Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời (TSSL) của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam.
Tóm tắt: Luận văn này tổng hợp lý thuyết liên quan đến TSSL của các NHTM và các yếu tố lý thuyết ảnh hưởng. Đồng thời, luận văn đã tiến hành lược khảo các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTM. Từ đó, xác định khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình cùng giả thuyết nghiên cứu gắn cho bối cảnh của các NHTM Việt Nam, với biến phụ thuộc đại diện cho TSSL là ROA, ROE. Sau đó, tác giả đã thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 NHTMCP niên yết trên TTCK đại diện cho tổng số là 31 NHTM Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2022 và phân tích thông qua phần mềm thống kê STATA 14.0. Bước đầu phân tích, tác giả tiến hành đánh giá tình hình chung TSSL của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam từ 2011 đến năm 2022. Tiếp đó, tác giả phân tích sự tương quan của các biến độc lập với nhau và xác định không xảy ra hiện tự đa cộng tuyến. Luận văn cũng đã đưa ra kết quả của các mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và thông qua kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình FEM làm mô hình phù hợp để tiến hành kiểm định các hiện tượng khuyết tật và khắc phục. Cuối cùng, kết quả nghiên cứu cho thấy các biến số quy mô ngân hàng, đòn bẩy tài chính, hiệu quả quản lý, tỷ lệ thanh khoản, đa dạng hóa thu nhập và tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng cùng chiều đến TSSL, ngược lại, tỷ lệ dự phòng RR tín dụng ảnh hưởng ngược chiều với TSSL. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị cho các NHTM theo sự ảnh hưởng của các biến số trong mô hình nghiên cứu. Đồng thời, chỉ ra hạn chế nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Từ khóa: Tỷ suất sinh lời, quy mô, đòn bẩy tài chính, thanh khoản, GDP, lạm phát.
ABSTRACT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Thesis title: Factors affecting profitability of Vietnamese commercial banks.
Abstract: This thesis has synthesized the theory related to profitability ratio of commercial banks and the theoretical factors affecting. At the same time, the author has conducted a review of domestic and foreign empirical studies on the factors affecting the profitability of commercial banks. From there, identify research gaps and propose models and research hypotheses associated with the context of Vietnamese commercial banks, with the dependent variable representing return as ROA, ROE. Then, the author collected secondary data of 24 joint stock commercial banks listed on the stock market representing a total of 31 Vietnamese commercial banks from 2011 to 2022 and analyzed through statistical software STATA 14.0. Initially, the author analyzed the thesis to assess the general situation of the profitability of listed joint stock commercial banks in Vietnam in the period 2011 – 2022. Next, the author analyzed the correlation of the independent variables with each other and determined It is determined that self-multicollinearity does not occur. Next, the thesis also presented the results of the Pooled OLS, FEM, REM regression models and passed the Hausman test to select the FEM model as a suitable model to conduct the testing of defect phenomena. and fix. Finally, the research results show that the variables of bank size, financial leverage, management efficiency, liquidity ratio, income diversification and inflation rate positively affect profitability, and vice versa. On the other hand, the credit risk provision ratio has a negative effect on profitability. From the research results, the author has proposed recommendations for commercial banks according to the influences of the variables in the research model. At the same time, comment on research limitations and future research directions.
Keywords: Profitability ratio, scale, financial leverage, liquidity, GDP, inflation.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Trong chương này sẽ tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài, các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Đồng thời, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, từ đó định ra phương pháp nghiên cứu để giải quyết vấn đề. Cuối cùng, chương này cũng trình bày đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn của đề tài.
