Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính

Chia sẻ đề tài Tiểu luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên đang làm tiểu luận triết học về đề tài Tiểu luận: các quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính và xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ viết luận văn nhé.

Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.

===> Viết Thuê Tiểu Luận Môn

Lời mở đầu (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã và đang tiến hành ở nước ta từ năm 1992 đến nay. Việc ban hành các quy định pháp luật về cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước là một việc làm hết sức quan trọng. Việc hoàn thiện cơ chế chính sách cổ phần hóa, khung pháp lý phù hợp sẽ khuyến khích, thúc đẩy cổ phần hóa, đa dạng các hình thức sở hữu, đổi mới quy trình cổ phần hóa, có cơ chế chính sách phù hợp để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra việc hoàn thiện các cơ chế, chính sách, khung pháp lý còn để các doanh nghiệp nhà nước thực sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh công khai, minh bạch, xóa bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Để hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhóm chúng tôi xin chọn đề tài:

“ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ XỬ LÝ TÀI CHÍNH VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP KHI CỔ PHẦN HÓA”

Mặc dù nhóm chúng tôi đã cố gắng tìm hiểu, song do thời gian có hạn, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn góp ý bổ sung để nhóm có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.

Chương 1: Cơ sở lý luận và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

1.1 Cơ sở lý luận (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

1.1.1 Định nghĩa công ty cổ phần, cổ phần hóa

1.1.1.1 Công ty cổ phần

Theo điều 110 Luật Doanh nghiệp 2015 (của Việt Nam), công ty cổ phần được định nghĩa như sau:

  • Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
  • Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
  • Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa;
  • Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
  • Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)
  • Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
  • Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.

1.1.1.2 Cổ phần hóa

Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam. Chương trình cổ phần hóa bắt đầu được Việt Nam thử nghiệm trong các năm 1990-1991 và chính thức được thực hiện từ năm 1992, được đẩy mạnh từ năm 1996.

1.2 Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay

1.2.1 Tính tất yếu của việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

Một thực tế cho thấy rằng kinh nghiệm trên thế giới các nước có thành phần kinh tế công càng lớn thì tốc độ tăng trưởng cao cần có sự cơ cấu lại thành phần kinh tế này ta muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao cần có sự cơ cấu lại thành phần kinh tế này. Cổ phần hóa sẽ giúp sàng lọc doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp đã có những người chủ thực sự. Việc cổ phần hóa cũng giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước một con số đáng kể. Mặt khác, thông qua cổ phần hóa Nhà nước thu lại được phần giá trị tài sản Nhà nước trước đây đã giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả. Tất cả các khoản tiền này sẽ được dùng để tài trợ cho các dự án mang tầm quốc gia phục vụ lợi ích cho toàn dân tộc như: giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng. Tác động gián tiếp của việc cổ phần hóa cũng có mặt hạn chế của nó chẳng hạn; cổ phần hóa là tiềm ẩn của sự gia tăng thất nghiệp tăng áp lực về số lượng lao động dư thừa trong xây dựng. Vậy việc cổ phần hóa cần có chính sách cụ thể rõ ràng cho người lao động trong tình trạng thất nghiệp.

Bên cạnh những lý do đã nêu, thì hiện nay thị trường chứng khoán hay thị trường tài chính phát triển ngày càng lớn và nhu cầu có nguồn hàng cung cấp cho thị trường thứ cấp đang khan hiếm chính vì thế, cổ phần hóa là cách giúp cho thị trường giải quyết lượng hàng khan hiếm này, tránh gây ra hiện tượng cổ phiếu thiếu gây ra tình trạng làm giảm giá trên thị trường gây rối loạn thị trường đang trỗi dậy trong khoảng mấy năm trở lại đây. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Một cái nhìn khách quan hơn cho thấy công cuộc cổ phần hóa là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng, nâng cao dân chủ và công bằng xã hội. Các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa hoạt động theo Luật doanh nghiệp khi đó có mọi hoạt động theo cơ chế thị trường chi phối bởi quy luật cung cầu và pháp luật, và chủ doanh nghiệp là toàn thể cổ đông không còn hiện tượng tham nhũng, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được công khai đối với cổ đông.

Công ty cổ phần có:

  • – Khả năng huy động vốn lớn nhờ phát hành cổ phiếu và trái phiếu.
  • – Được tổ chức quản lý chặt chẽ
  • – Gắn người lao động với kết quả cuối cùng
  • – Để mở rộng tầm hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách gọi thêm vốn dưới dạng cổ phiếu và trái phiếu.

