Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đưa ra những mục tiêu, chính sách lớn phát triển, đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Để làm được những mục tiêu, chính sách lớn, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân cũng như các nghĩa vụ cơ bản đối với đất nước nhằm tạo hành lang pháp lý ổn định, lành mạnh, khuyến khích sự phát triển năng lực cá nhân, sức mạnh của tập thể, khai thác tối đa tiềm năng con người.

Trong đời sống dân sự, vấn đề thừa kế có một ý nghĩa quan trọng. Tại Điều 58 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”. Như vậy, “quyền thừa kế” được Hiến pháp quy định là một quyền cơ bản của công dân.

Năm 1995, Bộ luật Dân sự được ban hành, trong đó tại phần thứ tư “Thừa kế” đã cụ thể hóa Điều 58 Hiến pháp 1992 theo hướng kế thừa những nội dung cơ bản của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 để quyền thừa kế của công dân đi vào cuộc sống, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân và mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Qua mười năm áp dụng, về cơ bản các tranh chấp về thừa kế đã được giải quyết thỏa đáng, hợp tình, hợp lý. Tuy nhiên, do một số quy định của phần “Thừa kế” trong Bộ luật Dân sự năm 1995 chưa phù hợp với sự phát triển của kinh tế – xã hội và do thiếu các quy định cụ thể nên nhiều vụ việc giải quyết không triệt để làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của người được thừa kế. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Bộ luật Dân sự năm 2005 ra đời đã khắc phục đáng kể những thiếu sót trước đây, nhiều lĩnh vực đã được quy định cụ thể, đầy đủ hơn, phản ánh trình độ và kỹ thuật lập pháp ở nước ta về lĩnh vực dân sự nói chung và lĩnh vực thừa kế nói riêng đã đạt trình độ cao và phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội.

Tuy đã có những quy định tương đối chi tiết, cụ thể so với hệ thống văn bản pháp luật về thừa kế trước đây nhưng do tính chất phức tạp của loại quan hệ này, thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế, trong đó có việc áp dụng những quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005 cho thấy những quy phạm của chế định này vẫn còn những bất cập, chưa thực sự đáp ứng được những tình huống phát sinh của quan hệ thừa kế, các tranh chấp về thừa kế vẫn tiếp tục gia tăng và có những diễn biến phức tạp.

Do vậy, việc nghiên cứu để tìm hiểu, lý giải bản chất pháp lý của các quy định về thừa kế theo pháp luật nói chung, diện và hàng thừa kế theo pháp luật nói riêng trong Bộ luật Dân sự, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thừa kế là vấn đề mang tính cần thiết. Đây cũng chính là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở nước ta, các đề tài nghiên cứu về thừa kế tương đối nhiều, đề cập đến các khía cạnh khác nhau của chế định thừa kế. Việc nghiên cứu được thực hiện ở các cấp độ khác nhau như: Các khóa luận cử nhân, luận văn cao học, các luận án tiến sĩ.

  • Luận án tiến sĩ:
  • Tác giả Phùng Trung Tập với đề tài: “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay“.
  • Tác giả Phạm Văn Tuyết với đề tài: “Thừa kế theo di chúc trong Bộ luật Dân sự Việt Nam“.
  • Tác giả Nguyễn Minh Tuấn với đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự“.
  • Luận văn cao học:
  • Tác giả Nguyễn Thị Vĩnh với đề tài: “Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam“.
  • Tác giả Nguyễn Thị Hồng Bắc với đề tài: “Một số vấn đề thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam“.
  • Tác giả Phan Thị Kim Chi với đề tài: “Diện và hàng thừa kế theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005“.

Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu, bài viết về thừa kế trong các tạp chí như: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và pháp luật… Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Tuy nhiên, về “Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005” chưa có công trình nghiên cứu, bài viết nào tiếp cận một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống. Đặc biệt, với sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005, hiện nay nhiều vấn đề lý luận cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và thực tiễn áp dụng những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật đã và đang phát sinh thêm những bất cập mới.

3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Thừa kế theo pháp luật là một trong hai hình thức thừa kế được pháp luật Việt Nam quy định. Khác với hình thức thừa kế theo di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của người có tài sản trước khi chết thì thừa kế theo pháp luật lại mang tính nguyên tắc với các quy định của Nhà nước, các điều kiện, trình tự, thủ tục về thừa kế phải theo quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế.

Thực tế có nhiều trường hợp người có di sản không lập di chúc trước khi chết hoặc có lập di chúc nhưng di chúc bị thất lạc, di chúc không hợp pháp một phần hay toàn bộ, những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc từ chối quyền nhận di sản hoặc bị tước quyền hưởng di sản… Như vậy, giải quyết thừa kế trong những trường hợp này phải được thực hiện theo điều kiện và trình tự pháp luật quy định. Những quy định của pháp luật về diện và hàng thừa kế đóng vai trò rất quan trọng, phải thể hiện được ý chí của Nhà nước phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, luôn phải đảm bảo truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của các thành viên trong gia đình, sự công bằng của xã hội, đặc biệt là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Pháp lệnh Thừa kế ban hành ngày 30/8/1990 đã đáp ứng được các yêu cầu giải quyết tranh chấp về thừa kế trong đầu những năm đất nước đi vào đổi mới toàn diện theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra. Đặc biệt, ngày 28/10/1995 Bộ luật Dân sự Việt Nam đầu tiên được ban hành, đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của pháp luật dân sự kể từ xưa đến nay. Tiếp đến là Bộ luật Dân sự năm 2005, với sự kế thừa và hoàn thiện các quy định về thừa kế trước đây đã khắc phục những hạn chế, thiếu sót, bổ sung các quy phạm mới nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

Từ lý do trên, nghiên cứu đề tài “Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005” để thấy được: Sự hoàn thiện của Bộ luật Dân sự trong việc quy định diện và hàng thừa kế theo pháp luật, đánh dấu bước phát triển của pháp luật về thừa kế của nước ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập và phát triển. Mặt khác, thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm hoàn thiện nội dung khoa học các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự hiện hành. Phân tích nội dung các quy định về diện và hàng thừa kế góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định trên, tìm ra những bất cập, hạn chế của các quy định về diện và hàng thừa kế, đề xuất hướng hoàn thiện những quy định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn nghiên cứu các vấn đề sau:

  • Những vấn đề lý luận về diện và hàng thừa kế theo pháp luật.
  • Các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động, ảnh hưởng đến việc xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật.
  • Nội dung quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • Thực tiễn áp dụng các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật.

4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Kế thừa và phát triển luật dân sự Việt Nam trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định “Thừa kế” là một chế định quan trọng. Với những quy định cụ thể và chi tiết về thừa kế, đặc biệt là sự bổ sung, mở rộng hơn trong các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã góp phần đảm bảo xã hội ổn định, phát triển, phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của người thân trong gia đình, họ tộc.

Kết quả nghiên cứu về “Cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005” đóng góp vào việc bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận của các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật, tạo cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện phần thứ tư của Bộ luật Dân sự.

Phân tích nội dung quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật giúp chúng ta hiểu sâu hơn, chính xác hơn về những quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ thừa kế, một nhóm quan hệ xã hội trên thực tế luôn có nhưng diễn biến đa dạng, phức tạp, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng, kịp thời, cần thiết cho việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế trong thực tiễn nhanh chóng, công minh, khách quan, đúng pháp luật.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Để tiếp cận đề tài: “Cơ sở lý luận xã hội và những vấn đề thực tế để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005”, để đạt được những mục tiêu nghiên cứu, xuất phát từ các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp sau:

  • Phương pháp phân tích;
  • Phương pháp so sánh;
  • Phương pháp tổng hợp;
  • Phương pháp quy nạp.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật
  • Chương 2: Diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005.
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện hành.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN THỪA KẾ, DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

1.1.1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

Thừa kế là một quan hệ xã hội, là việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho những người còn sống. Thừa kế xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu và quá trình phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của lịch sử loài người. Thừa kế tài sản trong xã hội nguyên thủy là sự kế thừa mang tính tự nhiên, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình, thị tộc và xã hội.

Ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người đã xuất hiện quan hệ sở hữu, do vậy, thừa kế đã có mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ này. Ở thời kỳ đầu của xã hội cộng sản nguyên thủy, những điều kiện về kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc, nên việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người đã chết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống, những phong tục tập quán của thị tộc và được tổ chức theo chế độ mẫu hệ (hay mẫu quyền). Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Khi nghiên cứu về nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước, Ph. Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà dòng dõi chỉ tính theo bên mẹ và tập quán kế thừa lúc ban đầu trong thị tộc thì chỉ những người thân trong thị tộc mới được kế thừa những thành viên đã chết trong thị tộc. Tài sản phải được giữ lại trong nội bộ thị tộc đó” [1, tr. 91].

Như vậy, vào thời kỳ nguyên thủy, việc thừa kế được hình thành theo tập quán của thị tộc. Tài sản của thị tộc do người mẹ quản lý, khi người mẹ chết thì di chuyển cho những người thân thích trong thị tộc và tài sản của thị tộc được lưu truyền đời này qua đời khác. Đây chính là hình thức thừa kế đầu tiên của xã hội loài người về tư liệu sản xuất nhằm tiếp tục duy trì cuộc sống chung cho thị tộc. Sự kế thừa tài sản trong thị tộc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết tộc.

Dần dần, sự phát triển ngày càng cao của nền sản xuất xã hội làm thay đổi địa vị của người phụ nữ. Sự xuất hiện của ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt đòi hỏi sức lực và trí tuệ của những người đàn ông, vì thế sản phẩm lao động do họ làm ra không những đủ nuôi sống gia đình mà bắt đầu có tích lũy. Vì vậy, địa vị gia đình của người đàn ông dần dần được thiết lập. Từ đó trong quan hệ gia đình xác lập huyết thống theo họ cha và chế độ gia đình phụ hệ thay thế cho mẫu hệ. “Thế là dòng dõi tính theo đằng mẹ và quyền kế thừa của người mẹ bị xóa bỏ, dòng dõi tính theo đằng cha và quyền kế thừa của người cha được xác lập. Cuộc cách mạng đó đã xảy ra ở các dân tộc văn minh, vào lúc nào và như thế nào, điều đó chúng ta hoàn toàn không rõ” [1, tr. 92]. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Như vậy, tương ứng với từng giai đoạn phát triển của lịch sử loài người là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình, sự thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó quan hệ thừa kế cũng thay đổi. Ngay từ khi Nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và quan hệ thừa kế đã tồn tại như một tất yếu khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh tế. Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào chế độ sở hữu, bản chất của quan hệ thừa kế do chế độ sở hữu quyết định. Nếu sở hữu là yếu tố đầu tiên để xuất hiện quan hệ thừa kế thì thừa kế là phương tiện duy trì, củng cố và phát triển quan hệ sở hữu.

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn và có dư thừa. Đời sống trong mỗi gia đình và xã hội đã có sự thay đổi. Những người có địa vị trong thị tộc, bộ lạc đã lợi dụng chức phận để chiếm đoạt một phần sản phẩm của thị tộc. Những người đó đã trở thành những người giàu có trong xã hội và xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã, xã hội có giai cấp đã xuất hiện. Sự phân hóa này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà các tầng lớp người trong xã hội chiếm hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế độ tư hữu về tài sản. Hình thức thừa kế phù hợp với chế độ tư hữu về tài sản hình thành, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ tài sản và quan hệ thừa kế tài sản.

Từ khi Nhà nước ra đời cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và chế độ tư hữu được hình thành, việc chiếm giữ những của cải vật chất giữa người với người được điều chỉnh bằng pháp luật theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị xã hội. Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản thừa kế và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản.

Với những phân tích trên có thể thấy, thừa kế tài sản là một phạm trù pháp luật, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội có phân chia giai cấp dựa trên cơ sở tư hữu về tài sản, thể hiện ở sự dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước dùng pháp luật điều chỉnh quan hệ thừa kế, vì vậy quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật. Như vậy, để phát sinh quan hệ pháp luật thừa kế, khái niệm quyền thừa kế mới xuất hiện. Nếu thừa kế là nhóm những quan hệ xã hội phát sinh ngay cả trong một xã hội chưa phân chia giai cấp, chưa có nhà nước thì quyền thừa kế chỉ có thể phát sinh trong một xã hội có nhà nước và có pháp luật. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Quyền thừa kế được hiểu là một bộ phận của chế định thừa kế, do vậy nó chứa đựng những yếu tố, tính chất, đặc điểm của một chế định pháp luật. Nếu chế định thừa kế điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực thừa kế thì quyền thừa kế là chế định pháp luật, là tổng hợp các quy phạm pháp luật về thừa kế, quy định việc bảo vệ và điều chỉnh việc chuyển tài sản và quyền tài sản của người chết cho những người sống. Quyền thừa kế với tư cách là một chế định pháp luật của Nhà nước, xuất hiện trên cơ sở sự chấm dứt quyền sở hữu của một người (đã chết) và sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm tài sản của người chết cho người còn sống có quyền.

Các hình thức dịch chuyển di sản của một người đã chết cho những người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật là những cơ sở xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người được hưởng thừa kế hợp pháp. Như vậy, giữa quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế có mối liên hệ hữu cơ với nhau, từ chỗ pháp luật quy định cho cá nhân có quyền sở hữu tài sản của mình bằng những quyền năng cụ thể như chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, thì dựa vào đó pháp luật cũng quy định cho họ có quyền năng trong lĩnh vực thừa kế. Trong các xã hội dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì pháp luật thừa kế cũng chủ yếu duy trì chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, do đó có thể nói rằng quyền sở hữu là tiền đề, là cơ sở để từ đó xuất hiện các quyền năng về thừa kế. Nếu quyền thừa kế là quyền năng cụ thể của công dân trong việc để lại và nhận di sản thừa kế, thì những quyền năng cụ thể này là kết quả tất yếu của những quyền năng trong quyền sở hữu. Chính thông qua việc thừa kế di sản, những người hưởng thừa kế trở thành chủ sở hữu đối với tài sản đó. Họ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với các tài sản mà họ được thừa kế.

Như vậy, quyền sở hữu và quyền thừa kế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hình thức sở hữu quyết định việc thừa kế trong xã hội, do đó, quyền thừa kế mang bản chất giai cấp sâu sắc. Trong chế độ phong kiến và tư sản, giai cấp bóc lột chiếm hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì di sản của họ để lại cho con cháu không chỉ truyền lại về quyền lực kinh tế mà truyền lại quyền lực chính trị để duy trì sự áp bức, bóc lột của những giai cấp đó đối với nhân dân lao động. Chức năng xã hội của pháp luật thừa kế trong xã hội bóc lột là nhằm duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác các quan hệ tư hữu về tư liệu sản xuất và bằng chính cách đó đảm bảo cho giai cấp thống trị khả năng chiếm hữu thành quả lao động của người khác nhờ có sở hữu của mình.

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, chế định thừa kế bảo vệ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, do đó, một số nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng và vô chính phủ đã truyền bá những quan điểm sai lầm về khả năng cải tạo xã hội tận gốc rễ chỉ bằng cách hủy bỏ thừa kế. Họ khẳng định, hủy bỏ quyền sở hữu tư bản chủ nghĩa chính là đi đến tiêu diệt chế độ tư bản chủ nghĩa, bởi vì tư bản sẽ không được chuyển giao theo thừa kế. Các quan điểm này đã bị các nhà mácxít tiền bối phê phán kịch liệt và chứng minh rằng quyền thừa kế không phải là nguyên nhân mà là hậu quả của sự bất công về xã hội và kinh tế trong một xã hội dựa trên tư hữu. Bởi vậy, hủy bỏ thừa kế không thể là cơ sở để cải tạo xã hội. Công cuộc cải tạo đó chỉ có thể đạt được bằng cách xóa bỏ xã hội bóc lột và quyền tư hữu tư liệu sản xuất. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thuộc về nhân dân lao động, vì vậy, chế độ thừa kế trước hết nhằm đảm bảo cho người lao động yên tâm, tích cực phấn khởi lao động sản xuất để được hưởng thành quả lao động của mình, chuyển thành quả đó cho người thừa kế.

