Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung luận văn: Nghiên cứu này đã tổng hợp các lý thuyết nền tảng về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các chỉ tiêu đo lường tương ứng, đồng thời trình bày các yếu tố lý thuyết ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngoài ra, thông qua tóm lược các nghiên cứu liên quan thì luận văn này xác định được các khoảng trống nhằm tạo cơ sở để đề xuất mô hình và giả thuyết phù hợp với bối cảnh các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE. Tại luận văn này thì hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE được đại diện thông qua chỉ tiêu ROE, tỷ suất này phản ánh lợi nhuận ròng của doanh nghiệp được tạo ra từ vốn chủ sở hữu hay lợi ích của cổ đông được nhận khi góp vốn vào doanh nghiệp. Thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp từ 24 doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE từ năm 2012 – 2023, luận văn đã tiến hành thống kê mô tả dữ liệu, nhận thấy rằng ROE của các doanh nghiệp có xu hướng tăng trưởng trong giai đoạn nghiên cứu. Sau đó, luận văn tiến hành hồi quy dữ liệu cho ra các kết quả mô hình đa biến Pooled OLS, FEM, REM và kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp nhất đó là REM. Ngoài ra, với các kiểm định khuyết tật thì phương sai sai số thay đổi và tự tương quan xuất hiện tại mô hình REM, do đó cần khắc phục với phương pháp FGLS. Kết quả cuối cùng thu được sau khi khắc phục đó là các biến số quy mô doanh nghiệp, tài sản cố định hữu hình, vòng quay tài sản, tăng trưởng doanh thu, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng tích cực đến ROE. Hệ số đòn bẩy tài chính, tỷ số thanh toán hiện hành ảnh hưởng tiêu cực đến ROE của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE giai đoạn 2012 – 2023. Cuối cùng, dựa trên kết quả này luận văn đề xuất các hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp để gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh trong giai đoạn tiếp theo.
Từ khóa: Hiệu quả hoạt động, quy mô, đòn bẩy tài chính, GDP, lạm phát.
ABSTRACT Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Title: Factors affecting the business performance of food enterprises listed on the Ho Chi Minh City Stock Exchange.
Content: This study has synthesized the fundamental theories on the business performance of enterprises, the corresponding measurement indicators, and presented the theoretical factors affecting the business performance of enterprises. In addition, through summarizing relevant studies, this thesis identifies gaps to create a basis for proposing models and hypotheses suitable for the context of food enterprises listed on HOSE. In this thesis, the business performance of food enterprises listed on HOSE is represented through the ROE indicator, this ratio reflects the net profit of the enterprise generated from the owner’s equity or the benefits that shareholders receive when contributing capital to the enterprise. Through the collection of secondary data from 24 food enterprises listed on HOSE from 2012 to 2023, the thesis conducted descriptive statistics of the data, finding that the ROE of enterprises tended to grow during the research period. Then, the thesis conducted data regression to produce multivariate model results Pooled OLS, FEM, REM and tested the most suitable model, which is REM. In addition, with the defect tests, the error variance changes and autocorrelation appears in the REM model, so it needs to be overcome with the FGLS method. The final result obtained after overcoming is that the variables of enterprise size, tangible fixed assets, asset turnover, revenue growth, economic growth, and inflation rate have a positive impact on ROE. Financial leverage ratio and current ratio negatively affect ROE of food industry enterprises listed on HOSE in the period of 2012 – 2023. Finally, based on these results, the thesis proposes management implications for enterprises to increase business performance in the next period.
Keywords: Performance, size, financial leverage, GDP, inflation.
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. Lý do chọn đề tài
Ngành thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp lớn trên toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam và gắn bó mật thiết với đời sống của mọi người. Vì các nhu cầu liên quan đến ăn uống và sử dụng các loại thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của của người dân trong mọi nền kinh tế. Do đó, dù cho nền kinh tế có nhiều biến động thì ngành thực phẩm vẫn không bị ảnh hưởng nhiều. Vì vậy, các doanh nghiệp ngành thực phẩm luôn có cơ hội phát triển mạnh mẽ đi theo sự tăng trưởng liên tục với nhu cầu sử dụng nhu yếu phẩm của người dân.
Theo ước tính của BMI đến năm 2030, thị trường Việt Nam sẽ là thị trường lớn thứ ba Đông Nam Á về số lượng người tiêu dùng và đứng thứ năm về tổng chi tiêu. Do đó, sự phát triển của ngành thực phẩm trên thị trường Việt Nam sẽ là một thị trường đầy tiềm năng. Thị trường tiêu dùng nội địa ở Việt Nam được dự báo là sẽ tăng trưởng tự nhiên tương đối ổn định do Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi như cơ cấu dân số trẻ, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, thu nhập bình quân đầu người tăng qua các năm, … Cùng với đó, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh tham gia hội nhập quốc tế, tiến hành ký kết với các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP,… Đây sẽ là cơ hội tốt để các doanh nghiệp ngành thực phẩm Việt Nam mở rộng và gia tăng sản lượng xuất khẩu. Bên cạnh những cơ hội đó, các doanh nghiệp thực phẩm cũng gặp không ít những khó khăn như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, máy móc thiết bị lạc hậu, ít chú trọng đầu tư vào công nghệ chế biến, mức độ cạnh tranh trong ngành cao cũng như những quy định khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm… Ngành chế biến thực phẩm là một trong những ngành công nghiệp ở Việt Nam đang có nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển. Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm ở nước ta đang ngày càng nóng lên trên thị trường chứng khoán với sự gia nhập thị trường của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Trong những năm gần đây, thị trường Việt Nam đang trở thành mục tiêu của nhiều nhà đầu tư trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan do với ưu thế là một quốc gia với dân số trẻ và tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ. Do đó, các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm đang phải đối mặt với những khó khăn về áp lực cạnh tranh trên thị trường. Cùng với đó là những lo ngại về việc những doanh nghiệp ngoài nước có thể dần thâu tóm thị trường trong nước. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo Tổng cục thống kê (2023), ngành sản xuất, chế biến thực phẩm quý I/2023 tăng 3,2%; quý II/2023 tăng 6,8%; quý III/2023 tăng 8%; quý IV/2023 tăng 9,1%; tính chung cả năm 2023 tăng 6,1% so với cùng kỳ. Với những thống kê gần đây của Lê Thu (2024) thì trong năm 2024 doanh thu thị trường của ngành thực phẩm, đồ uống tăng đáng kể, dự kiến hơn 720 ngàn tỷ đồng năm 2024 và tăng 10,92% so với năm 2023. Trong đó, doanh thu này gia tăng nhờ tiêu thụ nội địa cao hơn, các doanh nghiệp niêm yết lớn như Masan tính trong quý II/2024 tăng trưởng 14% so với cùng kỳ, đặc biệt là các mặt hàng như thực phẩm tiện lợi, cà phê, đồ uống. Ngoài ra, Vinamilk cũng công bố doanh thu tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2023. Mặt khác, các doanh nghiệp ngành thực phẩm tại Việt Nam cũng có những bức tốc mạnh mẽ trong giai đoạn gần đây, đặc biệt là giai đoạn sau đại dịch Covid 19, vì giai đoạn 2020 – 2021 các doanh nghiệp ngành thực phẩm được Chính phủ và thị trường ưu ái cho sự tiêu thụ để đảm bảo nhu yếu phẩm cho người dân chống dịch, đảm bảo sức khỏe. Vì thế, các điều kiện thuận lợi được tạo ra để các doanh nghiệp ngành này tiếp tục tăng trưởng trong tương lai. Lê Thu (2024) cũng cho rằng theo các tính toán thì ngành thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam luôn chiếm khoảng 15% GDP của cả nước qua mỗi năm, qua đó có thể thấy vai trò to lớn của ngành này trong sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Do đó, trong giai đoạn gần đây tính đến nửa đầu năm 2023, cổ phiếu ngành thực phẩm đã trở thành điểm sáng trên thị trường chứng khoán Việt
Nam khi mà cổ phiếu của ngành này vẫn tăng trưởng tích cực. Ngành thực phẩm tại Việt Nam hiện đang là ngành có nhiều tiềm năng phát triển và có nhiều lợi thế cạnh tranh trong nền kinh tế Việt Nam. Hay nói cách khác, hiệu quả hoạt động kinh doanh (HĐKD) của ngành thực phẩm tại Việt Nam sẽ góp phần rất nhiều tại thị trường kinh tế của Việt Nam, tạo sự ổn định trong xã hội. Tuy nhiên, với những điều kiện thuận lợi của môi trường thì việc có thể phát huy được hết lợi thế của mình, các doanh nghiệp ngành thực phẩm tại Việt Nam cần phải xem xét và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD để xác định được những chiến lược cần gia tăng hay hạn chế gắn liền với các yếu tố để nâng cao được hiệu quả HĐKD tại doanh nghiệp.
Tính đến thời điểm hiện nay thì các nghiên cứu trong nước và nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp niêm yết chủ yếu tập trung vào các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như quy mô doanh nghiệp, đầu tư tài sản, tỷ số thanh toán. Hay các yếu tố thuộc vĩ mô nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế, lạm phát (Fatimah, Toha, & Prakoso, 2019); (Putra & Sedana, 2019); (Ngô Thị Ngọc, Đinh Thị Thùy Linh, & Nguyễn Thu Hà, 2020); (Ngô Thị Hằng & Nguyễn Thị Thùy Linh, 2020). Tuy nhiên, các biến số vĩ mô có sự ảnh hưởng với các kết quả khác nhau, ngoài ra các lược khảo có đề cập đến đòn bẩy tài chính hay cơ cấu khoản nợ ngắn hạn hay dài hạn của doanh nghiệp nhưng vẫn chưa đề cập nhiều đến hệ số thanh toán nhanh hay hệ số thanh toán hiện hành. Mặc dù, các chỉ số này thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc đủ trang trải các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, nên gắn chặt với lợi nhuận hay hiệu quả HĐKD. Thông qua các tóm lược trên thì tác giả nhận thấy vẫn có các khoảng trống nghiên cứu tồn tại. Vì vậy, luận văn này sẽ tiến hành nghiên cứu với phạm vi tại các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE trong giai đoạn gần đây và xem xét sự ảnh hưởng của các chỉ số thanh toán đến hiệu quả HĐKD. Trong đó, đánh giá sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE.
Xét về khía cạnh thực tiễn lẫn nghiên cứu thì vấn đề nghiên cứu các yếu tố tác động tới hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp ngành thực phẩm là cần thiết đối với các nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành thực phẩm được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh” để làm luận văn thạc sĩ, cụ thể là các doanh nghiệp thực phẩm niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) trong giai đoạn 2012 – 2023 nhằm phân tích đánh giá và đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp trong tương lai nâng cao hiệu quả HĐKD của mình. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
1.2.1. Mục tiêu tổng quát của luận văn
Luận văn sẽ xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE. Đồng thời, xem xét sự khác biệt hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp khi có xuất hiện đại dịch Covid 19 và không xuất hiện đại dịch. Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại mô hình hồi quy, luận văn sẽ đề xuất các hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE nhằm gia tăng hiệu quả HĐKD trong tương lai.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể của luận văn
Để giải quyết mục tiêu tổng quát trên, tác giả xác định được các mục tiêu cụ thể dưới đây như sau:
- Thứ nhất, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE.
- Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE.
- Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho các doanh nghiệp niêm yết tại HOSE nhằm nâng cao được hiệu quả HĐKD trong tương lai.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Từ các mục tiêu trên thì luận văn này xác định cần phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Thứ nhất, hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nào?
- Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE như thế nào?
- Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm được niêm yết tại HOSE nhằm nâng cao được hiệu quả HĐKD trong tương lai?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu trên phạm vi của 24 doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE (Phụ lục 1 và phụ lục 2). Số lượng doanh nghiệp này có tổng tài sản và thị phần chiếm trên 70% của ngành thực phẩm và các số liệu của các doanh nghiệp được niêm yết đầy đủ qua các năm từ 2012 – 2023, do đó dữ liệu thứ cấp mà luận văn thu thập cũng sẽ nằm trong giai đoạn nói trên. Trong giai đoạn này thì kinh tế Việt Nam có những sự biến động như lạm phát tăng cao trong 2012 – 2013, suy thoái kinh tế năm 2018 – 2019 và đại dịch Covid 19 năm 2020 – 2021. Nên hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE cũng sẽ có những biến động.
1.5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Để hoàn thành được các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu thì luận văn sẽ kết hợp hai phương pháp chính đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan nhằm xác định các khoảng trống nghiên cứu để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, đánh giá sự thay đổi đang có xu hướng tăng trưởng hay suy giảm như thế nào về hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE giai đoạn 2012 – 2023 đại diện bởi tỷ số ROE.
Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu định lượng vẫn là phương pháp chính của luận văn này nhằm xác định và đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE. Trong đó phương pháp này được tiến hành với việc thu thập dữ liệu và thiết kế dưới dạng bảng, thông qua hồi quy đa biến với các mô hình Pooled OLS, FEM, REM và FGLS để kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu. Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất các hàm ý cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE nhằm gia tăng hiệu quả HĐKD trong tương lai.
1.6. Đóng góp của luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn đưa ra bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD của các doanh nghiệp thực phẩm được niêm yết tại HOSE, kết quả này là cơ sở tiếp nối cho các nghiên cứu tiếp theo có cùng lĩnh vực quan tâm.
Về mặt thực tiễn: Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố cũng như mức độ ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả HĐKD, luận văn sẽ đưa ra được những hàm ý quản trị gắn liền với các yếu tố ảnh hưởng. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE có thêm các kênh thông tin tham khảo nhằm đưa ra các chính sách phù hợp để phát triển doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn trong tương lai.
1.7. Kết cấu của luận văn
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu thì luận văn này có cấu trúc được thiết kế trong 5 chương, bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Nội dung chính của chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các công trình nghiên cứu trước
Nội dung chính của chương là tóm tắt, luận giải các lý thuyết nền tảng liên quan đến đối tượng nghiên cứu. Tóm lược các công trình để đề xuất mô hình và giả thuyết phù hợp với các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE giai đoạn 2012 – 2023. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Nội dung chính của chương này là lập luận về lựa chọn mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Ngoài ra, thiết kế quy trình và phương pháp nghiên cứu bao gồm cách thức lẫy mẫu, thu thập số liệu và xử lý số liệu liên quan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chính của chương này là tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu từ các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE giai đoạn 2012 – 2023. Thông qua, thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến và kiểm định từ mô hình hồi quy được chọn. Từ kết quả khắc phục các hiện tượng sẽ tiến hành kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả này.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Nội dung chính của chương này là kết luận các kết quả đạt được của nghiên cứu. Từ kết quả hồi quy tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị nhằm giúp cho các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE gia tăng hiệu quả HĐKD trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề kinh doanh của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE liên quan đến hiệu quả HĐKD, tình hình các nghiên cứu liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC
2.1. Hiệu quả hoạt động kinh doanh tại doanh nghiệp
2.1.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh
Farrell, M. J. (1957) cho rằng hiệu quả HĐKD tại một tổ chức kinh doanh nào thì vẫn dựa trên hai chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối. Trong đó chỉ tiêu tuyệt đối phản ảnh về quy mô hay lợi nhuận đạt được trong điều kiện thời gian cụ thể. Tuy nhiên đối với hiệu quả tuyệt đối thì về so sánh giữa đơn vị này và đơn vị khác sẽ gặp những sự hạn chế. Nhưng đối với chỉ tiêu tương đối thì dựa trên các tỷ số kết hợp với yếu tố đầu vào và đầu ra của đơn vị kinh doanh, việc đánh giá này sẽ tạo ra sự thuận tiện khi muốn so sánh giữa tổ chức này và tổ chức khác. Khi đánh giá hiệu quả tương đối thì đơn vị kinh doanh có thể xem xét việc một yếu tố đầu vào bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận. Việc đánh giá hiệu quả tương đối có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét đơn vị kinh doanh này sử dụng tối ưu các nguồn lực hay các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra những yếu tố đầu ra chất lượng và đem lại lợi ích cao nhất. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo hướng tiếp cận tổ chức kinh doanh là đơn vị sản xuất thì Benston, G. J. (1965) cho rằng các doanh nghiệp được xem là các nhà cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Trong đó các yếu tố đầu vào bao gồm các tài sản có trạng thái vật lý như lao động, không gian, vật liệu hay các hệ thống thông tin và các chi phí liên quan. Đối với đầu ra thì đó là các sản phẩm được cung cấp cho khách hàng tính theo số lượng giao dịch, loại giao dịch hay các văn bản được xử lý cho khách hàng tại một thời gian nhất định.
Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) thì cho rằng hiệu quả HĐKD được xem là mức độ biểu hiện cao nhất, tập trung nhất về hiệu quả kinh doanh hay nó chính là khả năng sinh lời. Do đó, phân tích hiệu quả HĐKD là sự xem xét về khả năng sinh lời được tạo ra từ các nguồn lực trong HĐKD của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng sinh lời chỉ có thể có được khi doanh nghiệp có khả năng hoạt động tốt, nó được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Vì vậy, doanh nghiệp có hiệu quả HĐKD được xem xét thông qua tổ chức có kinh doanh tốt và về mặt tài chính có tồn tại khả năng sinh lời hay không.
Nguyễn Tấn Bình (2022) cho rằng hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu về từ chi phí và nguồn lực mình đầu tư để đạt được kết quả đó. Hiệu quả HĐKD có thể xác định thông qua các tiêu chí kinh tế đặc trưng như tỷ lệ so sánh giữa kết quả kinh doanh với các chỉ tiêu chi phí hay nguồn lực đã sử dụng trong HĐKD để tạo ra lợi nhuận.
Tóm lại tại luận văn này thì hiệu quả HĐKD được hiểu là các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố đầu vào của mình như lao động, cơ sở vật chất và các nguồn lực khác tạo ra các sản phẩm đầu ra, sau đó thương mại chúng và sinh ra lợi nhuận. Hay nói cách khác, hiệu quả HĐKD được hình thành khi các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa được các nguồn lực của mình để kinh doanh sinh ra lợi nhuận tương xứng với quy mô hay tạo ra được năng lực cạnh tranh với các đối thủ trong ngành.
2.1.2. Các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh
2.1.2.1. Đo lường biên lợi nhuận
Biên lợi nhuận hay lợi nhuận biên là một trong những tỷ suất sinh lời thường được sử dụng để đánh giá mức độ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh dưới dạng phần trăm. Nói một cách đơn giản, đó là con số phần trăm cho biết doanh nghiệp đã tạo ra bao nhiêu lợi nhuận cho mỗi đơn vị doanh thu. Phương pháp này được áp dụng tại các doanh nghiệp khi phân tích về lợi nhuận biên của doanh nghiệp thay đổi khi có một yếu tố đầu vào thay đổi, hay nói cách khác với phương pháp này thì doanh nghiệp sẽ xem xét được với nguồn lực của mình thay đổi một đơn vị thì lợi nhuận sẽ thay đổi thế nào (Allen N. Berger & Robert DeYoung, 1997). Nhưng với phương pháp này thì các doanh nghiệp cần phải có sự nghiêm ngặt khi thu thập các giá trị liên quan đến đầu vào và tổng quát hóa với dạng hàm số, nên sẽ rất khó khăn trong việc thiết lập bài toán và kỹ thuật cần phải đầu tư.
Biên lợi nhuận gộp: Biên lợi nhuận gộp là chỉ số có được khi ta lấy lợi nhuận gộp chia cho Doanh thu thuần (tính theo tỷ lệ %). Biên lợi nhuận gộp được tính theo công thức sau đây:
Biên lợi nhuận gộp = (Lợi nhuận gộp) : (Doanh thu thuần x 100%) Trong đó:
- Doanh thu thuần = (Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ) – (Các khoản giảm trừ doanh thu)
- Lợi nhuận gộp = (Doanh thu thuần) – (Giá vốn hàng bán)
Biên lợi nhuận gộp cho biết khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận từ sản phẩm hoặc dịch vụ của họ. Nó cũng cho phép so sánh hiệu suất kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành.
Biên lợi nhuận hoạt động: Biên lợi nhuận hoạt động thể hiện cứ mỗi 100 đồng doanh thu thuần sẽ mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, từ đây đánh giá rõ hơn hiệu quả của các khoản chi phí khi tham gia vào quá trình kinh doanh. Biên lợi nhuận hoạt động được tính theo công thức sau đây:
Biên lợi nhuận hoạt động = (Lợi nhuận trước thuế) : (Doanh thu thuần) x 100%
Biên lợi nhuận hoạt động cho biết khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận sau khi trừ chi phí hoạt động liên quan đến sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ của họ. Nó cũng cho phép đánh giá hiệu quả của quản lý chi phí và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Biên lợi nhuận ròng: Biên lợi nhuận ròng thể hiện mỗi 100 đồng doanh thu sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, từ đó chủ doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư sẽ thấy được với 1% gia tăng của doanh thu thì cổ tức hoặc thu nhập ròng sẽ tăng tương ứng là bao nhiêu %.
Biên lợi nhuận ròng được tính theo công thức sau đây:
Biên lợi nhuận ròng = (Lợi nhuận sau thuế) : (Doanh thu thuần) x 100%
Biên lợi nhuận ròng cho thấy khả năng của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận sau khi trừ tất cả chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh. Nó đóng vai trò như một thước đo để chia sẻ với các nhà đầu tư tiềm năng.
2.1.2.2. Đo lường hiệu quả HĐKD thông qua các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời
Theo Trần Ngọc Thơ (2018) để đo lường hiệu quả HĐKD tại các doanh nghiệp có thể sử dụng các tỷ suất chính như ROA, ROE, ROS, ROI. Đây là các hệ số đo lường lợi nhuận ròng của doanh nghiệp được tạo ra từ các nguồn lực hay tài sản của doanh nghiệp hoặc VCSH từ các cổ đông góp vào doanh nghiệp. Hay nói cách khác, các hệ số này thể hiện lợi nhuận của doanh nghiệp được tại ra khi sử dụng các nguồn lực của mình hoặc trên một đồng VCSH được góp vào. Các chỉ tiêu này được tính toán và báo cáo trên các bản báo cáo kinh doanh hay tài chính của doanh nghiệp vào những thời điểm cụ thể, nhằm phục vụ cho việc đánh giá sự tăng trưởng hay hiệu quả kinh doanh tại doanh nghiệp.
Tóm lại trong hai phương pháp nói trên thì phương pháp đo lường biên lợi nhuận nghiêng về phức tạp và tâp trung nhiều dạng hàm số dựa trên mối quan hệ giữa các nguồn lực đầu vào và đầu ra để phân tích nên khó thực hiện. Tuy nhiên, đối với phương pháp tỷ số thì chủ yếu các số liệu có thể thu thập được trên các báo cáo kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, luận văn này kế thừa phương pháp tỷ số để đại diện cho hiệu quả HĐKD các doanh nghiệp tại Việt Nam.
2.1.3. Các tỷ suất sinh lời đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo Lesakova (2007) hiệu quả HĐKD là chỉ số về sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, thể hiện qua khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Ngô Thế Chi và Nguyễn Trọng Cơ (2022) đã chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận ròng trên tài sản bình quân (ROA) để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu ROA thể hiện quá trình tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không. Kết quả chỉ tiêu ROA cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Bên cạnh đó, tỷ suất lợi nhuận ròng trên VCSH bình quân (ROE) cũng được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu ROE phản ánh khả năng sử dụng đồng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc phân tích khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu cho thấy khi doanh nghiệp bỏ ra một đồng tiền vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Việc xem xét chỉ tiêu này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận hay tối đa hóa quy mô.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân (ROA): Tỷ số này được thiết kế để đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản. Tỷ số này phản ánh một đồng tài sản bình quân của doanh nghiệp sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tỷ số này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp và đặc điểm của ngành. Tỷ số này thường cao đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, …. Trong khi đó, tỷ số này thường thấp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế tạo, hàng không, đóng tàu, công nghiệp nặng, …. Tỷ số này được xác định bằng cách:
- ROA = *100%
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân (ROE): Tỷ số này đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ phần phổ thông. Tỷ số này cho biết bình quân mỗi đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROE phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô và khẩu vị rủi ro. Tỷ số này phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn bộ vốn cổ đông đóng góp, ngoài ra còn bao gồm cả lợi nhuận dành cho các quỹ phát triển kinh doanh, chênh lệch phát hành. Trên thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư thường quan tâm đến chỉ số này để đưa ra quyết định hợp lý nhất cho việc tìm ra những cổ phiếu tăng trưởng ổn định. Tỷ số này lớn có nghĩa là doanh nghiệp này sử dụng đồng vốn có hiệu quả, lợi ích dành cho các cổ đông ngày càng nhiều, việc thu hồi vốn khả thi và giá cổ phiếu của doanh nghiệp này trên sàn giao dịch chứng khoán càng cao. Ngược lại, tỷ số này thấp có nghĩa là doanh nghiệp đang sử dụng VCSH không hiệu quả, lợi ích các cổ đông suy giảm và giá của cổ phiếu có thể thấp hơn. Tỷ số này được xác định bằng cách:
- ROE *100%
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS): Tỷ suất suất này phản ánh mức lợi nhuận ròng sau thuế trên doanh thu, cho biết một đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hay nói cách khác, tỷ lệ này càng cao có nghĩa là doanh thu thuần tạo ra được thêm nhiều lợi nhuận ròng.
- ROS = *100% Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn đầu tư (ROI): Tỷ suất này phản ánh mức độ sinh ra lợi nhuận ròng của tổng vốn đầu tư. Hay tỷ suất này cho biết mức độ hiệu quả của vốn đầu tư tại doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận ròng sau thuế. Do đó, tỷ suất này càng lớn có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả với vốn đầu tư của mình huy động được.
- ROI = *100%
Tóm lại, tại luận văn này thì tác giả sử dụng ROE để phản ánh cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, vì chỉ tiêu này phản ánh mức độ sử dụng hiệu quả VCSH để tạo ra lợi nhuận ròng cho doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thì việc sử dụng nợ vay hay VCSH để tạo ra lợi nhuận là rất quan trọng. Thông thường các nguồn vốn từ nợ vay có chi phí rẻ nhưng lại tạo ra áp lực thanh toán gốc lãi cho các doanh nghiệp. VCSH thường được xem là nguồn vốn dài hạn, giúp cho các doanh nghiệp giảm được áp lực đó nhưng chi phí sử dụng nó thường sẽ cao hơn chi phí sử dụng nợ. Vì vậy, tỷ suất ROE phản ánh mức sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ các cổ đông của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận ròng, hơn là các nguồn vay nợ. Hay nói cách khác, chỉ tiêu này phản ánh cho mức lợi ích mà các cổ đông kỳ vọng sẽ nhận được từ lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết.
2.2. Các lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.2.1 Lý thuyết chu kỳ kinh tế
Paul A. Samuelson & William D. Nordhaus (2009) cho rằng “Chu kỳ kinh doanh là một sự dao động của tổng sản lượng quốc dân, của thu nhập và việc làm thường kéo dài trong một giai đoạn được đánh dấu bằng một sự mở rộng hay thu hẹp trên quy mô lớn trong hầu hết các khu vực của nền kinh tế, thường trong một khoảng thời gian từ 02 – 10 năm”.
Trong đó chu kỳ kinh tế có hai giai đoạn chính đó là giai đoạn suy thoái và giai đoạn mở rộng, điểm cực trị của các đỉnh và đáy là giai đoạn chuyển hướng của chu kỳ. Sự đi xuống của một chu kỳ gọi là suy thoái, đây là một giai đoạn mà trong đó GDP thực tế giảm xuống ít nhất trong hai quý liên tiếp và suy thoái bắt đầu tại một đỉnh và kết thúc tại một đáy. Trong giai đoạn suy thoái thì cầu về lao động giảm làm thất nghiệp gia tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, giá chứng khoán thường sẽ giảm xuống khi các nhà đầu tư cảm nhận được chu kỳ kinh tế đi xuống. Giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản chiếu của suy thoái, mỗi yếu tố trên sẽ hoạt động theo chiều ngược lại. Không có hai chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau. Điều này cho thấy, tính chu kỳ kinh tế lan rộng đến các đối tượng trong nền kinh tế, hay điển hình nó thể hiện qua GDP và tỷ lệ lạm phát.
Hay nói cách khác, nền kinh tế trong giai đoạn chu kỳ mở rộng sẽ xuất hiện tăng trưởng GDP, lạm phát với mức bình ổn thì các doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn trong việc mở rộng kinh doanh, tăng trưởng bán hàng hay doanh thu và lợi nhuận. Ngược lại, nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái thì GDP thấp, lạm phát có khả năng tăng cao làm cho việc tiêu thụ hàng hóa trở nên chậm chạp hơn, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp gặp nhiều sự hạn chế trong việc gia tăng. Do đó, lý thuyết chu kỳ kinh tế này cho thấy các yếu tố vĩ mô nền kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc đến HĐKD của doanh nghiệp và đặc biệt là hiệu quả HĐKD.
2.2.2 Lý thuyết về cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Lý thuyết cấu trúc vốn chỉ ra việc các doanh nghiệp sẽ tiến hành lựa chọn cấu trúc vốn phù hợp cho doanh nghiệp. Trong đó, tương ướng với mỗi cấu trúc vốn thì VCSH hay nợ vay sẽ được sử dụng ưu tiên vào các trường hợp. Do đó, khi sử dụng cân đối giữa nợ vay và VCSH thì khoản chi phí lãi sẽ xuất hiện, đây được xem là cơ sở quan trọng để xác định lợi nhuận hay lá chắn thuế được tạo ra. Vì vậy, cấu trúc vốn ảnh hưởng một cách trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Lý thuyết M&M được Modigliani, F. & Miller, M.H. (1958) đặt nền tảng đầu tiên với những giả định đơn giản hóa, các chi phí giao dịch hay vay vốn được xem là miễn phí. Vì vậy, giá trị của đơn vị kinh doanh sẽ phụ thuộc vào tài sản của nó chứ không phải tập trung vào cổ phần. Theo mệnh đề M&M, bất cứ sự lựa chọn tài chính nào, kể cả sử dụng VCSH hoặc các khoản nợ ngắn hạn hay dài hạn thì giá trị của đơn vị kinh doanh cũng không đổi. Điều này có nghĩa là tại các doanh nghiệp theo M&M thì trên bảng cân đối kế toán nguồn vốn sẽ bao gồm các khoản nợ ngắn hoặc dài hạn, VCSH và khi các khoản này gia tăng hay sụt giảm tương ứng với hoạt động tài trợ thì tài sản của công ty cùng với các cơ hội phát triển cũng tăng giảm tương ứng. Điều này có nghĩa là tại bất cứ cấu trúc vốn của doanh nghiệp được lựa chọn như thế nào cũng tạo ra sự thuận lợi cho việc HĐKD.
Dưới nền tảng của M&M thì lý thuyết này xem xét sự tác động của thuế và chi phí khi doanh nghiệp bị cạn kiệt tài chính. Đặt nền tảng đầu tiên cho lý thuyết này là Kraus, A. & Litzenberger, R.H. (1973) cùng với đó là sự hoàn thiện cho nó bởi Myers S. C. (1977). Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp nên tập trung sử dụng một giới hạn về nợ nhất định sẽ dễ dàng hơn trong tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, ngược với M&M cho rằng nợ càng nhiều thì giá trị doanh nghiệp càng cao. Hay nói cách khác, dựa trên lý thuyết này các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh sẽ có những tỷ số liên quan đến nợ và VCSH khác nhau để phát huy sức mạnh, nâng cao hiệu quả. Do đó, sẽ tồn tại một điểm kết hợp tối ưu khi doanh nghiệp cố gắng hướng đến việc sử dụng nợ. Việc sử dụng nợ tại doanh nghiệp chính là các khoản phải trả người bán, các nguồn nợ vay từ NHTM ngắn hạn hay dài hạn, các khoản phát hành trái phiếu. Khi đó sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp tăng lên theo. Trong giai đoạn đầu thì doanh nghiệp sẽ được nhận các lợi ích được tạo ra từ lá chắn thuế, do khoản nợ sinh ra lãi làm lá chắn thuế hay nói cách khác là hiệu quả tiết kiệm chi phí hoạt động của doanh nghiệp xuất hiện. Nhưng với tỷ lệ nợ ngày càng gia tăng thì các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với áp lực thanh toán hoặc mất khả năng chi trả nếu HĐKD yếu kém và đe dọa khả năng phá sản. Do đó, ta có thể thấy rằng tại doanh nghiệp nếu sử dụng nợ một cách hợp lý sẽ giúp cho hiệu quả HĐKD gia tăng bằng lợi ích từ lá chắn thuế và phần thu nhập sau thuế được nhận sẽ nhiều hơn. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tóm lại, lý thuyết về cấu trúc vốn đã phản ánh việc các doanh nghiệp khi kinh doanh cần phải tập trung vào nguồn vốn để tài trợ cho các HĐKD của mình. Trong đó, hai nguồn chủ yếu là VCSH hay nợ vay còn được gọi là đòn bẩy tài chính. Nếu doanh nghiệp sử dụng được VCSH nhiều, thông qua việc góp vốn của các cổ đông hoặc hình thức phát hành cổ phiếu ra đại chúng, thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn với khả năng tự chủ tài chính nhưng chi phí sử dụng sẽ rất cao. Đối với các khoản nợ phải trả hay nợ vay thì giúp doanh nghiệp có mức chi phí rẻ hơn, nhưng lại đối mặt với các áp lực thanh toán, nếu HĐKD không hiệu quả thì nợ sẽ chồng lãi làm cho doanh nghiệp rơi vào khó khăn, kiệt quệ, thậm chí phá sản. Do đó, một cấu trúc vốn hợp lý với sự kết hợp hài hòa giữa nợ và VCSH sẽ giúp cho doanh nghiệp ổn định và gia tăng hiệu quả HĐKD. Mặt khác, việc sử dụng đòn bẩy tài chính tại các doanh nghiệp cũng phải được tập trung xem xét các khả năng trả nợ, hệ số thanh toán cho cân đối với tình hình kinh doanh hay các vòng xoay vốn, tiêu thụ của doanh nghiệp nhằm giảm bớt áp lực thanh toán và nguy cơ vỡ nợ. Đồng thời, trong lý thuyết về cấu trúc vốn M&M thì luận văn sẽ xem xét trong môi trường có thuế, vì trong môi trường này thì việc doanh nghiệp sử dụng cơ cấu vốn giữa nợ vay và VCSH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lá chắn thuế. Đặc biệt, với đặc thù là các doanh nghiệp ngành thực phẩm thì vòng xoay vốn lưu động liên tục sẽ ảnh hưởng đến nợ vay và các khoản chiếm dụng vốn từ các đối tượng khác. Do đó, khi sử dụng VCSH hay nợ vay tại doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến lá chắn thuế, nhưng cũng sẽ đề cập đến mức tiết kiệm lãi vay của doanh nghiệp khi sử dụng hiệu quả nợ.
2.2.3. Lý thuyết kinh tế theo quy mô hoạt động
John C. Panzar & Robert D. Willig (1977) cho rằng nếu các đơn vị kinh doanh tiến hành mở rộng các sản phẩm dịch vụ cung cấp thì chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm xuống. Điều này có nghĩa là khi các đơn vị kinh doanh thực hiện việc mở rộng hay đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh của mình, thì các nguồn lực của doanh nghiệp sẽ được biến đổi và tận dụng, hạn chế được sự lãng phí (Constantinos C. Markides & Peter J. Williamson, 1994). Nếu nhiều lĩnh vực kinh doanh cùng được thực hiện dựa trên nguồn lực sẵn có thì tổng chi phí sẽ có thể được hạn chế, từ đó làm cho lợi nhuận tăng lên hay tính hiệu quả sử dụng nguồn lực tạo ra thu nhập cũng được đánh giá tốt hơn.
Lý thuyết này đã chỉ ra rằng, tại một đơn vị doanh nghiệp kinh doanh nếu chỉ theo đuổi việc bán một hay những loại sản phẩm truyền thống hoặc không có tính cập nhật thì sẽ gặp phải hai vấn đề lớn, đó chính là không tăng trưởng được doanh thu sẽ bị đào thải trên thị trường và gây lãng phí các nguồn lực sẵn có mà mình có thể tận dụng để đa dạng hóa hoặc mở rộng. Hay nói cách khác, để có thể nâng cao được hiệu quả HĐKD thì buộc các doanh nghiệp phải tiến hành mở rộng quy mô kinh doanh để tăng trưởng doanh thu của mình, từ đó tạo ra thị phần lớn hơn và dễ dàng tiếp cận khách hàng hơn trong tương lai. Mặt khác, John C. Panzar & Robert D. Willig (1977) còn chỉ ra rằng việc đầu tư vào các loại TSCĐ hữu hình mới có tính cập nhật sẽ giúp cho doanh nghiệp sản xuất được nhiều hơn, đáp ứng được các yêu cầu của xã hội và mở rộng quy mô tốt hơn.
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo Trần Ngọc Thơ (2018) thì hiệu quả HĐKD của doanh nghiệp được xem là sản phẩm của sự kết hợp các yếu tố nội tại đặc thù và bên ngoài của doanh nghiệp.
2.3.1. Nhóm các yếu tố thuộc nội tại doanh nghiệp
2.3.1.1. Quy mô doanh nghiệp
Theo Malik Hifza (2011), Yazdanfar (2013), Vătavu, S. (2014), AlGhusin (2015), Alarussi và Alhaderi (2018), nhờ vào lợi thế kinh tế của quy mô thì quy mô doanh nghiệp càng lớn sẽ có khả năng sinh lời càng cao. Quy mô doanh nghiệp càng lớn sẽ thuận lợi hơn trong việc mở rộng thị phần, có nhiều cơ hội cạnh tranh hơn trên thị trường, có ảnh hưởng nhiều hơn đến các đối tượng khách hàng. Tuy nhiên, việc quản lý sẽ càng khó khăn và tốn nhiều cho phí hơn khi mà các doanh nghiệp càng mở rộng quy mô. Việc gia tăng sản lượng sẽ vượt quá nhu cầu của thị trường dẫn đến không làm gia tăng lợi nhuận và lợi thế kinh tế của quy mô cũng không còn mang lại hiệu quả đối với các doanh nghiệp (Goddard, J., Tavakoli, J., & Wilson J. O. S. , 2005). Do đó, quy mô doanh nghiệp ảnh hưởng gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
2.3.1.2. Đòn bẩy tài chính
Theo Sivathaasan và cộng sự (2013) với vai trò chủ lực và đặc biệt quan trọng trong HĐKD của doanh nghiệp thì nguồn vốn cần được cân đối giữa nợ và VCSH. Trong đó VCSH giúp nắm vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK để giảm bớt áp lực vay nợ và đe dọa rủi ro thanh toán. Mặt khác, tỷ lệ VCSH tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp cho thấy khả năng tự chủ tài chính và phục hồi khó khăn của doanh nghiệp khi các cuộc khủng hoảng hay cú sốc kinh tế đến từ thị trường. Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết đánh đổi đã giải thích mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và lợi nhuận ở hai chiều khác nhau. Theo lý thuyết trật tự phân hạng của Myers, S. C. & Majluf, N. S. (1984), đòn bẩy tài chính và lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều nhau.
2.3.1.3. Quy mô đầu tư tài sản cố định
Để có thể tạo ra sản phẩm và tạo điều kiện thuận lợi kinh doanh thì TSCĐ được xem là điều kiện quan trọng của doanh nghiệp (Tailab, 2014). Bên cạnh đó, đầu tư vào TSCĐ cũng giúp cho công tác quản lý HĐKD của doanh nghiệp thuận lợi hơn. Đây được xem là cơ sở để gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng nếu quy mô tài sản đầu tư vào TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn tài sản ngắn hạn hay các tài sản này hoạt động kém không tạo ra hiệu quả trong HĐKD của doanh nghiệp, thì việc đầu tư này càng gia tăng lợi nhuận sẽ càng suy giảm (Tailab, 2014).
2.3.1.4. Vòng quay tài sản Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo Alarussi, A. S. & Alhaderi, S. M. (2018), vòng quay tài sản được xem là năng lực tuần hoàn của vốn doanh nghiệp và là một mặt quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, vòng quay tài sản còn phản ánh hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Giá trị vòng quay tài sản càng cao cho thấy cùng một tài sản mà mức lợi ích thu được càng nhiều hay cụ thể đó là doanh thu bán hàng được nâng cao. Điều đó cho thấy trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanh nghiệp càng tốt. Do đó, giá trị vòng quay tài sản càng cao càng tốt.
2.3.1.5. Mức tăng trưởng của doanh nghiệp
Mức tăng trưởng của doanh nghiệp thể hiện sự gia tăng về doanh thu, tài sản, lợi nhuận của doanh nghiệp. Mức tăng trưởng càng cao cho thấy doanh nghiệp nắm càng nhiều tài sản, sự gia tăng về doanh thu và mang lại lợi nhuận nhiều hơn (Agiomirgianakis, G. M., Voulgaris, F., & Papadogonas, T., 2006) (Yazdanfar, D., 2013). Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy để tăng trưởng thì doanh nghiệp phải tăng chi phí, nếu mức chi phí tăng vượt quá so với mức tăng trưởng thì có thể làm cho lợi nhuận bị sụt giảm (Glancey, 1998). Do đó, mức tăng trưởng doanh nghiệp sẽ làm gia tăng lợi nhuận trong tương lai.
2.3.1.6. Khả năng thanh toán nhanh
Mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn được xem là khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Tỷ số này phản ánh tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản nhanh của doanh nghiệp có đủ để thanh toán các khoản nợ phải trả trong ngắn hạn hay không. Chỉ số này cho biết mỗi đồng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được sử dụng để thanh toán bao nhiêu đồng nợ ngắn hạn. Chỉ số này giảm cho thấy những khó khăn về tài chính của doanh nghiệp. Chỉ số này tăng cho thấy doanh nghiệp luôn sẵn sàng trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, chỉ số này tăng quá cao thì sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp do doanh nghiệp có nhiều tiền mặt nhàn rỗi, hoặc các khoản nợ khó đòi, hoặc hàng tồn kho bị ứ đọng (Diaz, J. F. & Hindro, M. C. T., 2017) (Fatimah, Toha, & Prakoso, 2019). Do đó, khả năng thanh toán nhanh ảnh hưởng làm giảm đi lợi nhuận của doanh nghiệp.
2.3.2. Nhóm các yếu tố thuộc bên ngoài doanh nghiệp Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
2.3.2.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Với thị trường có GDP cao sẽ làm cho các doanh nghiệp có điều kiện phát triển sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ, từ đó gia tăng doanh thu, lợi nhuận hay khả năng sinh lời. Mặt khác, khi nền kinh tế tăng trưởng, GDP tăng trưởng giúp các doanh nghiệp có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn, sản lượng của doanh nghiệp tăng để đáp ứng nhu cầu gia tăng của thị trường do thu nhập của người dân tăng lên dẫn đến tăng chi tiêu, từ đó gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Vì vậy, có thể dự đoán mức tăng trưởng kinh tế cao, tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp cũng cao và đó là cơ sở để đánh giá hiệu quả HĐKD gia tăng (Lee, 2014).
2.3.2.2. Tỷ lệ lạm phát
Theo Odusanya và cộng sự (2018) và Vătavu (2014), lạm phát cao có thể có ảnh hưởng xấu đến sản xuất do làm cho giá cả tăng, gây ra sự bất ổn của quá trình sản xuất. Nếu doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát thì có thể dẫn đến nguy cơ bị phá sản. Tuy nhiên, theo học thuyết của Keynes (1994), lạm phát ở mức độ vừa phải lại có tác động thuận lợi đến sản xuất, đặc biệt là khi tỷ lệ thất nghiệp cao do giá tăng sẽ làm tăng kỳ vọng lợi nhuận của doanh nghiệp vì giá tăng nhanh hơn chi phí sản xuất.
2.4. Tình hình nghiên cứu
2.4.1. Nghiên cứu nước ngoài
Khi phân tích về về lợi nhuận tại các doanh nghiệp bất động sản niêm yết tại TTCK Indonesia thì Diaz và Hindro (2017) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp từ năm 2010 – 2014. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô, tăng trưởng doanh thu ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhưng số ngày phải thu, số ngày tồn kho lại ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp quy mô lớn nhưng lại không xảy ra với quy mô nhỏ. Nguyên nhân đến từ các doanh nghiệp có quy mô lớn thì các chi phí bảo trì, vận hành lớn nên nếu hàng tồn kho để lâu sẽ thiệt hại nhiều hơn. Mặt khác, hệ số thanh toán hiện hành ảnh hưởng tích cực đến các doanh nghiệp quy mô lớn nhưng lại tiêu cực với quy mô nhỏ.
Khi nghiên cứu về tỷ lệ đòn bẩy và mức lợi nhuận thu được thì Andersson, A. & Minnema, J. (2018) đã thu thập số liệu của 130 doanh nghiệp ngành tư vấn niêm yết từ năm 2013 – 2015. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố tổng nợ phải trả ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận, vì phải chịu áp lực thanh toán lớn từ các khoản lãi, kể cả đó là nợ ngắn hạn hay dài hạn.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa thanh khoản, đòn bẩy và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành bất động sản niêm yết, thì Fatimah, Toha, & Prakoso (2019) đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp từ năm 2015 – 2017. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến. Các yếu tố đòn bẩy tài chính, hệ số thanh toán hiện hành ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Khi nghiên cứu về lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại TTCK Ấn Độ, thì Farhan và cộng sự (2021) thu thập số liệu của 1308 doanh nghiệp niêm yết từ năm 2011 – 2018. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố quy mô doanh nghiệp, hiệu quả quản lý chi phí làm gia tăng đến lợi nhuận, nhưng đòn bẩy tài chính lại làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Khi nghiên cứu về lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết trên TTCK Indonesia, thì Tarihoran, D. V. & Endri, E. (2021) thu thập số liệu của 19 doanh nghiệp từ năm 2015 – 2020. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hệ số thanh toán hiện thời, vòng quay tài sản, tăng trưởng doanh số bán hàng ảnh hưởng tích cực. Nhưng tỷ lệ VCSH, quy mô doanh nghiệp thì lại ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận.
Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành bảo hiểm, Ahmeti, Y. S. & Iseni, E. (2022) thu thập số liệu của 10 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết từ năm 2015 – 2020. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố số năm hoạt động, quy mô ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả.
- Nhưng đòn bẩy tài chính thì lại ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả.
Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh sinh lời của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại TTCK Amman, thì Haddad (2023) thu thập số liệu của 30 doanh nghiệp niêm yết từ năm 2016 – 2020. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố thu nhập mỗi cổ phiếu, quy mô, dòng tiền hoạt động ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả.
2.4.2. Các nghiên cứu trong nước
Ngô Thị Ngọc và cộng sự (2020) khi nghiên cứu về tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 20 doanh nghiệp ngành dầu khí niêm yết từ năm 2014 – 2018. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến kết luận. Các yếu tố vòng quay của tài sản, quy mô, tỷ lệ nợ, tỷ lệ chi phí ảnh hưởng tích cực đến sinh lời. Nhưng tỷ lệ đòn bẩy lại ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời.
Ngô Thị Hằng và Nguyễn Thị Thùy Linh (2020) khi nghiên cứu về khả năng sinh lời của các doanh nghiệp bất động sản, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp 27 doanh nghiệp niêm yết tại HOSE giai đoạn 2010 – 2019. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố tỷ lệ đòn bẩy, quy mô, tuổi hoạt động, hội đồng quản trị bao gồm quy mô hội đồng và đa dạng chủng tộc, tỷ lệ nợ ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lời. Nhưng quy mô tài sản lại ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời.
Phan Thu Hiền và Nguyễn Nhật Hà (2021) khi nghiên cứu về khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết, nhóm tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp của các doanh nghiệp từ năm 2009 – 2018. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố quy mô doanh nghiệp, năm hoạt động, tăng trưởng bán hàng, khả năng thanh toán hiện hành, vòng quay tài sản ảnh hưởng tích cực khả năng sinh lời. Nhưng đòn bẩy tài chính, tập trung thị trường ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lời.
Đặng Trung Kiên và Hồ Thanh Trí (2024) khi nghiên cứu về lợi nhuận của các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết, nhóm tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp của 22 doanh nghiệp từ năm 2011 – 2019. Công trình này tập trung vào mô hình hồi quy đa biến để kết luận. Các yếu tố hệ số thanh toán hiện hành, lệch dòng tiền, doanh số tăng trưởng ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận. Nhưng đòn bẩy tài chính và rủi ro thiên tai ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận.
Bảng 2.1: Tóm lược các nghiên cứu liên quan
2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Dựa trên các lược khảo nghiên cứu thì các khoảng trống của các công trình được luận văn xác định như sau:
Thứ nhất, nhìn chung các nghiên cứu tập trung phân tích về các yếu tố liên quan đến nội tại của các doanh nghiệp chiếm đa số. Nhưng với các yếu tố vĩ mô nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế và lạm phát thì không được tập trung phân tích. Trong khi các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến thị trường kinh doanh, tình hình giá cả sản phẩm, tiêu thụ hàng hóa và các dòng lưu thông vốn trong nền kinh tế. Vì vậy, đây là khoảng trống nghiên cứu được xác định.
Thứ hai, đa phần các nghiên cứu tập trung nhiều vào vòng quay tài sản của doanh nghiệp nhưng việc đầu tư cho tài sản cố định thì không được tập trung. Trong khi, việc đầu tư này ảnh hưởng rất nhiều vào nguồn chi phí đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất, tiêu thụ hay giá cả sản phẩm của doanh nghiệp, nên lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng (Ngô Thị Hằng & Nguyễn Thị Thùy Linh, 2020).
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Tại chương này thì luận văn tóm tắt và luận giải các nét đặc trưng về lý thuyết liên quan đến hiệu quả HĐKD tại các doanh nghiệp và lựa chọn ROE là chỉ tiêu phản ánh cho hiệu quả HĐKD. Mặt khác, chương này lập luận thông qua các lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả HĐKD tại các doanh nghiệp, để tạo sự chắc chắn thì với các lược khảo nghiên cứu, luận văn nhận ra nét tương đồng giữa thực nghiệm và lý thuyết. Tuy nhiên, luận văn cũng xác định các khoảng trống từ các công trình để tạo điều kiện đề xuất với bối cảnh các doanh nghiệp ngành thực phẩm niêm yết tại HOSE về mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp tại chương 3. Luận văn: Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