1.2.2 Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay

  • Bối cảnh

Đổi mới tư duy quản lý kinh tế bắt đầu diễn ra mạnh sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra vào tháng 12 năm 1986. Một trong những tư duy quản lý đã thay đổi đó là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, bao gồm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, yêu cầu phải chuyển sang hình thức kinh doanh hạch toán kinh tế, lời ăn lỗ chịu. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Để có thể tiến hành cải cách kinh tế bắt đầu từ nửa sau của thập kỷ 1990, Việt Nam đã đề nghị sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của các thể chế tài chính toàn cầu như Nhóm Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Phát triển châu Á và các nhà tài trợ mà hầu hết là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Một trong những cái giá Việt Nam phải trả là phải tiến hành một số cải cách theo đề nghị của những tổ chức và nhà tài trợ – những cải cách mà vào thời điểm đầu thập niên 1990 Việt Nam còn chưa nhận thức đầy đủ sự cần thiết và do đó rất miễn cưỡng thực hiện. Trong số những cải cách miễn cưỡng này có tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Để tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Chính phủ Việt Nam đã quyết định sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần. Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu. Tùy từng doanh nghiệp, phần cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%.

  • Các giai đoạn cổ phần hóa doanh nghiêp nhà nước

Giai đoạn thí điểm rụt rè

Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa (try and fix). Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ và vừa để thử chuyển đổi thành công ty cổ phần. Kết quả là có 2 doanh nghiệp trong năm 1990-1991 được cổ phần hóa. Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ra Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước để thử cổ phần hóa. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổ phần hóa. Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số cổ phần, 4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số cổ phần. Các nhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trong trường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%.

Giai đoạn thí điểm mở rộng

Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996 Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn. Nghị định 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầu các bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phần hóa cho đến năm 1997. Tinh thần của Nghị định 28/CP là chọn những doanh nghiệp mà Nhà nước thấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữa làm đối tượng. Nghị định số 25/CP ngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủ cho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có thêm quyền hạn trong việc tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử. Theo đó, đối với doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số 28/CP. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Kết quả của giai đoạn thí điểm cổ phần hóa mở rộng này là có 25 doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển thành công ty cổ phần.

Giai đoạn đẩy mạnh

Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm trên, Chính phủ Việt Nam quyết định chính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa. Ngày 29 tháng 6 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Nghị định này quy định rằng đối với cổ phần phát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫn muốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và pháp nhân không được phép mua quá 10%. Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhân được phép mua tới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu. Riêng đối với các doanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân và pháp nhân được phép mua không hạn chế. Tiền thu được từ bán cổ phần sẽ được sử dụng để đào tạo lại lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa, bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác.

Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Giai đoạn tiến hành ồ ạt

Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghị quyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Để triển khai Nghị quyết trung ương này, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, và Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa – giai đoạn tiến hành ồ ạt.

Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:

  1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.
  2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
  3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
  4. Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn.

Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước được phép mua không hạn chế. Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép mua quá 30%. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp phiên thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, theo đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chính tổng công ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trở thành đối tượng cổ phần hóa. Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này là quy định việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấu giá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn trên 10 tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, và tại công ty nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng. Bán đấu giá khiến cho giá cổ phiếu phát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên, đem lại những nguồn thu rất lớn cho Nhà nước. Chẳng hạn, đợt đấu giá cổ phần của 5 công ty nhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm, Nhà máy thiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh, Công ty điện lực Khánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thu vượt dự kiến 450 tỷ đồng. Mặt khác, bán đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hóa còn trở thành một động lực cho sự phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam. Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếu tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005, có 29 công ty là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Quá trình cổ phần hóa kiểu này đến 2008, đã thực hiện ở khoảng trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa. Còn khoảng 2.000 doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn như BIDV, Vietinbank, VMS-MobiFone, Vinaphone,… dự trù sẽ cổ phần hóa đến năm 2010.

Chính phủ Việt Nam cũng khẳng định quyết tâm cổ phần hóa các trường đại học.

Các cơ sở giáo dục ở Việt Nam muốn tránh nguy cơ bị biến dạng do đưa các hoạt động giáo dục thành các dịch vụ đơn thuần, mang nặng tính thương mại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứ mệnh và mục tiêu của trường nên sẽ có quá trình tách bạch và phân định rõ các bộ phận thương mại hay phi thương mại hóa.

Chương 2: Các quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính và xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Các văn bản pháp luật hiện hành về xử lý tài chính và xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa (đang còn hiệu lực):

  1. Thông tư số 127/2014/TT-BTC hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, trong đó, đáng chú ý là quy định về các nguyên tắc khi thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp.
  2. Nghị định số 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ: Về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần
  3. Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sungmột số điều của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần”.
  4. Nghị định số 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất
  5. Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005.
  6. Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
  7. Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
  8. Luật Chứng khoán ngày 29 tháng 6 năm 2006;

Quy định pháp luật về xử lý tài chính và xác định giá trị tài sản doanh nghiệp cổ phần hóa được hướng dẫn cụ thể trong Thông tư số 127/2014/TT-BTC ngày 05 tháng 09 năm 2014 về việc Hướng dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Thông tư 127/2014 có hiệu lực từ ngày 20 tháng 10 năm 2014 và thay thế thông tư số 202/2011/TT-BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/07/2011 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Sau đây là những điểm mới của TT127/2014 so với TT202/2011 & phần trích dẫn cụ thể TT127/2014:

Điểm khác biệt của TT127/2014/BTC so với TT202/2011/BTC:

Điều 4 Mục phân loại tài sản đã được kiểm kê ngoài các khoản mục đã nêu thì được bổ sung thêm 3 khoản mục tài sản là Tài sản của các đơn vị sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp; Tài sản chờ quyết định xử lýCác khoản đầu tư tài chính bằng giá trị quyền sử dụng đất.

– Điều 5, khoản 1, điểm a) bổ sung thêm việc Xác định rõ trách nhiệm về các khoản nợ phải thu không có khách nợ xác nhận.

– Điều 5, khoản 1, điểm b) theo TT202/2011 trước đây khi DN nợ quá hạn nhiều năm mà các chủ nợ không đến đối chiều hoặc xác nhận thì DN CPH phải thực hiện việc thông báo đến chủ nợ và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trước thời điểm kiểm kê 5 ngày làm việc, còntheo TT127 mới ban hành thì được nâng lên thành 10 ngày làm việc.

– Điều 9, khoản 1 Tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần hóa không phải thực hiện trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp; không phải trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định (Đây là điểm mới so với TT202/2011)

– Điều 9, khoản 2, điểm c. Quy định cụ thể cách xử lý tài sản của các đơn vị sự nghiệp có thu là điểm mới so với TT202/2011.

– Thông tư cũng quy định cụ thể về tài sản chờ quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền đến thời điểm tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp mà chưa có quyết định xử lý thì loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp và thực hiện chuyển giao cho các đơn vị theo khoản 2 điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

– Ngoài ra khi xác định giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp CPH được loại trừ khoản đầu tư tài chính (góp vốn liên doanh, góp vốn thành lập công ty TNHH, các hoạt động góp vốn khác) bằng giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp thống nhất được với các bên góp vốn để thực hiện chuyển giao cho doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn khác làm đối tác. Trường hợp không chuyển giao được cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước khác làm đối tác thì doanh nghiệp tiếp tục kế thừa tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo nguyên tắc quy định tại Điều 33 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

– Về các khoản dự phòng, lỗ hoặc lãi, thông tư cũng quy định rõ sau khi thực hiện các giải pháp mà kết quả kinh doanh vẫn còn lỗ thì doanh nghiệp CPH phải báo cáo nguyên nhân dẫn đến lỗ với cơ quan quyết định CPH để xử lý trách nhiệm tập thể, cá nhân có liên quan. Số lỗ còn lại trừ vàoo phần vốn nhà nước khi xác định giá trị thực tế vốn nhà nước tại doanh nghiệp

– Điều 10, khoản 1 Báo cáo tài chính lập tại thời điểm chính thức chuyển thành công ty cổ phần, doanh nghiệp cổ phần hóa không phải trích lập dự phòng các khoản giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp; không phải trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định. (Thông tư 202/2011 không có quy đình). (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Về việc lựa chọn tổ chức tư vấn định giá để xác định giá trị doanh nghiệp

+ Thông tư 127, Điều 12, khoản 2:

Cơ quan quyết định cổ phần hóa lựa chọn tổ chức tư vấn định giá thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp theo nguyên tắc:

a) Đối với các gói thầu tư vấn định giá có giá trị không quá 500 triệu đồng thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố; trường hợp xét thấy cần phải tổ chức đấu thầu thì thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

b) Đối với gói thầu tư vấn định giá có giá trị từ 500 triệu đồng đến không quá 3 tỷ đồng thì cơ quan quyết định phương án cổ phần hóa có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

c) Đối với các gói thầu tư vấn không thuộc quy định trên thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa quyết định tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo quy định.

+ Thông tư 202:

Căn cứ danh sách các tổ chức tư vấn định giá được công bố, cơ quan quyết định cổ phần hóa lựa chọn tổ chức tư vấn định giá và chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình.

Trường hợp có từ 2 tổ chức tư vấn định giá đăng kí tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn định giá xác định giá trị doanh nghiệp trở lên thì cơ quan quyết định cổ phần hóa thực hiện hình thức đấu thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá.

  • Về việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp

+ Thông tư 127, Điều 16, khoản 2, điểm b: Trường hợp sau 18 tháng kể từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp mà doanh nghiệp chưa thực hiện việc bán cổ phần, cơ quan quyết định cổ phần hóa phải yêu cầu doanh nghiệp đình chỉ các bước triển khai phương án cổ phần hóa được duyệt, làm rõ nguyên nhân, xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân có liên quan. Đồng thời chỉ đạo Ban chỉ đạo cổ phần hóa tổ chức triển khai xác định lại giá trị doanh nghiệp và điều chỉnh phương án cổ phần hóa (nếu cần), chi phí cho việc xác định lại giá trị doanh nghiệp và điều chỉnh phương án cổ phần hóa (sau khi trừ đi các khoản bồi thường của cá nhân có liên quan) được trừ vào tiền thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

+ Thông tư 202: Khoảng thời gian là sau 12 tháng, chứ không phải 18 tháng như thông tư 127

  • Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp tài sản

+ Bổ sung trường hợp xác định giá trị vốn đầu tư dài hạn vào công ty cổ phần niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán. Cụ thể, giá trị vốn được xác định theo giá đóng cửa của cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tại thời điểm gần nhất với thời điểm tổ chức thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp. Đối với giá trị vốn góp vào công ty cổ phần chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán thì căn cứ kết quả xác định của cơ quan tư vấn theo quy định tại khoản 1Điều 33 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp xem xét trình cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp quyết định (Điều 18, khoản 8).

+ Điều 18, khoản 9, TT127/2014: Xác định giá trị quyền sử dụng đất: được thực hiện quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ (thông tư 202 thực hiện theo quy định tại Điều 31 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP) 

+ Bổ sung Nguyên tắc khấu trừ giá trị lợi thế vị trí địa lý vào thông tư 127, thông tư 202 không có hướng dẫn (Điều 25 TT127/2014/BTC)

2.1 Xử lý tài chính khi cổ phần hóa (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

2.1.1 Kiểm kê tài sản, đổi chiểu công nợ (Trích dẫn từ Mục I, Chương II, TT127/2014/BTC)

Điều 4. Kiểm kê, phân loại tài sản.

Khi nhận được quyết định cổ phần hóa của cơ quan có thẩm quyền doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm kiểm kê, phân loại tài sản, các nguồn vốn và quỹ doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

Lập bảng kê xác định đúng số lượng, chất lượng và giá trị của tài sản hiệncó; kiểm quỹ tiền mặt, đối chiếu số dư tiền gửi ngân hàng; xác định tài sản, tiền mặt thừa, thiếu so với sổ kế toán, nếu có bị thiếu sót thì phân tích nguyên nhân cũng như trách nhiệm của người có liên quan.

Tài sản đã kiểm kê được phân loại theo các nhóm sau:

  • a) Tài sản doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng.
  • b) Tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý.
  • c) Tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi (nếu có).
  • d) Tài sản thuê, mượn, giữ hộ, gia công, đại lý, ký gửi, góp vốn liên doanh, liên kết và các tài sản khác không phải của doanh nghiệp. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)
  • đ) Tài sản gắn liền với đất thuộc diện phải xử lý theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước.
  • e) Tài sản của các đơn vị sự nghiệp có thu (bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu), tài sản hoạt động sự nghiệp.
  • g) Tài sản chờ quyết định xử lý của các cơ quan có thẩm quyền.
  • h) Các khoản đầu tư tài chính (với các hoạt động góp vốn) bằng giá trị quyền sử dụng đất.

Điều 5. Đối chiếu, xác nhận và phân loại các khoản công nợ

Nợ phải thu:

a) Đối chiếu, xác nhận toàn bộ các khoản nợ phải thu theo từng khách nợ, bao gồm:

  • – Các khoản nợ phải thu chưa đến hạn và nợ phải thu đã quá hạn thanh toán.
  • – Phân tích rõ các khoản nợ khó, đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế. Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết. Xác định rõ trách nhiệm về các khoản nợ phải thu không có khách nợ xác nhận.
  • – Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi phải có đủ tài liệu chứng minh là không thu hồi được.

b) Rà soát các hợp đồng kinh tế để xác định các khoản đã trả trước cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ nhưng đã hạch toán toàn bộ giá trị trả trước vào chi phí kinh doanh như: tiền thuê nhà, tiền thuê đất, tiền lương, tiền công….

Nợ phải trả bao gồm các khoản nợ vay, nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước:

a) Lập bảng kê các khoản nợ vay theo từng chủ nợ; xác định các khoản nợ thuế và khoản phải nộp ngân sách nhà nước khác; phân tích cụ thể các khoản nợ vay theo hợp đồng, vay có bảo lãnh, vay do phát hành trái phiếu; các khoản vay trong hạn, vay chưa đến hạn trả, vay đã quá hạn thanh toán, khoản nợ gốc, nợ lãi chưa trả, khoản nợ phải trả nhưng không phải trả.

b) Nợ phải trả nhưng không phải trả là khoản nợ mà chủ nợ của doanh nghiệp cổ phần hóa khi thực hiện đối chiếu xác nhận nợ thuộc các trường hợp sau: (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

  • – Nợ của các doanh nghiệp đã giải thể, phá sản nhưng không xác định cơ quan hoặc cá nhânkế thừa, phá sản được cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt.
  • – Nợ của các cá nhân đã chết nhưng không xác định người kế thừa.
  • – Nợ của các chủ nợ khác đã quá hạn nhiều năm nhưng chủ nợ không đến đối chiếu, xác nhận thì doanh nghiệp cổ phần hóa phải có văn bản thông báo gửi trực tiếp đến chủ nợ đồng thời thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trước thời điểm kiểm kê 10 ngày làm việc.

