Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Tên đề tài: Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Nội dung chính của luận văn: Nghiên cứu tổng hợp khung lý thuyết, các chỉ tiêu đo lường và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên, thông qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm để xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu cho bối cảnh NHTMCP niêm yết Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập từ 24 NHTMCP niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024, thông qua việc xử lý số liệu với phần mềm thống kê STATA 14.0. Số liệu sau khi được xử lý thì tác giả tiến hành thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, kiểm định sự tương quan, kiểm định các mô hình và lựa chọn mô hình phù hợp giữa Pooled OLS, FEM, REM. Sau đó, kiểm định các khuyết tật của mô hình được lựa chọn và sử dụng phương pháp FGLS để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan. Kết quả nghiên cứu cuối cùng cho thấy quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên; nợ xấu có ảnh hưởng ngược chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên. Ngoài ra, tỷ lệ chi phí hoạt động, GDP và đại dịch Covid 19 không ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các giải pháp liên quan đến tăng quy mô ngân hàng, gia tăng vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ nợ xấu, duy trì tỷ lệ thanh khoản để có thể làm nâng cao tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam trong tương lai.

Từ khóa: thu nhập lãi cận biên, quy mô ngân hàng, tính thanh khoản, đòn bẩy tài chính, nợ xấu, GDP.

ABSTRACT Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Thesis title: Factors affecting the rate of profit margin of joint-stock commercial banks listed on Vietnam stock market

The main content of the thesis: The study synthesizes the theoretical framework related to the rate of non-compliance, the measurement criteria and the theoretical factors affecting it. At the same time, through a review of empirical studies to identify research gaps and propose a research model for the context of listed Vietnamese commercial banks. In this study, focusing on using quantitative research methods, the data used in this study is collected from 24 listed commercial banks in Vietnam in the period 2013 – 2024, through data processing with statistical software STATA 14.0. After the data is processed, the author conducts descriptive statistics of the research sample, tests the correlation, tests the models and selects the appropriate model between Pooled OLS, FEM, REM. Then, test the defects of the selected model and use the FGLS method to overcome the phenomenon of variable variance and autocorrelation. The final research results show that bank size, financial leverage, liquidity ratio, and inflation rate have a positive effect on personal income; bad debt has a negative effect on rate of profit margin. In addition, the ratio of operating expenses, GDP and the Covid-19 pandemic do not affect rate of profit margin at Vietnamese commercial banks. From the research results, the author proposes solutions related to increasing the bank’s size, increasing equity, reducing the bad debt ratio, and maintaining the liquidity ratio in order to be able to raise the bank credit ratio at joint stock commercial banks listed in Vietnam in the future.

Keywords: marginal interest income, bank size, liquidity, financial leverage, bad debt, GDP

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Ngân hàng thương mại (NHTM) “hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển” của nền kinh tế hàng hoá, “ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.”

Hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng được coi là hoạt động chính của các NHTM. Các NHTM hoạt động huy động vốn bằng cách nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với chi phí chính cho hoạt động này là lãi huy động, và dùng số tiền trên để đầu tư hoặc cho vay các cá nhân, tổ chức đang thiếu hụt nguồn vốn với doanh thu là lãi cho vay. Sự chênh lệch giữa tổng doanh thu từ lãi và tổng chi phí trả lãi chia cho tổng tài sản sinh lời bình quân được gọi là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net interest margin – NIM), đây là chỉ tiêu tài chính quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM vì nó cho thấy khả năng kiểm soát tài sản sinh lời và khả năng duy trì nguồn vốn có chi phí thấp.

Ngay cả với các nền kinh tế có thị trường tài chính tốt và phát triển mạnh thì vai trò trung gian của ngân hàng trong việc luân chuyển vốn từ người gửi tiền đến người đi vay là không thể thiếu. Đặc biệt là đối với “các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, khi mà thị trường vốn còn chưa phát triển thì các tổ chức ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng” và phát triển kinh tế. Quá trình nhận tiền gửi và cho vay của Ngân hàng tạo ra lãi suất và chi phí sử dụng vốn cho người gửi tiền cũng như người đi vay. Sự chênh lệch lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất tính trên khoản vay tạo ra một chênh lệch biên độ lãi suất của các ngân hàng. Trong đó tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là khái niệm được xác định bằng sự chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi của một ngân hàng chia cho tổng tài sản của ngân hàng đó. “NIM là một trong những thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời của một ngân hàng.” Ngoài ra, NIM là một thước đo quan trọng về hiệu quả hoạt động đối với ngân hàng vì nó thường chiếm tỷ trọng cao từ 30% – 35% trong tổng thu nhập của ngân hàng (San và cộng sự, 2015). Tỷ lệ này càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ này đang có xu hướng giảm theo thống kê của FiinGroup tại báo cáo “Chất lượng Lợi nhuận Doanh nghiệp trong Bối cảnh Covid-19” làm ảnh hưởng lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng, buộc Ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư kéo theo lãi suất cho vay cũng tăng theo, dẫn đến Ngân hàng khó có thể thu hút được khách hàng đi vay, giảm khả năng cạnh tranh,..nếu lãi suất cho vay quá cao.Trong khi đó, cũng có nhiều “yếu tố khác tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên vì vậy, tính đến thời điểm hiện nay việc các tác giả nghiên cứu các yếu tố tác động như thế nào thu nhập nhập lãi cận bên để từ đó đưa ra giải pháp nhằm cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng là nhiệm vụ hết sức quan trọng.” Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Trên “thế giới đã có rất nhiều “nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên, chẳng hạn như nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến TNLCB” của ngân hàng ở Đông Nam Á của Doliente (2007), Kasman (2012), Zhou (2010) Ở Việt Nam, có nghiên cứu của Hoàng Kim Khánh (2017), Nguyễn Kim Thu (2013) đã xác định được các yếu tố tác động đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam” bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu hay dự phòng rủi ro tín dụng hoặc quản lý chi phí. Tuy nhiên, đối với các nghiên cứu này thì dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế, chưa được cập nhập, chưa “phù hợp với tình hình kinh tế thị trường hiện nay, do đó chưa phản ánh hết tác động của các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên trong giai đoạn hiện tại. Từ các vấn đề cấp thiết đó tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu”: “Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” nhằm tìm hiểu và phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên với mong muốn có một số đóng góp giúp các nhà quản trị ngân hàng cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và đưa ra những quyết định hợp lý, hiệu quả trong quá trình quản lý, vận hành hệ thống ngân hàng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu này nhằm xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ TNLCB tại NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2013 – 2024. Từ kết quả nghiên cứu tác giả đề xuất các hàm ý chính sách nhằm cải thiện tỷ lệ TNLCB góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong tương lai.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện “mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn có những mục tiêu cụ thể như sau:”

