Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Ứng dụng mô hình Bayes phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

Tiêu đề: Ứng dụng mô hình Bayes phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Tóm tắt:

Tỷ lệ an toàn vốn kém không những ảnh hưởng đến sự tồn vong của một ngân hàng, mà nó sẽ tiềm ẩn những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và quyền lợi của nhà đầu tư, người dân gửi tiền tại ngân hàng, đặc biệt tầm quan trọng của nó gia tăng trong các thời kỳ khủng hoảng kinh tế. Nghiên cứu đặt mục tiêu tổng quát là phân tích một nhóm chín nhân tố chọn lọc ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 25 Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam bao phủ thời gian 15 năm (2009-2023) bằng việc sử dụng thuật toán lấy mẫu Hydrid Metropolis-Hastings (MH) trong khuôn khổ tiếp cận hồi quy tuyến tính hỗn hợp Bayes. Giai đoạn 2009-2019 là thời kỳ phục hồi của nền kinh tế toàn cầu và Việt Nam sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2008-2009 kéo dài đến khi đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng toàn thế giới trong hai năm 2020-2021. Nghiên cứu thực hiện mô phỏng mô hình Bayes bao gồm chín biến giải thích với sáu nhân tố vi mô (đặc thù ngân hàng): Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), khả năng thanh khoản (LIQ), dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), thu nhập lãi cận biên (NIM), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV), quy mô ngân hàng (SIZE) và ba yếu tố vĩ mô có tác động đến tỷ lệ an toàn vốn là: lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP) và dịch bệnh Covid-19 (COV). Để kiểm định hiệu quả lấy mẫu và năng lực dự báo của mô hình Bayes, tác giả thực hiện các kiểm định hội tụ chuỗi MCMC và tính hợp lý của mô hình Bayes. Theo những kết quả mô phỏng mô hình Bayes: Thứ nhất, những biến có quan hệ cùng chiều với CAR bao gồm: dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV); tỷ lệ lãi cận biên (NIM); lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP) và dịch bệnh Covid-19 (COV); Thứ hai, kết quả nghiên cứu cho thấy 3 biến có quan hệ ngược chiều với CAR là Quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) và khả năng thanh khoản (LIQ). Các kết quả mô phỏng mô hình Bayes là cơ sở vững chắc và tin cậy cho các gợi ý chính sách nhằm góp phần tăng tỷ lệ an toàn vốn cho các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam.

Từ khóa: hồi quy hiệu ứng hỗn hợp Bayes, hệ số an toàn vốn, ngân hàng thương mại Việt Nam

SUMMARY OF THE PROJECT

Title: Application of Bayesian Models in Analyzing Factors Affecting the Capital Adequacy Ratio of Vietnamese Joint-Stock Commercial Banks Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Abstract:

Poor capital adequacy ratios not only affect the survival of a bank but also pose risks that directly impact the safety and soundness of the banking system, as well as the interests of investors and depositors. The importance of these ratios becomes even more pronounced during economic crises. This research aims to analyze a selected group of nine factors influencing the capital adequacy ratios of 25 Vietnamese commercial banks over a 15-year period (2009-2023) using the Hybrid Metropolis-Hastings (MH) sampling algorithm within the framework of Bayesian linear mixed regression. The period from 2009 to 2019 marks the global and Vietnamese economic recovery after the 2008-2009 financial crisis, leading up to the global outbreak of the COVID-19 pandemic in 2020-2021. The study simulates a Bayesian model that includes nine explanatory variables: six micro factors (bank-specific) – Return on Assets (ROA), Liquidity (LIQ), Loan Loss Reserves (LLR), Net Interest Margin (NIM), Financial Leverage (LEV), and Bank Size (SIZE); and three macro factors affecting the capital adequacy ratio – Inflation (INF), Economic Growth (GDP), and the COVID-19 pandemic (COV). To assess the sampling efficiency and forecasting ability of the Bayesian model, the author conducts MCMC chain convergence tests and evaluates the model’s validity. According to the Bayesian model simulation results: First, variables positively correlated with the capital adequacy ratio (CAR) include Loan Loss Reserves (LLR), Financial Leverage (LEV), Net Interest Margin (NIM), Inflation (INF), Economic Growth (GDP), and the COVID-19 pandemic (COV). Second, the study reveals that three variables are negatively correlated with CAR: Bank Size (SIZE), Return on Assets (ROA), and Liquidity (LIQ). The Bayesian model simulation results provide a robust and reliable foundation for policy recommendations aimed at improving the capital adequacy ratios of Vietnamese commercial banks.

Keyword: Bayesian Mixed-effects Regression, CAR, Vietnamese Commercial Banks

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Những cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 và khủng hoảng kinh tế do đại dịch bệnh Covid-19 chưa từng biết trong lịch sử đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trên toàn cầu, trong đó hệ quả chung của chúng là thị trường chứng khoán lao dốc, rất nhiều doanh nghiệp phá sản…Đặc biệt là sự sụp đổ của các ngân hàng. Điều này dẫn đến khả năng cung cấp tín dụng giảm và mất niềm tin vào sự ổn định tài chính dẫn đến các khoản đầu tư ngày càng ít đi và thương mại bị chậm lại. Các cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử kinh tế thế giới đều xuất phát từ những nguyên nhân chính của riêng nó. Nhưng trong thời gian 5 năm trở lại đây, dưới tác động kép từ đại dịch Covid-19 vào năm 2019 và cuộc xung đột Nga-Ukraine từ đầu năm 2022, thế giới dường như đang bước vào cuộc khủng hoảng bản chất mới khi mà từ đầu năm 2023 đến nay, đã có 5 ngân hàng tại Mỹ đã sụp đổ bởi nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chung đó là mất khả năng thanh khoản rất nhanh trước làn sóng rút tiền.

Tại Việt Nam thời điểm Quý III năm 2022 cũng đã chứng kiến sự sụp đổ của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn (SCB) trong thời gian rất nhanh chóng. Mặc dù sự sụp đổ của SCB không hoàn toàn do tác động trực tiếp của những khó khăn trong nền kinh tế trong và ngoài nước thời điểm đó, mà chủ yếu do ảnh hưởng từ những thông tin tiêu cực gây ra làn sóng rút tiền gửi ồ ạt dẫn đến mất khả năng thanh khoản. Có thể thấy, nếu như trước đây sự sụp đổ của các ngân hàng chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân chính là nợ xấu, thì từ năm 2022 đến nay sự sụp đổ của các ngân hàng trong và ngoài nước lại đến từ khả năng chịu đựng trước sự biến động giảm mạnh trong thời gian ngắn của nguồn vốn huy động mà trong đó tỷ lệ an toàn vốn giữ vai trò hết sức quan trọng.

Tỷ lệ an toàn vốn kém không những ảnh hưởng đến sự tồn vong của một ngân hàng, mà nó sẽ tiềm ẩn những rủi ro ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng và quyền lợi của nhà đầu tư, người dân gửi tiền tại ngân hàng. Hệ thống tài chính có thể sụp đổ nếu không có sự can thiệp của ngân hàng trung ương. Vì vậy, nhằm bảo vệ người gửi tiền cũng như hạn chế việc vỡ nợ của ngân hàng thì vấn đề tỷ lệ an toàn vốn đã được cơ quan quản lý đề cao.

Tỷ lệ an toàn vốn là thước đo quan trọng để đánh giá bức tranh hoàn chỉnh về hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Hiện nay, hệ thống NHTM nước ta dần được cải thiện để đáp ứng các tiêu chuẩn về tỷ lệ an toàn vốn theo yêu cầu của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision – BCBS). Thông tư 41/2016/ TT-NHNN quy định: “Các ngân hàng sẽ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức tối thiểu là 8%”. Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2022) thì tỷ lệ an toàn vốn trung bình của toàn hệ thống là 11,68%, trong đó tỷ lệ các NHTMCP nhà nước là 9,16% và các NHTMCP là 12,01%. Mặc dù các tỷ lệ này vẫn đạt được mức chỉ tiêu trên 8% nhưng nó không quá cao nên nếu tiếp tục áp dụng Basel III thì chất lượng vốn đòi hỏi khắt khe hơn và khả năng tỷ lệ an toàn vốn sẽ không đạt được. Nếu đạt được tiêu chuẩn tỷ lệ an toàn vốn, NHTMCP sẽ tạo ra một rào cản tốt đối với biến động tài chính để tránh rủi ro và bảo vệ khách hàng của mình. Do đó, câu hỏi đặt ra cho ban lãnh đạo NHTM là làm thế nào để nâng cao tỷ lệ an toàn vốn để đáp ứng Basel III trong chặng đường sắp tới, khi mọi biến động dù là nhỏ nhất sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng. Để trả lời câu hỏi này cách tốt nhất là xác định những yếu tố nào ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn và phạm vi của nghiên cứu này là các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2023. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn CAR mà hầu hết các nghiên cứu trước đây đã sử dụng là hồi quy dữ liệu bảng bằng mô hình hồi quy tần suất (frequentist). Tuy nhiên, các phương pháp này có nhiều hạn chế so với phương pháp hồi quy Bayes. Vì vậy, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính hiệu ứng hỗn hợp Bayes để phân tích dữ liệu bảng làm phương pháp nghiên cứu trong đề án này.

Vì những lý do trên, nhóm thực hiện quyết định chọn đề tài “Ứng dụng mô hình Bayes phân tích các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”. Thông qua đề tài giúp các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) có thể đưa ra các biện pháp cải thiện, tăng cường quản trị rủi ro và tăng độ tin cậy trong hoạt động kinh doanh. Đồng thời, kết quả của nghiên cứu cũng có thể hỗ trợ các cơ quan nhà nước trong việc điều chỉnh chính sách quản lý và giám sát ngành ngân hàng, giúp nâng cao chất lượng và độ an toàn của hệ thống tài chính Việt Nam.

1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1. Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá tác động của các yếu tố chọn lọc đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2023.

1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Dựa vào mục tiêu nghiên cứu chung, tác giả đặt ra các mục tiêu cụ thể sau:

  • Một là, xác định các yếu tố chọn lọc trong mô hình Bayes đo lường tác động của chúng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.
  • Hai là, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chọn lọc đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam.
  • Ba là, dựa trên kết quả nghiên cứu, đề án đưa ra các đề xuất cho các NHTMCP Việt Nam và kiến nghị cho các cơ quan quản lý nhằm nâng cao tỷ lệ an toàn vốn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.

1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu được nhóm chúng tôi đưa ra và để đạt được nó thì tiểu luận tập trung trả lời các câu hỏi:

  • Một là, các yếu tố quan trọng tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam là gì?
  • Hai là, các yếu tố này ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam như thế nào?
  • Ba là, từ kết quả nghiên cứu có những đề xuất và kiến nghị gì nhằm nâng cao tỷ lệ an toàn vốn cho hoạt động của các NHTMCP Việt Nam?

1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề án là các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian nghiên cứu: đề án chọn một mẫu dữ liệu bao gồm các NHTMCP Việt Nam. Tính đến 30/09/2023, Việt Nam có 31 NHTMCP nhưng một số ngân hàng có tài liệu công bố chưa đầy đủ. Vì vậy, đề án đưa vào mẫu chỉ 25 NHTMCP Việt Nam. Các ngân hàng nghiên cứu thể hiện trong phần phụ lục của đề án (Phụ lục 1).

Thời gian nghiên cứu: đề án lấy giai đoạn 2009-2023 làm thời gian nghiên cứu. Đây là giai đoạn kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống NHTMCP nói riêng đang phục hồi sau giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009.

1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng được đề án đồng thời sử dụng. Trong đó, phương pháp định lượng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo.

Phương pháp nghiên cứu định tính: đề án sử dụng các phương pháp phân tích nội dung (content analysis), tổng hợp, phân tích, so sánh và mô tả các số liệu thống kê nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng ở Chương II, đề xuất mô hình, mô tả phương pháp và dữ liệu nghiên cứu trong Chương III, thảo luận các kết quả nghiên cứu trong Chương IV, đưa ra các đề xuất và kiến nghị cho đối tượng liên quan ở Chương V.

Phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính hiệu ứng hỗn hợp Bayes (Bayesian mixed-effects) thông qua thuật toán lấy mẫu MCMC (Markov chain Monte Carlo) để đánh giá tác động của 6 yếu tố vi mô là: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), khả năng thanh khoản (LIQ), dự phòng rủi ro tín dụng (LLR), Thu nhập lãi cận biên (NIM), hệ số đòn bẩy tài chính (LEV) và quy mô ngân hàng (SIZE). Ba yếu tố vĩ mô có tác động đến tỷ lệ an toàn vốn là: lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP) và dịch bệnh Covid-19 (COV) đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam. Dữ liệu các yếu tố vi mô được trích xuất từ BCTN, BCTC hợp nhất đã được kiểm toán của 25 NHTMCP Việt Nam, từ website cùa các ngân hàng. Dữ liệu các yếu tố vĩ mô được lấy từ database trên website của Ngân hàng thế giới (World Bank).

Đề án chọn phương pháp hồi quy tuyến tính hiệu ứng hỗn hợp Bayes vì phương pháp này có nhiều lợi thế hơn so với phương pháp tần suất truyền thống ở các điểm sau: Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Thứ nhất, phân tích Bayes là một công cụ phân tích mạnh để lập mô hình thống kê, giải thích kết quả và dự báo dữ liệu. Phương pháp hồi quy Bayes có thể được sử dụng khi không có phương pháp tần suất chuẩn nào có sẵn hoặc các phương pháp tần suất hiện có không thành công để ước lượng một mô hình phức tạp.

Thứ hai, tính phổ quát của phương pháp hồi quy Bayes có thể được xem là lợi thế về mặt phương pháp so với phương pháp tiếp cận tần suất truyền thống. Suy luận Bayes dựa trên một quy tắc xác suất duy nhất, quy tắc Bayes được áp dụng cho tất cả các mô hình tham số. Điều này làm cho cách tiếp cận Bayes trở nên phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi đáng kể cho việc áp dụng và giải thích kết quả. Trong khi đó, cách tiếp cận tần suất dựa trên nhiều phương pháp ước lượng được thiết kế cho các vấn đề và mô hình thống kê cụ thể. Thông thường, các phương pháp suy luận được thiết kế cho một nhóm mô hình này thì không thể được áp dụng cho một nhóm mô hình khác.

Thứ ba, trong phân tích Bayes, chúng ta có thể sử dụng thông tin trước đó (tiên nghiệm), cả niềm tin, kiến thức hoặc bằng chứng thực nghiệm, trong mô hình để thu được kết quả cân bằng hơn cho một mối quan hệ cụ thể. Chẳng hạn như kết hợp thông tin tiên nghiệm với dự liệu có thể giảm thiểu ảnh hưởng sai lệch của cỡ mẫu nhỏ.

Thứ tư, sử dụng kiến thức về toàn bộ phân phối hậu nghiệm của các tham số mô hình, phân tích Bayes toàn diện và linh hoạt hơn so với phân tích tần suất truyền thống.

Thứ năm, phân tích Bayes là chính xác, theo nghĩa là ước lượng và dự báo dựa trên phân phối hậu nghiệm. Các phương pháp hồi quy Bayes có thể được sử dụng để mô phỏng nhiều mô hình, bao gồm cả những hàm phức tạp với độ chính xác tùy ý.

Thứ sáu, phân tích Bayes cung cấp một cách giải thích đơn giản và trực tiếp hơn về các kết quả dưới dạng xác suất. Ví dụ, các khoảng tin cậy được hiểu là các khoảng mà các tham số thuộc về với một xác suất nhất định.

Cuối cùng, độ chính xác ước tính trong phân tích Bayes không bị giới hạn bởi kích thước mẫu – phương pháp hồi quy Bayes có thể cung cấp một mức độ chính xác tùy ý và không bị ảnh hưởng bởi các hạn chế như đa cộng tuyến, quan hệ nhân quả nghịch, tự tương quan, nội sinh và phương sai sai số thay đổi mà phương pháp tần suất gặp phải.

Bên cạnh đó, hồi quy hiệu ứng hỗn hợp được sử dụng trong nghiên cứu này cho phép đánh giá tác động của các hiệu ứng ngẫu nhiên đại diện cho những yếu tố đặc thù của từng ngân hàng. Cho nên kết quả hồi quy hiệu úng hỗn hợp thường chính xác hơn so với hồi quy tuyến tính thông thường (Nezlez, 2008). Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra đề xuất giải pháp cho vấn đề nghiên cứu.

1.6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề án có đóng góp cả về mặt phương pháp và thực tiễn.

Về mặt phương pháp: đề án nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2023, để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu sử dụng hồi quy tuyến tính hiệu ứng hỗn hợp Bayes, một khác biệt về phương pháp so với các nghiên cứu cùng chủ đề.

Về mặt thực tiễn: nghiên cứu sẽ cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2009-2023. Dựa vào các khám phá thực nghiệm, các NHTMCP đề xuất chính sách không chỉ cho bản thân ngân hàng mà còn giúp các cơ quan quản lý, các nhà hoạch định chính sách đưa ra các giải pháp giúp các ngân hàng nâng cao tỷ lệ an toàn vốn.

1.7. KẾT CẤU ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong Chương I, nghiên cứu trình bày tổng quan về đề tài bao gồm lý do chọn đề tài, các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu. Ngoài ra, đề án còn trình bày các đóng góp của đề tài. Cuối Chương I, đề án sẽ đưa ra tổng quan về bố cục của công trình nghiên cứu.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trong Chương II, đề án trình bày tổng quan về cơ sở lý luận của tỷ lệ an toàn vốn bao gồm: khái niệm, cách đo lường và ý nghĩa. Nghiên cứu cũng lược khảo các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước nhằm rút ra được các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của NHTMCP. Trên cơ sở đó, đề án đề xuất mô hình nghiên cứu trong Chương III.

CHƯƠNG III: MÔ HÌNH, DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa trên cơ sở lý thuyết, đề án đưa ra mô hình nghiên cứu cho hệ thống các NHTMCP Việt Nam. Đồng thời, đề án cũng đề xuất các giả thuyết nghiên cứu thông qua nghiên cứu liên quan. Bên cạnh đó, nghiên cứu trình bày mô hình, dữ liệu thu thập được, phương pháp Bayes thực hiện hồi quy kinh tế lượng, trình tự thực hiện kinh tế lượng cho mô hình nghiên cứu và xử lý dữ liệu bảng thu thập thông qua phần mềm Stata 18. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Chương IV trình bày kết quả mô hình nghiên cứu. Các kết quả nghiên cứu phân tích Bayes được trích xuất từ Stata 18 được dùng để lý giải tác động của biến độc lập đến tỷ lệ an toàn vốn và phân tích các kết quả thực nghiệm.

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Chương cuối sẽ trình bày các kết luận chung dựa trên các kết quả thực nghiệm đtạ được trong Chương IV. Trên cơ sở đó, nghiên cứu nhận định những hạn chế, đề xuất các gợi ý chính sách cho các NHTM Việt Nam và những kiến nghị cho cá c cơ quan quản lý nhằm nâng cao tỷ lệ an toàn vốn cho hệ thống NHTM Việt Nam.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương I trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm nêu bật lý do chọn đề tài, đề ra những mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi đối tượng, trình bày cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, xác định những đóng góp về phương pháp và thực tiễn. Đó là tiền đề phương pháp luận nhằm làm rõ, chi tiết hơn mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ an toàn vốn của các NHTMCP Việt Nam sẽ được trình bày chi tiết ở những chương sau.

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ AN TOÀN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TỶ LỆ AN TOÀN VỐN

2.1.1. Cơ sở hình thành tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Ngân hàng được cấp vốn thông qua hai nguồn chính: vốn vay và vốn chủ sở hữu. Vốn vay, chẳng hạn như các khoản vay và tiền gửi, tạo ra các khoản nợ theo hợp đồng phải được hoàn trả đúng hạn để tránh rủi ro tín dụng (RRTD) và bất ổn tiềm ẩn cho ngân hàng. Ngược lại, giá trị vốn chủ sở hữu có thể dao động mà không ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng. Ngay cả khi giá trị vốn chủ sở hữu giảm, ngân hàng vẫn có thể tiếp tục hoạt động bình thường và hoàn thành các nghĩa vụ hạn chế của mình. Tuy nhiên, một lượng vốn chủ sở hữu đáng kể góp phần vào sự ổn định của ngân hàng và giảm rủi ro vỡ nợ trong điều kiện thị trường đầy thách thức. Các quy định về vốn có thể ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng. Khi các ngân hàng được yêu cầu tuân thủ các quy định về vốn, họ có thể hạn chế các khoản tín dụng hoặc tăng vốn chủ sở hữu, do đó làm giảm khả năng cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngoài ra, các hạn chế về đòn bẩy tài chính ngăn cản các ngân hàng khai thác các lợi ích về thuế khi vay để nâng cao lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu.

Năm 1986, các nhà quản lý lo ngại tỷ lệ vốn cơ bản không phân biệt và cũng không cung cấp được thước đo chính xác về mức độ rủi ro, đặc biệt đối với các hoạt động ngoại bảng. Vì lẽ đó, họ bắt đầu nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn vốn dựa trên rủi ro của các quốc gia khác. Cuối cùng, họ đồng thuận về sự cần thiết chỉnh sửa định nghĩa về tỷ lệ vốn cho phù hợp với mức độ chấp nhận rủi ro tính đến hai khuynh hướng chính trong ngành ngân hàng. Khuynh hướng đầu tiên là ngân hàng đang từ bỏ những tài sản thanh khoản an toàn nhưng với suất sinh lợi thấp. Khuynh hướng thứ hai là ngân hàng đang thúc đẩy những hoạt động rủi ro không được tính đến theo các tỷ lệ vốn hiện hữu (đó là các hoạt động ngoại bảng). Vì vậy, cơ quan quản lý muốn thiết lập một “tỷ lệ tài sản rủi ro” mới như một tỷ lệ vốn điều chỉnh để sử dụng đồng thời với các tỷ lệ vốn hiện có. Làm như vậy, họ kỳ vọng khuôn khổ vốn mới có thể đáp ứng có hệ thống và một cách rõ ràng đến hồ sơ rủi ro của ngân hàng và làm sáng tỏ hàng loạt hoạt động rủi ro.

Sau khi Hiệp ước Basel được ký kết vào năm 1988, Ủy ban Basel đã thiết kế nhiều tiêu chuẩn quốc tế cho hoạt động ngân hàng mà có ảnh hưởng nhất là các Hiệp ước về an toàn vốn Basel I, Basel II và mới nhất Basel III.

2.1.2. Hiệp ước Basel về tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Cuối năm 1974, các Thống đốc G10 thiết lập BCBS, một ủy ban đóng vai trò như một diễn đàn đa quốc gia để chia sẻ nhiều vấn đề liên quan đến giám sát ngân hàng và hiệp lực cùng phát triển bộ tiêu chuẩn giám sát quốc tế (Bank for International Settlements, 2017). Basel I, Basel II và cuối cùng là Basel III là các Hiệp ước giám sát ngân hàng nổi bật do Ủy ban này xây dựng.

2.1.2.1. Basel I: Hiệp ước vốn Basel

Theo nhận định của Goodhart (2011): “Đầu những năm 1980, môi trường hoạt động của các ngân hàng ngày càng phức tạp và nhiều rủi ro do tác động của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, sự đổi mới trong công nghệ ngân hàng và quá trình hội nhập nhanh chóng xâm nhập vào thị trường tài chính”. Các chủ thể kinh tế bắt đầu đối diện với những rủi ro tài chính gia tăng mạnh về tần suất và độ nghiêm trọng. Cuộc khủng hoảng nợ Mỹ Latinh khiến Ủy ban lo ngại hơn nữa khi tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng quốc tế đang xấu đi. Nhờ sự hỗ trợ của các Thống đốc G10, các thành viên của Ủy ban đã tiếp cận trọng số để đo lường rủi ro nhận được sự đồng thuận rộng rãi.

Ủy ban đã nhận ra một nhu cầu quan trọng đối với một Hiệp ước đa quốc gia nhằm tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế, loại bỏ căn nguyên của sự bất bình đẳng bắt nguồn từ các khác biệt quốc gia về yêu cầu vốn. Sau một bài báo tư vấn được công bố vào tháng 12/1987, các Thống đốc G10 phê duyệt một hệ thống đo lường vốn gọi là “Hiệp ước vốn Basel” và phát hành cho các ngân hàng vào tháng 7/1988. Hiệp ước này khuyến khích áp dụng tỷ lệ vốn tối thiểu là 8% vào cuối năm 1992 (Bank for International Settlements, 2017). Như vậy, Basel I góp phần vào việc điều chỉnh liên tục các quy định tốt nhất cho ngân hàng, mở đường cho các Hiệp ước tiếp theo. Tuy nhiên, Basel I có những hạn chế:

  • Chú trọng giá trị sổ sách hơn là giá trị thị trường.
  • Sử dụng tỷ lệ an toàn vốn chỉ dựa vào RRTD, trong khi đó nhiều loại các rủi ro khác bị bỏ qua.
  • Cào bằng, không nhận diện sự khác biệt giữa những con nợ có xếp hạng và các mức chất lượng tín dụng khi đo lường RRTD. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

2.1.2.2. Basel II: Khung vốn mới

Để khắc phục những hạn chế của Basel I, vào tháng 6/1999, Ủy ban đã đề xuất về khuôn khổ an toàn vốn mới thay thế cho Hiệp ước 1988. Kết quả là một khung vốn sửa đổi được phát hành vào tháng 6/2004, thường được gọi là “Basel II”. Đây là Hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn hướng đến mục tiêu khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro. Khung sửa đổi này gồm có ba trụ cột:

  • Trụ cột 1: yêu cầu về vốn tối thiểu. Trụ cột đầu tiên đòi hỏi duy trì liên tục mức vốn pháp định cần thiết để bảo vệ ngân hàng chống lại ba loại rủi ro chính mà chúng phải đối mặt là RRTD, RRHĐ và RRTT.
  • Trụ cột 2: rà soát giám sát. Ngân hàng cần lập quy trình đánh giá an toàn vốn tổng thể và chiến lược để duy trì vốn; Giám sát viên cần rà soát và xem xét quy trình đánh giá về mức vốn nội bộ cũng như về các chiến lược của ngân hàng; Ở giai đoạn đầu, giám sát viên cần can thiệp để ngăn chặn mức an toàn vốn thấp hơn mức tối thiểu.
  • Trụ cột 3: nguyên tắc thị trường. Cần sử dụng hiệu quả công bố thông tin như một đòn bẩy để củng cố nguyên tắc thị trường và khuyến khích các hoạt động lành mạnh của ngân hàng.

2.1.2.3. Basel III: Ứng phó với cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009

Trước khi Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9 năm 2008, rõ ràng là có nhu cầu cấp thiết phải tăng cường khuôn khổ Basel II về cơ bản. Nhận thức này xuất hiện khi những điểm yếu trong hệ thống ngân hàng nổi lên, bao gồm đòn bẩy quá mức và đệm thanh khoản không đủ, cùng với quản trị rủi ro kém. Những thiếu sót kết hợp này đã dẫn đến việc định giá sai RRTD và RRTK và tăng trưởng tín dụng không bền vững. Để ứng phó, BCBS đã ban hành “Nguyên tắc Quản lý và Giám sát Rủi ro Thanh khoản Lành mạnh” vào tháng 9 năm 2008. Đến tháng 7 năm 2009, BCBS đã công bố thêm các tài liệu để tăng cường khuôn khổ vốn Basel II, giải quyết các vị thế chứng khoán hóa phức tạp, các mục ngoài bảng cân đối kế toán và rủi ro danh mục giao dịch. Những bản cập nhật này nhằm mục đích khắc phục những thiếu sót do Cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009 gây ra và củng cố quy định và giám sát các ngân hàng hoạt động quốc tế. Vào tháng 9 năm 2010, BCBS đã công bố các tiêu chuẩn vốn tối thiểu toàn cầu cao hơn đối với các NHTM, sau một thỏa thuận vào tháng 7 về thiết kế toàn diện của một gói cải cách vốn và thanh khoản được gọi là “Basel III”. Các tiêu chuẩn mới này đã được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo G20 ở Seoul vào tháng 11 năm 2010 và sau đó được nhất trí tại cuộc họp của Ủy ban Basel vào tháng 12 năm 2010. Các tiêu chuẩn được đề xuất, do BCBS ban hành vào giữa tháng 12 năm 2010, được nêu chi tiết trong “Basel III: Khung quốc tế về Đo lường, Tiêu chuẩn và Giám sát Rủi ro Thanh khoản” và “Basel III: Khung quản lý toàn cầu cho các ngân hàng và hệ thống ngân hàng có khả năng phục hồi cao hơn”. Basel III xây dựng và củng cố ba trụ cột do Basel II thiết lập đồng thời mở rộng phạm vi của nó. Các cải cách này, dự kiến triển khai từ năm 2013 đến năm 2019, bao gồm: Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Cải thiện chất lượng vốn: Basel III yêu cầu ngân hàng nắm giữ vốn chất lượng cao hơn để hấp thụ tốt hơn những khoản lỗ bất ngờ, tăng tỷ lệ vốn cấp I lên 6% từ mức 4% theo yêu cầu của Basel II.

Cải thiện khả năng nắm bắt rủi ro: Khung cải cách bao gồm các điều chỉnh đối với RRTD, RRTT, điều chỉnh giá trị tín dụng và rủi ro hoạt động để cải thiện độ nhạy cảm với rủi ro.

Điều chỉnh tỷ lệ đòn bẩy bắt buộc: Tỷ lệ này được thiết kế để hạn chế đòn bẩy quá mức bằng cách đặt ra mức trần cho số tiền mà ngân hàng có thể sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình.

Cải thiện tính thanh khoản: Ngân hàng được yêu cầu duy trì đủ tài sản thanh khoản chất lượng cao để trang trải dòng tiền ra trong 30 ngày trong tình huống căng thẳng.

Hạn chế tính chu kỳ: Ngân hàng phải giữ lại lợi nhuận trong thời kỳ tăng trưởng cao để tạo ra một khoản đệm mà có thể được sử dụng trong thời kỳ suy thoái.

Tập trung vào tài sản rủi ro: Tài sản rủi ro càng lớn thì vốn điều chỉnh bắt buộc càng nhiều. Điều này đảm bảo ngân hàng có thể hấp thụ các khoản lỗ và giảm thiểu rủi ro vỡ nợ và các tác động tiêu cực từ đó.

Nâng cao quản lý RRTD: RRTD có thể được tính bằng cách sử dụng phương pháp chuẩn hóa hoặc phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ, trong đó hầu hết các ngân hàng trên thế giới sử dụng phương pháp chuẩn hóa.

Đơn giản hóa việc quản lý RRHD: Cuộc khủng hoảng tài chính đã phơi bày những sai lầm trong cách tính yêu cầu vốn cho RRHD, cho dù là do lỗi con người, lỗi hệ thống hay các sự kiện bên ngoài. Các cải cách năm 2017 nhằm mục đích hợp lý hóa quy trình này bằng cách chuyển sang phương pháp chuẩn hóa và tạo ra một khuôn khổ phản ứng nhanh hơn. Khuôn khổ mới này kết hợp tính toán thu nhập ròng với dữ liệu tổn thất lịch sử của ngân hàng trong hơn một thập kỷ.

Tăng tỷ lệ đòn bẩy cho các ngân hàng lớn: Tỷ lệ đòn bẩy tối thiểu cho vốn cấp 1 của ngân hàng quốc tế được áp đặt ở mức 3%, để hạn chế đòn bẩy quá mức. Ngoài ra, tỷ lệ đòn bẩy cho mỗi ngân hàng quan trọng có hệ thống toàn cầu (G-SIB) được điều chỉnh để bao gồm 50% đệm cho vốn dự phòng rủi ro. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Thiết lập một sàn vốn mạnh hơn và nhạy cảm với rủi ro: Cải cách năm 2017 áp đặt một sàn vốn mới dựa trên các cách tiếp cận chuẩn mực được sửa đổi, thay thế cho sàn vốn trước đó. Sàn vốn mới này nhằm mục đích giới hạn mức độ mà ngân hàng có thể tăng tỷ lệ vốn của mình thông qua việc sử dụng các mô hình nội bộ. Để tuân thủ Basel III, ngân hàng phải duy trì mức vốn cao hơn và bộ đệm lớn hơn để giảm thiểu RRHD. Điều này đảm bảo rằng chúng có đủ thanh khoản và dự trữ vốn để chống chọi với những biến động của thị trường, nâng cao sự ổn định và danh tiếng của mình. Do đó, ngân hàng có thể dễ dàng tiếp cận thị trường vốn quốc tế hơn, thúc đẩy khả năng cạnh tranh và hỗ trợ tăng trưởng bền vững. Basel III được phát triển để giải quyết những thiếu sót của các Hiệp định Basel trước đây đồng thời cung cấp nền tảng vững chắc để ngăn ngừa các khoản lỗ tài chính trong tương lai.

2.1.2.4. So sánh giữa các Hiệp ước Basel

Ba Hiệp ước Basel Basel I, Basel II và Basel III là các tiêu chuẩn quốc tế được thiết kế để quản trị rủi ro trong ngành ngân hàng. Mặc dù chúng có chung mục tiêu là cung cấp các quy định và hướng dẫn về quản trị rủi ro và thiết lập các yêu cầu về vốn cho các ngân hàng trên toàn thế giới, nhưng mỗi Hiệp định đều giới thiệu các tính năng độc đáo và các yêu cầu và quy định được cập nhật và nâng cao dần dần.

Bảng 2.1: Những điểm khác biệt giữa các Hiệp ước Basel

2.2. GIỚI THIỆU TỶ LỆ AN TOÀN VỐN Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

2.2.1. Khái niệm về tỷ lệ an toàn vốn

Aspal và Nazneen (2014) quan điểm rằng: “Tỷ lệ an toàn vốn là tỷ lệ do cơ quan quản lý trong ngành ngân hàng đề xuất nhằm đánh giá sức khỏe của hệ thống ngân hàng và đảm bảo rằng các ngân hàng có thể sử dụng một mức hợp lý tổn thất phát sinh từ tổn thất hoạt động”.

Bateni và cộng sự (2014) phát biểu rằng: “Tỷ lệ an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất trong hoạt động ngân hàng, cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả hoạt động và sự ổn định của ngân hàng, việc sử dụng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu giúp tăng cường sức mạnh và hiệu quả của hệ thống tài chính”.

Theo Yahaya và cộng sự (2016): “Tỷ lệ an toàn vốn có vai trò quan trọng đối với an ninh ngân hàng. Nó thể hiện bức tranh tổng thể của ngân hàng, khả năng thu hút niềm tin của công chúng đầu tư vào ngân hàng”.

Bank for International Settlements (2019) cho rằng: “tỷ lệ an toàn vốn đo lường vốn của ngân hàng liên quan đến tài sản rủi ro. Tỷ lệ vốn trên tài sản có trọng số rủi ro thúc đẩy vốn hóa mạnh và khả năng phục hồi tài chính tốt hơn của các ngân hàng trên toàn thế giới để chống lại các cú sốc và khủng hoảng kinh tế và tài chính”.

Tỷ lệ an toàn vốn được NHNN quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN như sau: “Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất”.

Tựu chung lại, tỷ lệ an toàn vốn là một thước đo quan trọng để đánh giá mức độ an toàn và ổn định của một ngân hàng. Tỷ lệ cao hơn sẽ giảm thiểu rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng, do đó thúc đẩy lòng tin của khách hàng và tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính. Tỷ lệ này thiết lập các tiêu chuẩn cho các ngân hàng bằng cách đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ nợ và ứng phó với RRTD, RRHĐ và RRTT. Do đó, nó làm giảm thiểu khả năng vỡ nợ và bảo vệ tiền của người gửi tiền.

2.2.2. Đo lường tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

2.2.2.1 Đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo Hiệp ước Basel

  • Hiệp ước Basel I

Hiệp ước Basel đầu tiên, Basel I ban hành vào năm 1988 là kết quả của cả một quá trình cân nhắc của nhiều ngân hàng trung ương từ nhiều nước trên thế giới, trong đó BCBS công bố một loạt yêu cầu về vốn tối thiểu đối với ngân hàng. Hiệp ước Basel I tập trung chủ yếu vào RRTD và tài sản có rủi ro (RWA), theo đó, ngân hàng cần đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% (Hình 2.1).

  • Trong đó:

Vốn tự có = Vốn cấp 1+Vốn cấp 2+Vốn cấp 3, Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2+Vốn cấp 3 RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Vốn cấp 1 là nguồn tài trợ chính và có tính thanh khoản cao nhất của ngân hàng. Trong khi đó, vốn cấp 2 bao gồm các công cụ vốn kém thanh khoản hơn, tổn thất cho vay và dự trữ đánh giá lại cũng như dự trữ không đề cập. Còn vốn cấp 3 dành cho RRTT là vay ngắn hạn.

Rủi ro an toàn vốn là rủi ro khi một TCTD bị thua lỗ ngoài dự kiến. Tài sản của các tổ chức tài chính được phân thành năm loại rủi ro: 0%, 10%, 20%, 50% và 100%. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

  • Hiệp ước Basel II

Hiệp ước Basel thứ hai, hay Basel II, còn được gọi là Khung vốn mới, là bản cải tiến của Basel I. Basel II nhấn mạnh ba trụ cột chính: (i) Yêu cầu vốn tối thiểu; (ii) Đánh giá mức đủ vốn của một tổ chức và quy trình đánh giá nội bộ, và (iii) Sử dụng hiệu quả công bố thông tin như một đòn bẩy để khuyến khích các hoạt động lành mạnh của ngân hàng.

Tương tự Basel I, trụ cột đầu tiên liên quan đến việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn ở mức tối thiểu là 8% nhằm bảo vệ ngân hàng chống lại ba thành phần rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt: RRTD, RRHĐ và RRTT (Hình 2.1).

Trong đó:

  • Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
  • Tài sản đã diều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng (Tài sản có nội bảng x Hệ số rủi ro)
  • Tổng (Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro

Tương tự, các định nghĩa về vốn cấp 1, vốn cấp 2 và vốn cấp 3 ở Basel II không thay đổi, chỉ có điều chỉnh nhỏ là Basel II bổ sung nợ thứ cấp ngắn hạn dùng để bù đắp RRTT ở phần vốn cấp 3. Ngoài ra, Basel II quy định hệ số rủi ro từ 0%-150% và không còn đặc quyền nào đối với các nước OECD.

  • Hiệp ước Basel III

Basel III xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, khi nhận ra những thiếu sót về quy định tài chính bộc lộ trong cuộc khủng hoảng đó cần được khắc phục. Với mục đích thắt chặt các yêu cầu về vốn và thanh khoản của ngân hàng để thúc đẩy quản trị rủi ro trong ngành, Basel III mở rộng Basel II. Vẫn duy trì tỷ lệ an toàn vốn bắt buộc tối thiểu là 8%, Basel III đề xuất khung vốn mới với các tấm đệm vốn mới nhằm yêu cầu ngân hàng nắm giữ nhiều vốn hơn và chất lượng vốn cao hơn. Đồng thời, nó còn yêu cầu ngân hàng phải nắm giữ đủ tài sản có tính thanh khoản cao để có thể chịu được kịch bản cấp vốn căng thẳng trong 30 ngày (Hình 2.1).

Trong đó: Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

  • Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3
  • Tài sản đã diều chỉnh rủi ro (RWA) = Tổng (Tài sản có nội bảng x Hệ số rủi ro)
  • Tổng (Tài sản ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro)

Basel III tăng các yêu cầu về vốn tối thiểu đối với ngân hàng từ 2% trong Basel lên 4,5% ở vốn cổ phần phổ thông, theo tỷ lệ phần trăm của tài sản có rủi ro ngân hàng. Basel III còn yêu cầu bổ sung về vốn đệm 2,5% để nâng tổng yêu cầu tối thiểu lên 7%.

Hình 22.2.1::Các cột mốc ban hành và thời điểm hiệu lực các Hiệp ước Basel

2.2.2.2 Đo lường tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Việt Nam

Tỷ lệ an toàn vốn được quy định tại “Thông tư 22/2019/TT – NHNN Quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động mà các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” và “Thông tư 41/2016/TT-NHNN Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam”.

Thứ nhất, Thông tư 41/2016/TT-NHNN “Quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam”. Theo Thông tư 41 của NHNN Việt Nam (30/12/2016) quy định đối tượng áp dụng Thông tư 41 bao gồm: “Ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài; Chi nhánh NHNN. Thông tư này không áp dụng đối với các ngân hàng được đặt vào diện kiểm soát đặc biệt”. Thông tư quy định áp dụng các đối tượng đề cập trên phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%. Ngoài ra, Thông tư còn đề cập: “Trường hợp ngân hàng có công ty con là công ty kinh doanh bảo hiểm thì tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất được xác định trên cơ sở báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng nhưng không hợp nhất công ty con là công ty kinh doanh bảo hiểm theo nguyên tắc hợp nhất của pháp luật về kế toán và báo cáo tài chính đối với TCTD”.

  • Tỷ lệ an toàn vốn được xác định:
  • c= RWA + 12,5(KOR + KMR)  100%

Trong đó: C: Vốn tự có; RWA: Tổng tài sản tính theo RRTD; KOR: Vốn yêu cầu cho RRHĐ; KMR: Vốn yêu cầu cho RRTT.

Thứ hai, Thông tư 22/2019/TT-NHNN “Quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động mà các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Thông tư 22 được NHNN ban hành vào ngày 15/11/2019. Đối tượng áp dụng Thông tư 22 mở rộng hơn so với Thông tư 41, cụ thể: “Ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng hợp tác xã, NHTMCP, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của ngân hàng tại Thông tư 22 bao gồm: “Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất”. Thông tư quy định: “Các đối tượng áp dụng nêu trên phải duy trì đồng thời hai tỷ lệ này ở mức tối thiểu là 9%”.

  • Vốn tự có riêng lẻ Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.
  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%) = Tổng tài sản có rủi ro riêng lẻ 100%
  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%)
  • Vốn tự có hợp nhất
  • = Tổng tài sản có rủi ro hợp nhất  100%

Tóm lại, Thông tư 41/2016/TT-NHNN của NHNN Việt Nam đã triển khai thực hiện tiêu chuẩn Basel II và quy định các NHTM phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%. Tuy nhiên, Thông tư 22/2019/TT-NHNN được ban hành sau đó để sửa đổi, bổ sung cho Thông tư 41 và củng cố thêm cách xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đối với các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mà Thông tư 41 chưa đề cập đến. Ngoài ra, Thông tư 22 cũng điều chỉnh hệ số rủi ro trong cách tính tỷ lệ an toàn vốn áp dụng cho các NHTM chưa đáp ứng được tỷ lệ này theo Thông tư 41. Vì vậy, thông qua việc sửa đổi, bổ sung và củng cố cho Thông tư 41, Thông tư 22 nâng cao tính chính xác và đồng nhất trong việc đánh giá mức độ rủi ro của các khoản cho vay và đầu tư của NHTM tại Việt Nam. Bên cạnh đó, Thông tư 22 nâng mức tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9%, làm tiền đề cho các NHTM áp dụng Basel III vì khung pháp lý và các tiêu chuẩn Basel III khắt khe hơn. Việc đáp ứng các chuẩn mực Basel có ý nghĩa quan trọng với các NHTM trong bối cảnh hiện nay để giúp các NHTM cải thiện xếp hạng tín nhiệm và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

2.2.3. Ý nghĩa của tỷ lệ an toàn vốn

Tỷ lệ an toàn vốn là thước đo quan trọng để đo lường mức độ an toàn hoạt động của NHTM trong một môi trường toàn cầu nhiều biến động. Do vậy, việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn mang nhiều ý nghĩa:

Thứ nhất, tỷ lệ an toàn vốn mạnh giúp các NHTM xử lý hiệu quả nhiều loại rủi ro khác nhau như RRTD, RRTT và RRHĐ. Sự sẵn sàng này giúp tăng cường niềm tin của cả khách hàng và nhà đầu tư vào ngân hàng. Vì hoạt động kinh doanh ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của mình nên việc duy trì uy tín vững chắc là rất quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh với các NHTM khác.

Thứ hai, việc tuân thủ các quy định về an toàn vốn là điều cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành ngân hàng và nền kinh tế nói chung. Tỷ lệ an toàn vốn cao đảm bảo khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng trước những rủi ro không lường. Không đáp ứng được tỷ lệ này có thể dẫn đến tình trạng thiếu thanh khoản trong các bối cảnh bất lợi, dẫn đến nguy cơ phá sản mà có tác động tiêu cực đến toàn bộ hệ thống tài chính.

Thứ ba, tỷ lệ an toàn vốn đóng vai trò là công cụ giám sát để NHNN giám sát tình hình vốn của các NHTM. NHNN đặt ra các tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phù hợp cho các giai đoạn khác nhau, đảm bảo tuân thủ các yêu cầu về dự trữ rủi ro và đánh giá các chỉ số an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng và bảo toàn vốn. Việc tuân thủ các quy định này giúp các NHTM tránh được khủng hoảng thanh khoản và duy trì sự ổn định tài chính trong điều kiện thị trường đầy thách thức.

2.3. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Bateni và cộng sự (2014) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tại 6 ngân hàng tư nhân tại Iran trong giai đoạn 2006 đến 2012. Nghiên cứu này tập trung vào 7 yếu tố vi mô, và tỷ lệ an toàn vốn là biến phụ thuộc. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng được thực hiện bằng phần mềm Eviews. Kết quả thu được cho thấy khi tăng quy mô ngân hàng thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ giảm. Ngoài ra, khi tỷ lệ cho vay trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng lên sẽ dẫn đến sự gia tăng của tỷ lệ an toàn vốn.

Yahaya và cộng sự (2016) đánh giá tác động của hiệu suất tài chính và hiệu quả kinh tế đến tỷ lệ an toàn vốn ở Nhật Bản. Mô hình nghiên cứu của tác giả gồm 6 biến vi mô và 5 biến vĩ mô với biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn. Phạm vi nghiên cứu là 64 ngân hàng ở Nhật Bản, với mốc thời gian từ 2005 đến 2014. Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng là hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả chỉ ra, yếu tố vi mô như tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ tiền gửi trên tài sản có tương quan cùng chiều với biến phụ thuộc. Ngoài ra, các biến tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tổng tiền gửi, tổng cho vay, 5 biến vĩ mô đều có tương quan ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Usman và cộng sự (2019) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CAR. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này là ngành ngân hàng được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) từ năm 2007 đến năm 2018. Các biến độc lập là quy mô ngân hàng, đòn bẩy, dự trữ tổn thất cho vay (loan loss reserves), biên lãi ròng, tỷ lệ tài sản cho vay (loan assets ratio) và thanh khoản. Biến phụ thuộc là CAR. Số lượng mẫu là 25 ngân hàng thông thường được thu thập bằng cách sử dụng lấy mẫu có chủ đích. Bằng cách sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng bằng cách ước tính phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (GLS). Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, tỷ lệ tài sản cho vay và dự trữ tổn thất cho vay có tác động ngược chiều đến CAR; đòn bẩy và biên lãi ròng có tác động cùng chiều đến CAR trong khi thanh khoản không có tác động đến CAR.

Gunawardhana và Damayanthi (2020) đặt mục tiêu làm rõ các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của 10 NHTM nội địa lớn nhất tại Sri Lanka từ năm 2010 đến 2019. Nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc dùng các biến độc lập thuộc về các biến nội sinh của ngân hàng. Kết quả hồi quy được thực hiện thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng, chỉ ra các yếu tố như tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ tài sản có rủi ro là những yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ lệ an toàn vốn. Hơn nữa, nghiên cứu còn kiến nghị với cơ quan quản lý cần tăng cường cơ chế giám sát ngân hàng.

Setiawan và Muchtar (2021) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 42 ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 2015-2019. Phương pháp phân tích được sử dụng là hồi quy dữ liệu bảng. Mô hình nghiên cứu gồm các biến độc lập là các biến vi mô, với tỷ lệ an toàn vốn là biến phụ thuộc. Kết luận mà tác giả chỉ ra là tăng quy mô ngân hàng và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu sẽ gia tăng tỷ lệ an toàn vốn, trong khi tăng tỷ lệ cho vay sẽ làm giảm tỷ lệ an toàn vốn. Các ngân hàng dự kiến sẽ tăng tổng số tài sản nắm giữ, tăng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và giảm tỷ lệ cho vay ngân hàng để tránh RRTD xấu. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Swandewi và cộng sự (2021) đã phân tích tác động của các khoản nợ xấu đến lợi nhuận trên tài sản với tỷ lệ an toàn vốn làm trung gian. Nghiên cứu này được tiến hành tại các công ty ngân hàng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia, với tổng mẫu là 24 ngân hàng. Thu thập dữ liệu bằng cách quan sát báo cáo tài chính của công ty. Kỹ thuật phân tích được sử dụng là phân tích đường dẫn (path analysis). Kết quả cho thấy có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa giữa các khoản nợ xấu và tỷ lệ an toàn vốn. Tỷ lệ an toàn vốn có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa với lợi nhuận trên tài sản.

Nugroho và cộng sự (2021) đánh giá tác động của biến độc lập là Khoản dự phòng cho khoản lỗ suy giảm (Allowance for Impairment Losses), Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và số tiền của Quỹ của bên thứ ba (Third Party Funds, TPF), cả một phần và đồng thời, lên biến phụ thuộc là Tỷ lệ an toàn vốn (CAR). Trong nghiên cứu này, mẫu là các ngân hàng do chính quyền trung ương sở hữu, cụ thể là Ngân hàng Mandiri, Ngân hàng Negara Indonesia, Ngân hàng Rakyat Indonesia và Ngân hàng Tabungan Negara trong giai đoạn 2011-2018. Phương pháp ước lượng được sử dụng là phân tích hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy khoản dự phòng một phần cho khoản lỗ tín dụng không ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ an toàn vốn. Đồng thời, các khoản nợ xấu (NPL) và quỹ của bên thứ ba (TPF) ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng.

Alfadli và Djalila (2022) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 62 NHTM niêm yết trên thị trường chứng khoán đang hoạt động tại các nước GCC từ năm 2011 đến 2018. Để xử lý các vấn đề của tập dữ liệu, tác giả sử dụng phương pháp PCSE. Mô hình gồm 10 biến độc lập trong đó có 5 biến vi mô và 5 biến vĩ mô với biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra trong các biến mô hình CAMELS, tỷ lệ vốn, hiệu quả quản lý, khả năng sinh lời, quản lý thanh khoản và mức độ nhạy cảm tác động có mối tương quan cùng chiều với tỷ lệ an toàn vốn. Ngược lại, khi tăng chất lượng tài sản, mức độ tập trung thị trường và quy mô ngân hàng thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ giảm. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy tăng trưởng kinh tế và lạm phát ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng.

2.3.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Võ Hồng Đức, Nguyễn Minh Vương và Đỗ Thành Trung (2014) đã sử dụng phương pháp hồi quy bảng để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 28 NHTM Việt Nam trong những năm từ 2007 đến 2012. Nghiên cứu đưa ra các yếu tố ảnh hưởng tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn bao gồm: tỷ lệ tài sản có khả năng thanh khoản và tỷ lệ dự phòng RRTD. Trong khi đó, quy mô ngân hàng, và tỷ lệ huy động vốn, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có tác động tiêu cực đến tỷ lệ an toàn vốn. Tuy nhiên, về tác động của hệ số đòn bẩy và tỷ lệ cho vay đến tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng thì nghiên cứu này chưa tìm thấy minh chứng.

Lê Thanh Tâm và Nguyễn Diệu Linh (2017) đã tìm hiểu 7 yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 26 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 7 năm từ 2009 đến 2015 thông qua phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm: tỷ lệ dự phòng RRTD, quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng nợ, tỷ lệ huy động vốn trên tổng tài sản, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát. Trong đó, tỷ lệ dự phòng RRTD, quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có mối tương quan đảo chiều với tỷ lệ an toàn vốn, tức là khi tăng lên, tỷ lệ an toàn vốn giảm.

Chi (2018) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn của 10 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ định tuân thủ chuẩn mực Basel II, từ tháng 2 năm 2016. Nghiên cứu sử dụng mẫu 10 ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm: Vietcombank, BIDV, VietinBank, Techcombank, ACB, VPBank, MBB, MaritimeBank, Sacombank và VIB, được nghiên cứu trong giai đoạn 2007 đến 2016 bằng phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square). Kết quả cho thấy trong khi quy mô ngân hàng, lợi nhuận trên tài sản, thanh khoản và tiền gửi có tác động ngược chiều đến tỷ lệ an toàn vốn, thì đòn bẩy tài chính lại có tác động tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn. Mặt khác, dự phòng rủi ro cho vay không có tác động đáng kể đến tỷ lệ an toàn vốn.

Phạm Phát Tiến và Nguyễn Thị Kiều Ny (2019) đã tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong giai đoạn 2013-2017 của 29 NHTM. Nghiên cứu gồm 7 biến độc lập là các biến vi mô với biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn. Với phương pháp hồi quy dữ liệu bảng đã cho ra kết quả: quy mô ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản tỷ lệ thuận đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ lệ dự phòng RRTD có tỷ lệ nghịch đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Trong nghiên cứu của Do Hoai Linh và cộng sự (2019), 26 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2015-2018 được phân tích thông qua mô hình hồi quy dữ liệu bảng, bao gồm 9 biến độc lập với 3 biến vĩ mô và 6 biến vi mô và biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn. Nghiên cứu này phát hiện ra rằng, khi tăng biên lãi ròng, quy mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lãi suất và tỷ giá hối đoái, thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ giảm đi. Điều này có thể hiểu là các yếu tố này sẽ làm tăng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng và giảm tính thanh khoản của ngân hàng. Trong khi đó, đòn bẩy tài chính và tiền gửi có mối tương quan thuận chiều với tỷ lệ an toàn vốn, có nghĩa là khi tăng đòn bẩy tài chính và tiền gửi, thì tỷ lệ an toàn vốn sẽ tăng lên. Điều này có thể hiểu là các yếu tố này sẽ giúp tăng tính thanh khoản và khả năng trả nợ của ngân hàng.

Tô Trung Thành và Hồ Hải Yến (2021) sử dụng dữ liệu của 34 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2018 (thời gian thực hiện hai đợt tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại theo Đề án 254/QĐ-TTg giai đoạn 2011-2015 và Đề án 1058/QĐTTg giai đoạn 2016-2020) để xem xét các nhân tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp S-GMM. Kết quả cho thấy các nhân tố tác động đến CAR bao gồm: (i) Các yếu tố kinh tế vĩ mô: lãi suất, lạm phát có tác động ngược chiều (ii) Các nhân tố đặc trưng của ngân hàng: CAR năm ngoái, chứng khoán đầu tư tài chính dài hạn có tác động như nhau; Quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi, ROE có tác động ngược chiều.

2.3.3. Nhận xét các nghiên cứu liên quan

Các nghiên cứu thực nghiệm quan trọng về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ vốn tối thiểu trong và ngoài nước được trình bày trong Bảng 2.2. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Bảng 2.2: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm

Phân tích các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, tác giả đưa ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, các nghiên cứu trước sử dụng biến phụ thuộc là tỷ lệ an toàn vốn. Công thức tính chỉ tiêu này dựa vào cách đo lường theo tiêu chuẩn Basel và các Thông tư do NHNN Việt Nam ban hành. Công thức chung tính tỷ lệ an toàn vốn:

Thứ hai, các yếu tố thường xuyên xuất hiện trong các mô hình và có ý nghĩa thống kê bao gồm: (i) Các yếu tố vi mô như quy mô ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, khả năng thanh khoản, tỷ lệ tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, hệ số đòn bẩy tài chính; (ii) Các yếu tố vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Không có nghiên cứu nào đưa biến Dịch bệnh Covid-19 vào mô hình kinh tế lượng. Ngoài ra, mẫu nghiên cứu có khung thời gian chỉ đến năm 2022. Ngoài ra, các kết quả thực nghiệm trước là hỗn hợp, mâu thuẫn. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

Thứ ba, phương pháp kinh tế lượng được hầu hết các tác giả áp dụng trong nghiên cứu là hồi quy tần suất dữ liệu bảng như mô hình Pool OLS, FEM, REM. Các phương pháp tần suất này có một số hạn chế như bỏ sót biến và không thể xử lý các vấn đề thông kê phức tạp như đa cộng tuyến, hiện tượng nội sinh. Không có nghiên cứu nào sử dụng phương pháp hồi quy hiệu ứng hỗn hợp Bayes để khắc phục các hiện tượng trên.

KẾT LUẬN CHƯƠNG II

Chương II đã trình bày tổng quan về cơ sở lý luận của tỷ lệ an toàn vốn, bao gồm khái niệm, đo lường và ý nghĩa dưới góc độ thế giới và Việt Nam. Ngoài ra, tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm liên quan trong và ngoài nước về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn, đồng thời tổng hợp một số hạn chế trong các nghiên cứu trước được xem là khoảng trống nghiên cứu. Đây là tiền đề để tác giả đi sâu vào phân tích chi tiết và lựa chọn mô hình để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ an toàn vốn trong Chương III. Luận văn: Yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537