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) được xem là trung gian tài chính cho nền kinh tế, tổ chức này đóng vai trò là trung gian thanh toán cho các đối tượng trong nền kinh tế, luân chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi đến các chủ thể thiếu vốn. Đồng thời, các NHTM đóng góp vai trò quan trọng với vai trò là đòn bẩy của nền kinh tế và làm tăng trưởng tốc độ phát triển kinh tế. Do đó, những năm gần đây, hệ thống NHTM không ngừng nỗ lực để gia tăng quy mô, mạng lưới giao dịch, các sản phẩm dịch vụ cùng như công nghệ nhằm phục vụ đa dạng các đối tượng khách hàng trong nền kinh tế. Chính vì thế nên các NHTM ngày càng cạnh tranh với nhau và chạy đua để tìm kiếm được LN, hay nói cách khác, để tìm kiếm được LN nhiều hơn thì các ngân hàng phải mở rộng quy mô, sử dụng các chiến lược đòn bẩy tài chính, đảm bảo an toàn vốn, chất lượng tín dụng hay những sự cải cách về công nghệ, tiết kiệm chi phí,… Nhìn chung, các NHTM có năng lực tài chính yếu kém và không cạnh tranh được sẽ bị đào thải và thay vào đó là sự nổi bật của các NHTM lớn mạnh, kết quả này được đánh giá thông qua tình hình LN kinh doanh của NHTM hay chính là TSSL của NHTM. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Sau 15 năm, từ năm 2007, hệ thống NHTM Việt Nam có những thay đổi rất sâu sắc. Năm 2008, các NHTM tiến hành cuộc đua lãi suất huy động, có những thời điểm lãi suất lên đến 21% và đến năm 2011 thì sự cạnh tranh của các NHTM càng trở nên gay gắt và tiềm ẩn nhiều RR hơn. Nhưng vì nguồn vốn kinh doanh cần được bổ sung liên tục các NHTM vẫn tiếp tục huy động với lãi suất cao lên đến 22%. Để bù đắp được các chi phí đó thì các NHTM tiến hành cho vay với lãi suất lên đến 25%. Do đó, đến cuối năm 2018 và 2019 thì nợ xấu gia tăng đột biến, RR thanh khoản xuất hiện và đe dọa đến hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trước tình hình đó, Chính phủ ra quyết định 254/QĐ – TTg ngày 01/03/2019 về phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD trong giai đoạn 2020 – 2025. Điều này cho thấy, việc đánh giá và nâng cao TSSL của các NHTM hiện nay rất cần thiết nó xuất phát từ hai nguyên nhân đó là, thứ nhất để cung cấp về bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTM Việt Nam, từ đó phân loại đâu là các yếu tố thuộc nội tại ngân hàng, đâu là yếu tố thuộc vĩ mô nền kinh tế nhằm giúp lãnh đạo NHTM có cái nhìn đúng đắn và ứng phó với thay đổi của các yếu tố đó. Mặt khác, khi nắm bắt được xu hướng ảnh hưởng của các yếu tố thì các NHTM cũng có nhưng chiến lược khoa học trong việc định hướng sự sát nhập, ngoài ra, giúp các NHTM phát hiện được những RR tiềm tàng.
Tiếp theo, là việc nâng cao được TSSL của ngân hàng chính là củng cố sức khỏe của ngân hàng hay năng lực tài chính của tổ chức. Vì khi TSSL của NHTM ổn định thì hệ thống trung gian thanh toán cũng như cầu nối của nền kinh tế vũng chắc và hạn chế được những RR vỡ nợ kéo theo của các đối tượng trong nền kinh tế. Qua đây có thể thấy, TSSL là chỉ tiêu phản ánh sự hoạt động bền vững của các NHTM, gia tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ và củng cố được niềm tin với các bên liên quan. Trên “thế giới đã có rất nhiều “nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên, chẳng hạn như nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL” của ngân hàng ở Đông Nam Á của Doliente (2005), Kasman (2010), Zhou (2008)… Ở Việt Nam, có nghiên cứu của Hoàng Kim Khánh (2015), Nguyễn Kim Thu (2011) đã xác định được các yếu tố tác động đến TSSL của các NHTM Việt Nam” bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu hay dự phòng rủi ro tín dụng hoặc quản lý chi phí. Tuy nhiên, đối với các nghiên cứu này thì dữ liệu nghiên cứu còn hạn chế, chưa được cập nhập, chưa “phù hợp với tình hình kinh tế thị trường hiện nay, do đó chưa phản ánh hết tác động của các yếu tố đến TSSL trong giai đoạn hiện tại. Do đó, để tìm hiểu sâu về vấn đề này tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Sau khi nghiên cứu thì dựa trên kết quả thực nghiệm để đề xuất một số kiến nghị mang tính khả thi cho các NHTM để nâng cao được TSSL trong thời gian tiếp theo.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu này nhằm xác định và đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố đến TSSL của NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý cho NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam nhằm cải thiện và nâng cao TSSL trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu tổng quát được cụ thể hoá thành các mục tiêu như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng các yếu tố đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Từ đó, đề xuất một số hàm ý cho các NHTM niêm yết trên TTCK Việt Nam nhằm cải thiện và nâng cao TSSL trong tương lai. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thì tác giả cần trả lời được các câu hỏi nghiên cứu tương ứng như sau:
- Thứ nhất, các yếu tố nào ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng các yếu tố đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam như thế nào?