  • Xác định các yếu tố tác động đến tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.
  • Xác định chiều hướng tác động của các yếu tố đến tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.
  • Đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm cải thiện tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam thời gian tới.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, đề tài nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi sau:

  • Những “yếu tố nào tác động đến tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam?”
  • Chiều hướng tác động của các yếu tố đến tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế” nào?
  • Những hàm ý chính sách nào được đề xuất cho các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam nhằm cải thiện tỷ lệ TNLCB trong thời gian tới?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến tỷ lệ TNLCB của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về không gian: Hiện tại ở Việt Nam đang có 30 ngân hàng niêm yết trên TTCK tuy nhiên tại “nghiên cứu này tác giả chỉ sử dụng số liệu của 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Nguyên nhân là do các ngân hàng này có số liệu niêm yết đầy đủ qua các năm từ 2013 – 2024 và với số lượng NHTMCP này thì đã chiếm trên 80% tổng số tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam” nên đủ tính đại diện cho tổng thể.

Phạm vi về thời gian: Số liệu luận văn này sử dụng là số liệu thứ cấp được thu thập từ BCTC của 24 NHTMCP niêm yết tại TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2024. Nguyên nhân tác giả lựa chọn thời gian từ 2013 – 2024 là vì giai đoạn này các doanh nghiệp tái cấu trúc, giảm đòn bẩy nợ, thị trường chứng khoán và bất động sản sụt giảm sâu đã khiến tín dụng tăng không cao. Mặt khác, trong giai đoạn này thì các quy đinh và chính sách của NHNN về thắt chặt và xử lý các vi phạm liên quan đến hoạt động tín dụng ngày càng phổ biến, do đó các NHTM có những hoạt động đa dạng hóa thu nhập nhiều hơn để mở rộng lợi nhuận. Đến năm 2022 chứng kiến những giai đoạn đầu của dịch bệnh Covid-19 kéo dài đến năm 2023, do đó, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng có nhiều sự ảnh hưởng nhất định. Do đó, tác giả muốn xem xét trong mốc thời gian 11 năm thì NIM của các NHTM Việt Nam bị các yếu tố nào chi phối, ảnh hưởng.

1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Bước đầu tiên, tác giả sẽ tiến hành tổng hợp “khung lý thuyết liên quan đến TNLCB và các yếu tố tác động. Đồng thời kết hợp với các lược khảo các nghiên cứu trước để xác định các khoảng trống nghiên cứu nhằm đề xuất mô hình cùng với giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố tác động đến TNLCB của các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam. Sau đó, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu báo cáo tài chính, sau đó tiến hành xử lý và dựa trên kết quả mô hình hồi quy” đa biến để đánh giá chiều tác động của các yếu tố trong mô hình nghiên cứu đến TNLCB của các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam.

Nghiên “cứu định lượng được tiến hành thông qua xử lý kết quả thu thập các số liệu thứ cập của các NHTM Việt Nam từ 2013 – 2024. Số liệu được thể hiện qua các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM. Sau đó, tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp và có tính vững nhất thông qua kiểm định Hausman. Từ mô hình cuối cùng được lựa chọn sẽ kiểm định các khuyết tật như đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai thay đổi. Nếu có xuất hiện các khuyết tật thì tiến hành thực hiện phương pháp FGLS để khắc phục. Sau đó, dựa trên kết quả khi đã khắc phục để kiểm định giả thuyết thống kê và tiến hành thảo luận kết quả nghiên cứu này.” Từ đó sẽ tiến hành đề xuất các hàm ý chính sách tương ứng theo các yếu tố tác động đến TNLCB của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam.

1.6. Đóng góp của đề tài

Kết quả “nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tác động của các yếu tố nội tại lẫn vĩ mô nền kinh tế đến TNLCB, thông qua số liệu thứ cấp được thu thập từ các NHTMCP niêm yết tại TTCK Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu” sẽ đề xuất những khuyến nghị mang tính khả thi đến các đơn vị tổ chức có liên quan để duy trì tỷ lệ TNLCB tại mức tăng trưởng tốt cùng với sự ổn định trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong tương lai.

1.7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn có kết cấu 5 chương như sau:

  • “Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
  • Chương 2: Cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu liên quan
  • Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
  • Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
  • Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách”

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1. Lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NHTM

2.1.1. Khái niệm và chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

2.1.1.1. Khái niệm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

Hempel và cộng sự (1986) cho rằng TNLCB là rất hữu ích “trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh” thu nhập lãi giữa các ngân hàng. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

TNLCB hay còn gọi là tỷ lệ TNLCB (NIM) được “đo bằng chênh lệch giữa thu thu nhập từ lãi cho vay và chi phí từ lãi tiền gửi trên tổng tài sản (Rose, 1999). Nó thể hiện hiệu quả trong việc điều hành của cấp quản trị trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu” (nguồn thu chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và thu từ phí dịch vụ….) so với mức “tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi…). Theo Rose (1999) thì TNLCB được tính theo kỳ hạn 1 năm, 6 tháng hoặc quý, được đo bằng đơn vị phần trăm. Thu nhập từ lãi là tổng thu nhập từ các khoản cho vay, đầu tư tài chính. Còn chi phí lãi chủ yếu là chi phí phát sinh từ các khoản huy động vốn. Hiệu số của thu nhập từ lãi” và chi phí trả lãi là thu nhập lãi thuần.

Tỷ lệ TNLCB (Net interest margin- NIM) của ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản sinh lời. Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (Golin, 2003).

Tóm lại, tỷ lệ TNLCB chênh lệch giữa thu thu nhập từ lãi cho vay và chi phí từ lãi tiền gửi trên tổng tài sản và biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm.

2.1.1.2. Chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập lãi cận biên

NIM ký hiệu của tỷ lệ TNLCB “là tỷ số rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào” (Golin, 2003)

Thu nhập lãi thuần là khoản chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi. Trong đó, “thu nhập lãi là tổng thu nhập lãi từ các khoản vay, đầu tư tài chính trong kỳ tính toán. Chi phí lãi chủ yếu phát sinh từ các khoản” huy động vốn và vay nợ ngắn hoặc dài hạn.

Tổng tài sản có sinh lời là tổng các khoản mục Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác (không bao gồm dự phòng rủi ro), Cho vay khách hàng (không bao gồm dự phòng rủi ro), Mua nợ (không bao gồm dự phòng rủi ro), Chứng khoán đầu tư (không bao gồm dự phòng giảm giá), phản ánh trên Bảng cân đối kế toán theo quy định của pháp luật về chế độ báo cáo tài chính đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, được tính bình quân các quý trong năm (Phan Thị Thu Hà, 2015).

2.1.2. Ý nghĩa của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Tỷ lệ TNLCB chỉ ra năng lực “của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ,” tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ TNLCB “đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi trả lãi mà ngân hàng có được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn” có chi phí thấp nhất. Sự tăng giảm trong tỷ lệ TNLCB giúp các nhà đầu tư có nhận định tương đối về lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hợp lý. Đối với nhà quản trị ngân hàng, tỷ lệ TNLCB là thước đo trực quan về tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh truyền thống, đánh giá tính hợp lý giữa thu nhập và chi phí phải trả.

Theo đánh giá của S&P thì tỷ lệ TNLCB dưới 3% được xem là thấp, trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao. Thực tế, NIM có xu hướng cao ở các “ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố. NIM tăng cho thấy hiệu quả quản trị tốt tài sản Nợ – Có, trong khi NIM giảm thấp” và bị thu hẹp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại.

Nếu chỉ xét đến vấn đề lợi nhuận thì tỷ lệ TNLCB cao sẽ có lợi cho ngân hàng, vì tỷ lệ lãi tạo ra trên tài sản sinh lời cao, là một dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang quản trị tốt Tài sản có và Tài sản nợ. Mặt khác, NIM cao mang đến sự ổn định nhất định cho hệ thống ngân hàng, khi mà lợi nhuận ngân hàng tăng lên từ lãi cận biên cao và lợi nhuận này được chuyển thành vốn chủ hữu (lợi nhuận giữ lại) của ngân hàng, giúp ngân hàng đứng vững trước những biến động vĩ mô và những cú sốc kinh tế khác (Saunders và Schumacher 2002). Ngược lại, khi tỷ lệ TNLCB thấp, phản ánh hệ thống ngân hàng có tính cạnh tranh một cách tương đối, với mức chi phí trung gian tài chính thấp có thể thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, nó cũng hàm ý rằng ngân hàng không thể cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra. Khi đó, cho dù lợi nhuận chung của ngân hàng cao nhưng hiệu quả sử dụng vốn thật sự của ngân hàng vẫn thấp, vì điều đó chứng tỏ ngân hàng đã phụ thuộc nhiều vào các khoản thu ngoài lại – các khoản thu không ổn định và không phải là chức năng trọng tâm của NHTM. Theo Doliente (2007), nếu tỷ lệ TNLCB rất thấp thì không thể được cho là kết quả tích cực, đặc biệt là trong môi trường kinh tế có sự can thiệp vào những ngân hàng yếu kém về vốn và hoạt động không ổn định đang tồn tại.

Hạn chế của chỉ số tỷ lệ TNLCB chỉ mang tính tương đối khi so sánh lợi nhuận thuần từ lãi so với tổng tài sản có sinh lời. Một tỷ lệ thấp không hẳn do chi phí trả lãi để huy động nguồn vốn của ngân hàng quá cao, mà có thể do ngân hàng chưa cân đối nguồn tài sản có sinh lời của mình, khiến chi phí lãi lấn át thu nhập lãi tạo ra. Đồng thời, đôi khi tỷ lệ này cao không phải do ngân hàng có nguồn thu lãi lớn mà do kết quả từ giảm thiểu chi phí và quản lý hiệu quả tài sản sinh lời. Ngoài ra, tỷ lệ này còn bị ảnh hưởng bởi chiến lược hoạt động của từng ngân hàng trong từng thời kỳ hay tình hình khó khăn chung của nền kinh tế. Vì vậy, việc đánh giá tỷ lệ TNLCB của các ngân hàng cần có sự thận trọng xem xét đa dạng nhiều yếu tố cả vi mô lẫn vĩ mô (Doliente, 2007).