Ở nước ta, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước dân chủ cộng hòa non trẻ đứng trước nhiệm vụ cấp thiết phải xóa bỏ hệ thống pháp luật thực dân phong kiến và xây dựng hệ thống pháp luật mới của nhân dân lao động trong đó có pháp luật về thừa kế. Chức năng xã hội của pháp luật thừa kế từ lúc này đảm bảo cho việc thiết lập một trật tự xác định người nào có thể thay thế người đã chết tham gia vào quan hệ tài sản, và bằng cách nào đó bảo đảm cho người lao động yên tâm sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình và chuyển những thành quả đó cho những người thừa kế của mình sau khi chết.

Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta, với chính sách xây dựng nhiều thành phần kinh tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước bảo hộ. Công dân có quyền để lại tài sản gắn với quyền sở hữu và trong một số trường hợp gắn liền với quyền sử dụng tài sản cho cá nhân hoặc tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp của cải để dành…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [18].

Như vậy, trong các chế độ xã hội khác nhau, con người đều có quyền thừa kế tài sản, tuy nhiên phạm vi quyền thừa kế được bảo hộ thế nào do bản chất chế độ xã hội quyết định. Pháp luật của các nhà nước đều quy định cá nhân có quyền để lại di sản và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Với tư cách là một chế định pháp luật về thừa kế, quyền thừa kế là tổng hợp các quy định của Nhà nước, quy định những tài sản nào được chuyển dịch, phạm vi chủ thể để lại di sản và nhận di sản, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể. Đồng thời quy định trình tự, phương thức phân chia di sản theo di chúc và theo pháp luật.

1.1.2. Thừa kế theo pháp luật Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Từ khi xuất hiện Nhà nước và pháp luật, đặc biệt là khi có Bộ luật cổ La Mã đến nay, pháp luật về thừa kế quy định có hai hình thức thừa kế, đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.

Thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết cho những người khác còn sống theo sự định đoạt của người lập di chúc. Việc định đoạt của người có tài sản được thể hiện trong di chúc là căn cứ để những người được chỉ định trong di chúc hưởng di sản khi người lập di chúc chết. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp di chúc làm phát sinh các quan hệ pháp luật về thừa kế. Thực tiễn cuộc sống cho thấy có những trường hợp tuy có di chúc nhưng ý chí định đoạt di sản của người có di sản không được bảo đảm như bị cưỡng ép hay tạm thời bị mất năng lực hành vi dân sự khi lập di chúc; hoặc sự định đoạt của họ không phù hợp với các quy định của pháp luật; hoặc ý chí định đoạt đó thể hiện không đầy đủ đối với khối di sản mà họ có, vì vậy không thể phân chia di sản theo di chúc của người có di sản để lại. Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, di sản thừa kế sẽ được để lại cho những người còn sống có quan hệ thân thích theo điều kiện, trình tự hàng thừa kế, nói cách khác, việc chia di sản sẽ thực hiện theo ý chí của Nhà nước, không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản. Đó chính là thừa kế theo pháp luật.

Như vậy, thừa kế di sản theo pháp luật được thực hiện trong trường hợp người chết không để lại di chúc hoặc tuy có để lại di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, di chúc không thể thực hiện được. Pháp luật về thừa kế của các nước trên thế giới đều quy định chung về căn cứ để xác định thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, ở mỗi nước quy định những căn cứ để xác định thừa kế theo pháp luật có sự khác nhau.

Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định tại Điều 1620: “Khi một người qua đời không để lại di chúc hoặc đã làm di chúc nhưng di chúc của người đó không có hiệu lực, thì toàn bộ tài sản của người đó sẽ được phân chia cho những người thừa kế theo pháp luật” [10]; “Khi một người qua đời có để lại di chúc mà di chúc đó định đoạt, hoặc chỉ có hiệu lực đối với một phần tài sản của người đó, thì phần tài sản không được định đoạt hoặc không bị tác động bởi di chúc đó phải được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó” [10]. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, những căn cứ để chia thừa kế theo pháp luật gồm:

  • Người chết không để lại di chúc;
  • Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần;
  • Phần tài sản không được định đoạt trong di chúc.
  • Việt Nam, những trường hợp thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 675 Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể:
  • Không có di chúc;
  • Di chúc không hợp pháp;
  • Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản;
  • Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
  • Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
  • Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, giữa hai hình thức thừa kế có mối quan hệ nhất định, đó là các mối quan hệ mang tính loại trừ. Thừa kế theo pháp luật được thực hiện khi:

  • Không có hình thức thừa kế theo di chúc;
  • Có hình thức thừa kế theo di chúc nhưng người có tài sản lập di chúc chỉ định đoạt một phần tài sản;
  • Có di chúc nhưng di chúc không thực hiện được (trong các trường hợp người được thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế).

Nếu thừa kế theo di chúc là sự dịch chuyển tài sản của một người theo chí của người đó khi còn sống cho người được chỉ định bằng di chúc là bất kỳ ai (kể cả tổ chức và Nhà nước) thì thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và được pháp luật quy định trong số những người thuộc diện thừa kế của người để lại di sản. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được pháp luật chỉ định hưởng di sản theo trật tự ưu tiên là hàng thừa kế. Hưởng di sản theo trật tự hàng thừa kế tuân theo nguyên tắc pháp luật, hàng trước loại trừ hàng sau trong việc hưởng di sản. Tuy nhiên, người thuộc hàng thừa kế phải là người có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Có thể nói, thừa kế theo pháp luật là một trong hai hình thức thừa kế do pháp luật quy định vừa bảo đảm quyền đương nhiên của người có tài sản được để lại tài sản sau khi chết, vừa bảo vệ quyền của những người thuộc diện thừa kế của người có tài sản để lại. Đây là hình thức thừa kế truyền thống được bảo tồn trong quá trình phát triển của xã hội loài người nhằm củng cố cơ sở vật chất của mối quan hệ huyết thống, gia đình.

1.1.3. Khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật

1.1.3.1. Khái niệm diện thừa kế theo pháp luật

Một trong những vấn đề chính yếu của thừa kế theo pháp luật là việc xác định phạm vi những người có quyền thừa kế theo pháp luật. Tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế của nước ta chưa từng có quy định như thế nào là diện thừa kế. Tuy nhiên, căn cứ vào những người thừa kế trong các hàng thừa kế, việc xác định diện thừa kế theo pháp luật được làm rõ vì diện thừa kế theo pháp luật chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật.

Về diện thừa kế, qua các chế độ xã hội khác nhau nhưng cùng có điểm chung là do quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ hôn nhân chi phối. Mặt khác, phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp qua các thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định. Căn cứ vào quan điểm lập pháp mà phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật được quy định ở diện rộng, hẹp khác nhau.

Ở nước ta, trước năm 1945, dưới chế độ thực dân, phong kiến với ý thức bảo vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột của mình, giai cấp thống trị đề cao quyền tư hữu và xem đó là quyền thiêng liêng nhằm duy trì quan hệ nội tộc, do đó quan hệ huyết thống luôn được đề cao và là cơ sở quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế theo pháp luật

Dưới chế độ dân chủ nhân dân kể từ năm 1945 đến nay, diện thừa kế ngày càng được mở rộng xét theo quan hệ huyết thống. Pháp luật thừa kế của nhà nước ta đã xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong việc xác định diện thừa kế theo pháp luật. Quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình đã được pháp luật quy định nhằm loại bỏ tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn. Người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn thuộc diện thừa kế theo pháp luật của chồng đã chết. Đây là một quy định có tính cách mạng, nó không những làm thay đổi quan hệ trong xã hội mà còn thay đổi tận gốc tư tưởng “xuất giá tòng phu”, đồng thời bảo vệ trực tiếp quyền thừa kế của người vợ góa, mà trước đó người vợ góa đã kết hôn không thể có được quyền này.

Các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định diện thừa kế theo pháp luật được dựa trên cơ sở hiến định. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”. Theo những nguyên tắc chung được quy định trong Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950, theo những hướng dẫn trong các Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 594-NCPL ngày 27/8/1968 của Tòa án nhân dân tối cao ghi nhận quyền bình đẳng của vợ, chồng trong gia đình, quyền bình đẳng giữa nam, nữ trong việc hưởng di sản; các con của người để lại di sản không phân biệt giới tính, độ tuổi, có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dân sự đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật và họ được thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất, được hưởng phần di sản ngang nhau. Nếu pháp luật của chế độ phong kiến luôn coi trọng quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và lấy đó làm căn cứ để quy định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật, thì pháp luật thừa kế của chế độ dân chủ, nhân dân ở nước ta còn coi trọng quan hệ hôn nhân và theo đó, diện thừa kế theo pháp luật còn bao gồm vợ, chồng của người để lại di sản. Đặc biệt, kể từ khi Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 và Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành, diện thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng theo quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ. Diện thừa kế theo pháp luật còn được mở rộng hơn nữa khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành. Căn cứ vào quy định các hàng thừa kế tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, diện những người thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng hơn so với quy định về diện thừa kế theo pháp luật được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995. Bề trên có các cụ nội, ngoại; ông bà nội, ngoại; bố, mẹ, chú, bác, cô, dì, cậu ruột của người để lại di sản; ngang bậc có vợ, chồng; anh, chị, em ruột của người để lại di sản; bề dưới có các cháu, các chắt và các cháu ruột mà người để lại di sản là chú, bác, cô, dì, cậu ruột. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Theo quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Về nguyên tắc, di sản phải được di chuyển cho người còn sống, do vậy, người sinh ra mà không còn sống thì không thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề xác định khái niệm sinh ra và còn sống trên thực tiễn phải được quy định rõ, bởi nó ảnh hưởng rất lớn đến kỷ phần thừa kế của những người khác. Hiện tại, Bộ luật Dân sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về vấn đề trên nên hầu hết trên thực tế, khi giải quyết vấn đề này thì áp dụng Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch. Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. Tuy nhiên, người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống thì thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

Để xác định phạm vi những người có quyền hưởng di sản thì phải căn cứ trên ba mối quan hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Những người này có mối quan hệ gần gũi, thân thuộc nhất đối với người để lại di sản. Tuy nhiên, không phải tất cả những người này đều được quyền hưởng di sản của người chết để lại. Nếu những người trong phạm vi những người thừa kế di sản có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì họ sẽ không có quyền hưởng di sản.

Việc xác định diện thừa kế theo pháp luật là việc rất quan trọng, bởi đó là cơ sở để xác định những người có quyền hưởng di sản thừa kế, người không có quyền hưởng di sản và đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong mối quan hệ thừa kế. Mặt khác, việc xác định đúng những trường hợp thuộc diện thừa kế theo pháp luật sẽ ngăn chặn được những hành vi lừa dối, trái pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Pháp luật bao giờ cũng là sự phản ánh của một chế độ xã hội nên chế định thừa kế cũng mang tính chất lịch sử qua từng thời kỳ nhất định. Xuất phát từ đặc điểm này cũng như đã nhận định ở trên: Cách xác định diện thừa kế của nước ta qua từng thời kỳ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là do quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ gia đình chi phối. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội thì quan điểm lập pháp cũng không giống nhau nên những quy định về việc xác định diện thừa kế theo pháp luật cũng ở mức độ rộng, hẹp khác nhau.

Qua những phân tích về diện thừa kế theo pháp luật có thể nhận định:

Diện thừa kế theo pháp luật là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế được chia theo pháp luật mà khi còn sống người để lại di sản có mối quan hệ huyết thống. quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng với những người trong phạm vi thuộc một hoặc các mối quan hệ đó.

1.1.3.2. Khái niệm hàng thừa kế theo pháp luật Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Diện thừa kế theo pháp luật là là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế được chia theo pháp luật. Như vậy, không phải mọi cá nhân thuộc diện thừa kế theo pháp luật đều được hưởng di sản thừa kế mà việc hưởng di sản thừa kế luôn được xác định theo trình tự hàng.

Luật thực định của các nước đều có quy định các hàng thừa kế song chưa có quy định thế nào là hàng thừa kế. Tuy nhiên, khái niệm này cũng ít nhiều được đề cập tới trong một số tài liệu chuyên khảo.

Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học: “Hàng thừa kế là nhóm người có quan hệ cùng tính chất gần gũi với người để lại di sản” [40, tr. 64]. Khái niệm này đã nêu bật vấn đề cơ bản là hàng thừa kế theo pháp luật luôn luôn bao gồm những người có quan hệ gần gũi với người để lại di sản.

Theo Từ điển Luật học: “Trong trường hợp không có di chúc thì hàng thừa kế là thứ tự ưu tiên hưởng di sản theo quy định của pháp luật” [43, tr. 182-183]. Định nghĩa đã hàm chứa trong nó yêu cầu phân chia những người thuộc diện thừa kế thành các hàng thừa kế khác nhau với mức ưu tiên hưởng di sản khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm này chưa hợp lý ở chỗ: không chỉ có trường hợp không có di chúc thì vấn đề thừa kế theo pháp luật mới được đặt ra. Nhiều trường hợp, mặc dù người để lại thừa kế có để lại di chúc nhưng di chúc đó không được thực hiện hoặc không thực hiện được thì việc phân chia di sản thừa kế cũng phải được tiến hành theo hình thức thừa kế theo pháp luật. Như vậy, khái niệm này đã không bao quát hết các trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Có thể nói, hàng thừa kế là một khái niệm động và mang tính lịch sử, Các nước khác nhau có những quy định khác nhau về hàng thừa kế, thậm chí trong cùng một quốc gia nhưng vào những thời điểm cụ thể lại quy định số lượng hàng thừa kế khác nhau. Trên thực tế, từng hàng thừa kế đôi khi còn bao gồm nhiều đối tượng, có những người có quan hệ thân thích tương đồng với người để lại di sản thừa kế, có khi lại không tương đồng. Nguyên tắc phân chia di sản trong cùng một hàng và giữa các hàng cũng có thể không đồng nhất. Vì vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa đúng với mọi hoàn cảnh, mọi thời kỳ.

Tuy nhiên, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu về cơ sở lý luận, thực tiễn để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế của pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể hiểu một cách chung nhất về hàng thừa kế như sau:

Hàng thừa kế là thứ tự những người thuộc diện thừa kế được hưởng di sản theo quy định của pháp luật, những người này có quyền ngang nhau trong việc nhận di sản. Các hàng thừa kế được sắp xếp theo một trật tự tuyệt đối trên nguyên tắc những người ở hàng thừa kế trước có mối quan hệ thân thích gần gũi hơn với người để lại di sản so với những người ở hàng thừa kế sau và việc hưởng di sản của hàng thừa kế trước loại trừ quyền hưởng di sản của hàng thừa kế sau.

1.2. MỤC TIÊU ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT CÁC QUAN HỆ THỪA KẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ TRONG QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ

1.2.1. Điều chỉnh các quan hệ thừa kế trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội

Trong mỗi quốc gia, pháp luật luôn đóng vai trò quan trọng, là công cụ điều hành và quản lý xã hội của Nhà nước, đồng thời là phương tiện không thể thiếu nhằm hướng dẫn các cá nhân, chủ thể trong xã hội thực hiện các hành vi xử sự đúng theo quy định, vừa đảm bảo được lợi ích của cá nhân, vừa đảm bảo lợi ích chung của xã hội.

Pháp luật dân sự luôn có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật, với mục tiêu chính là điều chỉnh các quan hệ tài sản nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội và tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Để thực hiện mục đích đó, chế định thừa kế đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh việc chuyển dịch tư liệu sản xuất, thành quả lao động và các giá trị văn hóa của thế hệ trước cho thế hệ sau. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Phát triển kinh tế xã hội gắn liền với sự phát triển của các quan hệ sở hữu, bởi quan hệ sở hữu quyết định đến việc phân phối thành quả lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các giai cấp trong xã hội. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, quan hệ sản xuất dựa trên nền tảng là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu tập trung trong tay giai cấp thống trị và được chuyển cho các thế hệ con cháu theo trình tự thừa kế. Vì thế, điều chỉnh quan hệ thừa kế gắn liền với việc điều chỉnh các quan hệ sở hữu. Cá nhân có tài sản có quyền tự do đầu tư sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực và ngành nghề pháp luật không cấm. Tài sản của họ để lại cho người nào thừa kế là căn cứ theo di chúc của người để lại di sản hoặc theo điều kiện, trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc chế độ sở hữu toàn dân. Cá nhân có quyền sở hữu những tư liệu sản xuất không thuộc tài sản của toàn dân. Nhà nước khuyến khích cá nhân đầu tư trí tuệ, công sức, tài sản và vốn để sản xuất kinh doanh dưới các hình thức pháp luật cho phép. Tài sản của cá nhân được pháp luật bảo hộ, cá nhân có quyền để lại thừa kế tài sản của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, hình thức sở hữu tư nhân không được khuyến khích phát triển. Trong trường hợp được phép lao động riêng lẻ thì cá nhân có quyền sở hữu tư liệu sản xuất nhỏ phục vụ kinh tế gia đình, pháp luật cho phép cá nhân để lại thừa kế những tư liệu sản xuất đó. Khi kinh tế thị trường hình thành, để khuyến khích cá nhân, hộ gia đình an tâm đầu tư phát triển sản xuất, Nhà nước cho phép các cá nhân, các chủ thể khác có quyền sử dụng đất, trong đó có quyền để lại thừa kế và nhận thừa kế quyền sử dụng đất để các thế hệ con cháu tiếp tục sản xuất kinh doanh, làm giàu cho gia đình và cho xã hội.

Như vậy, quá trình phát triển kinh tế – xã hội luôn gắn liền với sự phát triển các quan hệ sở hữu. Quan hệ sở hữu là tiền đề của quan hệ thừa kế, do vậy, pháp luật phải điều chỉnh quan hệ thừa kế và quan hệ sở hữu phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

1.2.2. Các quy định về diện và hàng thừa kế trong quan hệ pháp luật dân sự

Quan hệ dân sự chủ yếu là các quan hệ tài sản, mỗi chế định dân sự điều chỉnh một nhóm quan hệ tài sản với những đặc trưng riêng, trong đó, chế định về thừa kế điều chỉnh quan hệ tài sản trong gia đình, đảm bảo quyền bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. Pháp luật của mỗi quốc gia quy định diện và hàng thừa kế khác nhau, tuy nhiên, những người cùng hàng thừa kế không phân biệt giới tính, địa vị xã hội,… đều có các quyền và nghĩa vụ như nhau trong việc hưởng di sản của người chết để lại và phải thực hiện nghĩa vụ tương ứng với phần di sản hưởng. Những người thừa kế được hưởng di sản là vốn hoặc tư liệu sản xuất tiếp tục đầu tư, duy trì phát triển khối tài sản của họ, trong đó có tài sản là di sản thừa kế.

Quan hệ thừa kế, diện và hàng thừa kế theo pháp luật hình thành dựa trên quan hệ gia đình, do đó có thể nói, sự phát triển kinh tế của xã hội, của gia đình không tách rời quan hệ thừa kế.

Trong quan hệ sở hữu, các cá nhân có quyền sở hữu tài sản, họ khai thác và sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Sau khi cá nhân chết, tài sản của họ sẽ được chuyển dịch cho người khác thông qua ý chí của họ (di chúc) hoặc ý chí của nhà nước về các điều kiện, trình tự thừa kế theo hàng. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Trong trách nhiệm ngoài hợp đồng, hành vi gây thiệt hại xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng của người bị thiệt hại thì buộc người gây thiệt hại phải bồi thường. Tuy nhiên, nếu bên phải bồi thường chết thì sẽ phát sinh quan hệ thừa kế, các quyền và nghĩa vụ của người chết sẽ được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

Quan hệ hôn nhân và gia đình được hình thành trên cơ sở hôn nhân và huyết thống. Tài sản của vợ chồng tạo ra là thu nhập hợp pháp của mỗi người, họ có quyền sử dụng và định đoạt. Nếu một trong hai người chết, di sản sẽ được chia cho người thừa kế theo sự định đoạt của họ hoặc theo trình tự pháp luật quy định. Mặt khác, từ quan hệ huyết thống như cha mẹ và các con, ông bà và các cháu, pháp luật về thừa kế sẽ điều chỉnh diện và hàng thừa kế theo pháp luật.

Có thể nói, trong quan hệ pháp luật dân sự, chế định thừa kế nói chung, quy định về diện và hàng thừa kế nói riêng có vai trò quan trọng và có mối liên hệ, tác động tới các loại quan hệ dân sự khác nhau. Việc tác động hay điều chỉnh này nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của người tham gia quan hệ dân sự và đảm bảo giao lưu dân sự được ổn định.

1.3. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN

1.3.1. Thời kỳ trước năm 1945

Ở nước ta, pháp luật thừa kế dựa trên cơ sở đạo đức và chính tư tưởng đạo đức thống trị trong từng thời kỳ đã ảnh hưởng đến việc xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật.

Giai đoạn trước năm 1945, nước ta còn chịu tác động của những tư tưởng phong kiến lạc hậu và chịu sự thống trị của thực dân Pháp xâm lược nên pháp luật thời kỳ này mang đậm tính chất thực dân, phong kiến, trọng nam khinh nữ. Pháp luật bao giờ cũng chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng thống trị qua từng thời kỳ nên diện và hàng thừa kế giai đoạn này cũng chịu những tác động nhất định.

1.3.1.1. Về diện thừa kế Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Dưới thời phong kiến, đặc biệt pháp luật thời Lê, Nguyễn, chế độ thừa kế được xây dựng dựa trên ba quy tắc chủ yếu, đó là: tín ngưỡng, việc thờ cúng tổ tiên; chế độ gia đình phụ quyền và chữ hiếu. Trong quan hệ gia đình thì quan hệ huyết thống được coi trọng còn quan hệ hôn nhân bị xem nhẹ, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ảnh hưởng sâu sắc đến chế định thừa kế. Mặc dù vậy, pháp luật thừa kế của nhà Lê, đặc biệt là bộ Quốc triều Hình luật đã thể hiện rõ sự tiến bộ, đó là con trai và con gái có quyền thừa kế ngang nhau trong di sản thường, đối với di sản thờ cúng thì có sự phân biệt giữa con trai và con gái.

Diện thừa kế theo pháp luật thời Lê bao gồm: con, cháu, cha mẹ, vợ chồng. Nếu người để lại di sản không có con cháu thì di sản mới được chia cho cha mẹ. Ngoài ra, pháp luật còn phân biệt con vợ cả, con vợ lẽ, con nàng hầu, những người này không được coi là dòng dõi chính thức của người để lại di sản, vì vậy sẽ được hưởng phần di sản kém hơn con vợ chính (Điều 388 Quốc triều Hình luật).

Theo quy định của pháp luật nhà Lê, về nguyên tắc vợ, chồng không phải là người thừa kế của nhau, do quan hệ hôn nhân không được coi trọng so với quan hệ huyết thống. Nếu không có con cháu thì chia cho cha mẹ. Tuy nhiên, để đảm bảo cuộc sống của người vợ góa, chồng góa, pháp luật cho phép người vợ góa, chồng góa được hưởng một phần điền sản của người chồng hoặc người vợ. Nếu một trong hai người cải giá thì phải trả lại điền sản đó cho họ hàng người chồng hoặc người vợ (Điều 376 Quốc triều Hình luật).

Với những quy định như vậy, ta thấy rõ bản chất của chế độ phong kiến là coi trọng quan hệ huyết thống trong việc dịch chuyển tài sản để đảm bảo và duy trì sự phát triển của dòng họ. Ngoài ra, trong Quốc triều Hình luật và Bộ luật Gia Long cũng quy định con nuôi được quyền hưởng di sản của người nhận nuôi, nhưng mối liên hệ giữa người con nuôi với cha mẹ đẻ còn tùy thuộc vào từng trường hợp quy định của pháp luật mà người con nuôi đó có quyền được hưởng thừa kế của cha mẹ ruột hay không.

Theo quy định của Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ thì diện thừa kế theo pháp luật bao gồm: các con đẻ, con nuôi, các cháu, cha mẹ, ông bà nội, các cụ nội, anh, chị, em ruột của người để lại di sản. Nguyên tắc không phân biệt giới tính trong quan hệ thừa kế giữa cha mẹ và con cái được chính thức công nhận (Điều 332 Dân luật Trung Kỳ, Điều 337 Dân luật Bắc Kỳ). Việc di chuyển tài sản thông qua thừa kế là biện pháp bảo đảm cơ sở kinh tế cho sự tồn tại lâu dài của gia đình và dòng họ. Do vậy, nếu không có thân thuộc bên họ nội thì di sản sẽ thuộc về những người thân thuộc bên họ ngoại của người để lại di sản và chia tương ứng như bên họ nội được hưởng (Điều 336 Dân luật Trung Kỳ).

Theo pháp luật của chế độ thực dân phong kiến thì diện thừa kế còn bao gồm con ngoại hôn của người để lại di sản được khai nhận hợp lệ. Những người con được sinh ra khi cha hay mẹ còn độc thân có quyền thừa kế như con ngoại hôn. Nhưng con không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người mẹ đẻ đã tái giá qua đời. Trong quan hệ hôn nhân, người vợ chính được hưởng toàn bộ di sản của chồng nếu không còn ai thân thuộc bên chồng. Ngược lại, vợ thứ không thuộc diện thừa kế của chồng. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Tóm lại, diện thừa kế thời phong kiến theo nguyên tắc ưu tiên bảo vệ quyền thừa kế của những người thuộc họ nội của người để lại di sản. Tất cả đều xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, vai trò của người vợ bao giờ cũng bị đẩy xuống hàng thứ yếu và quan hệ huyết thống ngoại tộc chỉ được xét đến khi không còn người thân thuộc trong quan hệ huyết thống nội tộc.

1.3.1.2. Về hàng thừa kế

Cùng với diện thừa kế, hàng thừa kế trong thời kỳ này cũng có sự bất bình đẳng trong việc sắp xếp thứ tự được hưởng thừa kế.

Trong thời kỳ thực dân phong kiến, vị trí của người vợ không được xem trọng và bị đẩy xuống hàng thứ yếu nên không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ hôn nhân. Tư tưởng duy trì và bảo vệ sự tồn tại của gia đình, dòng tộc được đặt lên hàng đầu nên chế định thừa kế luôn bảo vệ quyền hưởng di sản của những người trong quan hệ huyết thống nội tộc. Do vậy, thứ tự ưu tiên hưởng di sản được quy định như sau:

Thứ tự thứ nhất: Các con (con đẻ, con nuôi, con vợ cả, con vợ lẽ). Các con bao giờ cũng được thừa kế đầu tiên, nêu không còn con thì cháu của người để lại di sản mới được hưởng di sản của ông bà.

Thứ tự thứ hai: Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của người để lại di sản (trong trường hợp không còn con, cháu).

Thứ tự thứ ba: Ông nội, bà nội. Nếu ông, bà nội không còn thì các cụ nội của người để lại di sản được hưởng.

Thứ tự thứ tư: Anh, chị, em ruột. Nếu anh, chị, em ruột chết trước thì con của anh, chị, em ruột được hưởng và cháu của anh, chị, em ruột sẽ được hưởng di sản nếu con của anh, chị, em ruột cũng đã chết.

Thứ tự thứ năm: Những người bên họ ngoại của người để lại di sản chỉ được hưởng sau khi đã xác định bên họ nội không còn ai thừa kế hoặc có nhưng đều là người bị coi là không xứng đáng được hưởng di sản.

Với những người được chỉ định thừa kế theo hàng như trên, ta thấy không có sự hiện diện của người vợ hoặc chồng khi một bên chết trước. Theo quy định của pháp luật thì người vợ góa chỉ là người thừa kế cuối cùng của người chồng khi không còn thân thuộc nào khác bên họ nội của người chồng. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Như vậy, dưới thời chế độ thực dân – phong kiến trước năm 1945 ở nước ta, những quy định thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế tuy đã được ghi nhận khá cụ thể trong các Bộ luật, song do bản chất giai cấp nên những vấn đề về bình đẳng trong quan hệ thừa kế chưa được giải quyết, đặc biệt là quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa nam và nữ trong gia đình, dòng tộc.

1.3.2. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay

1.3.2.1. Giai đoạn từ 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh Thừa kế năm 1990

Trong giai đoạn 1945 – 1990, kể từ khi nước ta giành được độc lập, pháp luật thừa kế của chế độ mới được xây dựng, củng cố và bổ sung theo hướng từng bước hoàn thiện.

Cuộc Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nền độc lập dân tộc. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ban hành, đánh dấu bước ngoặt thay đổi của hệ tư tưởng trọng nam khinh nữ thống trị trong suốt thời gian dài. Thời gian này, đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh và xây dựng nền kinh tế theo cơ chế tập trung, bao cấp. Vì vậy, pháp luật thừa kế giai đoạn này đã nhiều lần thay đổi. Sở dĩ như vậy là do có sự thay đổi hệ tư tưởng thống trị nên trong giai đoạn đầu tuy pháp luật có nhiều điểm tiến bộ hơn so với thời kỳ phong kiến nhưng vẫn còn tồn tại những quan điểm lạc hậu. Trong quá trình xây dựng, củng cố đất nước, dần dần những quy định cũ bộc lộ nhiều điểm yếu kém và đòi hỏi phải có sự thay thế của pháp luật. Giai đoạn này Hiến pháp năm 1959 ra đời đã kéo theo sự thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật nước ta. Đặc biệt, giai đoạn từ 1981 đến 1990, nước ta xây dựng nền kinh tế theo cơ chế tập trung, bao cấp nên nền kinh tế bị đình trệ, kém phát triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 đã nhìn nhận những sai lầm và chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn này được xem là cột mốc đánh dấu bước ngoặt xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường. Vì vậy, các quy định về diện và hàng thừa kế có sự thay đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế, thể hiện nhiều điểm tiến bộ và là cơ sở để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này.

Về diện thừa kế Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Pháp luật thừa kế của Nhà nước ta đã xóa bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định “Người đàn bà ngang quyền đàn ông trên mọi phương diện”. Quy định này là nguyên tắc chi phối quyền thừa kế của vợ như các con khi chồng chết trước. Tuy nhiên, thời kỳ đầu mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, pháp luật thừa kế vẫn áp dụng theo chế độ cũ trừ các điều khoản trái với nguyên tắc độc lập dân chủ sẽ bị bãi bỏ.

Ở chế độ mới, vợ chồng có quyền hưởng di sản của nhau theo pháp luật. Điều này được ghi nhận tại Điều 10, 11 Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 (sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 97) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, quy định diện thừa kế bao gồm: con, cháu, vợ hay chồng của người để lại di sản. Với quy định này ta thấy diện thừa kế ở chế độ mới bước đầu được xác định theo quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Mặc dù phạm vi diện thừa kế di sản chỉ gồm những người có quan hệ gần gũi nhất với người để lại di sản nhưng đây là một bước tiến, đặt nền móng cho việc xác định diện thừa kế trong chế độ mới.

Tuy nhiên, diện thừa kế với phạm vi hẹp tại Sắc lệnh số 97 đã không còn phù hợp với thực tế khi xã hội phát triển lên mức cao hơn. Vì thế, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 1742-BNC ngày 18/9/1956 (sau đây gọi tắt là Thông tư 1742) với diện thừa kế bao gồm: “Vợ, chồng, các con đẻ, các con nuôi, các cháu, các chắt, cha mẹ của người để lại di sản và những người thừa kế khác” [3]. Tuy vậy, quy định mở rộng cho “những người thừa kế khác” tại Thông tư 1742 đã gây những bất cập trong thực tiễn giải quyết tranh chấp bởi khó có thể xác định ai trong số những người thừa kế khác đó. Vì vậy, đến Thông tư 594-NCLP ngày 27/8/1968 của Tòa án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Thông tư 594) diện thừa kế mở rộng hơn gồm: “Vợ góa (cả vợ cả, vợ lẽ) hoặc chông góa; con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi; ông bà nội, ngoại; anh, chị, em ruột; anh, chị, em nuôi của người để lại di sản” [31]. Trong giai đoạn này những người khác như: chú, bác, cô, dì, cậu, cháu họ, anh chị em họ, các cụ nội, các cụ ngoại đều không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Tại Thông tư 594, lần đầu tiên ghi nhận các anh, chị, em ruột, anh, chị, em nuôi được hưởng thừa kế của người để lại di sản.

Diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo Thông tư 594 được áp dựng ở nước ta trong giai đoạn 1968-1981. Một mặt nó phản ánh tính chất của quan hệ thừa kế là một loại quan hệ tài sản đặc biệt có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa những người thân thuộc trong gia đình Việt Nam, mặt khác nó phù hợp với nguyện vọng của công dân muốn tài sản của mình để lại sau khi chết sẽ cho những người thân gần nhất với mình thừa hưởng và nếu không có những người này thì Nhà nước hay tập thể mới tiếp nhận di sản của người chết.

Giai đoạn 1981 – 1990, nước ta xây dựng nền kinh tế theo cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp nên kinh tế kém phát triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nhìn nhận được sai lầm nên đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giai đoạn này được xem là cột mốc đánh dấu bước ngoặt xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường. Vì vậy, Thông tư 594 không thể bảo đảm quyền thừa kế của công dân lâu dài và Thông tư 81-TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Thông tư 81) được ban hành, thể hiện nhiều điểm tiến bộ và là cơ sở để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong giai đoạn này.

Về cơ bản, Thông tư 81 quy định không có sự thay đổi lớn so với quy định trước đó tại Thông tư 594. Tuy nhiên, diện thừa kế được bổ sung thêm những người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản bao gồm con riêng và cha kế, mẹ kế thuộc diện thừa kế của nhau. Đặc biệt, trong Thông tư số 81 còn quy định trường hợp người được nhận làm “thừa tự” thì coi như con nuôi và người này cũng là người thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người lập tự. Có thể nói, việc mở rộng đối tượng thuộc diện thừa kế trong Thông tư số 81 xuất phát từ thực tiễn con nuôi thực tế của đời sống gia đình Việt Nam. Tuy vậy, theo văn bản này thì con nuôi không thuộc diện thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ đẻ và anh, chị, em ruột.

Thông tư 81 là văn bản của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối giải quyết tranh chấp về thừa kế phát sinh trong bối cảnh xã hội chưa có luật về thừa kế. Hơn nữa, trong thời kỳ kinh tế tập trung, bao cấp, mặc dù pháp luật có quy định bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân nhưng nhìn chung di sản thừa kế của công dân chủ yếu chỉ là tài sản sinh hoạt, tiêu dùng hàng ngày. Do vậy, diện thừa kế theo pháp luật thời kỳ này được quy định cũng chỉ như một giải pháp tình thế và chưa phản ánh thực tế của đời sống xã hội. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Về hàng thừa kế

Hàng thừa kế theo pháp luật lần đầu tiên được ghi nhận một cách gián tiếp tại Điều 10, Điều 11 của Sắc lệnh 97-SL. Tuy nhiên, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các hàng thừa kế và thứ tự ưu tiên được hưởng di sản của người chết gồm: Người vợ góa hoặc chồng góa và các con đẻ, con nuôi của người để lại di sản. Sắc lệnh số 97-SL chỉ ghi nhận một hàng thừa kế theo pháp luật và thừa kế thế vị. Các cháu của người để lại di sản là những người thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu chết trước ông bà nội, ngoại. Sự tiến bộ của Sắc lệnh số 97-SL thể hiện ở chỗ pháp luật đã coi hôn nhân gia đình là một căn cứ xác định quyền thừa kế của vợ hoặc chồng khi một bên chết trước. Tuy vậy, những quy định trong Sắc lệnh số 97-SL chưa giải quyết được đầy đủ các quan hệ trong xã hội.

Từng bước khắc phục những hạn chế của Sắc lệnh số 97-SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 1742 quy định hai hàng thừa kế như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: Vợ hoặc chồng và các con (các cháu) của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai, bao gồm: Bố, mẹ của người chết (sau hàng cha mẹ đến các hàng thừa kế khác).

Thông tư 1742 còn quy định trong trường hợp cha hoặc mẹ của các cháu chết trước ông, bà thì các cháu được thừa kế thế vị. Tuy nhiên, văn bản này đã gặp vướng mắc do quy định không rõ ràng về “các hàng thừa kế khác”. Quyền thừa kế của người vợ hoặc chồng tuy ngang với các con của người chết nhưng khi người chết không có con thì vợ hoặc chồng chỉ được hưởng một nửa di sản thừa kế của chồng hoặc vợ chết trước, nửa còn lại thuộc về cha, mẹ hoặc những người thuộc hàng thừa kế khác của người chết. Về nguyên tắc, không thể tồn tại hai hàng thừa kế khác nhau cùng được hưởng di sản.

Nhằm khắc phục hạn chế của Thông tư 1742, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 594-NCPL xác định hai hàng thừa kế như sau: Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

  • Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các con đẻ, các con nuôi, bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi của người chết.
  • Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: Anh, chị, em ruột và anh, chị, em nuôi, ông bà nội và ông bà ngoại của người chết.

Như vậy, Thông tư 594 đã quy định bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mà không thuộc hàng thừa kế thứ hai như Thông tư 1742. Lần đầu tiên (kể từ năm 1945 đến khi có Thông tư 594), những người có quan hệ huyết thống trực hệ bề trên là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và những người có quan hệ huyết thống cùng bậc là anh, chị, em ruột của người để lại di sản được được quy định là những người thừa kế ở hàng thứ hai. Ngoài ra, quan hệ nuôi dưỡng cũng được ghi nhận, cụ thể là khái niệm “bố mẹ nuôi”, “anh, chị, em nuôi”.

Tuy có những điểm mới so với Thông tư 1742 nhưng Thông tư 594 vẫn bộc lộ những hạn chế. Đối với hàng thừa kế thứ nhất, với hướng dẫn của Thông tư này thì “Bố, mẹ đẻ hoặc bố, mẹ nuôi” được hiểu là khi còn sống người để lại di sản đang là con nuôi của người khác thì bố, mẹ nuôi được hưởng di sản, không phải bố mẹ đẻ; ngược lại thì người con nuôi chỉ có quyền hưởng di sản của bố mẹ nuôi mà không có quyền hưởng di sản của bố mẹ đẻ. Tương tự như vậy, anh chị em ruột của người con nuôi đó cũng không thuộc hàng thừa kế của nhau. Điều này không những không phù hợp với thực tế mà còn không khuyến khích việc nhận con nuôi, ngăn chặn sự gắn bó máu thịt giữa người con đẻ đang là con nuôi của người khác trong các mối quan hệ với những người thân thuộc khác trong gia đình.

Nhằm củng cố hơn nữa quyền thừa kế của công dân nói chung và thừa kế theo pháp luật của công dân nói riêng, tiếp theo Thông tư 594 là Thông tư số 81-TANDTC được ban hành, trong đó quy định hai hàng thừa kế:

  • Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa; các con đẻ, con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi.
  • Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh, chị, em ruột; anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và anh chị em nuôi.

Quy định hai hàng thừa kế nói trên về cơ bản giữ nguyên nội dung hàng thừa kế theo quy định tại Thông tư 594. Tuy nhiên, ở hàng thừa kế thứ hai đã có sự bổ sung: “anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha”. Quy định này vừa phù hợp với hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, đó là tàn dư của chế độ đa thê trong xã hội cũ, vừa phù hợp với đạo lý của nhân dân ta, nhằm gắn bó tình thương yêu giữa các con trong gia đình đối với nhau. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Bên cạnh những quy định về hàng thừa kế theo pháp luật, Thông tư 81 đã quy định những trường hợp tuy thuộc hàng thừa kế nhưng lại không có quyền hưởng di sản do người đó đã có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền hưởng di sản và quyền để lại di sản của người khác. Đây là điểm mới so với Thông tư 594. Cũng tại Thông tư 81, lần đầu tiên, quyền thừa kế của vợ, chồng, các con vị thành niên và các con của người để lại di sản tuy đã trưởng thành nhưng không có khả năng lao động, túng thiếu được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc đã được pháp luật quy định và bảo vệ.

