản xuất ra lượng đầu ra và công nghệ cho trước. Đặc biệt, theo Koopmans (1951), một doanh nghiệp đạt được hiệu quả kỹ thuật nếu như không thể tạo ra được nhiều đầu ra hơn mà không sử dụng nhiều đầu vào hơn hoặc không giảm sản xuất các đầu ra khác (trích trong Mokhtar và cộng sự, 2006).

Thành phần thứ bai là hiệu quả phân bổ (AE). Nó liên quan đến khả năng kết hợp tối ưu các đầu vào và đầu ra tại mức giá nhất định. Và dựa trên khái niệm của Farrell (1957), hai thành phần này kết hợp với nhau tạo thành hiệu quả kinh tế tổng thể (OE) (OE=TE*AE). Khái niệm hiệu quả kỹ thuật sử dụng trong luận văn này, dựa trên khái niệm hiệu quả TE của Farrel (1957).

  • Năng suất nhân tổ tổng hợp

Năng suất là một thuật ngữ có nghĩa rộng với nhiều định nghĩa khác nhau. Việc lựa chọn sử dụng khái niệm nào tuỳ thuộc vào mục đích đo lường năng suất và tính khả dụng của nguồn đữ liệu nghiên cứu. Trên góc độ kinh tế, năng suất được hiểu là tỷ lệ giữa đầu ra với đầu vào đã sử dụng được biểu thị bằng công thức:

  • Năng suất = Đầu ra/ Đầu vào Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Với các doanh nghiệp, đầu ra có thể được đo lượng dưới dạng hiện vật (như khối lượng hàng hoá) hoặc dưới dạng giá trị (như giá trị gia tăng, doanh thu). Đầu vào thường được đo lường bằng các nhân tố tham gia vào quá trình tạo ra đầu ra như vốn, lao động, nguyên nhiên vật liệu, tài nguyên và các nguồn lực khác. Năng suất có thể đo lường ở cấp doanh nghiệp, cấp ngành hoặc toàn bộ nền kinh tế.

Các nhà kinh tế học đã chứng minh được rằng ngoài đầu tư vào các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, vốn, tài nguyên vẫn còn một phần đáng kể góp phần tạo ra sự tăng trưởng năng suất đầu ra. Những yếu tố này có thể là do ứng dụng KHCN hiện đại, thay đổi trong tổ chức sản xuất, thay đổi trình độ quản lý, thay đổi trình độ tay nghề người lao động, cải tiến quy trình sản xuất. Các nhà kinh tế gọi phần tăng năng suất không phải do tăng các yếu tố đầu vào như lao động, vốn là năng suất nhân tố tổng hợp (TFEP) và là khái niệm năng suất sử dụng trong luận văn này. Kể từ sau công trình nghiên cứu của Solow (1957), TEP đã được coi là đóng vai trò chính trong việc tạo ra tăng trưởng và dự đoán tăng trưởng. Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả đầu ra với cùng đầu vào. Theo nhiều nghiên cứu, các nhân tố tổng hợp khác như yếu tố thị trường, cơ chế quản lý, lợi thế so sánh, thể chế kinh tế đều có vai trò đối với tăng trưởng và phát triển.

2.1.4. Thực trạng hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp Việt Nam

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, doanh nghiệp luôn đóng một vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là thành phần chủ yếu tạo ra tăng trưởng kinh tế. Hoạt động của các DN Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước tiến vượt bậc, số lượng doanh nghiệp ngành càng gia tăng, các doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước phát huy nội lực cho phát triển, góp phần đáng kể vào giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo nhưng vẫn còn tổn tại nhiều rào cản khiến năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp bị suy giảm, trình độ công nghệ chậm được cải thiện. Điều này đã và đang tạo ra cho các doanh nghiệp nhiều thách thức đặc biệt trong bối cảnh Việt nam ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới như hiện nay. Thực trạng hoạt động các DN Việt Nam trong chương này và các nghiên cứu thực nghiệm trong chương sau được đánh giá dựa trên bộ dữ liệu điều tra sử dụng công nghệ trong sản xuất của doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam giai đoạn 2010-2019 của Tổng cục thống kê sau khi điều chỉnh lạm phát. Cụ thể như sau:

Với bộ số liệu điều tra sử dụng công nghệ trong sản xuất của doanh nghiệp ngành chế tác Việt Nam (2010-2019: Đây là nguồn dữ liệu điều tra thứ cấp chọn mẫu ở cấp quốc gia do Tổng cục thống kê thực hiện hằng năm. Phạm vi điều tra khảo sát là các doanh nghiệp được chọn mẫu trong ngành chế tác Việt Nam trên cả nước. Đây là cuộc điều tra định kỳ do Tổng cục thống kê tổ chức thực hiện nên nguồn số liệu đảm bảo độ tin cậy cao. Do phạm vị của luận văn là nghiên cứu vấn đề công nghệ và lan tỏa công nghệ ở cấp doanh nghiệp nên cuộc điều tra này cung cấp gần như đầy đủ các thông tin về công nghệ và hoạt động nghiên cứu ở cấp doanh nghiệp như loại công nghệ sử dụng, xuất xứ công nghệ, hoạt động R&D, CGCN, quan hệ giữa nhà cung cấpvà khách hàng, phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu cho phân tích thực trạng và nghiên cứu thực nghiệm của luận văn.

Trong mục thực trạng hiệu quả hoạt động và khả năng lan toả công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam cũng như các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong  chương 4 sẽ đi theo hướng đưa ra bức tranh từ các phân tích đánh giá tổng thể toàn bộ doanh nghiệp Việt Nam đến chi tiết từng ngành, làm cơ sở so sánh với tổng thể và giữa các ngành với nhau trong đó tập trung vào ngành công nghiệp chế tác do ngành này có nguồn dữ liệu điều tra đầy đủ và toàn diện hơn. Luận văn chọn ngành công nghiệp chế tác để phân tích sâu hơn tác động nhiều chiều của lan toả công nghệ vì riêng ngành công nghiệp chế tác mới có bộ dữ liệu điều tra sử dụng công nghệ trong sản xuất và vì đây là một trong những ngành mũi nhọn, có đóng góp lớn cho tăng trướng kinh tế Việt Nam, cũng là ngành đòi hỏi trình độ công nghệ cao hơn các ngành khác, có thể trực tiếp chịu tác động của các kênh lan toả công nghệ.

2.2. Tổng quan tài liệu Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

2.2.1. Hoạt động R&D và lan tỏa công nghệ

Theo Shell (1966), hoạt động nghiên cứu & phát triển (R&D) được xem là một trong những hoạt động quan trọng trong việc tạo tri thức và cải tiến năng suất. Hoạt động R&D gồm: hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản, và khuyến khích các doanh nghiệp tự nghiên cứu phát triển các hoạt động mới. Theo Braconier & ctg (1998), hoạt động R&D không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất doanh nghiệp thực hiện R&D mà còn có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa làm tăng năng suất các doanh nghiệp khác. Braconier & Sjoholm (1998), cho rằng với quyền sở hữu trí tuệ không hoàn hảo cộng với chi phí biên của việc tái tạo kết quả từ R&D thấp nên hoạt động phát triển R&D tại một doanh nghiệp này có thể lan tỏa sang các hoạt động phát triển R&D của doanh nghiệp khác thông qua việc bắt chước, thiết kế ngược hoặc công tác nhân sự. Lan tỏa từ hoạt động R&D không chỉ diễn ra trong phạm vi quốc gia mà còn trên phạm vi quốc tế. Trên phạm vi quốc tế, các công ty đa quốc gia (MNEs) đóng một vai trò quan trọng trong việc tiến hành các hoạt động R&D trên thế giới và sở hữu phần lớn công nghệ tiên tiến. Theo Mansfield & Romeo (1980), công nghệ được chuyển giao từ các công ty mẹ sang công ty con bao giờ cũng lạc hậu hơn so với các công nghệ được bán ra bên ngoài thông qua các thỏa thuận cấp phép. Kiến thức công nghệ thường hay bị rò rỉ sang các công ty địa phương trong quá trình chuyển giao cho các công ty con. Do vậy, lan tỏa công nghệ từ hoạt động R&D thường làm tăng năng suất của các doanh nghiệp địa phương.

Có rất nhiều nghiên cứu về tác động của doanh nghiệp tự nghiên cứu và phát triển R&D đến năng suất doanh nghiệp thực hiện. Bất chấp sự khác biệt về dữ liệu, phương pháp luận và phương pháp đo lường đối với R&D được sử dụng, phần lớn các kết quả nghiên cứu đều cho thấy sự đóng góp tích cực của lan tỏa năng suất từ R&D (Griliches, 1992). Nghiên cứu về sự lan tỏa R&D quốc tế thường được thực hiện ở cấp vĩ mô nhiều hơn thực hiện ở cấp độ vi mô, vì dựa trên niềm tin rằng các quốc gia tuân theo giai đoạn phát triển, độ mở, nguồn cung và cường độ của R&D. Chẳng hạn, nghiên cứu Bernstein (2000) phát hiện ra rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến TFP trong ngành sản xuất của Canada giai đoạn 1966-1991 là do tác động tràn từ Mỹ. Một nghiên cứu khác, Feinberg & ctg., (2001) chỉ ra rằng mức độ lan tỏa tích cực từ hoạt động R&D của ngành dược phẩm Ấn Độ trong giai đoạn 19801994 chỉ xảy ra giữa các nhóm MNEs. Sự lan tỏa từ các MNEs sang các công ty Ấn Độ diễn ra không hoàn toàn. Bằng chứng trái chiều này cho thấy hiệu quả của sự lan tỏa năng suất từ hoạt động R&D quốc tế phần lớn phụ thuộc vào môi trường,  chính sách của nước sở tại (Feinbergand & ctg, 2001) và khả năng tiếp cận công nghệ của các doanh nghiệp địa phương (Cantwell, 1993).