2.1.3. Các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM

Theo Trầm Thị Xuân Hương (2015) thì thu nhập là điều kiện quyết định sự sống còn và phát triển của một ngân hàng, vì vậy nâng cao thu nhập lãi của các ngân hàng “cũng có nghĩa là tăng cường năng lực tài chính, năng lực điều hành để tạo ra tích lũy và có điều kiện mở rộng các hoạt động kinh doanh góp phần củng cố và nâng cao thương hiệu của các NHTM. Tuy nhiên, để NHTM hoạt động có hiệu quả hơn, đòi hỏi phải xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới TNLCB của các NHTM nhằm hạn chế được các hoạt động mang tính chất rủi ro, bảo toàn vốn, nâng cao thu nhập và lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh của NHTM. Các yếu tố này có thể được chia làm” hai nhóm: Nhóm yếu tố từ phía ngân hàng và nhóm yếu tố bên ngoài, tùy theo điều kiện cụ thể của từng ngân hàng mà hai nhóm yếu tố này có những ảnh hưởng khác nhau đến tỷ lệ TNLCB của chính các NHTM.

2.1.3.1. Nhóm yếu tố từ bên ngoài Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

  • Tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người (GDP)

Đối với một nền kinh tế thì ngân hàng có mức độ liên quan mật thiết đến gần như tất cả các ngành nghề hay lĩnh vực đời sống vì vậy mọi sự thay đổi của kinh tế – xã hội đều sẽ tác động ngược trở lại “hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế phát triển, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP cao, ổn định từ đó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển thuận lợi cho ngân hàng, thúc đẩy quả trình sản xuất kinh doanh cũng như hấp thụ vốn và hoàn trả vốn” cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Theo nghiên cứu của Almeida và Divino (2017) thì GDP có mối quan hệ đồng biến với TNLCB. Theo Nasserinia và cộng sự (2016) thì lại cho rằng “đây là mối quan hệ ngược chiều và theo Wahdan và cộng sự (2019) thì lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ của hai yếu tố này.”

  • Tỷ lệ lạm phát

Tại bất cứ nền kinh tế của quốc gia nào trên thế giới thì luôn có tồn tại “lạm phát, lạm phát tăng cao sẽ làm thay đổi mức giá chung trên nền kinh tế, tác động đến sâu sắc đến ngân hàng kể cả các hoạt động huy động vốn cũng như cho vay, nó cũng tác động đến cả doanh thu” hay chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy “trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa lạm phát với lợi nhuận của ngân hàng.” San và cộng sự năm (2015) cho kết quả lạm phát tác động cùng chiều với TNLCB, Khrawish (2013) thì lại kết luận ngược lại lạm phát lại có quan hệ ngược chiều với NIM và Wahdan và cộng sự (2019) thì lại cho rằng không có sự tồn tại mối quan hệ của lạm phát và NIM.

2.1.3.2. Nhóm yếu tố từ phía ngân hàng

Nhóm yếu tố chủ quan được bàn đến chính là các yếu tố bên trong nội bộ của chính các NHTM như các yếu tố về:

  • Quy mô ngân hàng

Trên thế giới có những công trình nghiên cứu liên quan đến “mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và TNLCB. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2006) thì quy mô ngân hàng thể hiện” thông qua cơ cấu tài sản hay nguồn vốn của NHTM trên bảng cân đối kế toán, nó thể hiện sự lớn mạnh trong hoạt động của ngân hàng và thị phần lớn nhỏ của ngân hàng trong hệ thống NHTM trong quốc gia, quy mô ngân hàng nó thể hiện rất nhiều thông qua những tiêu chí như tài sản, cơ cấu nguồn vốn huy động – cho vay, thị trường hoạt động của ngân hàng,… Theo Wahdan và cộng sự (2019) thì không có mối quan hệ giữa hai yếu tố quy mô ngân hàng và TNLCB vì mặc dù quy mô ngân hàng lớn nhưng các hoạt động quản trị không hiệu quả thì cũng không chắc chắn được việc duy trì tỷ lệ này phát triển hay sụt giảm tương ứng. Nhưng theo Petria và cộng sự (2017); San và cộng sự (2015); Vincent và cộng sự (2015); Islam and Nishiyama thì kết quả nghiên cứu lại cho rằng NIM có mối quan hệ với quy mô của ngân hàng, do nếu các ngân hàng tham vọng trong việc gia tăng tài sản để mở rộng quy mô nhưng vận hành kinh doanh lại không tốt hay áp lực chi trả các khoản vay các tổ chức khác lớn thì vẫn sẽ làm cho TNLCB suy giảm.

  • Tỷ lệ đòn bẩy tài chính Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Theo Nguyễn Khắc Minh (2006) thì hoạt động huy động vốn của ngân hàng quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng. Vốn nó đóng vai trò chi phối cũng như “quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM trong đó vốn chủ sở hữu giúp ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh và quyết định quy mô của ngân hàng. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng cho thấy khả năng chịu thiệt hại cũng như khả năng phục hồi của ngân hàng khi đối diện với khủng hoảng.” Theo Islam and Nishiyama (2018) đều sử dụng tỷ số vốn chủ sở hữu/tổng tài sản làm biến độc lập để nghiên cứu về vấn đề TNLCB của ngân hàng vì họ cho rằng “vốn chủ sở hữu càng nhiều thì rủi ro của ngân hàng cũng từ đó được giảm thiểu và tạo được niềm tin của khách hàng.” Hay nói cách khác, đòn bẩy tài chính càng được duy trì với mức tỷ lệ tốt thì tỷ lệ TNLCB cũng càng dễ dàng được tăng trưởng.

  • Hiệu quả quản lý của ngân hàng

Có thể hiểu là hiệu quả quản lý “nguồn nhân lực, hoạch định chiến lược kinh doanh, hiệu quả trong việc quản lý chi phí. Trong giới hạn nghiên cứu của luận văn thì tác giả đề cập đến hiệu quả quản lý chi phí để xem đây là một yếu tố ảnh hưởng đến TNLCB của ngân hàng. Trong quản lý chi phí được đề cấp thì bao gồm cả việc quản lý các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra và xem xét xem các yếu tố này có đem lại lợi nhuận hay hoạt động hiệu quả hay không” (Trần Huy Hoàng, 2012). Mục đích quản lý chi phí để đảm bảo nguồn vốn mà ngân hàng huy động được luôn được sử dụng hiệu quả và đạt được mục đích kinh doanh cao nhất. Mặt khác có thể cho rằng, quản lý chi phí của ngân hàng quyết định sự tồn tại của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể sử dụng nguồn lực tối ưu nhất (Dawood, 2016; Almeida và Divino, 2017), đồng thời quản lý chi phí càng hiệu quả thì TNLCB cũng được nâng cao. Với chiến lược tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM thường nâng cao hiệu quả hoạt động của mình bằng cách giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất lao động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên. Vì vậy, thước đo phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng và năng suất lao động của nhân viên đó là chỉ tiêu sau: Tổng chi phí hoạt động/tổng thu từ hoạt động, đây là một thước đo phản ánh mỗi quan hệ giữa đầu vào và đầu ra hay nói cách khác nó phản ánh khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của ngân hàng. Dựa trên công thức phản ảnh dễ dàng nhận ra nếu tỷ lệ này càng lớn chứng tỏ hoạt động quản lý chi phí của NHTM không tốt dẫn đến lợi nhuận của NHTM sẽ suy giảm và tỷ lệ TNLCB cũng giảm theo.

  • Tỷ lệ nợ xấu

Theo Nguyễn Đăng Dờn (2012) thì NHTM được xem là trung gian tài chính, là cầu nối của người cho vay và đi vay. Nhờ có ngân hàng mà quá trình sản xuất kinh doanh và vận hành trong nền kinh tế được diễn ra một cách liên tục, cũng từ đó mà ta có thể thấy lợi nhuận chủ yếu “của ngân hàng đến từ hoạt động cho vay của nó. Tuy nhiên tại bất cứ NHTM nào thì song song với hoạt động tín dụng chính là rủi ro tín dụng. Chất lượng tín dụng hay chất lượng các khoản cho vay thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu nó tác động trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng.” Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì ngân hàng có nguy cơ đối diện với tổn thất càng cao và lợi nhuận của ngân hàng cũng từ đó mà giảm xuống, chỉ tiêu nợ xấu được đo lường bằng tổng nợ xấu trên tổng số dư cho vay. Nợ xấu là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5(TT 11/2023/TT-NHNN). Vì nợ xấu được định nghĩa là khoản cho vay thuộc nhóm 3,4 và 5 có “khả năng thu hồi dài hoặc không thể thu hồi cả gốc lẫn lãi, nên thu nhập từ lãi của ngân hàng sẽ giảm khi ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao. Hay nói cách khác tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ nghịch biến” với NIM (Were và Wambua, 2016).

  • Tính thanh khoản

Theo Trần Huy Hoàng (2012) thì “tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu khách hàng rút các khoản tiền gửi hay giải ngân các khoản vay tín dụng mà ngân hàng đã cam kết. Tính thanh khoản đáp ứng được nghĩa vụ như nhu cầu chi trả tiền gửi, cho vay hay thanh toán các giao dịch. Rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra nếu tính thanh khoản không được đáp ứng có nghĩa là ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của mình. Nếu tình trạng này xảy ra thì các hoạt động kinh doanh của ngân hàng bị đình trệ, nặng hơn sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán hay phá sản. Do đó, các NHTM luôn muốn duy trì tính thanh khoản tối ưu, tuy nhiên khi muốn gia tăng tính thanh khoản thì buộc các NHTM phải giảm cho vay, huy động vốn với mức phí cao. Vì vậy mà TNLCB sẽ giảm.

2.2. Lược khảo các nghiên cứu liên quan Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

2.2.1. Các nghiên cứu nước ngoài

San và cộng sự (2015) trong nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các NHTM ở Malaysia giai đoạn 2005 – 2011”, nhóm tác giả đã phân tích các đặc điểm đặc thù của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế tác động đến hoạt động tài chính của ngân hàng cũng như HQKD của ngân hàng. Nhóm tác giả đã sử dụng ba chỉ tiêu đo lường lợi nhuận của ngân hàng đó là ROA, ROE, NIM cùng với các biến độc lập để tạo ra mô hình nghiên cứu. Trong ba biến giải thích trên thì NIM được xem là phù hợp nhất để lý giải về “khả năng sinh lời của ngân hàng và trong đó tỷ lệ vốn chủ sở hữu/trên tổng tài sản, tính thanh khoản, quy mô ngân hàng có tương quan đồng biến với lợi nhuận. Ngược lại thì tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập lại có mối quan hệ nghịch biến với lợi nhuận”, đồng thời các biến số thuộc yếu tố “kinh tế vĩ mô như lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP không có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng.”

Were và Wambua (2016) trong “nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thu nhập của các NHTMCP tại Kenya, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp dạng bảng của các ngân hàng giai đoạn 2004-2012. Tác giả cũng đã tiến hành đánh giá tình hình” biến động lãi suất, thị trường cổ phiếu của ngành ngân hàng trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2012 để nhận định về tình hình kinh tế của quốc gia này có những biến động hay thay đổi như thế nào. Cùng với “phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với các mô hình FEM, REM và GMM để chỉ ra rằng các yếu tố đặc thù ngành như tỷ lệ nợ xấu, chi phí hoạt động;” ngược lại, quy mô ngân hàng, khả năng thanh khoản cao thì có tương quan âm với NIM.

Rahman và cộng sự (2017) trong nghiên cứu về các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng tại Bangladesh, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu của 25 NHTM tại quốc gia này trong giai đoạn 2008 – 2015, “sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, thông qua mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất “(Pooled OLS), FEM và REM, phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát

(GLS)”. Các chỉ tiêu đo lường lợi nhuận mà nhóm tác giả sử dụng là NIM, ROA, ROE. Trong đó NIM bị tác động bởi các yếu tố đòn bẩy tài chính,” tốc độ cho vay, quy mô ngân hàng, thu nhập ngoài lãi, rủi ro tín dụng, “tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến NIM. Ngược lại, hiệu quả chi phí và các yếu tố ngoại bảng có tác động tiêu cực đến NIM.”

Islam và Nishiyama (2018) xem xét “các yếu tố quyết định tỷ suất lợi nhuận ròng của ngân hàng thông qua việc nghiên cứu các yếu tố quyết định tỷ suất lợi nhuận ròng của các ngân hàng (NIM) tại 04 quốc gia Nam Á (Băng-la-đét, Ấn Độ, Nê-pan và Pa-ki-xtan). Nghiên cứu” này sử dụng dữ liệu bảng của 230 ngân hàng với phương pháp nghiên cứu là “mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) trong giai đoạn năm 1997-2014. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, dự trữ bắt buộc và hiệu quả chi phí tác động tích cực đến tỷ suất lợi nhuận ròng. Ngược lại, quy mô ngân hàng tương đối, mức độ tập trung của thị trường” và tăng trưởng kinh tế tác động ngược chiều với tỷ suất lợi nhuận ròng.

Birchwood và cộng sự (2019) đã nghiên cứu “lãi suất biên và quy định ngân hàng tại Trung Mỹ và Ca-ri-bê. Tác giả sử dụng dữ liệu trên báo cáo tài chính của 134 NHTM từ 17 quốc gia ở Trung Mỹ và Ca-ri-bê trong giai đoạn 1998 2016”. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng và sử dụng phân tích hồi quy GMM. Kết quả “nghiên cứu chỉ ra rằng, sức mạnh thị trường ngân hàng, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng và thanh khoản tác động cùng chiều với” lợi nhuận ngân hàng.

Homaidi và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về sự tác động của các yếu tố đến thu nhập của ngân hàng tương mại tại Ấn Độ, nhóm tác “tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 60 NHTM tại quốc gia này trong giai đoạn 2010 – 2019. Cùng với phương pháp nghiên cứu” định lượng, nhóm tác giả sử dụng mô hình Pooled OLS, FEM, REM và GMM để kết luận “kết quả nghiên cứu. Trong đó, nhóm tác giả sử dụng NIM để đo lường cho lợi nhuận của các ngân hàng tại Ấn Độ. Các yếu tố vĩ mô bao gồm GDP và tỷ lệ lạm phát có tác động tiêu cực đến NIM, ngược lại, các yếu tố quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản đảm bảo, số chi nhánh ngân hàng, tỷ lệ đòn bẩy tài chính có tác động” tích cực đến NIM. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Al-Homaidi và cộng sự (2022) nghiên cứu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng tới HQHĐ kinh doanh của 37 NHTM được niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay Exchange (BSE), Ấn Độ từ 2010 đến 2019. Kết quả cho thấy “quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, tính thanh khoản, quản lý tài sản và biên lãi ròng là những yếu tố bên trong quan trọng ảnh hưởng đến NIM. Mức an toàn vốn, tiền gửi, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm trong nước và tỷ lệ lạm phát được cho là có ảnh hưởng ngược chiều đến ROA.” Hơn nữa, kết quả chỉ ra rằng mức độ an toàn vốn, quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm quốc nội và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến NIM. Tuy nhiên, chất lượng tài sản và chiến lược quản trị tài sản thể hiện tác động tích cực đến ROE nhưng tính thanh khoản, tiền gửi, biên lãi ròng và thu nhập ngoài lãi có tác động không đáng kể đến NIM.

Nhìn chung các nghiên cứu nước ngoài được lược khảo thì các nhóm tác giả vẫn tập trung vào các nhóm nhân tố nội tại và vĩ mô như quy mô ngân hàng, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô cho vay, quy mô tiền gửi,..và tốc độ tăng trưởng kinh tế hay lạm phát. Trong đó, vẫn tồn tại những kết luận ngược nhau về mối quan hệ tác động của các nhân tố đến NIM, tuy nhiên các nhóm tác giả vẫn có những lý giải phù hợp cho hoàn cảnh kinh tế và hệ thống NHTM tại phạm vi mình nghiên cứu. Mặt khác, tác giả nhận thấy đa phần các nghiên cứu vẫn chủ yếu thu thập dữ liệu trước năm 2022 và 2023 khi đó chưa xảy ra đại dịch Covid 19 nên vẫn để lại một khoảng trống nghiên cứu về phạm vi thời gian.

2.2.2. Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh (2016) nghiên cứu về các yếu tố tác động đến thu nhập lãi thuần của các NHTM thì nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Số liệu thứ cấp được thu thập của 5 ngân hàng có vốn sở hữu nhà nước và 28 NHTMTMCP của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2013. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng “mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng có quan hệ đồng biến với NIM, ngược lại, chất lượng quản lý có quan hệ tỉ lệ nghịch với NIM, trong khi đó, các tác giả không tìm thấy sự khác biệt” trong NIM giữa NHTM vốn Nhà nước và NHTM cổ phần.

Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2017) “nghiên cứu các yếu tố tác động đến TNLCB của các NHTMCP tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 27 NHTMCP trong giai đoạn 2010-2015,” bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM và REM, “phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố tác động cùng chiều với TNLCB gồm: Rủi ro tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, quy mô ngân hàng, đồng thời các yếu tố như: Tăng trưởng GDP, hiệu quả quản lý có tác động” ngược chiều với TNLCB.

Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2018) “đã nghiên cứu thu nhập ngoài lãi và hiệu quả tài chính của các NHTM. Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu của 33” NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2008-2015 với việc sử dụng mô hình Pooled, FEM, REM. Nhóm tác giả đã đó lượng hiệu quả tài chính với các biến số ROA, ROE và NIM. Kết quả nghiên cứu cho thấy thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ thu nhập lãi “trên tổng tài sản, biến giả tăng trưởng tài sản, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều với hiệu quả tài chính. Bên cạnh đó, logarit tự nhiên tổng tài sản, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản,” tốc độ tăng trưởng GDP (GDP) có tác động ngược chiều với hiệu quả tài chính.

Đặng Thị Minh Nguyệt và cộng sự (2023) tìm kiếm “các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có vốn Nhà nước chi phối với bộ dữ liệu từ năm” 2007 đến năm 2022. Nghiên cứu sử dụng “mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM). Kết quả cho thấy, mô hình FEM là phù hợp nhất với nghiên cứu các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh với biến phụ thuộc NIM, mô hình REM là phù hợp nhất với nghiên cứu các yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động kinh doanh với biến phụ thuộc NIM. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra quy mô” ngân hàng (BASZ) tác động ngược chiều lên NIM; năng suất lao động (PROD) tác động cùng chiều lên NIM. Kết quả cũng chỉ ra chỉ tiêu huy động vốn trên tổng vốn chủ sở hữu của ngân hàng tác động ngược chiều đến NIM của các NHTM có vốn Nhà nước chi phối trong thời gian qua; tỷ lệ nợ xấu tác động ngược chiều đến NIM; tỷ lệ lạm phát không tác động tới lợi nhuận ròng trên tổng tài sản, lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu của nhóm ngân hàng này trong thời gian qua.

Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2024) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM giai đoạn 2019 – 2022. Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở “dữ liệu báo cáo tài chính được kiểm toán công bố trên website của 24 NHTM niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2019 – 2022, sử dụng mô hình hồi quy OLS với biến phụ thuộc là NIM – đại diện cho hiệu quả hoạt động và các biến phụ thuộc được chia thành yếu tố bên trong và bên ngoài.” Kết quả cho thấy, quy mô tài sản, thanh khoản không tốt hay rủi ro thanh khoản cao thì NIM cao tác động thuận chiều với NIM, đồng thời tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và sở hữu ngân hàng tác động nghịch chiều với NIM.

Tương đồng với các nghiên cứu nước ngoài thì các nghiên cứu trong nước vẫn tập trung vào các nhân tố thuộc ngân hàng và vĩ mô nền kinh tế. Trong đó, vẫn tồn tại những kết luận ngược nhau về mối quan hệ tác động của các nhân tố đến NIM, tuy nhiên các nhóm tác giả vẫn có những lý giải phù hợp cho hoàn cảnh kinh tế và hệ thống NHTM tại phạm vi mình nghiên cứu. Mặt khác, tác giả nhận thấy đa phần các nghiên cứu vẫn chủ yếu thu thập dữ liệu trước năm 2022 và 2023 khi đó chưa xảy ra đại dịch Covid 19 nên vẫn để lại một khoảng trống nghiên cứu về phạm vi thời gian mặc dù tại Việt Nam thì vào thời điểm này kinh tế phải đóng cửa để ưu tiên chống dịch, nên sẽ ảnh hưởng lớn để hệ thống kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng.

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Tác giả/Năm Vấn đề nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Kết quả nghiên cứu giữa NIM và các yếu tố
Nguyễn “Kim Thu và Đỗ Thị Thanh” (2016) Nghiên “cứu các yếu tố tác động đến TNLCB của các NHTMCP tại Việt Nam.” Phương “pháp nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy” đa biến Pooled OLS Mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng tương quan dương (+) với NIM. Chất lượng quản lý có quan tương quan âm (-) với NIM
Nguyễn “Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương” (2017) Nghiên cứu các yếu tố tác động đến TNLCB của các NHTMCP tại Việt Nam Phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM, REM, phương pháp bình phương nhỏ

nhất tổng quát (GLS)

Tương quan dương (+) với “rủi ro tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, quy mô ngân hàng. Tăng trưởng GDP, hiệu quả quản lý tương quan âm (-) với NIM”
Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2018) Thu nhập ngoài lãi và hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2015 “Phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM, REM” Thu “nhập ngoài lãi, tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng tài sản, biến giả tăng trưởng tài sản, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ cho vay trên tổng” tài sản tương quan dương (+) với NIM. logarit tự nhiên tổng tài sản, “tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng GDP tương quan âm (- ) với NIM.”
Đặng Thị Minh Nguyệt và cộng sự (2023) Các “yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có vốn Nhà nước” chi phối với bộ dữ liệu từ năm 2007 đến năm 2022 “Phương pháp nghiên cứu định lượng với mô hình bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM, REM” Năng suất lao động tương quan dương (+) với NIM. “Quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ xấu tương quan âm (-) với NIM.” Tỷ lệ lạm phá không ảnh hưởng đến NIM.
Nguyễn Thị Thanh Bình và cộng sự (2024) Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM giai đoạn 2019-2022 “Phương pháp nghiên cứu định lượng” với mô hình bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS) Quy mô tài sản và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi tương quan dương (+) với NIM. Tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và sở hữu ngân hàng tương quan âm (-) với NIM.
San và cộng sự (2015) Nghiên cứu sử dụng hai chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM tại Malaysia giai đoạn 2005 – 20029. “Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình” hồi quy Pooled OLS, FEM, REM Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng tương quan dương (+) với NIM. Tỷ lệ trích lập dự phòng; rủi ro tín dụng, tỷ lệ chi phí trên tổng thu nhập, tính thanh khoản, tương quan âm (-) với NIM. Các biến số thuộc yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát , tốc độ tăng trưởng GDP không có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng.
Were và Wambua (2016) Các “yếu tố tác động đến thu nhập của các NHTMCP tại Kenya trong giai” đoạn 2004 – 2012 Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với các mô hình FEM, REM và GMM Tỷ lệ nợ xấu, chi phí hoạt động tương quan dương (+); ngược lại, quy mô ngân hàng, khả năng thanh khoản cao thì có tương quan âm (-) với NIM
Rahman và cộng sự (2017) Nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng tại Bangladesh trong giai đoạn 2008 – 2015 “Nghiên cứu định lượng, thông qua mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM và REM, phương pháp bình phương” nhỏ nhất tổng quát (GLS) Đòn bẩy tài chính, “tốc độ cho vay, quy mô ngân hàng, thu nhập ngoài lãi, rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực (+) đến NIM. Ngược lại, hiệu quả chi phí và các yếu tố ngoại bảng có tác động” tiêu cực (-) đến NIM
Islam và Nishiyama (2018) Nghiên cứu các yếu tố quyết định tỷ suất lợi nhuận ròng của các ngân hàng (NIM) tại 04 quốc gia Nam Á (Băng-la-đét, Ấn Độ, Nê-pan và Pa-kixtan) trong giai đoạn năm 1997-2014 “Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy tác động cố định (FEM)” NIM tương quan dương (+) với tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, dự trữ bắt buộc và hiệu quả chi phí. Tương quan âm () với “quy mô ngân hàng tương đối, mức độ tập trung của thị trường và tăng trưởng kinh tế.”
Birchwood và cộng sự (2019) Nghiên “cứu lãi suất biên và quy định ngân hàng tại Trung Mỹ và Ca-ri-bê trong giai đoạn 1998 – 2016” “Nghiên cứu định lượng và sử dụng phân tích hồi quy GMM” NIM tương quan dương (+) với sức mạnh thị trường ngân hàng, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng và thanh khoản.
Homaidi và cộng sự (2020) Nghiên cứu về sự “tác động của các yếu tố đến thu nhập của ngân hàng” thương mại tại Ấn Độ trong giai đoạn 2010 – 2019. Nghiên cứu định lượng “thông qua mô hình hồi quy mô hình Pooled OLS, FEM, REM và GMM” NIM tương quan dương (+) với “quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản đảm bảo, số chi nhánh ngân hàng”, “tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tương quan âm (-) với yếu tố vĩ mô bao gồm GDP và tỷ lệ lạm phát.”
Al- Homaidi và cộng sự (2022) Yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng tới HQHĐ kinh doanh của 37 NHTM được niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay Exchange (BSE), khoảng thời gian từ 2010 đến 2019 “Nghiên cứu định lượng thông qua mô hình hồi quy mô hình” Pooled OLS, FEM, REM và GMM Mức độ an toàn vốn, quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm quốc nội “và tỷ lệ lạm phát tương quan dương (+) với NIM. Mức an toàn vốn, tiền gửi, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm trong nước và tỷ lệ lạm phát tương quan âm (-) với NIM.”

Nguồn: Tổng hợp từ các nghiên cứu trước

2.2.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

Sau quá trình tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến tỷ lệ TNLCB và tiến hành lược khảo các “nghiên cứu trong nước và nước ngoài thì tác giả nhận thấy đa phần các nhóm tác giả đều tập trung phân tích các nhóm nhân tố nội tại và vĩ mô như quy mô ngân hàng, tỷ lệ thanh khoản, đòn bẩy tài chính”, tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô cho vay, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tới NIM. Điều này tương đồng với các nhân tố ảnh hưởng được tổng hợp bởi Trầm Thị Xuân Hương (2015). Trong đó, đa số các tác giả đã lập luận rằng quy mô ngân hàng giúp các NHTM thể hiện năng lực tài chính, mở rộng thị phần nhằm thu hút thêm được nhiều khách hàng, nhưng cũng có một vài nghiên cứu cho rằng mở rộng quy mô sẽ làm cho NHTM tốn thêm nhiều chi phí và sử dụng nợ vay nhiều hơn để sắm sửa TSCĐ thì buộc phải đối diện với áp lực lãi vay. Tỷ lệ thanh khoản giúp các NHTM đối mặt với những tình huống rủi ro tài chính và giảm bớt được áp lực thanh toán các khoản tiền gửi tiết kiệm đến hạn. Đồng thời đối với đòn bẩy tài chính thì đa số các tác giả lập luận việc huy động được VCSH nhiều sẽ giúp các NHTM giảm được các khoản nợ vay và áp lực chi trả lãi sẽ tạo điều kiện cho gia tăng lợi nhuận. Mặt khác, tỷ lệ chi phí hoạt động cũng kéo lợi nhuận giảm xuống nếu các NHTM không có chiến lược quản trị tốt. Song song với việc suy giảm lợi nhuận đó chính là sự góp mặt của tỷ lệ nợ xấu hoặc dự phòng rủi ro tín dụng. Cuối cùng đó là sự thúc đẩy lợi nhuận trong môi trường kinh tế có GDP tăng trưởng và kìm hãm được lạm phát.

Tuy nhiên, ngoài những vấn đề “các nghiên cứu đã tập trung phân tích thì tác giả luận văn nhận thấy qua lược khảo các nghiên cứu trước thì đa số các nghiên cứu là đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến NIM với số liệu được thu trong giai đoạn” trước năm 2022 nên khoảng trống nghiên cứu về phạm vi thời gian chưa dẫn đến thời điểm Covid 19 được tạo ra. Trong khi đó vào khoảng năm 2022-2023 thì đại dịch Covid xảy ra trên “toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh doanh của các ngành nghề thuộc mọi lĩnh vực nói chung và các NHTM nói riêng. Nhằm nghiên cứu liệu dịch covid có thực sự ảnh hưởng đến NIM thì tác giả đã lựa chọn nghiên cứu” thời gian từ 2013-2024 và đưa biến giả COVID vào mô hình nghiên cứu.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Trong chương 2 tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về TNLCB được đo lường bởi hai chỉ số NIM (tỷ lệ TNLCB) “và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TNLCB gồm: Quy mô của ngân hàng, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát. Tác giả cũng đã khảo lược các nghiên cứu trước có liên quan” và xác định khoảng trống nghiên cứu đó là đại dịch Covid 19. Đây là cơ sở cho việc đề xuất các nhân tố đưa vào mô hình nghiên cứu và làm cơ sở cho các chương tiếp theo. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NH […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537