1.4. Đối tượng vào phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận văn lấy số liệu nghiên cứu của 24 NHTMCP niêm yết với việc phân tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL. Tác giả lựa chọn số ngân hàng này là vì có các ngân hàng vừa lên sàn niêm yết trong thời gian gần đây nên số liệu từ 2011 – 2015 không đầy đủ sẽ tạo sự bất cân xứng với sữ liệu bảng. Nên tác giả lựa chọn các ngân hàng có số liệu hoàn chỉnh và cập nhật từ 2011 – 2022.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Luận văn lấy số liệu từ năm 2011 đến năm 2022.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp định lượng được tác giả tiến hành bằng việc xử lý các số liệu thứ cấp thu thập dược từ 24 NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam thông qua phần mềm STATA 14.0 để cho ra kết quả. Kết quả này được trình bày qua việc thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, xét tính tương quan của các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu. Kết quả các mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS, mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM). Từ đó, kiểm định sự phù hợp của mô hình thông qua xét tính vững, từ mô hình được lựa chọn kiểm định các khuyết tật của mô hình. Nếu có xuất hiện các khuyết tật thì thông qua phương pháp FGLS để khắc phục và đưa ra kết quả cuối cùng nhằm kiểm định giả thuyết nghiên cứu cũng như thảo luận. Cuối cùng dựa trên kết quả thực nghiệm đó để đề xuất các hàm ý chính sách cho các NHTMCP niêm yết Việt Nam để gia tăng TSSL.
1.6. Đóng góp của đề tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Về mặt lý luận: Nghiên cứu này tổng hợp lý thuyết liên quan đến TSSL và các nhân tố ảnh hưởng. Đồng thời thông qua các lược khảo nghiên cứu để xác định các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất cho bối cảnh các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2022. Kết quả nghiên cứu này có thể làm cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo khi muốn mở rộng phạm vi nghiên cứu hay có giá trị tham khảo.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu sẽ cung cấp thêm sự kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Kết quả nghiên cứu rất hữu ích hướng đến các đối tượng như các NHTMCP, các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách nhằm hoàn thành được mục tiêu duy trì sự ổn định TSSL của các NHTM trong tương lai để tạo đòn bẩy cho ngành nghề kinh tế liên quan khác trong thị trường.
1.7. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương này sẽ trình bày lý do chọn đề tài, từ đó xác định mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Đồng thời, để hoàn thành được mục tiêu nghiên cứu thì chương này sẽ lựa chọn đối tượng và phạm vi nghiên cứu cùng với phương pháp nghiên cứu. Cuối cùng, chương này sẽ trình bày đóng góp của nghiên cứu và kết cấu dự kiến của luận văn.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và khảo lược nghiên cứu
Chương này trình bày các nội dung chính như nền tảng cơ sở lý thuyết về TSSL, các chỉ tiêu đánh giá TSSL tại các NHTM. Chương này cũng giới thiệu sơ lược một số nghiên cứu trước đây trên thế giới và trong nước về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL tại các NHTM, đồng thời nhận xét và xác định khoảng trống nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương này bao gồm các nội dung chính như trình bày về mô hình và giả thuyết nghiên cứu cùng với phương pháp đo lường biến. Trình bày chi tiết quy trình và phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu cùng với phương pháp tính toán và xử lý số liệu. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chủ yếu là trình bày kết quả mô hình: thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan. Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (GLS) để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan, xác định kết quả cuối cùng của mô hình.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Dựa trên kết quả của mô hình nghiên cứu, quan điểm của tác giả sẽ đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao TSSL tại các NHTMCP niêm yết trên TTCK Việt Nam trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương này đã trình bày lý do chọn đề tài, từ đó xác định được mục tiêu nghiên cứu cũng như các câu hỏi nghiên cứu cần được hoàn thành. Từ các mục tiêu được xác định, chương này cũng trình bày về đối tượng, phạm vi nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu cần được tiến hành để giải quyết được vấn đề. Đồng thời, trong chương này cũng đã nhận định được các đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn của đề tài và đề ra bố cục dự kiến của luận văn.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương này sẽ trình bày tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến TSSL của các NHTM, bao gồm khái niệm, chỉ tiêu đo lường và các yếu tố ảnh hưởng. Đồng thời lược khảo các nghiên cứu liên quan để xác định các khoảng trống nghiên cứu nhằm làm cơ sở đề xuất giả thuyết lẫn mô hình nghiên cứu cho chương tiếp theo.
2.1. Lý thuyết về tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại
2.1.1. Khái niệm tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại
Theo Rose (2001) thì NHTM là một tổ chức kinh doanh với mục đích tối đa hóa LN dưới một mức RR cho phép. Hay nói cách khác, TSSL của các NHTM được thể hiện dưới dạng LN của ngân hàng khi bảo toàn được vốn, mở rộng được thị phần, tăng sức cạnh tranh và thu hút được các luồng vốn đầu tư.
Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì TSSL của một ngân hàng được đánh giá qua hai phương diện. Thứ nhất, phản ánh qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực của ngân hàng hay xã hội nhằm tạo ra kết quả cao nhất đó là LN thu về. Thứ hai, là hiệu quả xã hội phản ánh lợi ích về mặt xã hội trong quá trình kinh doanh.
TSSL còn có thể xem là “Mối quan hệ tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm và đầu ra hàng hóa, dịch vụ”. Mặt khác, khái niệm về TSSL dùng để xem xét các nguồn lực trong thị trường được phân phối ra sao để các doanh nghiệp hay ngân hàng đạt được những thành công từ sự phân phối đó cũng như các thành quả đầu ra mà họ đạt được so với đầu vào ban đầu của mình (Nguyễn Khắc Minh, 2004).
Theo Nguyễn Thị Xuân Liễu (2010) thì phân tích TSSL là quá trình nghiên cứu và đánh giá toàn bộ quá trình HĐKD của NHTM, hay xem xét sự hiệu quả trong HĐKD của các NHTM, chủ yếu sự đánh giá này dựa trên việc các NHTM thu được bao nhiêu LN từ các nguồn lực của vốn vay, VCSH hay tính trên tổng nguồn tài trợ của NHTM. Mục đích phân tích TSSL của NHTM nhằm đề xuất giải pháp phù hợp để tăng tính hiệu quả trong HĐKD và tìm kiếm nhiều LN hơn cho NHTM với những đầu vào xác định.
2.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá tỷ suất sinh lời của NHTM Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
- Các chỉ tiêu để đo lường TSSL của NHTM bao gồm:
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA): Theo Phan Đức Dũng (2008), tỷ số LN trên tài sản là nhằm đo lường khả năng sinh ra LN của một tổ chức. Tỷ lệ này được tính thông qua tỷ số LN ròng trên tổng tài sản bình quân.
ROA = Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân * 100%
Nguyễn Thị Ngọc Trang và Nguyễn Thị Liên Hoa (2007) cho rằng nếu ROA dương thì chứng tỏ tổ chức này làm ăn có LN hay càng cao, HĐKD đang có hiệu quả. Mặt khác, ROA âm chứng tỏ tổ chức đang làm ăn thua lỗ và nếu tình trạng kéo dài thì đối mặt với tình hình RR tài chính hay phá sản. Tuy nhiên, tỷ số này có thể phụ thuộc vào vụ mùa kinh doanh của tổ chức kinh doanh đặc thù, ngoài ra có thể sử dụng tỷ số này để phân tích cho thời điểm hoặc thời kỳ kinh doanh của tổ chức.
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE): Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), tỷ số LN trên VCSH là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn ở một công ty LN trong tỷ lệ này phản ánh thu nhập ròng mà các cổ đông có thể nhận được theo các BCTC của NHTM theo chu kỳ xác định tháng, quý, năm. Tỷ lệ này được xác định dựa trên tỷ số LN ròng trên VCSH, do đó tỷ lệ này gia tăng khi các NHTM nâng cao được LN ròng hoặc giảm được VCSH. Nhưng việc giảm VCSH có thể xuất phát từ việc các NHTM muốn tái cơ cấu nguồn tài trợ và muốn sử dụng nợ vay nhiều hơn, chứ không hẳn đến từ việc sử dụng không hiệu quả VCSH. Tuy nhiên, việc gia tăng tỷ lệ ROE bằng cách này sẽ khiến các NHTM đối mặt với RR thanh toán nợ đến hạn liên tục.
ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân * 100%
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của NHTM Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2015) thì HĐKD của các NHTM phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố nội tại và vĩ mô nền kinh tế. Các yếu tố nội tại thể hiện hoạt động quản trị cũng như định hướng về mặt chiến lược của NHTM đối với việc mở rộng hay thu hẹp quy mô, sử dụng các loại đòn bẩy tài chính, duy trì hệ số an toàn vốn thanh khoản hay các chính sách liên quan đến hoạt động cho vay và đa dạng hóa thu nhập. Hay nói cách khác, việc duy trì hay nâng cao TSSL tại các NHTM một phần chính yếu đến từ việc các nhà quản trị NHTM phải định hướng được các yếu tố nội tại sẽ vận hành theo chiều hướng nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế cụ thể. Song song đó là các yếu tố vĩ mô, vì NHTM là trung gian tài chính cho các đối tượng trong nền kinh tế. Do đó, các yếu tố vĩ mô ít hay nhiều đều ảnh hưởng đến các đối tượng trong nền kinh tế và NHTM không phải là ngoại lệ.
2.2.1. Các yếu tố thuộc về ngân hàng
2.2.1.1. Quy mô ngân hàng
Theo Nguyễn Đăng Dờn (2010) thì quy mô ngân hàng thể hiện thông qua cơ cấu tài sản hay nguồn vốn của NHTM trên bảng cân đối kế toán, nó thể hiện sự lớn mạnh trong hoạt động của ngân hàng và thị phần lớn nhỏ của ngân hàng trong hệ thống NHTM trong quốc gia, quy mô ngân hàng nó thể hiện rất nhiều thông qua những tiêu chí như tài sản, cơ cấu nguồn vốn huy động – cho vay, thị trường hoạt động của ngân hàng,… Theo nghiên cứu Djalilov và cộng sự (2016) thì ROA và ROE có mối quan hệ cùng chiều với quy mô của ngân hàng. Mặt khác trong nghiên cứu của Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019) thì các tác giả này lại cho rằng quy mô ngân hàng lại có ảnh hưởng ngược chiều với ROA và ROE.
2.2.1.2. Đòn bẩy tài chính Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) để duy trì được HĐKD của mình thì các NHTM cần huy động được các nguồn vốn, trong đó có hai nguồn chính là từ huy động vốn tiền gửi của khách hàng hay vay nợ NHNN, các TCTD khác hoặc đến từ việc huy động VCSH thông qua các kênh chứng khoán hay góp vốn của các cổ động. Trong phạm vi của luận văn thì VCSH sẽ được tập trung nghiên cứu vì đây được xem là nguồn vốn dài hạn và các NHTM không có nghĩa vụ thanh toán như các khoản nợ mà chủ yếu là chi trả hay phân phối thu nhập thông qua cổ tức cho các cổ đông. Mặt khác, khi tỷ lệ VCSH trên tổng nguồn vốn được nâng cao có nghĩa là các NHTM huy động được nhiều nguồn vốn dài hạn tạo ra sức mạnh tài chính, khả năng chịu đựng thiệt hại cũng như tận dụng tỷ lệ phân phối thu nhập đến cổ đông để tái đầu tư để thu được LN nhiều hơn. Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019) đều sử dụng tỷ số VCSH/tổng tài sản làm biến độc lập để nghiên cứu về vấn đề hiệu quả hoạt động tài chính của ngân hàng vì họ cho rằng VCSH càng nhiều thì RR của ngân hàng cũng từ đó được giảm thiểu và tạo được niềm tin của khách hàng.
2.2.1.3. Tỷ lệ thanh khoản
Theo Trần Huy Hoàng (2010) thì “tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời để đáp ứng nhu cầu khách hàng rút các khoản tiền gửi hay giải ngân các khoản vay tín dụng mà ngân hàng đã cam kết. Tính thanh khỏan đáp ứng được nghĩa vụ như nhu cầu chi trả tiền gửi, cho vay hay thanh toán các giao dịch. Rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra nếu tính thanh khoản không được đáp ứng có nghĩa là ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của mình. Nếu tình trạng này xảy ra thì các HĐKD của ngân hàng bị đình trệ, nặng hơn sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán hay phá sản. Do đó, các NHTM luôn muốn duy trì tính thanh khoản tối ưu, tuy nhiên khi muốn gia tăng tính thanh khoản thì buộc các NHTM phải giảm cho vay, huy động vốn với mức phí cao. Vì vậy, khi tăng tính thanh khoản như vậy thì các NHTM dường như các hoạt động cho vay phải chậm lại hoặc có thể bị đình chỉ và các NHTM chủ ưu đã cấp tín dụng theo hạn mức hoặc các khách hàng lớn, cùng với đó lãi suất cho vay cũng sẽ rất cao làm giảm nhu cầu vay của khách hàng. Tỷ lệ này cho biết phần trăm % các khoản cho vay đến từ những nguồn huy động, tỷ lệ này càng cao thì khả năng thanh khoản càng thấp. Theo Bourke (1988); Adelopo và cộng sự (2018) cho rằng ROE có mối quan hệ ngược chiều với tính thanh khoản.
2.2.1.4. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng NHTM được xem là trung gian tài chính, là cầu nối của người cho vay và đi vay. Nhờ có ngân hàng mà quá trình sản xuất kinh doanh và vận hành trong nền kinh tế được diễn ra một cách liên tục, cũng từ đó mà ta có thể thấy LN chủ yếu của ngân hàng đến từ hoạt động cho vay của nó. Tuy nhiên tại bất cứ NHTM nào, song song với hoạt động tín dụng chính là RR tín dụng. Chất lượng tín dụng (cho vay) thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tỷ lệ nợ quá hạn hay nợ xấu càng cao thì ngân hàng đối diện với các nguy cơ tổn thất càng cao và LN ngân hàng sẽ giảm xuống từ đó. Vì vậy để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra thì các ngân hàng thường trích lập dự phòng. Tỷ lệ dự phòng RR tín dụng thường được ngân hàng tính thông qua tỷ lệ phần trăm % khi lấy giá trị dự phòng RR tín dụng/tổng dư nợ (CAR). CAR càng cao thì chứng tỏ các khoản tín dụng của ngân hàng đang có chất lượng kém và khả năng thu hồi kém. Các kết quả từ nghiên cứu của Athanasoglou và cộng sự (2008); Djalilov và cộng sự (2016) thì tỷ lệ trích lập dự phòng có mối quan hệ nghịch biến với ROA, ROE. Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu của Batten và Võ Xuân Vinh (2019) thì tỷ lệ trích lập dự phòng có mối quan hệ đồng biến với ROA và ROE.
2.2.1.5. Hiệu quả quản lý Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Hiệu quả quản lý của NHTM được thể hiện thông qua việc các NHTM quả lý được các khoản chi phí liên quan đến vận hành, nhân lực, mở rộng thị trường,… Trong luận văn này thì hiệu quả quản lý được tiếp cận theo hướng sử dụng tỷ lệ chi phi phí hoạt động trên thu nhập của NHTM. Trong chi phí hoạt động của NHTM bao gồm cả chi phí đầu vào lẫn chi phí đầu ra của NHTM. Mục đích mà các NHTM tăng cường hiệu quả quản lý nhằm tiết kiệm được chi phí phát sinh để thu được nhiều LN hay nói cách khác các nguồn tài trợ được huy động sẽ được sử dụng hiệu quả tránh lãng phí. Mặt khác, khi tỷ lệ chi phí hoạt động được đảm bảo duy trì mức thấp giúp ngân hàng có thể sử dụng nguồn lực tối ưu nhất đó là kết quả của Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019), đồng thời kết luận rằng, quản lý chi phí càng hiệu quả thì TSSL cũng được nâng cao.
2.2.1.6. Đa dạng hóa thu nhập
Hiện nay có nhiều lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng tại các NHTM thì hoạt động tín dụng vẫn là nguồn chính để tạo ra thu nhập cho NHTM. Tuy nhiên, dưới sức ép giảm thiểu RR hệ thống do tín dụng gây ra và đa dạng hóa các nguồn thu nhập cho NHTM thì việc đa dạng hóa hoạt động và các loại sản phẩm phục vụ khách hàng hay bán chéo nhiều loại sản phẩm giúp cho NHTM tận thu các khoản phí và LN tăng theo (Baele và cộng sự, 2007).
2.2.2. Các yếu tố kinh tế vĩ mô
2.2.2.1. Tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người (GDP)
Đối với một nền kinh tế thì ngân hàng có mức độ liên quan mật thiết đến gần như tất cả các ngành nghề hay lĩnh vực đời sống vì vậy mọi sự thay đổi của kinh tế – xã hội đều sẽ tác động ngược trở lại “hệ thống ngân hàng. Nền kinh tế phát triển, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP cao, ổn định từ đó cũng tạo điều kiện cho sự phát triển thuận lợi cho ngân hàng, thúc đẩy quả trình sản xuất kinh doanh cũng như hấp thụ vốn và hoàn trả vốn” cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Ngoài ra, khi tốc độ tăng trưởng tốt thì NHTM dễ dàng trong việc đa dạng hóa HĐKD để tận dụng các khoản thu nhập ngoài lãi để gia tăng được TSSL cho NHTM. Theo nghiên cứu của Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018) thì GDP có mối quan hệ đồng biến với hiệu quả tài chính. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
2.2.2.2. Tỷ lệ lạm phát
Tại bất cứ nền kinh tế của quốc gia nào trên thế giới thì luôn có tồn tại lạm phát, lạm phát tăng cao sẽ làm thay đổi mức giá chung trên nền kinh tế, tác động đến sâu sắc đến ngân hàng kể cả các hoạt động huy động vốn cũng như cho vay, nó cũng tác động đến cả doanh thu hay chi phí và LN của doanh nghiệp. Vì vậy trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa lạm phát với LN của ngân hàng. Vì vậy, trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu liên quan đến mối liên hệ giữa lạm phát với hiệu quả tài chính của ngân hàng như Athanasoglou và cộng sự (2008); Sufian và Habibullah (2009); Djalilov và cộng sự (2016); Adelopo và cộng sự (2018); Batten và Võ Xuân Vinh (2019) kết luận ngược lại lạm phát lại có quan hệ ngược chiều với ROA và ROE.
2.3. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Bourke (1988) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến LN của các ngân hàng tại Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ 100 ngân hàng lớn trong các khu vực đã nêu từ năm 1969 đến năm 1977. Nhóm tác giả đã sử dụng ROA và ROE để đại diện cho LN của ngân hàng. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến để kết luận sự tác động của các biến được nghiên cứu đến LN đó là chi phí nhân viên, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ thanh khoản, chỉ số tập trung, sự sở hữu của nhà nước, lãi suất cho vay, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát. Kết quả cho thấy, chỉ số tập trung, đòn bẩy tài chính các quan hệ cùng chiều và sự sở hữu của nhà nước có quan hệ ngược chiều đến LN của ngân hàng.
Athanasoglou và cộng sự (2008) nghiên cứu về các yếu tố nội tại và vĩ mô tác động đến LN của ngân hàng. Các tác giả đã sử dụng số liệu của các NHTM tại Greek trong giai đoạn từ 1985 – 2001, thông qua nghiên cứu định lượng với mô hình hồi quy theo phương pháp GMM để xem mức độ tác động của các yếu đến LN ngân hàng. Trong đó, để đo lường LN của NHTM nhóm tác giả đã sử dụng ROA và ROE và kết quả cho thấy năng suất làm việc, tỷ lệ an toàn vốn, chỉ số chứng khoán, tốc độ tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng cùng chiều đến LN. Ngược lại, các yếu tố rủi ro tín dụng, quản lý chi phí, quy mô ngân hàng và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng ngược chiều đến LN ngân hàng. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Sufian và Habibullah (2009) trong nghiên cứu về LN của nền kinh tế phát triển thực nghiệm tại Bangladesh, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 37 NHTM tại quốc gia này từ 1997 – 2004. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng nghiên cứu định lượng cùng với các mô hình FEM, REM và GMM để xem xét các yếu tố liên quan đến nợ xấu và thu nhập ngoài lãi có tác động đến LN của ngân hàng, đồng thời sử dụng ROE, ROA và NIM để đo lường cho LN. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô tài sản, tỷ lệ nợ xấu, chi phí ngoài lãi và tỷ lệ lạm phát có tác động ngược chiều đến LN của ngân hàng. Ngược lại, thu nhập ngoài lãi, mức độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ dư nợ cho vay có tác động cùng chiều đến LN của ngân hàng.
Djalilov và cộng sự (2016) trong nghiên cứu về các yếu tố các tác động đến LN tại các quốc gia đang phát triển tại Đông Âu, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ các NHTM tại vùng quốc gia này trong giai đoạn từ 2000 – 2013. Thông qua phương pháp GMM, nhóm tác giả đã kết luận LN ngân hàng được đo lường bằng tỷ lệ ROA và các yếu tố RR tín dụng, chi phí, tỷ lệ lạm phát, vốn nhà nước có tác động ngược chiều, tuy nhiên tỷ lệ an toàn vốn, quy mô ngân hàng, thị phần ngân hàng và tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tác động cùng chiều đến LN ngân hàng.
Adelopo và cộng sự (2018) nghiên cứu TSSL của ngân hàng trước, sau và trong toàn bộ giai đoạn khủng hoảng. Nhóm tác giả đã sử dụng số liệu của các ngân hàng ở vùng phía Tây nước Mỹ trong giai đoạn 1999 – 2013 và thiết kế dữ liệu bảng, thông qua mô hình hồi quy Pooled OLS, FEM, REM và GMM. Trong đó, ROA và NIM là 2 yếu tố để đo lường cho LN ngân hàng, đồng thời, nhóm tác giả cũng xem xét hai nhóm yếu tố vi mô và vĩ mô các tác động đến LN ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô ngân hàng, quản lý chi phí, tỷ lệ lạm phát có tác động ngược chiều đến LN ngân hàng. Ngược lại, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ thanh khoản, thị phần ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP lại có tác động cùng chiều đến LN ngân hàng.
Al-Homaidi và cộng sự (2020) nghiên cứu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng ảnh hưởng tới HQHĐ kinh doanh của 37 NHTM được niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay Exchange (BSE), Ấn Độ trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2017. Các mô hình FEM, REM và GMM được sử dụng. Kết quả cho thấy quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, tính thanh khoản, quản lý tài sản, đa dạng hóa thu nhập và biên lãi ròng là những yếu tố bên trong quan trọng ảnh hưởng đến ROA. Mức an toàn vốn, tiền gửi, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm trong nước và tỷ lệ lạm phát được cho là có ảnh hưởng ngược chiều đến ROA. Hơn nữa, kết quả chỉ ra rằng mức độ an toàn vốn, quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, tổng sản phẩm quốc nội và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến ROA. Tuy nhiên, chất lượng tài sản, đa dạng hóa thu nhập và chiến lược quản trị tài sản thể hiện tác động tích cực đến ROA nhưng tính thanh khoản, tiền gửi, biên lãi ròng và thu nhập ngoài lãi có tác động không đáng kể đến ROA.
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước
Trần Việt Dũng (2014) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng Generalized Methods of Moments, GMM của Arellano và Bond (1991) để xác định các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam sử dụng bộ dữ liệu tại 22 ngân hàng trong giai đoạn từ 2006 – 2012. Kết quả cho thấy ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn khi giữ nhiều VCSH. Tác giả không đủ cơ sở khẳng định tác động các yếu tố quy mô tài sản, tỷ lệ dư nợ, huy động lên TSSL của ngân hàng. Các biến số về RR của ngân hàng chưa có tác động rõ rệt tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cuối cùng các biến vĩ mô, đặc biệt chu kỳ kinh tế, tác động rõ nét tới hoạt động của các NHTM Việt Nam.
Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) nghiên cứu tác động của các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên của các NHTMCP tại Việt Nam. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 27 NHTMCP trong giai đoạn 2008 – 2013, bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), FEM và REM, phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS). Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố tác động cùng chiều với thu nhập lãi cận biên gồm: RR tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô VCSH, quy mô hoạt động cho vay, quy mô ngân hàng, đồng thời các yếu tố như: hiệu quả quản lý, tăng trưởng GDP có tác động ngược lại.
Nguyễn Thị Diễm Hiền và Nguyễn Hồng Hạt (2016) đã nghiên cứu thu nhập ngoài lãi và hiệu quả tài chính của các NHTM. Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu của 33 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 với việc sử dụng mô hình Pooled, FEM, REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy: thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ thu nhập lãi trên tổng tài sản, biến giả tăng trưởng tài sản, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tác động cùng chiều với hiệu quả tài chính. Bên cạnh đó, logarit tự nhiên tổng tài sản, tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng GDP có tác động ngược chiều với hiệu quả tài chính.
Batten và Võ Xuân Vinh (2019) trong nghiên cứu LN của ngân hàng qua nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, nhóm tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2014 với phương pháp GMM và mô hình tác động cố định FEM. Nhóm tác giả đã sử dụng ROA, ROE, NIM để đo lượng cho LN ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy mô ngân hàng, chi phí hoạt động, thị phần ngân hàng, tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều đến LN. Ngược lại, tỷ lệ an toàn vốn, RR tín dụng, năng suất có tác động ngược chiều đến LN ngân hàng.
Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
2.3.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
Khoảng trống chung của các nghiên cứu đó là có những nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản của ngân hàng nhưng không đề cập đến các yếu tố vĩ mô tác động đến TSSL, trong đó hoạt động của NHTM đa số LN từ tín dụng được xem là xương sống hay RR tín dụng cũng là yếu tố tác động quan trọng đến LN của NHTM thì các nghiên cứu vẫn chưa nghiên cứu sâu. Đối với Việt Nam, tình hình HĐKD ngân hàng luôn bị chi phối bởi yếu tố nội tại và vĩ mô vì thế đối với nghiên cứu này thì việc tập hợp các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố vĩ mô đặc biệt là tốc độ tăng trưởng kinh tế, thật sự cần thiết để có góc nhìn tổng quan hơn về các yếu tố tác động cũng như mức độ tác động của chúng đến TSSL của NHTM.
Đa phần các nghiên cứu hay bài viết trong nước và nước ngoài vẫn ít tập trung vào hoạt động tối đa hóa thu nhập của ngân hàng. Trong khi đó, thời điểm hiện nay thì các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng đem lại nguồn thu nhập ngoài lãi đáng kể cho ngân hàng. Do đó, việc đa dạng hóa các nguồn thu của ngân hàng đóng góp không nhỏ đến việc nâng cao TSSL chung cho các NHTM.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày tổng quan về khái niệm tỷ suất sinh lợi cũng như các cách đo lường tỷ suất sinh lợi và trong nghiên cứu này các tác giả sử dụng hai tỷ số ROA, ROE để đo lường cho TSSL của ngân hàng. Đồng thời, tại chương này tác giả đã tổng hợp khung lý thuyết cũng như chiều hướng tác động của các yếu tố đến tỷ suất sinh lợi của NHTM, trong đó các nhân tố được chia vào hai nhóm chính đó là thuộc nội tại bên trong ngân hàng và bên ngoài ngân hàng. Ngoài ra, chương 2 cũng đã tiến hành lược khảo tổng quan các nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến TSSL của ngân hàng. Từ việc lược khảo đó tác giả rút ra các khoảng trống nghiên cứu, sẽ làm cơ sở cho tác giả đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho chương sau ứng dụng vào bối cảnh hệ thống NHTM Việt Nam. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời ở các ngân hàng […]