2.2.2. Hoạt động xuất khẩu và lan tỏa công nghệ

Nâng cao năng lực xuất khẩu bằng cách tạo ra nhiều lợi ích khác nhau, chẳng hạn như sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, năng lực sản xuất lớn hơn và thu được hiệu ứng quy mô liên quan đến các thị trường quốc tế rộng lớn (Bhagwati, 1978; Krueger, 1978; Obsfeld & Rogoff, 1996). Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng, thương mại quốc tế là một kênh quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển, chuyển giao và phổ biến công nghệ. Việc tham gia vào thị trường xuất khẩu giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp xúc với thông lệ quốc tế, học tập nâng cao năng suất. Hoạt động xuất khẩu cũng có thể làm tăng năng suất bằng biện pháp thúc đẩy phát triển công nghệ mới (Hejazi & Safarian, 1999).

Lan tỏa công nghệ thông qua các hoạt động xuất khẩu. Blomstrom & Kokko (1998) cho rằng các MNEs có kinh nghiệm về tiếp thị quốc tế, các mạng lưới phân phối quốc tế đã được thiết lập và sức mạnh trong vận động hành lang tại các thị trường của họ. Điều này cho phép MNEs sở hữu những lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới. Theo Gorg & ctg, (2004), các MNEs có lợi thế về kinh nghiệm tiếp thị quốc tế nên thường khai thác chúng để xuất khẩu từ nước sở tại mới. Với kết quả của các hoạt động xuất khẩu của họ, các MNEs mở đường cho các doanh nghiệp bản địa ở nước sở tại thâm nhập vào các thị trường xuất khẩu, tương tự, bởi vì họ tạo ra cơ sở hạ tầng giao thông hoặc phổ biến thông tin về thị trường nước ngoài mà các doanh nghiệp bản địa này có thể sử dụng.

2.2.3. FDI và sự lan tỏa công nghệ Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Tác động lan tỏa được định nghĩa là những hiệu ứng gián tiếp hay ngoại tác về thông tin xuất phát từ những tương tác có chủ đích hay không có chủ đích giữa các chủ thể kinh tế theo thời gian (Rosenbloom & Marshallian, 1990). Lan tỏa công nghệ từ FDI có thể diễn ra khi một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong việc bảo vệ những tài sản chuyên biệt của mình (ví dụ như bí quyết công nghệ và kỹ thuật sản xuất tiên tiến, bí quyết quản trị, kỹ năng Marketing, thông tin khách hàng, thị trường) khiến chúng bị rò rỉ ra bên ngoài cho doanh nghiệp trong nước (Caves, 1996; Blomstrom & Kokko, 1998). Nhờ khả năng rò rỉ, phát tán thông tin này mà FDI có thể gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của doanh nghiệp và nền kinh tế địa phương.

Trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển (Solow, 1956; Torado, 1997) xem FDI là kênh cung cấp vốn quan trọng thì lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Romer, 1986; Lucas, 1988) nhấn mạnh vai trò và ảnh hưởng dài hạn của lan tỏa công nghệ từ FDI đến nền kinh tế tiếp nhận. Doanh nghiệp FDI, đặc biệt là các công ty đa quốc gia, thường có ưu thế vượt trội về trình độ công nghệ có thể vượt qua những rào cản khi gia nhập thị trường mới và thành công với các doanh nghiệp bản địa (Graham & Krugman, 1995). Sự hiện diện của doanh nghiệp FDI với nhiều lợi thế công nghệ có thể gián tiếp tạo ra các tác động tích cực và lâu dài đến năng lực công nghệ và năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước thông qua quá trình tương tác trong khu vực địa lí nhất định.

Lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp trong nước có thể diễn ra đối với các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành (lan tỏa chiều ngang) hay khác ngành (lan tỏa chiều dọc) (Blomstrom & Kokko, 1998). Trong đó, lan tỏa chiều dọc xuất phát từ các liên kết công nghiệp khi doanh nghiệp FDI trở thành khách hàng (liên kết ngược) hay nhà cung ứng (liên kết xuôi) của doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước có thể nâng cao trình độ công nghệ thông qua quá trình quan sát và học hỏi kiến thức, kinh nghiệm và kĩ thuật từ doanh nghiệp FDI; tuyển dụng lao động đã qua đào tạo tại doanh nghiệp FDI; hay tự cả tiến, đổi mới công nghệ do áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI (Blomstrom & Sjoholm, 1999; Javorcik, 2004; Newman & cộng sự, 2015). Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Các nghiên cứu thực nghiệm về lan tỏa công nghệ từ FDI cho thấy những kết quả trái chiều tại các nước phát triển và đang phát triển. Caves (1874) và Globerman (1979) là những nghiên cứu tiên phong thực hiện lần lượt tại Úc và Canada. Các tác giả này sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas làm khung phân tích và phương pháp ước lượng OLS. Kết quả cung cấp bằng chứng về lan tỏa tích cực từ FDI ở cả hai quốc gia. Các nghiên cứu này bước đầu xây dựng được khung phân tích và mô hình kinh tế lượng để kiểm định tác động lan tỏa công nghệ từ FDI. Tuy nhiên, ước lượng mô hình với phương pháp OLS có thể cho kết quả không chính xác và thường thổi phồng hiệu ứng lan tỏa.