2.1.2  Xử lý tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp và tại thời điểm chuyển thành công ty cổ phần (Trích dẫn từ Mục II, Chương II, TT127/2014/BTC)

Điều 9. Xử lý về tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp

Tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần hóa không phải thực hiện trích lập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư tài chính, nợ phải thu khó đòi, bảo hành sản phẩm, hàng hóa, công trình xây lắp; không phải trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định.

Xử lý tài sản: (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Căn cứ vào kết quả kiểm kê, phân loại tài sản, doanh nghiệp xử lý tài sản theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và khoản 1 Điều 1 Nghị định số 189/2013/NĐ-CP, trong đó:

a) Đối với tài sản thừa, thiếu, phải phân tích làm rõ nguyên nhân và xử lý như sau:

  • – Tài sản thiếu phải xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xử lý bồi thường vật chất theo quy định hiện hành; giá trị tài sản thiếu sau khi trừ khoản bồi thường của tổ chức, cá nhân (nếu có), doanh nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh.
  • – Tài sản thừa, nếu không xác định được nguyên nhân hoặc không tìm được chủ sở hữu thì xử lý tăng giá trị thực tế phần vốn nhà nước.

b) Đối với những tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý:

  • – Giám đốc doanh nghiệp cổ phần hóa chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức thanh lý, nhượng bán tài sản. Việc thanh lý, nhượng bán tài sản được thực hiện thông qua phương thức đấu giá công khai theo quy định hiện hành của Nhà nước.
  • – Các khoản thu và chi phí cho hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản được hạch toán vào thu nhập và chi phí của doanh nghiệp.
  • – Đến thời điểm tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp, những tài sản không cần dùng, tài sản ứ đọng, tài sản chờ thanh lý chưa được xử lý, ngoại trừ các trường hợp tài sản không được phép loại trừ quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền quyết định công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa xem xét, quyết định loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp và thực hiện chuyển giao cho các cơ quan theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP. Cụ thể: (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Công ty Mua bán nợ Việt Nam để xử lý theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp quy định tại Điều 2 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con để xử lý theo quy định đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn do các doanh nghiệp này nắm giữ 100% vốn điều lệ.

c) Đối với tài sản của các đơn vị sự nghiệp có thu (bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu) khi thực hiện cổ phần hóa Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con; tài sản hoạt động sự nghiệp thực hiện xử lý cụ thể như sau:

– Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa tiếp tục kế thừa thì phải tổ chức xử lý tài chính và định giá vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo quy định tại Thông tư này. Doanh nghiệp cổ phần hóa cần xác định mô hình hạch toán (hạch toán độc lập, phụ thuộc) của các đơn vị sự nghiệp có thu để áp dụng các cơ chế tài chính theo quy định của pháp luật.

– Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa không kế thừa thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định chuyển giao cho các Bộ, ngành có liên quan hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện xã hội hóa theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chưa chuyển giao thì các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đang thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Công ty mẹ trong tổ hợp công ty mẹ – con tiếp tục quản lý và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các đơn vị này. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

d) Tài sản chờ quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền đến thời điểm tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp mà chưa có quyết định xử lý thì loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp và thực hiện chuyển giao cho các đơn vị theo khoản 2 Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

đ) Khi xác định giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần hóa được loại trừ khoản đầu tư tài chính (góp vốn liên doanh, góp vốn thành lập công ty TNHH, các hoạt động góp vốn khác) bằng giá trị quyền sử dụng đất trong trường hợp thống nhất được với các bên góp vốn để thực hiện chuyển giao cho doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn khác làm đối tác.

Trường hợp không chuyển giao được cho doanh nghiệp 100% vốn nhà nước khác làm đối tác thì doanh nghiệp tiếp tục kế thừa tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo nguyên tắc quy định tại Điều 33 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

e) Doanh nghiệp cổ phần hóa không được loại trừ ra khỏi giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa các tài sản đã được doanh nghiệp sử dụng để thế chấp đảm bảo cho các khoản nợ vay kể cả những tài sản doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng.

g) Các tài sản không được phép loại trừ doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

h) Doanh nghiệp cổ phần hóa lập phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Thủ tướng Chính phủ để xử lý dứt điểm quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất của doanh nghiệp trước khi thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa.

Đối với tài sản gắn liền với đất không thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần hóa căn cứ phương án sắp xếp lại, xử lý các cơ sở nhà, đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Thủ tướng Chính phủ xử lý dứt điểm quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất của doanh nghiệp trước khi thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa.

i) Tài sản là công trình phúc lợi: nhà trẻ, nhà mẫu giáo, bệnh xá và các tài sản phúc lợi khác được đầu tư bằng nguồn quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng; nhà ở của cán bộ, công nhân viên được đầu tư bằng nguồn quỹ phúc lợi và đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp được xử lý theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

k) Đối với tài sản dùng trong sản xuất, kinh doanh đầu tư bằng nguồn Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi của doanh nghiệp cổ phần hóa được tính vào giá trị doanh nghiệp và công ty cổ phần tiếp tục sử dụng trong sản xuất, kinh doanh. Phần vốn tương ứng với giá trị tài sản này doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm hoàn trả Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi để chia cho người lao động đang làm việc ở doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp theo số năm công tác tại doanh nghiệp cổ phần hóa.

2.2 Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

2.2.1 Tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp (Trích dẫn Mục I, Chương III, TT127/2014/BTC)

Điều 12. Tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp cổ phần hóa có tổng giá trị tài sản theo sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên hoặc giá trị vốn nhà nước theo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên phải thuê các tổ chức có chức năng định giá thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.

Tổ chức có chức năng định giá là các công ty kiểm toán, công ty chứng khoán, doanh nghiệp thẩm định giá trong nước và ngoài nước (sau đây viết tắt là tổ chức tư vấn định giá) khi đăng ký cung cấp dịch vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, phải có đủ các điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 22 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và thuộc danh sách các doanh nghiệp có đủ điều kiện thực hiện chức năng thẩm định giá do Bộ Tài chính thông báo hàng năm.

Cơ quan quyết định cổ phần hóa lựa chọn tổ chức tư vấn định giá thực hiện tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp theo nguyên tắc:

a) Đối với các gói thầu tư vấn định giá có giá trị không quá 500 triệu đồng thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố; trường hợp xét thấy cần phải tổ chức đấu thầu thì thực hiện đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu.

b) Đối với gói thầu tư vấn định giá có giá trị từ 500 triệu đồng đến không quá 3 tỷ đồng thì cơ quan quyết định phương án cổ phần hóa có thể lựa chọn hình thức chỉ định thầu để lựa chọn tổ chức tư vấn định giá trong danh sách do Bộ Tài chính công bố sau khi có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

c) Đối với các gói thầu tư vấn không thuộc quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều này thì cơ quan có thẩm quyền quyết định phương án cổ phần hóa quyết định tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo quy định.

Căn cứ quyết định lựa chọn tổ chức tư vấn định giá của cơ quan quyết định cổ phần hóa, Giám đốc doanh nghiệp cổ phần hóa ký hợp đồng với tổ chức tư vấn định giá. Hợp đồng tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp cần phải thể hiện đầy đủ trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa và trách nhiệm của tổ chức tư vấn định giá và các nội dung sau:

a) Phương pháp định giá mà tổ chức tư vấn sử dụng để xác định giá trị doanh nghiệp.

b) Thời gian hoàn thành: tối đa không quá 60 ngày theo lịch kể từ ngày được cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan đến xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty mẹ; không quá 30 ngày đối với các đối tượng còn lại.

Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hóa có quy mô lớn và có tính đặc thù (nhiều đầu mối, xử lý tài chính phức tạp…) phải kéo dài thời gian thì phải được sự chấp thuận của cơ quan quyết định cổ phần hóa. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

c) Trách nhiệm của doanh nghiệp cổ phần hóa: doanh nghiệp cổ phần hóa có trách nhiệm trong việc thực hiện các công việc có liên quan đến việc định giá như: kiểm kê, phân loại tài sản, xử lý tài chính, lập phương án sản xuất kinh doanh, cung cấp tài liệu có liên quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của các tài liệu đã cung cấp.

d) Trách nhiệm của tổ chức tư vấn định giá: tổ chức tư vấn định giá có trách nhiệm lựa chọn các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thích hợp để định giá, thực hiện đúng các quy định xác định giá trị doanh nghiệp; giải thích rõ các trường hợp giá trị tài sản xác định lại thấp hơn giá trị tài sản ghi trên sổ kế toán và giải trình các vấn đề khác liên quan đến việc xác định giá trị doanh nghiệp theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; hoàn thành đúng thời hạn theo hợp đồng đã ký; chịu trách nhiệm về kết quả xác định giá trị doanh nghiệp.

Trường hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp không đảm bảo đúng quy định của Nhà nước thì cơ quan quyết định cổ phần hóa có văn bản thông báo từ chối không thanh toán phí thực hiện dịch vụ và bị xem xét loại ra khỏi danh sách các tổ chức đủ điều kiện tham gia tư vấn định giá. Nếu gây tổn thất cho Nhà nước thì tổ chức tư vấn định giá phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

đ) Chi phí tư vấn định giá và thanh toán, quyết toán: (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Chi phí tư vấn định giá do doanh nghiệp cổ phần hóa và tổ chức tư vấn thỏa thuận theo kết quả đấu thầu. Trường hợp không đấu thầu, Ban chỉ đạo cổ phần hóa thương thảo với tổ chức tư vấn định giá về chi phí và trình cơ quan quyết định cổ phần hóa quyết định. Mức chi phí cổ phần hóa thực hiện theo quy định tại Thông tư số 196/2011/TT-BTC ngày 26/12/2011 của Bộ Tài chính.

Việc thanh toán chi phí tư vấn định giá: Khi có quyết định công bố giá trị doanh nghiệp, doanh nghiệp cổ phần hóa thực hiện thanh toán bằng 80% giá trị ghi trong hợp đồng. Khi có quyết định phê duyệt phương án cổ phần hóa, doanh nghiệp cổ phần hóa thanh toán số tiền còn lại theo hợp đồng cho tổ chức tư vấn định giá.

Trong quá trình thực hiện phương án cổ phần hóa, tổ chức tư vấn định giá có trách nhiệm phối hợp với doanh nghiệp để giải trình các nội dung có liên quan đến việc định giá. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Doanh nghiệp cổ phần hóa không thuộc đối tượng phải thuê tổ chức tư vấn định giá theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP thì doanh nghiệp tự xác định giá trị doanh nghiệp và báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp này thuê tổ chức tư vấn định giá xác định giá trị doanh nghiệp thì doanh nghiệp tự lựa chọn tổ chức tư vấn định giá mà không phải tổ chức đấu thầu. Các quy định khác đối với tổ chức tư vấn định giá và doanh nghiệp cổ phần hóa trong việc thực hiện thuê tư vấn định giá xác định giá trị doanh nghiệp thực hiện theo quy định tại điều này.

2.2.2 Xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp tài sản

(Trích dẫn Mục II, Chương III, TT127/2014/BTC)

Điều 17. Giá trị thực tế doanh nghiệp cổ phần hóa

  1. Giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán là tổng giá trị tài sản thể hiện trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
  2. Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được.
  3. Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa không bao gồm các khoản không tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa do người có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp xem xét quyết định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và điểm b, khoản 1, Điều 1 Nghị định số 189/2013/NĐ-CP. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)
  4. Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 189/2013/NĐ-CP và giá trị lợi thế kinh doanh theo quy định tại Điều 32 của Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.
  5. Đối với các tổ chức tài chính, tín dụng khi xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá lại đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn, chi phí dở dang liên quan đến chi phí đền bù, giải tỏa, san lấp mặt bằng và giá trị quyền sử dụng đất theo chế độ Nhà nước quy định.

Chương 3: Liên hệ thực tiễn việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam và ý kiến chuyên gia

3.1 Ví dụ điển hình – Vinacomin Power (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Công ty Vinacomin Power (lúc này là doanh nghiệp nhà nước) thực hiện định giá doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty cổ phần. Hiện tại, Tổng công ty đang sở hữu 12,8 triệu cổ phiếu NT2  của CTCP Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 và được đánh giá là món hời cho NĐT khi tham gia đấu giá cổ phần. Vì giá cổ phiếu NT2 tại thời điểm xác định giá trị Vinacomin để thực hiện cổ phần hóa ngày 1/4/2014 là 23.600 đồng/CP gấp 3 lần giá 1 năm về trước. Và các nhà đầu tư giả định giá cổ phiếu NT2 còn có thể tăng nữa. Thế nhưng, giả định này có thể trở thành “cái bẫy” với nhà đầu tư.

Theo điều 10, thông tư 127/2014/TT-BTC, xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành công ty cổ phần, phần chênh lệch tăng giá trị đầu tư tài chính phát sinh xác định tại thời lập báo cáo tài chính chuyển đổi thành CTCP so với thời điểm định giá sẽ được hạch toán tăng vào phần vốn góp của cổ đông Nhà nước.

Theo đó, giả sử tại thời điểm chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động sang CTCP, giá NT2 tăng lên mức 30.000 đồng/CP, thì các cổ đông tham giá đấu giá Vinacomin Power sẽ coi như bị mua NT2 với mức giá 30.000 đồng/CP, quy mô vốn điều lệ của Tổng công ty sẽ tăng thêm tương ứng khoảng 280 tỷ đồng.Nếu NT2 tiếp tục tăng giá, đó sẽ là nỗi ám ảnh của các NĐT tham gia vào Vinacomin Power, bởi đơn giản, mức giá này được xác định trên diễn biến tăng lợi nhuận đột biến của NT2. Với hiện trạng kinh doanh của NT2, đây có thể không phải là mức giá phù hợp cho nắm giữ lâu dài. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

3.2 Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Theo các chuyên gia kinh tế, việc 432 DN tiến hành tái cơ cấu, CPH trong 2 năm sẽ cần một nguồn vốn rất lớn để hấp thụ số lượng cổ phiếu khổng lồ. Trong khi đó, trong 2 năm tới, chuyển biến kinh tế Việt Nam và thế giới chưa có nhiều thuận lợi. Hiện quá trình hồi phục kinh tế thế giới chưa hoàn toàn khiến dòng vốn đầu tư từ các nước đang co cụm, phòng thủ thay vì mạnh mẽ đầu tư. Khó có dòng vốn lớn cả trong và ngoài nước nên xu hướng thoái vốn của khối DN nhà nước sẽ gặp không ít khó khăn…

Mới đây, trong số 25 DN chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) theo hình thức đấu giá, có đến 15 DN không bán hết cổ phần. Một số trường hợp như Công ty TNHH MTV Vận tải và Xếp dỡ đường thủy nội địa (Trancinwa) còn dư 99%, công ty dành hơn 2,5 triệu cổ phần đưa ra đấu giá nhưng chỉ bán được 24.200 đơn vị. Hay Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội (Hancorp) cũng bị dư khối lượng lớn cổ phần khi chỉ bán được hơn 3%, dù công ty dự kiến đấu giá hơn 49,7 triệu cổ phần khi IPO…

Tại Nghị quyết 15/NQ-CP của Chính phủ về đẩy mạnh CPH DN nhà nước có yêu cầu Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) xem xét, mua lại các khoản đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của các DN nếu thoái vốn không thành công và các lĩnh vực khác theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Giá mua được xác định theo giá thị trường nhưng không cao hơn giá trị trên sổ sách trừ đi các khoản dự phòng giảm giá đầu tư đã trích lập đầy đủ.

3.3 Ý kiến chuyên gia (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

TS Lê Đạt Chí, Trưởng Bộ môn Đầu tư Tài chính Trường ĐH Kinh tế TP HCM, cho rằng đối với những DN muốn chuyển từ công ty TNHH một thành viên sang công ty cổ phần, CPH không thành công có thể triển khai bán phần vốn cho SCIC hoặc các quỹ đầu tư phát triển địa phương. Chẳng hạn, tại TP HCM có Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước (HFIC), khi một DN bán cổ phần nhà nước để thoái vốn nhưng chỉ được vài phần trăm, số cổ phần còn lại sẽ bán cho HFIC để đơn vị này chọn thời điểm thích hợp bán dần, phát hành trái phiếu để huy động vốn, khi đó việc thoái vốn sẽ nhẹ nhàng hơn.

Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế TP HCM, quá  trình tái cơ cấu DN không chỉ có hình thức duy nhất là CPH mà có thể sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản bởi chúng ta quan tâm nhiều về chất lượng hơn là số lượng các DN. “Quá trình này nếu làm tốt sẽ góp phần làm giảm nợ xấu hệ thống NH vì nợ xấu gắn với quá trình vay nợ rất lớn của DN. Khi tái cơ cấu sẽ giúp xử lý nợ xấu và giải bài toán kép cho nền kinh tế” – ông Ngân nói.

TS Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DN vừa và nhỏ Việt Nam, đề xuất không nên tiến hành CPH toàn bộ 432 DN cùng lúc mà nên chọn ra những chỗ nào, lĩnh vực nào làm tốt thì triển khai trước để có sức lan tỏa. Chẳng hạn, những DN có vị trí quan trọng, ngành nghề trọng điểm cần sắp xếp lại, tập trung làm có thể đợt đầu chậm nhưng các đợt tiếp theo có kinh nghiệm sẽ làm nhanh hơn. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Theo PGS-TS Trần Hoàng Ngân, quá trình CPH cần được giám sát và các đại biểu Quốc hội cũng có trách nhiệm theo dõi để tránh thất thoát tài sản nhà nước. Lâu nay, khi đề cập đến tái cơ cấu DN, trong đó có việc thoái vốn nhà nước, dư luận thường không chấp nhận bán dưới mệnh giá sợ dẫn đến lỗ lã trong DN. Giờ cần chấp nhận quan điểm trong kinh doanh có lời, lỗ, quan trọng là khoản lỗ phát sinh từ đâu? Nếu lỗ do tiêu cực thì cần xử lý còn nếu nguyên nhân do suy thoái kinh tế, thị trường tài chính, bất động sản khó khăn… nên chấp nhận thoái vốn theo cơ chế thị trường. Người mua chấp nhận giá bao nhiêu thay vì cứ bán giá cao. “Quá trình định giá cũng cần phù hợp để nhà đầu tư thấy triển vọng DN, thấy lợi ích khi mua cổ phần” – ông Ngân nói.

Thực tế, rất nhiều DN sau IPO đã không niêm yết, cổ đông không thể giám sát được khi đưa ra nhiều lý do chần chừ. Nhiều công ty cấp nước, thoát nước, công ty dược sau CPH đã không lên sàn, vốn nhà nước không biết hiệu quả ra sao… Nhà nước phải có biện pháp bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, thực thi chính sách hiệu quả không để cho DN hô hào CPH xong là đâu lại vào đó.

Kết Luận (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Có thể, hiện nay quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, đòi hỏi cần có các quy định pháp luật cụ thể, chính xác và đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh ngay lập tức. Cho nên, việc ban hành các quy định của pháp luật về xử lý tài chính và định giá giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã tạo ra một kênh pháp lý phù hợp để tiến  hành cồ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình áp dụng vào thực tế đã có một số vướng mắc và hạn chế cần được khắc phục trong thời gian tới. (Tiểu Luận: Quy định pháp luật hiện hành về xử lý tài chính)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *