Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Tên đề tài: “Nghiên Cứu Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Chuyển Đổi Từ Ô Tô Truyền Thống Sang Ô Tô Điện Của Người Tiêu Dùng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh”
Nội dung luận văn: Mục tiêu của luận văn này là: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô sử dụng điện của người tiêu dùng tại TP.HCM; Đo lường mức độ tác động của các yếu tố này; Đưa ra các hàm ý quản lý để cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô điện tại TP.HCM xây dựng chiến lược mở rộng thị trường. Luận văn này sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nghiên cứu định tính giúp xác định các biến và xây dụng nên mô hình nghiên cứu. Phương pháp định lượng được thực hiện thông qua bảng câu hỏi với mẫu gồm 210 cá nhân đang sở hữu ô tô truyền thống tại TP.HCM, kết quả đạt được 202 mẫu hợp lệ. Số liệu sau khi thu thập được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 22. Kết quả phân tích cho thấy mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi sang ô tô điện của những người đang sở hữu ô tô truyền thống gồm 7 yếu tố, đó là: Ý thức bảo vệ môi trường (Beta = 0,143); Hiệu quả mong đợi (Beta = 0,136); Điều kiện thuận lợi (Beta = 0,135); Nhận thức chi phí (Beta = -0,108); Ảnh hưởng xã hội (Beta = 0,091); Thói quen (Beta = -0,087); và Nỗ lực mong đợi (Beta = 0,057). Mô hình này giải thích được 65,1% sự biến thiên của biến phụ thuộc tác động đến ý định chuyển đổi.
Từ khóa: Xe ô tô truyền thống, xe ô tô điện, ý định chuyển đổi, UTAUT2.
ABSTRACT Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Thesis title: “Research on Factors Affecting Consumers’ Intention to Switch from Traditional Cars to Electric Cars in Ho Chi Minh City”
Thesis content: The objectives of this thesis are: To identify factors affecting consumers’ intention to switch from gasoline and diesel cars to electric cars in Ho Chi Minh City; To measure the impact of these factors; To provide management implications for electric car manufacturing and distribution facilities in Ho Chi Minh City to develop market expansion strategies. This thesis uses a combination of qualitative and quantitative research methods. Qualitative research helps to identify variables and build a research model. Quantitative methods are implemented through questionnaires with a sample of 210 individuals who own gasoline and diesel cars in Ho Chi Minh City, resulting in 202 valid samples. The collected data were processed and analyzed using SPSS 22 software. The analysis results showed that the model of factors affecting the intention to switch to electric cars of people who own cars using gasoline and diesel includes 7 factors, which are: Environmental protection awareness (Beta = 0.143); Expected effectiveness (Beta = 0.136); Favorable conditions (Beta = 0.135); Price value (Beta = -0.108); Social influence (Beta = 0.091); Habit (Beta = -0.087); and Expected effort (Beta = 0.057). This model explains 65.1% of the variation in the dependent variable affecting the intention to switch.
Key words: Conventional vehicles, Electric vehicles, Switching intention, UTAUT2.
CHƯƠNG 1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Bảo vệ môi trường là một trong những thách thức lớn nhất mà nhân loại đang đối mặt trong thế kỷ XXI, khi tác động của biến đổi khí hậu ngày càng trở nên nghiêm trọng và khó lường. Nếu trước đây, vấn đề này chủ yếu được quan tâm tại các quốc gia phát triển, thì nay nó đã trở thành mục tiêu chung của toàn cầu, với sự tham gia tích cực của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Với nhận thức sâu sắc về những rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra, Việt Nam đã có những bước đi chiến lược nhằm giảm thiểu tác động môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững. Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu Liên Hợp Quốc năm 2021 (COP26), Việt Nam đã đưa ra cam kết mạnh mẽ về việc đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 (Nguyễn Thị Hoài Thương & Cao Việt Hiếu, 2023). Cam kết này đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình chuyển đổi năng lượng bền vững của Việt Nam, thể hiện quyết tâm của chính phủ trong việc xây dựng một tương lai xanh.
Để hiện thực hóa mục tiêu này đòi hỏi một chiến lược dài hạn và đồng bộ, đặc biệt trong các lĩnh vực có mức phát thải cao như giao thông vận tải. Ngày 22/7/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 876/QĐ-TTg phê duyệt chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan của ngành giao thông vận tải (Nguyễn Thị Hoài Thương & Cao Việt Hiếu, 2023). Đây là một chính sách quan trọng, đặt nền tảng cho sự thay đổi trong lĩnh vực giao thông, vốn là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn nhất tại Việt Nam. Các địa phương trên cả nước, đặc biệt là những thành phố lớn, đã tích cực triển khai các biện pháp nhằm giảm tác động môi trường từ hoạt động giao thông đô thị.
Tại TP.HCM, nơi có mật độ dân số cao và lượng phương tiện giao thông lớn, các chính sách chuyển đổi năng lượng xanh đang được thực hiện một cách mạnh mẽ. Đến năm 2025, toàn bộ xe buýt đầu tư mới sẽ sử dụng năng lượng điện hoặc năng lượng xanh, với mục tiêu đến năm 2030 có 1.874 xe buýt năng lượng xanh vận hành, chiếm khoảng 73% tổng số xe buýt trong thành phố (Lê Hoàn, 2024). Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi sang phương tiện giao thông sử dụng năng lượng xanh không phải là một quá trình dễ dàng. Dù các biện pháp trợ giúp và cơ chế tài chính đang được triển khai. Nhưng vẫn còn nhiều rào cản đối với sự phổ biến của xe điện tại Việt Nam. Người tiêu dùng vẫn tỏ ra e ngại trước công nghệ mới, trong khi hạ tầng trạm sạc chưa được phát triển đồng bộ, làm giảm tính tiện dụng của xe điện (Hoàng Trọng Trường, 2023). Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, cần có các chính sách ưu đãi phù hợp, chiến lược truyền thông hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức về lợi ích của xe điện, cũng như sự đầu tư mạnh mẽ vào phát triển cơ sở hạ tầng hỗ trợ.
Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi sang xe điện. Haustein & Jensen (2018) cho rằng lập trường, quan điểm cá nhân, chuẩn mực cá nhân, rào cản kỹ thuật và giá cả có tác động đáng kể đến quyết định này. Simsekoglu & Nayum (2019) nhấn mạnh rằng tự chủ hành vi, quan điểm cá nhân và các đặc tính môi trường – kinh tế của xe điện là những yếu tố then chốt. Trong khi đó, Krishnam và Koshy (2021) xác định tám nhân tố tích cực gồm lợi ích nhận thức, ảnh hưởng xã hội, sự chấp nhận giá, hiệu suất, nhận thức về công nghệ, tiếp thị, phân phối và hậu mãi, cùng với bốn nhân tố tiêu cực như rào cản nhận thức, chính sách, cảm nhận hữu ích và tính dễ tiếp cận.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) chỉ ra rằng có sáu yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định sử dụng xe điện, bao gồm kỳ vọng lợi ích, tính dễ tiếp cận, điều kiện thuận lợi, nhận thức chi phí, thói quen và sự lo ngại về môi trường. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào tập trung cụ thể vào thị trường TP.HCM, một trong những địa phương đi đầu trong chiến lược phát triển giao thông xanh. Điều này tạo ra một khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy để cung cấp cơ sở học thuật vững chắc cũng như các đề xuất chính sách thực tiễn. Do đó, đề tài “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM” được lựa chọn nhằm mang lại những hiểu biết sâu sắc về thị trường này. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp các doanh nghiệp sản xuất và phân phối xe điện xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả mà còn đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam, góp phần xây dựng một hệ thống giao thông bền vững trong tương lai.
1.2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của đề tài nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị để các cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô sử dụng điện có thể áp dụng để thay đổi quan điểm của người dân tại TP.HCM trong việc chuyển đổi sang sử dụng ô tô điện.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu tổng quát được cụ thể hóa thành các mục tiêu như sau:
Thứ nhất, mô tả, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM.
Thứ hai, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM.
Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho các cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô sử dụng điện có thể áp dụng để thay đổi quan điểm của người dân đang sinh sống tại TP.HCM trong việc chuyển đổi sang sử dụng ô tô điện.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành được các mục tiêu nghiên cứu, cần phải trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, các nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM ?
Thứ hai, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM như thế nào ?
Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô sử dụng điện có thể áp dụng để thay đổi quan điểm của người dân đang sinh sống tại TP.HCM trong việc chuyển đổi sang sử dụng ô tô điện ?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
- Đối tượng khảo sát: Những người đang sở hữu xe ô tô truyền thống và đang sinh sống trên địa bàn TP.HCM.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: TP.HCM
- Về thời gian: Đề tài sẽ nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 04/2024 đến tháng 07/2024
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, cụ thể như sau:
Phương pháp định tính: Nhằm đưa ra các giả thiết, điều chỉnh và bổ sung mô hình nghiên cứu cũng như các thang đo cho các khái niệm trong mô hình. Cụ thể, tác giả tổng hợp lý thuyết và các nghiên cứu liên quan để đề xuất một mô hình nghiên cứu và các thang đo dự kiến cho các khái niệm trong đó. Sau đó, tác giả tiến hành thảo luận với các chuyên gia trong lĩnh vực quan trắc ô nhiễm môi trường và chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh lực marketing ô tô điện cùng một nhóm người đang sử dụng xe ô tô truyền thống và đang sinh sống tại TP.HCM để điều chỉnh và bổ sung, giúp hoàn thiện mô hình nghiên cứu và các thang đo khái niệm.
Phương pháp định lượng: Được áp dụng bằng cách khảo sát các cá nhân được nghiên cứu bằng công cụ là bảng câu hỏi trắc nghiệm. Số liệu ghi nhận được sẽ đưa vào chương trình SPSS 22. Kết quả thu được sau khi sàng lọc được mẫu chính thức sẽ thực hiện hàng loạt các phép kiểm tra, đánh giá như độ tin cậy Cronbach’s Alpha cho thang đo và các biến số. Tiếp theo, thực hiện kiểm định EFA để đo lường sự hội tụ của các biến quan sát và chọn ra nhân tố đại diện. Sau đó, dùng các biến số đại diện để kiểm tra sự tương quan và hồi quy. Cuối cùng, kiểm tra các khuyết tật của mô hình và giả thuyết thống kê.
1.6. Nội dung nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này tác giả sẽ mô tả và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM. Sau khi xử lý kết quả khảo sát thu được bằng phần mềm tính toán thống kê sẽ đo lường cấp độ tác động của các nhân tố này. Sau đó đề ra những ý nghĩa về mặt quản trị cho các cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô sử dụng điện có thể áp dụng để thay đổi quan điểm của người dân tại TP.HCM trong việc chuyển đổi sang sử dụng ô tô điện.
1.7. Đóng góp của đề tài Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Ý nghĩa và mặt học thuật: Tác giả sẽ sử dụng mô hình UTAUT2 (Venkatesh và cộng sự, 2012) làm mô hình lý thuyết nền cho nghiên cứu. Ngoài ra tác giả cũng khảo lược các bài báo khoa học tương tự để tìm ra các khoảng trống nghiên cứu. Từ đó đề xuất mô hình cùng với giả thuyết nghiên cứu áp dụng cho bối cảnh thị trường xe ô tô tại TP.HCM. Kết luận của đề tài sẽ là nền tảng nối tiếp của các đề tài nghiên cứu liên quan sau này.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Đề tài nghiên cứu sẽ đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chuyển qua ô tô sử dụng điện của những người đang sở hữu ô tô truyền thống tại TP.HCM. Đồng thời, đề xuất các cơ sở chế tạo và phân phối xe ô tô sử dụng điện có thể áp dụng để thay đổi quan điểm của người dân tại TP.HCM trong việc chuyển đổi sang sử dụng ô tô điện.
1.8. Kết cấu đề tài
Đề tài có bố cục bao gồm phần mở đầu và 04 chương như sau:
Chương 1: Phần mở đầu
Chương này trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu nghiên cứu.
Chương 2: Tổng quan về nghiên cứu
Chương này sẽ trình bày các khái niệm liên quan của đề tài nghiên cứu, xem xét các nghiên cứu tương tự từ đó phát triển các giả thuyết và xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này sẽ mô tả quy trình thực hiện nghiên cứu, các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu, kích thức mẫu và cách thức thu thập mẫu nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Chương này sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến ý định chuyển qua ô tô điện của những người đang dùng ô tô truyền thống tại TP.HCM.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương này sẽ trình bày các kết luận về các mục tiêu nghiên cứu và đề xuất các hàm ý quản trị trên cơ sở kết quả nghiên cứu.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã tổng quát đề tài nghiên cứu. Nêu lên được các vấn đề, đồng thời đưa ra mục đích, chủ thể, giới hạn và phương thức của nghiên cứu.
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về nhân tố tác động đến ý định sử dụng ô tô điện của người tiêu dùng như trong bảng dưới đây:
Bảng 2.1. Khảo lược các bài báo khoa học đã được công bố về Ý định sử dụng ô tô điện
Trên thế giới, nghiên cứu về ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, tuy nhiên, số lượng nghiên cứu chuyên sâu về nhóm đối tượng đã sở hữu ô tô truyền thống vẫn còn hạn chế. Hiện tại, chỉ có bốn nghiên cứu tiêu biểu được công bố, trong đó mỗi nghiên cứu tiếp cận vấn đề dưới các góc độ khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong nhận thức và hành vi của người tiêu dùng đối với ô tô điện.
Haustein và Jensen (2018) nhấn mạnh sự khác biệt trong nhận thức và lập trường giữa người sở hữu ô tô truyền thống và ô tô điện. Theo nghiên cứu này, có năm yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi, bao gồm: lập trường của người tiêu dùng, quan điểm cá nhân, chuẩn mực cá nhân, rào cản kỹ thuật của sản phẩm và giá cả. Trong khi đó, Simsekoglu và Nayum (2019) lại xác định ba yếu tố chính tác động đến quyết định chuyển đổi, bao gồm quan điểm cá nhân, tự chủ hành vi và đặc tính môi trường – kinh tế của ô tô điện. So sánh hai nghiên cứu này cho thấy, cả hai đều đề cao vai trò của quan điểm cá nhân trong quyết định tiêu dùng, song Haustein và Jensen (2018) tập trung nhiều hơn vào rào cản kỹ thuật và giá cả, trong khi Simsekoglu và Nayum (2019) chú trọng đến lợi ích môi trường và khả năng kiểm soát hành vi của người tiêu dùng.
Khác với hai nghiên cứu trên, Krishnam và Koshy (2021) có cách tiếp cận toàn diện hơn khi phân tích cả các yếu tố thúc đẩy và cản trở ý định chuyển đổi. Kết quả nghiên cứu cho thấy tám nhân tố tác động tích cực đến ý định mua ô tô điện, bao gồm lợi ích nhận thức, ảnh hưởng xã hội, sự chấp nhận giá, hiệu suất, nhận thức về công nghệ, chiến lược tiếp thị, hệ thống phân phối và dịch vụ hậu mãi. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra bốn rào cản chính, bao gồm rào cản nhận thức, biện pháp trợ giúp, nhận thức về tính hữu ích và mức độ dễ tiếp cận của ô tô điện. Đáng chú ý, nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận về đặc điểm nhân khẩu học của nhóm có xu hướng chuyển đổi cao hơn, bao gồm những người có thói quen di chuyển quãng đường ngắn, thu nhập thấp nhưng có trình độ học vấn cao và nhiều kinh nghiệm lái xe. So với các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu của Krishnam và Koshy (2021) có phạm vi phân tích rộng hơn khi xem xét nhiều khía cạnh từ tâm lý, kinh tế đến chính sách vĩ mô, giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về thị trường ô tô điện. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) là công trình duy nhất đề cập đến ý định chuyển đổi sang ô tô điện của người tiêu dùng trong nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy sáu yếu tố ảnh hưởng tích cực đến quyết định này, bao gồm kỳ vọng lợi ích, tính dễ tiếp cận, điều kiện thuận lợi, nhận thức chi phí, thói quen sử dụng phương tiện truyền thống và sự lo ngại về môi trường. So sánh với các nghiên cứu quốc tế, có thể thấy rằng một số yếu tố như lợi ích nhận thức và nhận thức về chi phí được đề cập tương tự, tuy nhiên, nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) nhấn mạnh hơn vào vai trò của thói quen sử dụng phương tiện truyền thống và điều kiện thuận lợi trong quá trình chuyển đổi. Điều này phản ánh thực trạng thị trường Việt Nam, nơi mà hạ tầng trạm sạc còn hạn chế và xe chạy bằng nhiên liệu truyền thống vẫn chiếm ưu thế.
Nhìn chung, dù có sự khác biệt trong cách tiếp cận, tất cả các nghiên cứu đều đồng thuận rằng ý định chuyển đổi sang ô tô điện chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố từ tâm lý cá nhân, môi trường xã hội đến chính sách kinh tế. Các nghiên cứu quốc tế mang tính tổng quát và đa chiều hơn, trong khi nghiên cứu tại Việt Nam có xu hướng tập trung vào các yếu tố đặc thù của thị trường trong nước. Điều này cho thấy nhu cầu cấp thiết về các nghiên cứu chuyên sâu hơn tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh chính sách phát triển giao thông xanh đang được đẩy mạnh, nhằm cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các chiến lược khuyến khích sử dụng ô tô điện.
Tổng hợp khoảng trống trong các nghiên cứu được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.2. Khảo lược các nghiên cứu đã được công bố về ý định chuyển qua ô tô điện của những người đã sở hữu ô tô truyền thống
Qua việc tổng hợp các nghiên cứu đã được thực hiện, đến nay chưa ai công bố nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang tô điện của người tiêu dùng đang sinh sống tại TP.HCM, đây là minh chứng cho khoảng trống tri thức trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, cùng với những vấn đề được đặt ra và với tính cấp thiết của đề tài đã được trình bày ở mục 1.1 và 1.2 của luận văn này. Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM là cấp thiết và sẽ góp phần lấp một phần khoảng trống tri thức đó.
2.2 Mô hình của nghiên cứu Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
2.2.1 Mô hình về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)
Vankatesh và cộng sự (2003) đã xây dựng lên mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ (unified theory of acceptance and use of technology). Mô hình được xây dựng dựa trên nền tảng của tám mô hình đã được chứng minh trước đó nhằm mục tiêu là áp dụng một phương pháp đồng nhất hơn để đánh giá mức độ chấp nhận công nghệ mới. Tám mô hình đó là: TRA, TAM, MM, TPB, C-TAM-TPB, MPCU, IDT, SCT.
Mô hình UTAUT được hình thành với bốn yếu tố chủ đạo của ý định và hành trong việc tiếp cận công nghệ mới đó là:
Hiệu quả mong đợi (performance expectancy) được Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa là mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng hệ thống sẽ giúp họ có thể đạt được lợi nhuận trong hiệu suất công việc. Năm cấu trúc từ các mô hình liên quan đến kì vọng hiệu quả đó là: tính hữu ích trong mô hình TAM (Davis và cộng sự, 1989); TAM2 (Venkatesh & Davis, 2000); động lực bên ngoài trong mô hình MM (Davis và cộng sự, 1992); công việc phù hợp trong mô hình MPCU (Thompson và cộng sự, 1991); lợi thế tương đối trong mô hình IDT (Rogers, 1995) và kết quả mong đợi trong mô hình SCT (Compeau & Higgins, 1995).
Nỗ lực mong đợi (effort expectancy) được Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa là mức độ dễ dàng kết hợp với việc sử dụng các hệ thống. Yếu tố này được tác giả hình thành từ các yếu tố của các mô hình sau: yếu tố cảm nhận dễ dàng sử dụng trong mô hình TAM (Davis và cộng sự, 1989); TAM2 (Venkatesh & Davis, 2000); yếu tố sự phức tạp trong mô hình MPCU (Thompson và cộng sự, 1991); yếu tố dễ dàng sử dụng trong mô hình IDT (Rogers, 1995).
Ảnh hưởng xã hội (social influence) được Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa là mức độ mà một cá nhân nhận thức rằng những người khác tin rằng họ nên sử dụng hệ thống mới. Những người khác có thể bao gồm các ông chủ, đồng nghiệp, cấp dưới… Ảnh hưởng xã hội được mô tả như là tiêu quan điểm cá nhân trong các mô hình TRA, TAM2, TPB / DTPB và C-TAM- TPB, các yếu tố xã hội trong MPCU, và hình ảnh trong IDT (Venkatesh và cộng sự, 2003).
Điều kiện thuận lợi (facilitating conditions) được Venkatesh và cộng sự (2003) định nghĩa là mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và được tổ chức tồn tại để hỗ trợ sử dụng hệ thống. Sự ảnh hưởng của điều kiện thuận lợi vào sử dụng sẽ được điều tiết theo độ tuổi, chi phí hàng tháng, và kinh nghiệm thiêng về những người làm việc lớn tuổi với sự gia tăng về kinh nghiệm. Yếu tố này tác động trực tiếp đến hành vi sử dụng của người sử dụng công nghệ. Ba cấu trúc từ các mô hình liên quan đến điều kiện thuận lợi là: kiểm soát hành vi trong TPB (Ajzen, 1985); TAM (Davis và cộng sự, 1989); yếu tố điều kiện thuận lợi trong mô hình MPCU (Thompson và cộng sự, 1991) và yếu tố khả năng tương thích trong mô hình IDT (Rogers, 1995).
Các biến nhân khẩu học (tuổi, giới tính, kinh nghiệm, tự nguyện sử dụng) được Venkatesh và cộng sự (2003) đề xuất như một phần của UTAUT và được đưa vào phân tích sự ảnh hưởng đến các yếu tố chấp nhận là hiệu quả mong đợi, nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng xã hội và điều kiện thuận tiện đối với ý định và hành vi sử dụng.
Hình 2.1. Mô hình UTAUT (Venkatesh và cộng sự, 2003) Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
2.2.2. Mô hình thống nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT2)
Năm 2012, Venkatesh và công sự đã dựa trên mô hình UTAUT và đưa vào một số cải tiến để xây dựng nên mô hình thống nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT2). Mô hình UTAUT2 là mô hình UTAUT và được bổ sung thêm các nhân tố sau:
Động lực thụ hưởng (hedonic motivation) được Venkatesh và cộng sự (2012) định nghĩa là niềm vui hay sự sung sướng có được từ việc được sử dụng công nghệ mới. Nó có vai trò quan trọng trong việc xác định sự chấp nhận và sử dụng công nghệ. Động lực thụ hưởng được xem là một yếu tố tâm lý nội tại của mỗi khách hàng.
Nhận thức chi phí (price value) theo Venkatesh và cộng sự (2012) chi phí và giá cả có thể tác động đáng kể đến việc sử dụng công nghệ của người sử dụng. Theo Venkatesh, nhận thức chi phí là tích cực khi những lợi ích của việc sử dụng một công nghệ được xem là lớn hơn chi phí và có tác động tích cực đến ý định hành vi.
Theo Venkatesh và cộng sự (2012), thói quen được mô tả là mức độ mà cá nhân có khuynh hướng thực hiện một hành động một cách vô thức, dựa trên việc tái diễn hành vi đó nhiều lần trong quá khứ. Venkatesh và cộng sự (2012) cho rằng việc tận dụng trải nghiệm trước đây là yếu tố tiên quyết và mang tính quyết định đối với thói quen sử dụng công nghệ, đồng thời thói quen này đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiếp nhận công nghệ đó về sau.
Bên cạnh đó, tác giả đã lược bỏ yếu tố tự nguyện sử dụng khỏi các biến nhân khẩu học trong mô hình UTAUT gốc khi mở rộng và phát triển thành UTAUT2.
Hình 2.2 Mô hình UTAUT2 (Venkatesh và cộng sự, 2012)
2.2.3. Đề xuất mô hình nghiên cứu Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Trong luận văn này, tác giả sẽ dựa trên mô hình lý thuyết UTAUT2 (Venkatesh và cộng sự, 2012) nêu trên để làm mô hình nền tảng cho đề tài nghiên cứu của luận văn vì ba nguyên nhân sau:
Trước tiên, UTAUT2 được tác giả xây dựng với mục đích để mô tả hành vi ý định và hành vi quyết định việc sử dụng của người tiêu dùng trong việc chấp nhận công nghệ mới, vậy nên mô hình này cực kì phù hợp để sử dụng để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến việc quyết định chuyển đổi từ một sản phẩm của công nghệ cũ (xe ô tô truyền thống), sang một sản phẩm công nghệ còn rất mới (xe ô tô điện).
Thứ hai, UTAUT2 được phát triển bằng cách kết hợp kết quả nghiên cứu từ rất nhiều mô hình mô tả hành vi ý định người dùng. Các mô hình thông dụng đó là: TRA, TAM, MM, TPB, C-TAM-TPB, MPCU, IDT, SCT. Vì vậy, sử dụng mô hình UTAUT2 sẽ đưa ra kết quả tốt nhất, tổng quát nhất so với việc chỉ sử dụng một mô hình trong các mô hình nói trên.
Thứ ba, UTAUT2 đang được áp dụng rất rộng rãi và đã có nhiều công trình khoa học xoay quanh ý định thay đổi của người tiêu dùng đối với các công nghệ hoặc sản phẩm công nghệ mới trong nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như: thương mại điện tử (Sombultawee, 2017), ứng dụng giao đồ ăn trên thiết bị di động (Hoàng Thị Phương Thảo, 2020), học trực tuyến (Dang và cộng sự, 2017), và học tập trên thiết bị di động (Arain và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, theo bảng 2.3, vẫn chưa có nghiên cứu nào áp dụng mô hình này để phân tích ý định chuyển sang sử dụng ô tô điện. Do đó, việc áp dụng mô hình UTAUT2, được phát triển bằng cách tích hợp các mô hình nghiên cứu trước đó, không chỉ kế thừa những ưu điểm của các mô hình này mà còn mở ra một hướng tiếp cận hoàn toàn mới trong lĩnh vực nghiên cứu này.
Bảng 2.3. Tổng hợp cơ sở đề xuất mô hình nghiên cứu
2.2.3.1. Hiệu quả mong đợi (PE)
Hiệu quả mong đợi là một khái niệm quan trọng trong mô hình UTAUT2 do Venkatesh và cộng sự (2012) đề xuất. Theo định nghĩa, hiệu quả mong đợi phản ánh niềm tin của cá nhân rằng việc sử dụng một hệ thống hoặc sản phẩm sẽ nâng cao hiệu suất công việc của họ. Nói cách khác, đó là mức độ mà người tiêu dùng nhận thức rằng sản phẩm hoặc công nghệ mang lại lợi ích thực tiễn và có giá trị đối với họ. Trong bối cảnh mua sắm và tiêu dùng sản phẩm công nghệ cao, bao gồm cả xe ô tô điện, hiệu quả mong đợi đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và củng cố ý định sử dụng sản phẩm (Davis, 1989; Venkatesh et al., 2012). Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã xác nhận rằng hiệu quả mong đợi có ảnh hưởng tích cực đến ý định mua xe ô tô điện. Cụ thể, nghiên cứu của Lee và cộng sự (2021) tại Pakistan, Sriram và cộng sự (2022) tại Ấn Độ, Tu & Yang (2019) tại Trung Quốc, Thananusak và cộng sự (2017) tại Thái Lan, và Khazaei & Tareq (2021) tại Malaysia đều chỉ ra rằng người tiêu dùng có xu hướng cân nhắc mua xe điện khi họ nhận thức rõ những lợi ích mà sản phẩm này mang lại, chẳng hạn như tiết kiệm chi phí nhiên liệu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện cảm nhận lái xe.
Bên cạnh đó, hiệu quả mong đợi không chỉ ảnh hưởng đến ý định mua xe điện mà còn tác động đến quyết định chuyển đổi từ xe truyền thống sang xe năng lượng sạch. Theo Hoàng Trọng Trường (2023), tại Việt Nam, yếu tố này có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy hành vi tiêu dùng bền vững. Khi người tiêu dùng tin tưởng rằng xe điện mang lại lợi ích thiết thực hơn so với xe chạy bằng nhiên liệu hóa thạch, họ sẽ có xu hướng chấp nhận công nghệ mới và điều chỉnh hành vi mua sắm của mình. Do đó, việc nâng cao nhận thức của khách hàng về giá trị thực tiễn của xe điện là một trong những yếu tố cốt lõi giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang giao thông bền vững.
Do đó, trong luận văn này tác giả đưa ra giả thuyết: H1: Hiệu quả mong đợi có tác động tích cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.2. Nỗ lực mong đợi (EE)
Nỗ lực mong đợi là một khái niệm quan trọng trong mô hình UTAUT2 do Venkatesh và cộng sự (2012) đề xuất. Yếu tố này phản ánh mức độ dễ dàng trong việc sử dụng một hệ thống hoặc công nghệ mới, với giả định rằng người dùng có xu hướng ưu tiên những sản phẩm có tính thân thiện cao, yêu cầu ít nỗ lực học tập và thích nghi. Theo đó, một công nghệ nếu được thiết kế trực quan, dễ tiếp cận và ít gây trở ngại trong quá trình sử dụng thì khả năng được chấp nhận bởi người tiêu dùng sẽ cao hơn. Trong bối cảnh xe ô tô điện, nỗ lực mong đợi có thể được hiểu là mức độ mà người tiêu dùng cảm nhận được sự thuận tiện trong việc tiếp cận, vận hành và bảo dưỡng phương tiện này so với xe chạy bằng nhiên liệu hóa thạch.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng nỗ lực mong đợi có tác động đáng kể đến ý định mua xe ô tô điện. Cụ thể, nghiên cứu của Lee và cộng sự (2021) tại Pakistan và Xu và cộng sự (2020) tại Trung Quốc đều chỉ ra rằng sự dễ dàng trong quá trình tiếp cận và sử dụng xe điện là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng. Điều này xuất phát từ thực tế rằng người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến lợi ích mà xe điện mang lại, mà còn cân nhắc xem liệu họ có thể dễ dàng vận hành, sạc điện và bảo trì phương tiện hay không. Khi xe điện được thiết kế với giao diện thân thiện, có sẵn hệ thống hỗ trợ người dùng và không đòi hỏi nhiều kỹ năng đặc thù, khả năng chấp nhận sản phẩm sẽ tăng lên đáng kể.
Ngoài ra, nỗ lực mong đợi không chỉ ảnh hưởng đến ý định mua mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi chuyển đổi từ xe truyền thống sang xe điện. Theo nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) tại Việt Nam, khi người tiêu dùng nhận thấy xe điện dễ sử dụng, họ có xu hướng sẵn sàng thử nghiệm và thay đổi thói quen sử dụng phương tiện. Nghiên cứu này củng cố quan điểm rằng việc giảm thiểu rào cản trong quá trình tiếp cận công nghệ mới là yếu tố then chốt trong việc định hình xu hướng tiêu dùng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chuyển đổi sang các giải pháp năng lượng sạch, khi mà sự thành công của xe ô tô điện không chỉ phụ thuộc vào lợi ích kinh tế hay môi trường mà còn dựa vào mức độ thuận tiện mà sản phẩm mang lại cho người dùng. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Do đó, trong luận văn này tác giả đưa ra giả thuyết: H2: Nỗ lực mong đợi có tác động tích cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.3. Ảnh hưởng xã hội (SI)
Ảnh hưởng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng trong mô hình UTAUT2 do Venkatesh và cộng sự (2012) đề xuất. Theo định nghĩa, ảnh hưởng xã hội đề cập đến mức độ mà một cá nhân cảm nhận rằng những người quan trọng đối với họ, chẳng hạn như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp hoặc những người có uy tín trong xã hội, kỳ vọng hoặc khuyến khích họ sử dụng một sản phẩm hoặc công nghệ mới. Yếu tố này phản ánh sự tác động của các chuẩn mực xã hội và áp lực từ môi trường xung quanh lên quyết định tiêu dùng của cá nhân. Trong bối cảnh mua sắm xe ô tô điện, ảnh hưởng xã hội có thể được hiểu là sự tác động của những người đã sử dụng hoặc có lập trường tích cực đối với xe điện, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức và quyết định mua xe của những người tiêu dùng tiềm năng.
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định rằng ảnh hưởng xã hội có tác động đáng kể đến ý định mua xe ô tô điện. Cụ thể, nghiên cứu của Krishnan và Koshy (2021) cho thấy rằng việc gia tăng mức độ quen thuộc của công chúng đối với xe điện thông qua các chiến dịch tiếp thị, triển lãm và chương trình lái thử miễn phí có thể tạo ra hiệu ứng lan tỏa, qua đó tác động tích cực đến ý định mua hàng của người tiêu dùng. Tương tự, nghiên cứu của Du và cộng sự (2018) tại Trung Quốc và Khazaei & Tareq (2021) tại Malaysia cũng chỉ ra rằng sự khuyến khích từ những người xung quanh có thể làm tăng khả năng chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe điện, đặc biệt trong các cộng đồng có nhận thức cao về bảo vệ môi trường hoặc có xu hướng ưa chuộng công nghệ mới.
Tuy nhiên, tác động của ảnh hưởng xã hội đến ý định mua xe ô tô điện không phải lúc nào cũng đồng nhất giữa các thị trường. Nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) tại Việt Nam cho thấy rằng yếu tố này không có ảnh hưởng đáng kể đến ý định chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe điện. Nguyên nhân có thể xuất phát từ tính mới mẻ của xe điện tại thị trường Việt Nam, khi mà người tiêu dùng chưa có đủ thông tin và cảm nhận thực tế để tạo ra ảnh hưởng rõ rệt lên quyết định của người khác (Hoàng Trọng Trường, 2023). Điều này cũng được hỗ trợ bởi nghiên cứu của Wang và cộng sự (2021), trong đó cho rằng ảnh hưởng xã hội không tác động trực tiếp đến ý định mua xe điện, mà chủ yếu ảnh hưởng đến lập trường của người tiêu dùng đối với sản phẩm.
Nhìn chung, ảnh hưởng xã hội có thể đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ý định mua xe điện, nhưng mức độ tác động phụ thuộc vào sự quen thuộc của cộng đồng với công nghệ mới, đặc điểm văn hóa và điều kiện thị trường cụ thể. Trong các thị trường nơi xe điện đã trở nên phổ biến, ảnh hưởng xã hội có thể là một yếu tố quyết định. Tuy nhiên, tại các thị trường đang phát triển như Việt Nam, vai trò của yếu tố này có thể bị hạn chế do sự thiếu hụt thông tin và mức độ thâm nhập của xe điện trong đời sống hàng ngày. Do đó, để gia tăng tác động của ảnh hưởng xã hội, các nhà chế tạo và phân phối ô tô điện cần có những chiến lược truyền thông phù hợp, nhằm nâng cao nhận thức và tạo ra hiệu ứng lan tỏa trong cộng đồng người tiêu dùng.
Vì vậy, để đảm bảo tính khách quan trong luận văn này, tác giả đưa ra giả thuyết: H3: Ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.4. Điều kiện thuận lợi (FC) Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Điều kiện thuận lợi là một trong những yếu tố quan trọng trong mô hình UTAUT2 do Venkatesh và cộng sự (2012) đề xuất. Theo định nghĩa, điều kiện thuận lợi đề cập đến mức độ mà một cá nhân tin tưởng vào sự hiện diện của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tổ chức hỗ trợ giúp họ dễ dàng sử dụng một hệ thống hoặc công nghệ mới. Trong bối cảnh tiêu dùng xe ô tô điện, điều này bao gồm các yếu tố như cơ sở hạ tầng sạc, khả năng bảo trì xe điện, sự sẵn có của linh kiện thay thế, cũng như các biện pháp trợ giúp từ phía chính phủ và doanh nghiệp.
Một trong những rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của thị trường xe ô tô điện là sự hạn chế về hệ thống cơ sở hạ tầng sạc điện. Không giống như ô tô truyền thống sử dụng nhiên liệu hóa thạch với hệ thống trạm xăng dầu rộng khắp, các trạm sạc xe điện hiện nay vẫn chưa phát triển đồng bộ, cả về số lượng lẫn tốc độ sạc. Thời gian sạc xe điện lâu hơn đáng kể so với việc đổ xăng, điều này có thể khiến người tiêu dùng cảm thấy bất tiện và giảm niềm tin vào tính khả thi của xe điện trong việc đáp ứng nhu cầu di chuyển hàng ngày. Theo nghiên cứu của Lee và cộng sự (2021), sự sẵn có của hệ thống trạm sạc, bao gồm số lượng trạm sạc, vị trí thuận tiện, tốc độ sạc nhanh và khả năng tiếp cận dễ dàng, là một trong những yếu tố quyết định thúc đẩy ý định mua xe điện. Sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng này không chỉ giúp nâng cao cảm nhận của người dùng mà còn đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe điện. Ngược lại, nếu cơ sở hạ tầng chưa được hoàn thiện, người tiêu dùng có thể cảm thấy bất an về khả năng sử dụng xe điện trong thực tế, từ đó làm giảm động lực chuyển đổi.
Ngoài hệ thống trạm sạc, các yếu tố khác như dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng xe điện, độ bền của pin và mức độ tương thích với các công nghệ sạc khác nhau cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý định mua xe ô tô điện. Theo nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023), người tiêu dùng có xu hướng cân nhắc về tính ổn định và chi phí bảo dưỡng xe điện trước khi đưa ra quyết định mua. Việc đảm bảo rằng xe điện có thể được bảo trì dễ dàng, pin có tuổi thọ cao và linh kiện thay thế sẵn có sẽ giúp gia tăng mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với công nghệ mới này.
Bên cạnh đó, biện pháp trợ giúp từ phía chính phủ và các tổ chức cũng là một yếu tố quan trọng thuộc điều kiện thuận lợi. Các chính sách như trợ cấp giá xe điện, ưu đãi thuế, miễn phí đăng ký xe, hoặc phát triển các khu vực đỗ xe dành riêng cho xe điện có thể giúp giảm bớt rào cản tài chính và tâm lý của người tiêu dùng khi cân nhắc chuyển đổi. Theo nghiên cứu của Wang và cộng sự (2021), những thị trường có biện pháp trợ giúp mạnh mẽ cho xe điện, như Trung Quốc và Na Uy, đã đạt được mức độ phổ cập xe điện cao hơn so với những quốc gia không có các chính sách khuyến khích tương tự.
Như vậy, điều kiện thuận lợi là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến ý định mua xe điện. Việc đầu tư và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hỗ trợ, kết hợp với các chính sách khuyến khích từ phía chính phủ và doanh nghiệp, sẽ không chỉ giảm thiểu những rào cản hiện tại mà còn mở ra cơ hội lớn cho sự phát triển bền vững của thị trường xe ô tô điện trong tương lai. Điều này cũng được Hoàng Trọng Trường (2023) khẳng định trong nghiên cứu tại Việt Nam, khi tác giả chứng minh rằng điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến ý định chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe ô tô điện.
Do đó, luận văn này tác giả đưa ra giả thuyết: H4: Điều kiện thuận lợi có tác động tích cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.5. Động lực thụ hưởng (HM) Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Động lực thụ hưởng được định nghĩa là mức độ niềm vui hay sự hứng thú mà một cá nhân có được khi sử dụng một công nghệ mới (Venkatesh và cộng sự, 2012). Trong mô hình UTAUT2, yếu tố này được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ trong bối cảnh người tiêu dùng. Tuy nhiên, vai trò của động lực thụ hưởng không phải lúc nào cũng rõ ràng và mang tính quyết định đối với mọi loại công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực tiêu dùng xe ô tô điện.
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng, mặc dù động lực thụ hưởng có thể ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng trong một số ngành hàng có tính giải trí cao, nhưng đối với sản phẩm mang tính chức năng và đòi hỏi mức độ cân nhắc cao như xe ô tô điện, yếu tố này không có tác động đáng kể đến ý định mua hay chuyển đổi. Cụ thể, nghiên cứu của Lee và cộng sự (2021) tại Pakistan, Sriram và cộng sự (2022) tại Ấn Độ, Tu & Yang (2019) tại Trung Quốc, Thananusak và cộng sự (2017) tại Thái Lan, cũng như nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2022, 2023) tại Việt Nam đều cho thấy rằng động lực thụ hưởng không đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua xe điện của người tiêu dùng.
Nguyên nhân của kết luận này có thể xuất phát từ đặc thù của thị trường xe ô tô điện. Không giống như các sản phẩm công nghệ giải trí như điện thoại thông minh hay thiết bị thực tế ảo, nơi người tiêu dùng có thể bị thu hút bởi cảm nhận mới lạ và tính năng sáng tạo, xe ô tô điện được đánh giá chủ yếu dựa trên các yếu tố thực tế như hiệu suất vận hành, tiết kiệm chi phí, sự tiện lợi trong sử dụng, và các biện pháp trợ giúp từ chính phủ. Theo Hoàng Trọng Trường (2023), phần lớn người tiêu dùng khi cân nhắc mua xe điện tập trung vào các yếu tố mang tính thực tiễn hơn là giá trị giải trí hay cảm giác vui vẻ khi sở hữu công nghệ mới.
Ngoài ra, thị trường xe ô tô điện vẫn đang trong giai đoạn phát triển và đối mặt với nhiều rào cản như chi phí đầu tư ban đầu cao, hạ tầng trạm sạc chưa đồng bộ, và nhận thức của người tiêu dùng còn hạn chế. Trong bối cảnh này, người tiêu dùng có xu hướng ưu tiên các yếu tố mang tính chức năng và kinh tế hơn là các yếu tố mang tính cảm xúc hay giải trí. Nghiên cứu của Wang và cộng sự (2021) cũng chỉ ra rằng, mặc dù một số khách hàng có thể cảm thấy thích thú với sự đổi mới mà xe ô tô điện mang lại, nhưng yếu tố này không đủ mạnh để tác động đến ý định mua nếu không đi kèm với các lợi ích rõ ràng về hiệu suất và chi phí sử dụng.
Chính vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả không đưa nhân tố động lực thụ hưởng vào mô hình nghiên cứu. Thay vào đó, luận văn sẽ tập trung vào các yếu tố có tác động thực tiễn hơn đến ý định tiêu dùng xe ô tô điện, bao gồm hiệu quả mong đợi, điều kiện thuận lợi, và ảnh hưởng xã hội. Việc loại bỏ nhân tố động lực thụ hưởng giúp mô hình nghiên cứu phù hợp hơn với đặc điểm thị trường xe ô tô điện tại Việt Nam, nơi người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích kinh tế và tính khả thi của sản phẩm thay vì giá trị giải trí mà công nghệ mới mang lại. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
2.2.3.6. Nhận thức chi phí (PV)
Chi phí là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận và sử dụng công nghệ mới, đặc biệt là đối với các sản phẩm có giá trị cao như xe ô tô điện. Theo Venkatesh và cộng sự (2012), nhận thức về chi phí sẽ mang tính tích cực khi người tiêu dùng cảm thấy rằng lợi ích của công nghệ mang lại vượt trội hơn so với chi phí mà họ phải bỏ ra, từ đó thúc đẩy ý định sử dụng công nghệ. Tuy nhiên, trong trường hợp của xe ô tô điện, chi phí thường được xem là một rào cản lớn, khiến nhiều người tiêu dùng do dự khi cân nhắc chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe điện.
Nghiên cứu của Dong và cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng tổng chi phí của một chiếc xe ô tô điện không chỉ bao gồm giá mua ban đầu mà còn liên quan đến nhiều yếu tố khác như chi phí sạc, chi phí bảo dưỡng, và chi phí thay thế pin. Mặc dù xe điện có chi phí nhiên liệu thấp hơn đáng kể so với xe chạy bằng động cơ đốt trong, nhưng mức giá mua ban đầu cao, đặc biệt là chi phí sản xuất và thay thế pin, vẫn là một trong những trở ngại lớn đối với việc tiếp cận xe điện (Krishnan và Koshy, 2021). Theo nghiên cứu của Sriram và cộng sự (2022), chi phí pin vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá thành của xe điện, và điều này tác động tiêu cực đến ý định mua của người tiêu dùng, đặc biệt là ở những thị trường mà thu nhập trung bình còn hạn chế.
Ngoài ra, nghiên cứu của Thananusak và cộng sự (2017) cũng cho thấy rằng giá xe điện và chi phí liên quan đến pin là những yếu tố quyết định ảnh hưởng lớn đến quyết định mua xe. Khi người tiêu dùng nhận thấy rằng mức giá của một chiếc xe điện cao hơn so với xe ô tô truyền thống cùng phân khúc, họ có xu hướng trì hoãn hoặc từ bỏ ý định chuyển đổi. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh thị trường ô tô điện vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển, khi mà các hỗ trợ kinh phí và ưu đãi chưa thực sự đủ mạnh để bù đắp chi phí ban đầu cho người tiêu dùng.
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) đã khẳng định rằng nhận thức về chi phí có tác động tiêu cực đến ý định chuyển đổi sang xe ô tô điện. Nguyên nhân chính là do mức thu nhập trung bình của người dân vẫn còn thấp so với giá thành của xe điện, khiến họ do dự trong quyết định mua sắm. Mặc dù về lâu dài, xe điện có thể giúp tiết kiệm chi phí vận hành nhờ giá nhiên liệu thấp hơn và chi phí bảo trì thấp hơn so với xe chạy bằng xăng dầu, nhưng rào cản về chi phí đầu tư ban đầu vẫn là một vấn đề đáng quan ngại.
Nhìn chung, mặc dù xe ô tô điện mang lại nhiều lợi ích lâu dài, nhưng giá thành cao, đặc biệt là chi phí liên quan đến pin và thay thế linh kiện, vẫn là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng. Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ xe ô tô truyền thống sang xe điện, cần có những giải pháp nhằm giảm thiểu chi phí, chẳng hạn như tăng cường biện pháp trợ giúp từ chính phủ, phát triển công nghệ pin có chi phí thấp hơn, hoặc áp dụng các chương trình tài trợ và ưu đãi tài chính cho người tiêu dùng. Điều này sẽ giúp cải thiện khả năng tiếp cận xe điện và khuyến khích nhiều người dùng tham gia vào xu hướng di chuyển bền vững hơn trong tương lai. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết: H5: Nhận thức chi phí có tác động tiêu cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.7. Thói quen (HB)
Thói quen (habit) đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì hành tiêu dùng, đặc biệt trong bối cảnh tiếp nhận các công nghệ mới. Theo Venkatesh và cộng sự (2012), thói quen được định nghĩa là mức độ mà con người thực hiện hành một cách tự động thông qua các hành động lặp đi lặp lại trong quá khứ. Các tác giả lập luận rằng kinh nghiệm sử dụng công nghệ trước đó không chỉ là nền tảng hình thành thói quen mà còn quyết định việc tiếp tục sử dụng công nghệ đó trong tương lai. Điều này giúp giải thích vì sao thói quen có thể trở thành một yếu tố then chốt trong quá trình chấp nhận và sử dụng các phương tiện giao thông tiên tiến như xe ô tô điện.
Trong bối cảnh xe ô tô điện, thói quen sử dụng ô tô truyền thống có thể trở thành một rào cản đáng kể đối với sự chuyển đổi sang phương tiện này. Theo nghiên cứu của Zhou và cộng sự (2021), những cá nhân đã có kinh nghiệm sử dụng xe ô tô điện có xu hướng duy trì và tiếp tục lựa chọn phương tiện này trong tương lai cao hơn so với những người chưa từng tiếp xúc. Ngược lại, những người tiêu dùng quen thuộc với xe ô tô truyền thống thường ít có động lực thay đổi do họ không cảm thấy nhu cầu cấp thiết hoặc gặp phải tâm lý e ngại đối với các công nghệ mới.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Augurio và cộng sự (2022) cũng như Hoàng Trọng Trường (2023) nhấn mạnh rằng thói quen sử dụng công nghệ cũ, trong trường hợp này là ô tô truyền thống, có tác động đáng kể đến quyết định chuyển đổi sang công nghệ mới. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thói quen là một yếu tố có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng, và để thay đổi thói quen này, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, cần có một quá trình lâu dài với các động lực đủ lớn để thuyết phục người tiêu dùng.
Như vậy, mặc dù thói quen sử dụng công nghệ truyền thống không phải là rào cản không thể vượt qua, nhưng nó lại là một yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến quyết định tiếp nhận công nghệ mới như xe ô tô điện. Việc thay đổi thói quen đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm biện pháp trợ giúp từ chính phủ, các chiến dịch nâng cao nhận thức, cũng như những lợi ích kinh tế cụ thể mà công nghệ mới có thể mang lại.
Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết: H6: Thói quen sử dụng phương tiện truyền thống có tác động tiêu cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
2.2.3.8. Ý thức bảo vệ môi trường (EA) Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng chưa được đề cập trong mô hình này nhưng có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng ô tô điện chính là ý thức bảo vệ môi trường. Nhận thức về môi trường không chỉ đơn thuần là một yếu tố tác động gián tiếp mà còn có thể đóng vai trò như một động lực chính thúc đẩy người tiêu dùng chuyển đổi từ phương tiện truyền thống sang phương tiện sử dụng năng lượng sạch.
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng ý thức bảo vệ môi trường có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tiêu dùng xanh, bao gồm cả quyết định mua ô tô điện. Quyết định sở hữu ô tô điện không chỉ xuất phát từ lợi ích cá nhân như tiết kiệm chi phí vận hành hay công nghệ tiên tiến mà còn phản ánh mong muốn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường (Khazaei & Tareq, 2021). Điều này cho thấy ý thức bảo vệ môi trường có thể đóng vai trò như một yếu tố động cơ mạnh mẽ, thúc đẩy sự chấp nhận và sử dụng ô tô điện.
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Thananusak và cộng sự (2017) tại Thái Lan cũng chỉ ra rằng những người tiêu dùng có ý thức bảo vệ môi trường có xu hướng ưu tiên các phương tiện thân thiện với hệ sinh thái. Đặc biệt, những cá nhân có sự nhận diện bản thân gắn liền với lối sống bền vững (green self-identity) có khả năng cao hơn trong việc duy trì hành vi sử dụng ô tô điện. Điều này phù hợp với kết luận của Barbarossa và cộng sự (2017), khi họ khẳng định rằng ý thức bảo vệ môi trường là một yếu tố quan trọng quyết định sự thay đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Ngoài ra, nghiên cứu của Krishnamurthy & Kriström (2016) cũng ghi nhận rằng các cá nhân tham gia vào các tổ chức bảo vệ môi trường hoặc có hoạt động gắn liền với các phong trào sinh thái có tỷ lệ sử dụng ô tô điện cao hơn so với những nhóm khác. Điều này cho thấy rằng không chỉ nhận thức cá nhân mà còn các yếu tố xã hội có liên quan mật thiết đến quyết định sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường.
Hơn nữa, trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Pakistan và Malaysia, các nghiên cứu của Sriram và cộng sự (2022), Lee và cộng sự (2021), và Khazaei & Tareq (2021) đều chỉ ra rằng nhận thức về môi trường có ảnh hưởng đáng kể đến ý định mua ô tô điện. Tương tự, nghiên cứu của Hoàng Trọng Trường (2023) cũng khẳng định rằng yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong quyết định chuyển đổi của người tiêu dùng. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Tại Việt Nam, đặc biệt là ở các đô thị lớn như TP.HCM, nơi đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm không khí nghiêm trọng (Phan và cộng sự, 2020), ý thức bảo vệ môi trường có thể là một yếu tố then chốt thúc đẩy người dân lựa chọn phương tiện giao thông thân thiện với môi trường. Khi nhận thức rõ tác động tiêu cực của ô tô sử dụng nhiên liệu hóa thạch đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang sử dụng ô tô điện nhằm giảm thiểu ô nhiễm.
Tóm lại, việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng không chỉ có ý nghĩa về mặt nhận thức mà còn là một chiến lược quan trọng nhằm thúc đẩy sự chuyển đổi sang phương tiện giao thông bền vững. Điều này cho thấy rằng việc lồng ghép yếu tố bảo vệ môi trường vào các mô hình nghiên cứu về hành vi chấp nhận công nghệ, chẳng hạn như UTAUT2, sẽ giúp phản ánh đầy đủ hơn các động lực thực sự của người tiêu dùng trong bối cảnh hiện nay.
Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết: H7: Sự lo ngại về môi trường có tác động tích cực tới ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện của người tiêu dùng tại TP.HCM.
Dựa trên các giả thuyết đã nêu ở trên, mô hình nghiên cứu được minh họa như trong Hình 2.3.
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Nội dung chương 2, tác giả đã trình bày tóm tắt các cơ sở lý thuyết về Mô hình về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) và Mô hình thống nhất về sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT2). Song song đó, tác giả đã tổng quát và đánh giá các bài báo khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài trong phạm vị trong nước và nước ngoài. Dựa vào đó, làm cơ sở để đề ra mô hình nghiên cứu của đề tài. Luận văn: Ý định chuyển đổi từ ô tô truyền thống sang ô tô điện.
Chương sau, sẽ là phần phương pháp nghiên cứu.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Ý định chuyển đổi ô tô truyền thống đến ô tô điện

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