Aitken và Harrison (1999) nghiên cứu lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp Venezuela giai đoạn 1976-1989. Dữ liệu bảng với cỡ mẫu tương đối lớn là một trong những điểm mạnh so với các nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo vì có thể nâng cao độ tin cậy của ước lượng và đo lường chính xác hơn hiệu ứng lan tỏa từ FDI theo thời gian và không gian. Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI có ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất của doanh nghiệp trong nước. Kết quả này được giải thích là do áp lực cạnh tranh gia tăng từ doanh nghiệp FDI. Nghiên cứu này sử dụng ít biến số đặc trưng doanh nghiệp và ngành nghề nên có khả năng bỏ sót những biến số quan trọng tác động đến năng suất doanh nghiệp.

Kohpaiboon (2006) nghiên cứu lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp Thái Lan năm 1996. Tác giả chú trọng kiểm định giả thuyết về vai trò của chính sách thương mại đối với hiệu ứng lan tỏa thông qua biến tương tác với FDI. Kết quả cho thấy lan tỏa công nghệ có nhiều khả năng xảy ra với chính sách thúc đẩy xuất khẩu hơn là chính sách thay thế nhập khẩu. Kohpaiboon đề xuất thực hiện tự do hóa đầu tư phải đi đôi với chính sách tự do hóa thương mại nhằm tối đa hóa lợi ích từ lan tỏa công nghệ của FDI. Nghiên cứu này đã mở rộng mô hình khi kiểm định nhân tố ảnh hưởng đến lan tỏa từ FDI. Đây là điểm mới so với các nghiên cứu trước vốn chỉ tập trung vào kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa.

Đối với VN, nghiên cứu về lan tỏa công nghệ từ FDI được thực hiện trong thời gian gần đây và tập trung kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng lan tỏa. Le Thanh Thuy (2005) kiểm định các kênh lan tỏa từ FDI tại VN. Tác giả sử dụng khung phân tích dạng hàm sản xuất Cobb-Douglas. Kết quả ước lượng cho thấy lan tỏa tích cực nhưng chỉ có ý nghĩa thống kê cho giai đoạn 1995-1999. Kết quả này được cho là do áp lực cạnh tranh từ FDI gia tăng trong giai đoạn 2000-2002. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng giúp kiểm soát được khả năng thiên lệch ước lượng so với phương pháp OLS. Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng dữ liệu cấp ngành với cỡ mẫu khá nhỏ có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả.  Sử dụng dữ liệu bảng cho giai đoạn 2005-2010, Truong & cộng sự (2015) kiểm định lan tỏa công nghệ từ FDI đến các doanh nghiệp chế biến, chế tạo VN. Nghiên cứu này cũng vận dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng nhưng có đóng góp mới khi kiểm định tác động của chính sách bảo hộ thương mại và đặc trưng FDI đến hiệu ứng lan tỏa. Kết quả ước lượng cho thấy chính sách hạn chế nhập khẩu làm giảm năng suất và khả năng hấp thu lan tỏa từ FDI của doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, doanh nghiệp 100% vốn FDI tạo ra lan tỏa tiêu cực trong khi doanh nghiệp liên doanh tạo ra lan tỏa tích cực đến năng suất lao động của doanh nghiệp trong nước.

Le và Pomfret (2011) phân tích lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp VN giai đoạn 2000-2006. Kết quả cho thấy liên kết ngược tạo ra lan tỏa tích cực đến năng suất của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, liên kết ngang tạo lan tỏa tiêu cực và điều này được giải thích bởi tác động của áp lực cạnh tranh từ doanh nghiệp FDI. Trong đó, doanh nghiệp 100% vốn FDI và doanh nghiệp FDI hướng đến thị trường trong nước có tác động tiêu cực đến năng suất của doanh nghiệp trong nước. Nghiên cứu này có đóng góp mới khi kiểm định các kênh lan tỏa công nghệ từ FDI với dữ liệu cấp doanh nghiệp. Vai trò đặc trưng của doanh nghiệp đối với tác động lan tỏa cũng đã được nghiên cứ thông qua các biến tương tác nhưng mới chỉ sử dụng nhân tố chất lượng lao động và khoảng cách công nghệ. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Nguyễn Khắc Minh và Nguyễn Việt Hùng (2012) cũng thực hiện kiểm định kênh lan tỏa công nghệ theo chiều dọc và chiều ngang cho 31509 doanh nghiệp chế biến chế tạo của VN, giai đoạn 2000-2005. Kết quả cho thấy FDI có tác động tích cực đến năng suất của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, tác giả không tìm thấy các hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc và chiều ngang. Điều này có thể làm gia tăng vấn đề nội sinh và tạo thiên lệch ước lượng vì FDI có nhiều khả năng tập trung vào những ngành có năng suất lao động cao nên khó ước lượng riêng biệt tác động của FDI đến năng suất của doanh nghiệp trong nước.

Lý do quan trọng nhất tại sao các quốc gia cố gắng thu hút FDI có lẽ là họ kỳ vọng có được công nghệ hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm: sản phẩm, quy trình phân phối, công nghệ, cũng như các kỹ năng quản lý và tiếp thị (Blomstrom và Kokko, 1998). FDI là một gói bao gồm vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý, và được xem là một nguồn quan trọng của cả đầu vào vốn trực tiếp và công nghệ. Balasubramanyam & ctg, (1996) cho rằng các nước đang phát triển có thể hưởng lợi đáng kể từ hoạt động FDI bởi vì nó không chỉ chuyển giao bí quyết sản xuất và năng lực quản lý mà còn tạo ra ngoại tác, hoặc tác động tràn.

Nghiên cứu của Blomstrim & Kokko (1998) đã tóm tắt những phương thức sau đây mà thông qua đó công nghệ lan truyền tới các doanh nghiệp nội địa thông qua hoạt động từ FDI. Hoạt động FDI đóng góp vào hiệu quả hoạt động doanh nghiệp bằng cách phá vỡ các nút thắt bằng cách đưa bí quyết công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực làm việc trong các công ty địa phương, phá vỡ thế độc quyền và kích thích cạnh tranh cũng như việc chuyển giao công nghệ cho các nhà cung cấp địa phương và ép buộc các doanh nghiệp địa phương tăng cường năng lực quản lý của họ. Tuy nhiên, có thể có những tác động ngoại tác tiêu cực từ hoạt động FDI.

Aitken và Harrison (1999) đã lưu ý, sự gia nhập của các công ty nước ngoài theo định hướng thị trường địa phương có thể thu hút nhu cầu từ các công ty địa phương, khiến họ phải cắt giảm sản lượng. Do đó, năng suất của các doanh nghiệp địa phương sẽ giảm khi họ quay ngược trở lại đường cong chi phí bình quân của họ. Kết quả là, năng suất ròng của địa phương có thể giảm xuống.

Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về những hiệu ứng lan tỏa tích cực từ hoạt động FDI, chẳng hạn như Kokko & ctg, (1996) cho lĩnh vực sản xuất của Uruguay; Wei và Liu (2001) đối với Trung Quốc. Trong khi đó, nghiên cứu của Ruane & Ugur (2005) cho thấy bằng chứng yếu về sự lan tỏa tích cực của hoạt động FDI ở Ireland, và bằng chứng này cũng nhạy cảm với định nghĩa và cách đo lường về sự hiện diện của hoạt động FDI. Kết quả nghiên cứu hỗn hợp cũng được báo cáo trong Aitken & Harrison (1999) cho ngành công nghiệp Venezuela và Buckley & ctg, (2002), Hu & Jefferson (2002) và Huang (2004) cho Trung Quốc. Nguyên nhân các nhận định trái chiều, hỗn hợp có thể phát sinh từ các phương pháp ước lượng khác nhau. Như được chỉ ra bởi Gorg & Greenaway (2004), chỉ 22 trong số 40 nghiên cứu được lựa chọn về tác động lan tỏa năng suất theo “chiều ngang” (tính đến năm 2002) cho kết quả tích cực và có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Tuy nhiên, trong số 22 nghiên cứu này, 16 nghiên cứu sử dụng dữ liệu chéo và do đó kết quả của có thể còn nghi ngờ, bởi vì sử dụng thông tin từ dữ liệu bảng cấp doanh nghiệp sẽ cho kết quả ước lượng phù hợp nhất (Gorg và Strobl, 2001; Gorg và Greenaway, 2004). Các nghiên cứu gần đây nhất ở Việt Nam về tác động lan tỏa năng suất từ FDI (ví dụ, Nguyen Khắc Minh & Nguyễn Việt Hùng, 2012; Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh, 2016; Bulent & ctg, 2015) cũng tiếp cận phương pháp dữ liệu bảng ở cấp doanh nghiệp, và phần lớn trong số đó đều chung nhận định có dấu hiệu tích cực.

2.2.4. Lan tỏa công nghệ giữa các vùng, giữa các ngành Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Lan tỏa công nghệ trước hết sẽ tác động đến các doanh nghiệp ở gần sau mới lan dần đến các doanh nghiệp ở xa hơn. Nếu tác động lan tỏa chỉ được tiếp nhận bởi các doanh nghiệp ở gần thì tác động lan tỏa có quy mô “cục bộ”. Nếu lợi ích lan tỏa đến các khu vực ở các khác nước thì tác động lan tỏa có quy mô “quốc gia”. Theo Aitken & ctg, (1999), yếu tố địa lý là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng có liên quan đến kỹ thuật đo lường mức độ ảnh hưởng từ hoạt động FDI ở tất cả các khu vực.

Ngoài sự khác biệt giữa lan tỏa địa phương, quốc gia và yếu tố địa lý, còn có sự khác biệt giữa lan tỏa năng suất nội ngành và liên ngành. Nếu các lợi ích công nghệ được các doanh nghiệp trong cùng ngành nhận được thì gọi đó là sự lan tỏa theo chiều ngang. Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp ở khác ngành nhận được lợi ích về công nghệ thì sự lan tỏa đó gọi là lan tỏa theo chiều dọc. Javorcik (2004) cho rằng, mặc dù mỗi doanh nghiệp đều thực thi chính sách bảo mật thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trước đối thủ cạnh tranh, nhưng không có khả năng ngăn chặn sự phát tán công nghệ đến các ngành nên “lan tỏa theo chiều dọc” thường mạnh hơn “lan tỏa theo chiều ngang”. Do đó, về bản chất thì tác động lan tỏa theo chiều dọc có nhiều khả năng mạnh hơn là lan tỏa theo chiều ngang.

2.2.5. Quyền sở hữu và lan tỏa công nghệ

 Hiệu quả hấp thụ sự lan tỏa công nghệ phần lớn phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp nội địa (Sinani và Meyer, 2004). Ở Việt Nam, có hai nhóm nhà đầu tư nước ngoài chính: các nhà đầu tư đến từ quốc gia ở khu vực Đông Bắc Á và các nhà đầu tư đến từ khu vực ASEAN. Người ta thừa nhận rằng các công ty Đông Bắc Á vượt trội hơn các công ty ASEAN về sản phẩm, đổi mới và phát triển công nghệ (Le & ctg, 2011). Năng suất lao động bình quân và hiệu quả kỹ thuật ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư của khu vực Đông Bắc Á cao hơn so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư ở ASEAN (Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh, 2016). Do đó, cường độ ảnh hưởng đến doanh nghiệp trong nước từ các doanh nghiệp đến từ khu vực Đông Bắc Á lớn hơn so với các doanh nghiệp đến từ ASEAN (Nguyễn Trọng Hoài & Phạm Thế Anh, 2016).

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả trình bày ngắn gọn về ba nguồn tạo ra sự lan tỏa năng suất: R&D, xuất khẩu và sự hiện diện của FDI. Về mặt lý thuyết, tất cả các nguồn ngoại ứng này đều góp phần vào việc cải thiện năng suất ở Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện tại có xu hướng chỉ tập trung vào một trong những nguồn này. Trong nghiên cứu này, trước tiên, tác giả cố gắng nắm bắt sự lan tỏa năng suất từ tất cả các nguồn quan trọng của R&D, xuất khẩu và sự hiện diện của nước ngoài trong cùng một khung phân tích. Với những đặc điểm này, nghiên cứu hiện tại hy vọng sẽ đóng góp quan trọng vào tài liệu thực nghiệm về lan tỏa năng suất.

2.3. Mô hình cơ sở lý thuyết Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

2.3.1. Mô hình ảnh hưởng cố định không gian

Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào xem xét hiệu ứng lan tỏa không gian của năng suất doanh nghiệp (TFP) của ngành chế biến chế tạo ở Việt Nam. Dựa trên mô hình không gian tổng quát (LeSage & Pace, 2009) nghiên cứu chỉ định mô hình SAR (Spatial Autoregressive Model) làm mô hình phân tích thực nghiệm: Yt  WYt tXt It µtut , 1 ut  Mtut  t     

Trong đó, t = 1,…,T – ký hiệu thời gian; Nt – số quan sát trong năm; t – biến phụ thuộc; yt – một ma trận (Nt x 1) của các ước lượng TFP ở cấp doanh nghiệp năm t; Wt và Mt – hai ma trận trọng số không gian cấp (Nt x Nt) được chuẩn hóa với số 0 trên đường chéo chính. Vì số quan sát khác nhau theo thời gian nên Wt và Mt thay đổi theo thời gian; Xt – ma trận cấp (Nt x K) của K hồi quy ngoại sinh; It – véc tơ (Nt x 1) với các thành phần bằng 1; và µt – ma trận cấp (Nt x 1) của tác động riêng bất biến theo thời gian; và ut – sai số ngẫu nhiên có trung bình bằng không; phương sai không đổi.

Bằng cách xếp chồng các phương trình theo các khoảng thời gian ta thu được mô hình với ảnh hưởng cố định:

2.3.2. Mô hình với ảnh hưởng ngẫu nhiên

Với giả định cov (μ, X) = 0, mô hình với ảnh hưởng cố định sẽ được thay thế bởi mô hình không gian với tác động ngẫu nhiên dạng:

Kelejian & Prucha (1998) đề xuất sử dụng quy trình FG2SLS để ước lượng tham số cấu trúc của mô hình (3), ký hiệu làˆR . Quy trình FG2SLS áp dụng cho mô hình không gian với tác động ngẫu nhiên sẽ phù hợp hơn so với áp dụng cho mô hình không gian với ảnh hưởng cố định (Mutl & Pfaffermayr, 2011).

2.3.3. Mô tả dữ liệu và biến số

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các cuộc điều tra toàn diện cấp doanh nghiệp cho ngành chế biến chế tạo trong nước được thực hiện bởi Tổng cục Thống kê (GSO) qua các giai đoạn: 2011–2013, 2014–2016 và 2017–2019. Đối với từng loại hình doanh nghiệp, các biến kế toán và tài chính được sử dụng trong việc ước tính năng suất cấp doanh nghiệp và xây dựng các đại diện (proxy) cho các đặc điểm của doanh nghiệp. Dữ liệu cung cấp cả thông tin địa lý của từng doanh nghiệp và có phạm vi bao phủ gần như khắp Việt Nam nên có thể xem đây là một bộ dữ liệu độc đáo nhất được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thực nghiệm về lĩnh vực sản xuất của Việt Nam.

Đơn vị địa lý cơ bản trong nghiên cứu này là tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, được xác định bởi sách đơn vị hành chính (Tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 46). Sử dụng mã hành chính, vị trí của mỗi doanh nghiệp trong tỉnh/thành phố mà nó hoạt động. Bằng cách này nghiên cứu sẽ có một tệp định dạng cho tất cả các khu vực pháp lý từ cấp huyện (quận) trở lên. Tệp địa lý này cho phép nghiên cứu xây dựng các mối quan hệ về không gian lân cận giữa các khu vực pháp lý theo sự tiếp giáp hoặc theo khoảng cách không gian giữa các trung tâm hành chính. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Dữ liệu về hoạt động chi ngân sách (PUH) của chính quyền cấp quận/huyện trực thuộc các tỉnh/thành phố được trích xuất từ Thống kê tài khóa do Bộ Tài chính tổng hợp. Sau đó, chúng được hợp nhất thành tập dữ liệu chính bằng cách khớp các mã quản trị. Sau bước này, thu được bộ dữ liệu bảng đưa vào phân tích gồm 36.420 doanh nghiệp khác nhau (22 ngành công nghiệp chế biến chế tạo) đóng trên 789 quận/huyện trong nước. Tập dữ liệu cung cấp mức độ bao phủ gần như đầy đủ về các doanh nghiệp công nghiệp có quy mô trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn 2010-2019.

Đề tài lựa chọn ngành công nghiệp chế biến chế tạo trong nước để nghiên cứu hiệu ứng lan tỏa dựa trên các mối quan tâm:

  • Nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo này là công nghệ chuyên sâu hy vọng sự lan tỏa công nghệ sẽ là rõ ràng hơn;
  • Ngành công nghiệp này cung cấp một cỡ mẫu lớn doanh nghiệp đặt tại hầu hết các tỉnh thành;
  • Phạm vi không gian rộng cho phép đề tài tiến hành phân tích không gian mà không đặt nặng việc dữ liệu bị mất;
  • Sự phân bố theo vị trí địa lý của các doanh nghiệp và cụm việc làm thường tập trung vào các khu công nghiệp trực thuộc các tỉnh/thành. Quan sát này cho thấy mối liên kết không gian mạnh mẽ trong việc lựa chọn vị trí địa lý từ các doanh nghiệp nhằm mục đích tăng cường độ khả năng tương tác không gian giữa các doanh nghiệp khi chúng ở gần.

Như đã giải thích ở trên, mỗi doanh nghiệp được xác định vị trí chính xác trong một quận/huyện. Bằng chứng này cho thấy là mỗi doanh nghiệp có hai loại hàng xóm gồm: những doanh nghiệp nằm trong cùng một khu vực tài phán (nội vùng) và những doanh nghiệp nằm trong vùng tài phán lân cận. Do đó, nghiên cứu xây dựng hai loại ma trận trọng số không gian tương ứng với hai loại hàng xóm cho mô hình (SAR) như sau:

Ở đây, các chỉ số i và j biểu thị các công ty, k và k’ biểu thị các tỉnh hành chính và t biểu thị thời gian. Nt (k) là tập tất cả các doanh nghiệp của tỉnh k trong năm t; N(k) là tập tất cả doanh nghiệp của lân cận tỉnh k. y là biến bất kỳ nào đó có trọng số và likt là việc làm của doanh nghiệp i ở tỉnh k ở năm t. Việc xây dựng ma trận trọng số dựa trên tiền đề các doanh nghiệp có quy mô lớn (được đo bởi việc làm) sẽ gây hiệu ứng lan tỏa đến hàng xóm của họ mạnh hơn các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.

Mô hình chỉ định SAR được xem xét với hai loại biến ngoại sinh: biến đặc trưng của doanh nghiệp và biến điều kiện thị trường. Đặc trưng doanh nghiệp được xem là chỉ báo cho khả năng hấp thụ và ảnh hưởng quan trọng đến mức độ lan tỏa công nghệ gồm các nhân tố cố định như: các hoạt động R&D; hoạt động xuất khẩu (EX). Bốn khía cạnh của điều kiện thị trường địa phương gồm: nền kinh tế nội địa hóa hóa (Spec); mật độ lao động công nghiệp (Dsty); chi tiêu công (Puh); mức độ cạnh tranh (HHI). Trong đó, Spec – được đo bằng thương số của ngành công nghiệp chế biến chế tạo/các ngành công nghiệp trong khu vực pháp chế xác định; Dsty – được xác định bằng logarit tự nhiên giữa tổng số lao động công nghiệp trên diện tích của khu vực (Glaeser, Kallal, & Scheinkman,1992); Puh – được xác định bằng logarite tổng ngân sách. Cuối cùng, chỉ số HHI – được xác định theo HerfindahlHirschman (Combes, Magnac, & Robin, 2004):

Bảng 2.3.3 Ký hiệu và thước đo các biến trong mô hình phân tích

Biến hiệu Đo lường Nguồn tham chiếu
Năng suất doanh nghiệp TFP Theo phương pháp bán tham số Levinsohn & Petrin (2003).
Hoạt động nghiên cứu & phát triển R&D Tỷ lệ tài sản vô hình của doanh nghiệp trên tài sản cố định. Feinberg & Majumdar, 2001.
Hoạt động xuất khẩu EX Tỷ lệ xuất khẩu của một doanh nghiệp trên doanh thu của nó Wei & Liu 2003, Bahamni et al, 1991
Mức độ kinh tế địa phương hóa Spec Đo bằng thương số của ngành công nghiệp CBCT/ các ngành công nghiệp trong cùng một khu vực tài phán Glaeser et al., 1992
Mật độ lao động công nghiệp Dsty Được xác định bằng logarit (tổng số lao động công nghiệp/diện tích của khu vực) Glaeser, Kallal, & Scheinkman,1992.
Chỉ số cạnh tranh HHI Được tính dựa theo chỉ số Herfindahl- Hirschman Combes, Magnac, & Robin, 2004.
Chi tiêu công Puh Đo bằng tổng số chi ngân sách trong khu vực tài phán. Himanshu & Dilasha 2019

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước

2.3.4. Mô hình thực nghiệm Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Sử dụng cách tiếp cận của Yu & ctg (2013) với giả định yếu tố thị trường có ảnh hưởng đến các doanh nghiệp ở các khu vực lân cận. Theo đó, các thành phần trễ theo không gian: W2tSpeckt, W2tDstykt, W2t HHIkt và W2tPuhkt của yếu tố thị trường cũng được xem xét đưa vào mô hình nhằm mục đích tìm kiếm thêm các nhân tố quyết định đến hiệu ứng lan tỏa. Mô hình thực nghiệm cuối cùng được viết lại như sau:

Trong quá trình tiến hành thực nghiệm, nghiên cứu chỉ chọn những doanh nghiệp có đồng thời cả hai loại hàng xóm. Sau khi làm sạch và loại bỏ những doanh nghiệp thiếu các thông số cần thiết thì bộ dữ liệu bảng thu về gồm 36.205 quan sát. Các thống kê mô tả được tóm tắt trong Bảng 3.2. Thống kê mô tả cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm các biến đặc trưng doanh nghiệp: R&D, EX, TFP và các trễ không gian của TFP; các biến yếu tố thị trường và các trễ không gian của nó ít thay đổi. Điều này có thể tiên đoán rằng biến đặc trưng doanh nghiệp gây ảnh hưởng mạnh hơn đến năng suất doanh nghiệp nếu so với biến điều kiện thị trường.

Bảng 2.3.4 Mô tả thống kê các biến trong mô hình

Biến Quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Min Max
Tfp 37205 5,721 1,172 -2,292 11,721
W1Tfp 37205 7,381 0,884 -0,30 10,381
W2Tfp 37205 7,494 0,725 2,494 11,194
RD 37205 0,053 0,183 0,000 1000
EX 37205 0,189 0,352 0,000 1000
Spec 37205 1,231 2,090 0,006 12,231
Dsty 37205 2,654 1,454 -0,505 9,654
HHI 37205 0,153 0,173 0,006 0,853
Puh 37205 7,014 1,324 6,013 13,013
W2Spec 37205 1,221 1,621 0,007 12,221
W2Dsty 37205 2,646 1,246 -0,505 7,646
W2HHI 37205 0,145 0,171 0,008 0,745
W2Puh 37205 7,012 1,534 0,000 12,012

Nguồn: Tác giả tính toán từ Stata 17

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày tóm tắt kiến thức cơ bản về lớp mô hình hồi quy không gian cho dữ liệu mảng để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu. Có thể nói mô hình hồi quy không gian là mô hình cho phép khai thác thông tin sâu hơn các thông tin của dữ liêu nghiên cứu mà lớp mô hình hồi quy tuyến thống không thể làm được ở những đặc tính sau:

Thứ nhất, mô hình hồi quy không gian cho thấy mối liên hệ tương tác giữa các biến PT và các biến ĐL trong không gian. Qua đó, cho thấy cơ chế xảy ra tương tác đó.

Thứ hai, có thể tính toán được các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của mỗi biến độc lập đến biến phụ thuộc theo từng khu vực/địa phương. Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp.

Thứ ba, xác định được mức độ ảnh hưởng của các cú sốc ngẫu nhiên tại một khu vực lan tỏa sang khu vực khác trong dữ liệu nghiên cứu. Tác động lan tỏa sẽ giảm dần theo khoảng cách địa lý.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Hiệu ứng lan tỏa công nghệ từ FDI đến doanh nghiệp […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537