Có thể nói, so với các văn bản pháp luật về thừa kế trước đó, mặc dù Thông tư 81 tuy vẫn còn những hạn chế nhất định nhưng trong Thông tư đã có được những điểm tiến bộ, đánh dấu sự phát triển của pháp luật thừa kế ở nước ta trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

1.3.2.2. Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được ban hành đến ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/1996)

Giai đoạn này cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội ở nước ta, quyền dân sự cũng được củng cố và phát triển phù hợp. Vấn đề thừa kế được quy định khá đầy đủ tại văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao, đó là Pháp lệnh Thừa kế năm 1990. Sự ra đời của văn bản pháp lý này đã khắc phục được một số vướng mắc của Thông tư 81 được ban hành trước đó, đảm bảo đáp ứng được sự phát triển đa dạng, phức tạp của nền kinh tế, nhu cầu của các quan hệ tài sản trong xã hội, bảo vệ có hiệu quả hơn quyền thừa kế của công dân trong thời kỳ đổi mới.

Về diện thừa kế

Nội dung của Pháp lệnh Thừa kế đã mở rộng phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật, cụ thể là Pháp lệnh Thừa kế đã quy định thêm diện thừa kế bao gồm: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột. Quy định như vậy nhằm bảo vệ tối đa quyền của người để lại di sản và quyền của những người thừa kế, tránh tình trạng không có người thừa kế theo pháp luật.

Về hàng thừa kế

Dựa trên nguyên tắc bình đẳng về thừa kế của công dân, không phân biệt nam nữ về quyền để lại tài sản của mình cho người khác, nam nữ đều được hưởng thừa kế ngang nhau theo quy định của pháp luật, hàng thừa kế trong Pháp lệnh Thừa kế cũng được mở rộng phù hợp với thực tế xã hội. Điều 25 của Pháp lệnh Thừa kế đã ghi nhận ba hàng thừa kế:

Hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai, bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.

Hàng thừa kế thứ ba, bao gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

Có thể thấy các quy định của Pháp lệnh Thừa kế về ba hàng thừa kế theo pháp luật là nhằm bảo đảm quyền thừa kế của những người có quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ ở phạm vi rộng.

Điểm mới của Pháp lệnh Thừa kế so với Thông tư 81 được thể hiện ở chỗ, tại hàng thừa kế thứ nhất, người đang là con nuôi của người khác được bình đẳng với những người con khác của người để lại di sản trong việc hưởng di sản thừa kế của cha đẻ, mẹ đẻ. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với Thông tư 81 (người đã là con nuôi chỉ được nhận di sản thừa kế từ cha nuôi, mẹ nuôi mà không có quyền hưởng thừa kế của cha đẻ, mẹ đẻ). Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Pháp lệnh Thừa kế cũng đã quy định cho anh, chị, em ruột được thừa kế theo pháp luật của nhau ở hàng thứ hai mà không phụ thuộc vào việc người anh, người chị, người em đó có đang làm con nuôi của người khác hay không.

Đặc biệt, hàng thừa kế thứ ba đã bao gồm những người thừa kế lần đầu tiên được pháp luật dưới chế độ mới quy định, đó là cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột. Họ đều là những người có quan hệ huyết thống bàng hệ hoặc trực hệ với người để lại di sản.

Có thể thấy, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 được ban hành là một tất yếu của sự phát triển kinh tế xã hội nước ta, đáp ứng được nhu cầu của các quan hệ tài sản trong xã hội những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX. Tuy nhiên, Pháp lệnh Thừa kế cũng không tránh được những hạn chế như một hệ quả tất yếu của sự vận động trong tiến trình hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam.

1.3.2.3. Giai đoạn từ khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/1996) đến ngày 01/01/2006

Đây là giai đoạn nước ta đạt được những kết quả khích lệ từ cải cách kinh tế. Các quan hệ xã hội, quan hệ tài sản phát triển mạnh mẽ, ngày càng phong phú, đa dạng. Để đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao trong giao lưu dân sự, những nguyên tắc về thừa kế di sản và những quy định về quyền thừa kế của công dân trong suốt hơn 50 năm qua đã được pháp điển hóa cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 1995.

Mặc dù kế thừa quy định của các văn bản trước đây nhưng Bộ luật Dân sự năm 1995 đã phát triển và bổ sung thêm nhưng quy định phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội

Về diện thừa kế

Diện những người thừa kế theo pháp luật của Bộ luật Dân sự năm 1995 vẫn dựa trên ba mối quan hệ: quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và về cơ bản kế thừa những quy định của Pháp lệnh Thừa kế 1990. Những người thuộc diện thừa kế theo Bộ luật Dân sự năm 1995 bao gồm:

  • Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
  • Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.
  • Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

Với quy định trên, Bộ luật Dân sự năm 1995 đã loại bỏ khái niệm “anh, chị, em nuôi”. Đồng thời, diện những người thừa kế được mở rộng theo số lượng hàng thừa kế và di sản vẫn được chia cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ với người để lại di sản. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Về hàng thừa kế

Quy định về hàng thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 1995 hầu như không thay đổi so với Pháp lệnh Thừa kế năm 1990. Khoản 1 Điều 679 quy định ba hàng thừa kế:

Hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Hàng thừa kế thứ hai, bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.

Hàng thừa kế thứ ba, bao gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột.

Như vậy, Bộ luật đã kế thừa những thành tựu cơ bản trong quy định về hàng thừa kế của Pháp lệnh, tiếp tục góp phần tích cực giải quyết các vụ việc thừa kế theo pháp luật.

1.3.2.4. Giai đoạn từ 01/01/2006 đến nay

Sau 10 năm thực hiện, những quy định về thừa kế của Bộ luật Dân sự năm 1995 đã tạo ra hành lang pháp lý tương đối đầy đủ để xử lý những tranh chấp phát sinh trong thực tiễn. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của nền kinh tế, xã hội, Bộ luật Dân sự năm 1995 không tránh khỏi những bất cập, vướng mắc. Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành, những quy định về thừa kế cơ bản kế thừa các quan điểm cũ và quy định một số trường hợp mới, khắc phục những vướng mắc của Bộ luật Dân sự năm 1995.

Về diện thừa kế

Kế thừa những quy định của pháp luật thừa kế trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định diện thừa kế dựa trên ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Tuy nhiên, tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, diện thừa kế được bổ sung: “cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại” và “chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”. Với quy định như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự mở rộng và dự liệu được các trường hợp có thể xảy ra trên thực tế. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Về hàng thừa kế

Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về người thừa kế theo pháp luật và số lượng hàng thừa kế vẫn bao gồm ba hàng như số lượng hàng thừa kế đã được quy định tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 1995. Những người thừa kế theo quan hệ huyết thống bàng hệ và trực hệ vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, tại các hàng thừa kế, Bộ luật Dân sự năm 2005 có sự bổ sung, cụ thể như sau:

Hàng thừa kế thứ nhất, bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

Hàng thừa kế thứ hai, bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Hàng thừa kế thứ ba, bao gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung cháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản được hưởng di sản theo trình tự hàng (hàng thừa kế thứ hai) và tại hàng thừa kế thứ ba là chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. Quy định này nhằm củng cố và bảo vệ hơn nữa quyền thừa kế theo pháp luật của các cháu nội, cháu ngoại, các chắt nội, chắt ngoại của người để lại di sản trong những trường hợp cụ thể. Có thể thấy, việc mở rộng phạm vi người thừa kế theo hàng không những đánh dấu sự thay đổi căn bản của chế định thừa kế, quan trọng hơn, nó đã bảo vệ triệt để nhất quyền hưởng di sản của các cháu nội, cháu ngoại, chắt nội, chắt ngoại đối với người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cụ nội, cụ ngoại. Quy định này đã phản ánh bản chất pháp luật của Nhà nước ta, đồng thời đảm bảo được tính nhất quán về các hàng thừa kế theo pháp luật. Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế.

Như vậy, diện và hàng thừa kế theo pháp luật nước ta kể từ năm 1945 đến nay không ngừng được củng cố, mở rộng, đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền thừa kế của công dân. Đặc biệt, với sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2005, các quy định về diện và hàng thừa kế đã đạt những bước tiến quan trọng trong quan điểm và trình độ lập pháp của nước ta kể từ năm 1945 đến nay.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật

One thought on “Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *