Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, CHI PHỐI VIỆC XÁC ĐỊNH DIỆN THỪA KẾ VÀ PHÂN CHIA HÀNG THỪA KẾ
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật về tài sản, nên các quy định của pháp luật về thừa kế nói chung, diện và hàng thừa kế nói riêng được theo quan điểm của Nhà nước về thừa kế phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục tập quán của nhân dân và các vấn đề thực tế diễn ra trong đời sống xã hội. Nói cách khác, việc xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế ở mỗi quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật và phong tục, tập quán của từng dân tộc.
Ở nước ta, có thể nhận thấy sự thay đổi trong các quy định của pháp luật về thừa kế luôn xuất phát từ cơ sở lý luận, xã hội và thực tiễn nhất định. Thời kỳ sau Cách mạng Tháng tám, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật thể hiện tính ưu việt của chế độ mới. Trong Tờ trình của Bộ Tư pháp về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật có đoạn viết: Cuộc khởi nghĩa tháng Tám và sự thành lập chính quyền dân chủ cộng hòa đã đem đến những biến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng nhân dân Việt Nam. Nói chung, xã hội ta đương đi mạnh dạn trên con đường tiến hóa tất nhiên của lịch sử. Do đó, luật pháp cũng cần phải sửa đổi để thúc đẩy sự tiến hóa đó cho mau chóng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “pháp luật của ta bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người dân lao động. Pháp luật của ta là pháp luật thực sự dân chủ rộng rãi của nhân dân lao động” [21, tr. 76]. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo phát huy mọi tiềm năng kinh tế của các thành phần kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu bảo vệ quyền dân sự và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân trong quan hệ dân sự, thể hiện được nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Việt Nam là tự nguyện, công bằng, hợp tác tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, phù hợp với thông lệ quốc tế trong giao lưu dân sự, hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật thừa kế từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để phát triển kinh tế xã hội phù hợp với cơ chế mới.
Có thể khái quát các yếu tố tác động, chi phối việc xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành của nước ta theo các vấn đề sau đây.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.1. Truyền thống lập pháp, phong tục tập quán
Về mặt xã hội, mỗi cá nhân chết đi đại bộ phận đều để lại một khối tài sản nào đó, nhưng vấn đề đặt ra là tài sản đó của người chết sẽ được giải quyết như thế nào.
Theo truyền thống lập pháp, theo phong tục tập quán, theo mối liên hệ huyết thống thì việc dịch chuyển tài sản sẽ theo một nguyên lý: Thế hệ trước để lại tài sản cho các thế hệ sau. Do vậy, những người thừa kế trước hết là các con, các cháu của người để lại di sản, sau đó mới đến những người thân thích khác theo quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ. Như vậy, đó là cơ sở xác định diện thừa kế theo truyền thống mà xác định từ một trong các mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng giữa người để lại di sản và người thừa kế.
Các mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng đảm bảo sự gắn bó mật thiết giữa những người thân trong gia đình, dòng họ với nhau. Đây là những quan hệ tình cảm gắn bó nhau, giữa họ có những quyền lợi và nghĩa vụ tương hỗ nhau. Pháp luật nước ta chỉ dựa vào ba quan hệ đó để xác định những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Những người không một trong ba mối quan hệ trên thì không thuộc diện được hưởng thừa kế theo pháp luật.
Có thể thấy, các chế độ xã hội đều có một đặc điểm chung là: diện thừa kế chủ yếu do quan hệ hôn nhân và gia đình chi phối. Tuy nhiên, tùy thuộc vào quan hệ sản xuất của từng giai đoạn phát triển xã hội và dựa trên những quy định của pháp luật của mỗi chế độ, xã hội nhất định mà phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được quy định ở diện rộng, hẹp khác nhau. Phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật theo quy định của pháp luật thừa kế hiện hành của nước ta dựa trên quan điểm mang tính chất truyền thống về gia đình Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta phát động phong trào xây dựng gia đình văn hóa mới, giữ vững bản sắc văn hóa của dân tộc. Giá trị truyền thống đoàn kết của dòng họ, của gia đình Việt Nam được phát huy. Những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản thuộc diện thừa kế theo pháp luật của người đó. Lợi ích của mỗi thành viên trong gia đình, dòng tộc luôn được pháp luật thừa kế của nước ta coi trọng và bảo đảm thực hiện trong mối quan hệ với lợi ích của toàn xã hội. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
2.1.2. Sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh
Năm 1986, Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối phát triển kinh tế của nước ta theo hướng xóa bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế của nước ta phát triển dựa trên các quan hệ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Nhà nước coi hình thức sở hữu tư nhân là cần thiết trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước khuyến khích cá nhân đầu tư trí tuệ, công sức và tài sản để sản xuất kinh doanh dưới các hình thức pháp luật cho phép. Để khuyến khích sở hữu cá nhân phát triển, Nhà nước sửa đổi, bổ sung các chính sách đối với kinh tế tư nhân, tạo điều kiện để bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Tài sản của cá nhân được pháp luật bảo hộ, cá nhân có quyền để lại thừa kế tài sản của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Năm 1990, Pháp lệnh Thừa kế ra đời trong lúc Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Pháp lệnh ra đời góp phần bảo vệ quyền dân sự và lợi ích hợp pháp của cá nhân công dân, thể hiện những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tự nguyện, bình đẳng, công bằng, phù hợp với yêu cầu của nhân dân, thể hiện được chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng ta.
Trong cơ chế thị trường, Nhà nước mở rộng hơn các quyền dân sự của cá nhân, nếu việc thực hiện các quyền đó không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân. Đó là các quyền của người để lại thừa kế và của người thừa kế, vì mục đích của việc sản xuất ra nhiều của cải nhằm để lại cho thế hệ sau thừa hưởng. Tuy nhiên, việc sử dụng di sản thừa kế có hiệu quả hay không phụ thuộc vào hành vi của người thừa kế, do vậy, người để lại thừa kế di sản phải xem xét người thừa kế nào có khả năng phát huy việc sản xuất kinh doanh, họ sẽ cho hưởng di sản với những điều kiện nhất định.
Cơ sở pháp lý của vấn đề thừa kế được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 là cụ thể hóa có tính nguyên tắc của Hiến pháp năm 1992. Điều 58 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.
Trong giai đoạn hiện nay, tài sản của tư nhân ngày càng phong phú về chủng loại và không bị hạn chế về số lượng, giá trị tài sản. Cùng với sự phát triển đó, Nhà nước ta cho phép quyền để lại thừa kế những tư liệu sản xuất mà chủ doanh nghiệp đang sở hữu. Đối với các loại công ty, vốn và tài sản của thành viên công ty được phép để lại cho người thừa kế.
2.1.3. Sự đa dạng của di sản thừa kế Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Xác định di sản thừa kế có ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng các quy định về thừa kế nói chung, xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế nói riêng.
Cá nhân có tài sản có quyền để lại di sản cho cá nhân, tổ chức sau khi chết. Tài sản của người để lại thừa kế gồm các tài sản hữu hình như tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, nhà ở, đất đai, của cải để dành. Tài sản vô hình là quyền sở hữu trí tuệ và các quyền tài sản của người để lại thừa kế như quyền yêu cầu người khác thực hiện các nghĩa vụ tài sản. Đây là những tài sản đã có khi người để lại di sản chết.
Điều 634 Bộ luật Dân sự 2005: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”. Theo quy định này, những tài sản, quyền tài sản, các loại giấy tờ có giá đã thuộc quyền sở hữu của người để lại thừa kế là di sản.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, có nhiều lợi ích vật chất cũng cần phải coi là di sản như các lợi ích phát sinh từ hợp đồng. Thực tế là nhiều trường hợp người để lại thừa kế đã đầu tư công sức, vốn, tài sản vào sản xuất kinh doanh hoặc đang tham gia vào các hợp đồng kinh doanh mà thời hạn chưa hết thì người thừa kế tiếp tục được hưởng lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các hợp đồng đó.
Thời kỳ này di sản thừa kế đã được mở rộng phạm vi các loại tài sản, đặc biệt là tư liệu sản xuất. Điều đó tạo điều kiện thúc đẩy cá nhân, công dân đầu tư vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển tài sản của gia đình, dòng họ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2.1.4. Truyền thống gia đình và vấn đề “Hiếu”, “Nghĩa”
Đặc điểm “Hiếu”, “Nghĩa” trong gia đình Việt Nam được xem là một trong những căn cứ quan trọng xác định diện những người thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Về “Hiếu”: Theo quan niệm xã hội và chuẩn mực đạo đức thì đạo hiếu được coi trọng. Đạo hiếu của các con, cháu đối với ông, bà, cha, mẹ, các cụ với nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức, mọi người phải thực hiện nếu trái với những chuẩn mực đó thì bị coi là bất hiếu. Các con, cháu phải tôn kính, có bổn phận phụng dưỡng ông, bà, cha, mẹ. Đây được xem là nguồn gốc, nguyên tắc duy trì trật tự trong gia đình.
Xuất phát từ những quan niệm về “Hiếu” ăn sâu trong lẽ sống ngàn đời của nhân dân, pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã quy định nghĩa vụ giữa những người có quan hệ cha con, mẹ con phải chăm sóc, nuôi dưỡng nhau trong trường hợp cần thiết phải nuôi dưỡng. Ngày nay, quan niệm về “Hiếu” có những yếu tố mới so với nội dung của đạo hiếu trước đây, tuy nhiên, bản chất của nó không thay đổi theo chuẩn mực của quan hệ gia đình, huyết thống, chuẩn mực đạo đức xã hội: Các con cháu có nghĩa vụ kính trọng, lễ phép với ông, bà, cha, mẹ, phụng dưỡng, giúp đỡ ông bà, cha mẹ.
“Đạo hiếu” thể hiện thấm nhuần trong các quy định của pháp luật về thừa kế, không chỉ áp dụng đối với những người có quan hệ huyết thống là ông bà với các cháu, cha mẹ với các con ruột mà còn được áp dụng cho quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng với cha kế, mẹ kế. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của người con nuôi như con đẻ trong quan hệ với cha nuôi, mẹ nuôi và quyền của họ được thừa kế di sản của nhau.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 tại Điều 34: “Việc nuôi con nuôi nhằm gắn bó tình cảm giữa người nuôi và con nuôi trong quan hệ cha, mẹ và các con cái, đảm bảo người con nuôi chưa thành niên được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt”. Những quy định này xuất phát từ mục tiêu củng cố và phát triển tình đoàn kết yêu thương trong nội bộ gia đình.
Về “Nghĩa”: Đây là một trong những căn cứ quan trọng để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế. “Nghĩa” thể hiện đặc biệt rõ trong quan hệ nhận di sản thừa kế của nhau giữa vợ và chồng.
Pháp luật dưới chế độ phong kiến và thực dân – phong kiến ở nước ta trước năm 1945 luôn bảo vệ quyền hưởng di sản của những người trong quan hệ huyết thống nội tộc, không có sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng. Vị trí của người vợ trong quan hệ gia đình, xã hội và pháp luật chỉ được đặt ở hàng thứ yếu theo thuyết Tam tòng của Nho giáo. Trong quan hệ thừa kế di sản, quyền bình đẳng về thừa kế không được bảo đảm. Người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của riêng mình nếu không được chồng cho phép. Khi người vợ chết, người chồng được thừa nhận là chủ sở hữu duy nhất đối với toàn bộ tài sản riêng của vợ. Ngược lại, nếu người chồng chết trước thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng tài sản riêng của bản thân. Gia đình và dòng họ của người chồng vẫn là cơ sở chính để xác định diện thừa kế, còn quan hệ hôn nhân chỉ được coi là thứ yếu. Do coi trọng quan hệ huyết thống, pháp luật thừa kế thời thực dân, phong kiến chỉ chú ý đến quyền bình đẳng của các con trong việc hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, hiện nay vấn đề “Nghĩa” trong quan hệ thừa kế giữa vợ và chồng được pháp luật của Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Vị trí của người vợ góa được đặt ngang hàng và được coi trọng ngang bằng với những người có quan hệ huyết thống với người chồng đã chết. Pháp luật xác định quan hệ hôn nhân là một trong ba mối quan hệ để xác định diện thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự hiện hành. Theo quy định, diện những người thừa kế theo quan hệ hôn nhân được xếp ở hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản bên cạnh quan hệ huyết thống.
Như vậy, truyền thống gia đình Việt Nam, vấn đề “hiếu”, “nghĩa” trong thực tế đời sống xã hội được pháp luật hiện hành quan tâm và coi trọng. Đây được xem là một trong những cơ sở quan trọng để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật nhằm củng cố quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình. Quyền thừa kế di sản của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là cha, mẹ, vợ, chồng, các con của người để lại di sản luôn được pháp luật thừa kế của nước ta quy định đó là một trong những nguyên tắc pháp luật nhằm củng cố quan hệ tài sản giữa những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.
2.2. DIỆN THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Xác định diện thừa kế theo pháp luật nước ta là xác định phạm vi những người có quyền hưởng di sản. Việc xác định dựa trên các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa những người thừa kế với người để lại di sản thừa kế theo từng bước phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, theo đó diện những người được hưởng thừa kế được mở rộng nhằm đảm bảo vệ lợi ích chính đáng của người để lại di sản thừa kế cũng như lợi ích hợp pháp của những người có quan hệ thân thích với người để lại di sản.
Diện thừa kế theo pháp luật được xác định theo các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa người thừa kế với người để lại di sản khi còn sống. Tuy nhiên, ba mối quan hệ trên chỉ là những căn cứ xác định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật. Phạm vi những người có quan hệ huyết thống gần, quan hệ huyết thống xa với người để lại di sản có thuộc diện hay không thuộc diện thừa kế còn tùy thuộc vào những quy định của pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
2.2.1. Thừa kế theo quan hệ huyết thống Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Phạm vi những người được thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên các mối quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa kế, trong đó quan hệ huyết thống là một trong những cơ sở quan trọng để xác lập quan hệ thừa kế.
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa người nọ sinh ra người kia theo quan hệ huyết thống trực hệ và giữa những người do một người sinh ra là quan hệ huyết thống bàng hệ (anh, chị, em ruột).
Quy định quan hệ huyết thống là cơ sở để xác định diện thừa kế theo pháp luật được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Đối với người Việt Nam, việc phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ tổ tiên vốn rất được coi trọng và là nghĩa vụ thiêng liêng đối với con cháu. Vì vậy, pháp luật nước ta từ thời kỳ phong kiến đến nay đều quy định quan hệ huyết thống là cơ sở để xác định diện thừa kế theo pháp luật.
Quan hệ huyết thống bao gồm những người có quan hệ huyết thống trực hệ bề trên (các cụ, ông, bà, cha mẹ đẻ); quan hệ huyết thống trực hệ bề dưới (con, cháu, chắt); quan hệ huyết thống bàng hệ (các anh, chị, em).
Mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ, con đẻ
Từ trước đến nay, pháp luật đều quy định con cái được thừa kế tài sản của cha mẹ. Theo pháp luật phong kiến, các con thuộc thứ tự ưu tiên hưởng di sản của cha mẹ để lại. Tuy nhiên, có sự phân biệt giới tính giữa con trai và con gái, giữa con vợ cả và con vợ lẽ (pháp luật nhà Lê). Đồng thời, pháp luật phong kiến cũng phân biệt con trong giá thú và con ngoài giá thú. Con ngoài giá thú là thuật ngữ chỉ người con sinh ra không phải từ hôn nhân chính thức và không được người cha thừa nhận. Vì thế, con ngoài giá thú hưởng kỷ phần ít hơn con chính thức (con chung). Tuy nhiên, đến pháp luật thực định, quyền thừa kế theo pháp luật của con không còn phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha, mẹ đẻ. Các con đẻ của người để lại di sản, không phân biệt con trai hay con gái, con trong giá thú hay ngoài giá thú, có năng lực hay không có năng lực hành vi dân sự đều thuộc diện thừa kế của cha mẹ bởi giữa họ có mối quan hệ huyết thống. Theo Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì con cái thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha mẹ mà không loại trừ con trong giá thú hay ngoài giá thú. Quy định này là phù hợp với đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng như quan niệm hiện đại về quyền con người và trẻ em. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành đã thể hiện sự tiến bộ khi khắc phục những hạn chế của pháp luật dân sự trước đây trong việc xác định diện thừa kế dựa trên mối quan hệ huyết thống. Tuy nhiên, thực tế việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp con ngoài giá thú là điều đáng lưu tâm hiện nay. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, việc xác định cha, mẹ, con được quy định cụ thể (từ Điều 63 đến Điều 66). Tuy vậy, pháp luật về hôn nhân gia đình chưa có quy định cụ thể về các chứng cứ, cơ sở chứng minh trong các trường hợp truy nhận con. Đây là hạn chế dẫn đến khó khăn trong quá trình giải quyết.
Về vấn đề này, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định: “Quan hệ giữa cha, mẹ, con chính thức được chứng minh bằng chứng thư khai sinh đăng ký vào sổ hộ tịch” (Điều 319). “Nếu không có chứng thư khai sinh, nhưng thực tế vẫn có quan hệ chính thức thì cũng đủ để chứng minh giữa cha, mẹ, con cái” (Điều 320). “Tuy nhiên, nếu viện dẫn được rằng có sự đánh tráo hoặc thay thế đứa trẻ, dù vô tình trước hoặc sau khi lập chứng thư khai sinh thì có thể đưa ra chứng cứ bằng mọi cách và chứng cứ có thể được chấp nhận” (Điều 322). “Nếu không có tất cả những chứng cứ trên thì chứng cứ về quan hệ cha, mẹ, con cái chỉ có thể được xác lập bằng nhân chứng” (Điều 322).
Như vậy, để xác định con, cha mẹ cần phải cung cấp những chứng cứ hợp pháp như giấy khai sinh, nếu không có giấy tờ pháp lý có liên quan thì có thể xác lập thông qua nhân chứng hay xét nghiệm gien. Đây là cơ sở quan trọng để có thể xác định trên thực tế diện thừa kế di sản giữa cha mẹ và con theo quy định của pháp luật.
Mối quan hệ giữa các cụ, ông, bà với các cháu, chắt
Theo Bộ luật Dân sự năm 1995, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người chết; cụ nội, cụ ngoại của người chết được hưởng thừa kế của cháu, chắt nhưng cháu, chắt không phải là người thừa kế theo pháp luật của họ. Quy định này đi ngược với thứ tự ưu tiên hưởng thừa kế theo quan hệ huyết thống xuôi của cháu, chắt. Cháu, chắt không được hưởng di sản của ông, bà, các cụ là không hợp lý. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự sửa đổi và bổ sung tại Điều 676. Ngoài ra, nếu cha, mẹ của cháu, chắt chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà, các cụ thì cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị tại Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Mối quan hệ giữa anh, chị, em và con của anh, chị, em: Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Anh, chị, em ruột là những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của nhau cùng với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của người chết. Ngoài ra, pháp luật quy định con của anh, chị, em được xếp vào hàng thứ ba bên cạnh cụ nội, cụ ngoại. Việc quy định con của anh, chị, em ruột của người chết gọi người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột được thừa kế là hợp với đạo lý.
Mối quan hệ giữa những người thân thuộc bàng hệ khác: Ngoài anh, chị, em và con của anh, chị, em ruột, pháp luật hiện hành chỉ thừa nhận những người mà người chết gọi cô ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột là người thừa kế bàng hệ và được xếp vào hàng thừa kế thứ ba (Điểm c Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005). Họ được hưởng di sản cùng với cụ nội, cụ ngoại của người chết, con của anh, chị, em của người chết.
Nhìn chung, diện thừa kế theo quan hệ huyết thống quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự mở rộng và bổ sung xuất phát từ bản chất của pháp luật thừa kế là nhằm để bảo vệ lợi ích của các con, các cháu trong gia đình, dòng tộc, theo truyền thống đời trước để lại di sản cho đời sau. Thừa kế theo quan hệ huyết thống trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã góp phần củng cố tài sản của dòng tộc và tài sản của gia đình truyền thống ăn chung, ở chung theo cơ cấu gia đình hạt nhân gồm nhiều thế hệ, bề bậc khác nhau theo quan hệ tam đại đồng đường, tam đại đồng cư, tứ đại đồng đường, tứ đại đồng cư.
2.2.2. Thừa kế theo quan hệ hôn nhân
Dưới thời phong kiến, quan hệ hôn nhân không được xem là cơ sở xác định diện thừa kế của vợ và chồng. Xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, quan hệ thừa kế cũng bị tác động mạnh mẽ. Trong gia đình, vị trí của người vợ bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Hôn nhân không ràng buộc bất cứ bổn phận và trách nhiệm nào của chồng đối với vợ nên người vợ không thuộc diện thừa kế của người chồng. Hoàng Việt luật lệ quy định sau khi thành vợ chồng, tất cả tài sản thuộc sở hữu của chồng ngay cả những tài sản của người vợ đem về nhà chồng khi kết hôn. Nếu người vợ chết trước, đương nhiên người chồng tiếp tục là người sở hữu. Tuy nhiên, chồng chết trước thì vợ không được quyền hưởng di sản mà chỉ được hưởng hoa lợi trên tài sản của chồng để lại. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Dân luật Bắc Kỳ và Dân luật Trung Kỳ có sự phân biệt giữa vợ cả và vợ lẽ. Người vợ cả được hưởng toàn bộ di sản của người chồng nếu không còn ai thân thích bên họ nội, còn vợ thứ khi chồng chết chỉ được ở lại nhà chồng hưởng lương thực và tiền chi dùng cho sinh hoạt hàng ngày. Với quy định ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho gia đình, dòng tộc, quyền lợi của người vợ trong thời kỳ phong kiến chỉ được đặt sau các con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, các cụ, anh, chị, em ruột của người để lại di sản.
Trái với pháp luật thời kỳ phong kiến, pháp luật thực định quy định vợ, chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau. Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Có thể nói, việc thừa nhận quyền thừa kế của vợ, chồng là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quan niệm về gia đình Việt Nam hiện đại.
Theo quy định của pháp luật, vợ, chồng thuộc diện thừa thừa kế theo pháp luật của nhau khi quan hệ hôn nhân của họ tính đến thời điểm mở thừa kế của người vợ hoặc người chồng được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Tại Khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”. Khoản 2 Điều 8 quy định: “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Như vậy, quan hệ hôn nhân hợp pháp là quan hệ giữa vợ và chồng khi kết hôn đã tuân thủ các các quy định của pháp luật hôn nhân về độ tuổi kết hôn, ý chí tự do, tự nguyện, tự do thỏa thuận, không có sự áp đặt ý chí của một bên đối với bên kia trong kết hôn, không vi phạm quan hệ huyết thống, không vi phạm chế độ một vợ, một chồng và không vi phạm các điều cấm khác của pháp luật trong kết hôn.
Quan hệ hôn nhân hợp pháp được xác lập thông qua việc đăng ký kết hôn. Thủ tục đăng ký kết hôn được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000. Để được đăng ký kết hôn thì hai bên nam, nữ phải thỏa mãn các điều kiện kết hôn được quy định tại các điều 9, 10, 11 và 14 về độ tuổi kết hôn, ý chí tự do, tự nguyện trong kết hôn, không vi phạm chế độ một vợ, một chồng, không vi phạm quan hệ huyết thống trong phạm vi ba đời và không vi phạm các điều cấm khác của pháp luật như: Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính. Người mất năng lực hành không được kết hôn. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn (Điều 14). Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, ngoài việc xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật thì trong những giai đoạn lịch sử nhất định vẫn cần thiết phải đánh giá đúng mức những quan hệ hôn nhân mặc dù không tiến bộ, trái với pháp luật hiện hành nhưng vẫn tồn tại và được thừa nhận ở nước ta như giải pháp giải quyết những tàn dư của chế độ thực dân phong kiến còn sót lại. Để giải quyết vấn đề hôn nhân đa thê, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 690-DS ngày 29/4/1960 hướng dẫn xử lý việc ly hôn và các vấn đề có liên quan đến việc ly hôn vì chế độ đa thê. Nhằm từng bước xóa bỏ những tàn dư của chế độ cũ, pháp luật của Nhà nước ta đã xác định giới hạn đình chỉ những quan hệ hôn nhân trái với pháp luật hiện hành, cụ thể là:
Đối với miền Bắc, với những người có nhiều vợ trước ngày ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, theo Sắc lệnh số 02-SL ngày 13/01/1960 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì không đặt vấn đề vi phạm luật. Do vậy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng xác lập trước ngày 13/01/1960 tuy có vi phạm chế độ một vợ một chồng nhưng vẫn tồn tại và được coi là không trái pháp luật. Theo quy định trên, khi chồng chết, các người vợ được thừa kế của chồng hoặc khi các người vợ chết trước thì chồng được thừa kế của các người vợ.
Như vậy, quy định trên chỉ là giải pháp quá độ phù hợp với thực tế lúc bấy giờ do hoàn cảnh lịch sử để lại. Thực chất, pháp luật về hôn nhân và gia đình đã tuyên bố chấm dứt các quan hệ hôn nhân đa thê kể từ sau ngày 13/01/1960 ở Miền Bắc nước ta.
Đối với miền Nam, một người có nhiều vợ trước ngày 25/3/1977 (ngày công bố danh mục văn bản pháp luật được áp dụng thống nhất trong cả nước) mà việc kết hôn sau không bị hủy bỏ bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì tất cả những người vợ đều được coi là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, khi các vợ chết trước, chồng được thừa kế của các vợ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 quy định rõ về trình tự, thủ tục, điều kiện đăng ký kết hôn nhưng thực tế giai đoạn trước đây do tàn tích của chế độ phong kiến còn tồn tại có nhiều trường hợp kết hôn không theo đúng trình tự pháp luật quy định, hình thành nên khái niệm “hôn nhân thực tế”. Vấn đề này đã được quy định tại Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao. Thông tư số 112 ghi nhận:
Hôn nhân thực tế là những cuộc hôn nhân không đăng ký, thỏa mãn đầy đủ các điều kiện kết hôn khác, trong đó hai bên có ý định thực sự lấy nhau, đã thực tế coi nhau như vợ chồng, chung sống công khai, gánh vác chung công việc gia đình, được họ hàng, xã hội xung quanh coi như vợ chồng [32]. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước, nhằm giải quyết dứt điểm những quan hệ vợ chồng không tuân thủ quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Tại Điều 2 Nghị định số 77 quy định: Quan hệ vợ chồng chưa đăng ký mà được xác lập trước 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) thì việc đăng ký kết hôn không bị hạn chế về thời gian. Nhưng nếu nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Tại Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”. Như vậy, đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn thì không được công nhận là vợ chồng.
Có thể thấy, pháp luật chỉ thừa nhận hôn nhân thực tế đối với quan hệ nam nữ trên thực tế đã chung sống với nhau như vợ chồng từ trước 03/01/1987. Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm từ 01/01/2001 đến 01/01/2003. Đặc biệt, với quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, pháp luật đã xóa bỏ hoàn toàn khái niệm hôn nhân thực tế. Điều này là hoàn toàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế đã phát triển lên một mức cao hơn, các mối quan hệ trở nên đa dạng, phức tạp hơn, ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân ngày càng cao và trình độ dân trí ngày càng phát triển.
Như vậy, hôn nhân thực tế được tòa án thừa nhận cũng được coi là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, vấn đề hôn nhân thực tế được thừa nhận ở nước ta chỉ là một giải pháp tình thế nhằm giải quyết những vấn đề con chung của vợ chồng, vấn đề tài sản của vợ chồng, vấn đề thừa kế di sản nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đặc biệt là bảo vệ lợi ích của người phụ nữ và trẻ em.
2.2.3. Thừa kế theo quan hệ nuôi dưỡng
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ mà trong đó những người thân thuộc thể hiện sự quan tâm, chăm sóc và nuôi dưỡng nhau.
Với truyền thống gia đình Việt Nam thì nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau giữa các thành viên trong gia đình được xem như chuẩn mực đạo đức, thấm nhuần triết lý nhân sinh. Chính vì vậy, nguyên tắc về nghĩa vụ kính trọng ông bà, cha mẹ, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa các thành viên trong gia đình đều được ghi nhận khi xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình. Đặc biệt, Chương 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 là một chương mới có ý nghĩa đề cao vai trò, trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, đồng thời khẳng định quan hệ giữa ông bà và các cháu, giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình là một bộ phận của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống cần được bảo vệ, khuyến khích việc duy trì và phát triển gia đình theo truyền thống Á Đông. Vì thế, quan hệ nuôi dưỡng là cơ sở xác định diện thừa kế theo pháp luật.
Trong gia đình, cha mẹ đẻ, con đẻ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau là điều đương nhiên bởi “máu chảy ruột mềm”, sự chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa họ là nghĩa vụ thiêng liêng. Bên cạnh đó, giữa các anh, chị, em ruột cũng thể hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp cha mẹ mất sớm, cha mẹ còn nhưng không có khả năng lao động hoặc không có năng lực hành dân sự. Với quan niệm “anh em như thể chân tay”, việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa các anh, chị, em ruột cũng là căn cứ để phát sinh quan hệ thừa kế giữa họ với nhau. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Đối với ông bà nội, ngoại và các cháu nội, ngoại: Theo quy định của pháp luật, nếu cháu chưa thành niên hoặc không có khả năng lao động, không có năng lực hành vi dân sự hoặc không có tài sản để tự nuôi mình thì ông bà nôi, ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu. Ngược lại, cháu cũng có bổn phận kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà trong trường hợp ông bà không còn con. Ngoài nghĩa vụ nuôi dưỡng, cháu và ông bà còn là người giám hộ đương nhiên của nhau và đồng thời cũng có nghĩa vụ đại diện theo pháp luật cho nhau. Như vậy, ngoài mối quan hệ huyết thống, dựa trên quan hệ nuôi dưỡng thì ông bà và các cháu thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.
Đối với cha mẹ nuôi với con nuôi: Mối quan hệ của họ không phải là quan hệ huyết thống, quan hệ thừa kế của họ được xác định trên cơ sở quan hệ nuôi dưỡng. Quyền lợi, nghĩa vụ của con nuôi và con đẻ như nhau. Khi nhận nuôi một người con nuôi thì người con đó đương nhiên trở thành một thành viên trong gia đình cha, mẹ nuôi. Khi mối quan hệ nuôi dưỡng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi được thiết lập thì sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi, ngược lại, người con nuôi phải biết yêu thương, kính trọng, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ nuôi. Mặt khác, khi một người được nhận làm con nuôi sẽ xuất hiện hai mối quan hệ: với cha mẹ nuôi và với cha mẹ đẻ. Điều 678 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định ngoài việc được hưởng thừa kế của cha mẹ nuôi, người con nuôi vẫn được thừa kế di sản của cha mẹ đẻ và những người thân trong gia đình cha mẹ đẻ. Tuy nhiên, luật thực định không thừa nhận khái niệm anh, chị, em nuôi, cháu nuôi nên người con nuôi không có quyền thừa kế theo pháp luật của cha, mẹ và con đẻ của người là cha nuôi, mẹ nuôi của họ.
Việc nhận con nuôi phải tuân thủ trình tự, thủ tục, điều kiện nhận nuôi (ví dụ: Cha mẹ nuôi phải hơn con nuôi tối thiểu 20 tuổi; con nuôi phải nhỏ hơn 15 tuổi, trừ trường hợp người tàn tật, suy giảm năng lực hành vi dân sự). Tuy nhiên, trên thực tế, do không hiểu biết pháp luật nên nhiều trường hợp không thực hiện đúng thủ tục do pháp luật quy định về nhận con nuôi nhưng pháp luật vẫn thừa nhận đó là quan hệ cha mẹ nuôi với con nuôi thực tế. Quyền và lợi ích của con nuôi thực tế và cha mẹ nuôi không có gì thay đổi trong quan hệ giữa cha mẹ và con. Dựa trên nguyên tắc này thì cơ sở để xác định mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi là mối quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng trên thực tế. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Quan hệ giữa cha kế, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng: Luật không quy định cha kế, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau và giám hộ, đại diện đương nhiên của nhau. Tuy nhiên, theo Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005, nếu thực tế cha kế, mẹ kế với con riêng của vợ, chồng thể hiện được nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế tài sản của nhau. Nếu con riêng của vợ, chồng mà chết trước cha kế, mẹ kế, con của họ được thừa kế thế vị nhận di sản của ông bà kế khi qua đời. Con riêng và cha dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế tài sản của nhau và còn được thừa kế theo quy định tại Điều 676 và 677 Bộ luật Dân sự. Quy định này là sự tiến bộ phù hợp với đời sống thực tế nhằm ngăn chặn những tư tưởng lạc hậu thường tồn tại trong quan hệ của một số người. Tuy nhiên, quy định như vậy chưa thực sự rõ ràng. Thực tế không có tiêu chí cụ thể để xác định thế nào là là chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, việc áp dụng quy định trên để giải quyết sẽ không thống nhất và quyền lợi giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế khó được đảm bảo.
Có thể nói, xuất phát từ cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế, phạm vi diện những người được thừa kế theo pháp luật được xác định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự mở rộng và phù hợp hơn, cụ thể là:
Diện những người thừa kế được mở rộng theo số lượng hàng thừa kế theo pháp luật đã bảo đảm cho việc chia di sản thừa kế của công dân được thực hiện triệt để nhất. Di sản thừa kế được chia cho những người có quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ với người để lại di sản, bảo đảm việc chia di sản thừa kế cho những người trong dòng tộc được hưởng và chỉ trong những trường hợp đặc biệt, khi không còn người thừa kế theo pháp luật, di sản thừa kế mới thuộc quyền sở hữu của Nhà nước. Việc áp dụng pháp luật có tính hiệu quả hơn, hợp lý và có tính thuyết phục hơn, đồng thời, cũng là căn cứ bảo vệ quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân một cách triệt để nhất, phù hợp với đạo lý trong quan hệ dòng tộc bên nội và bên ngoại của người chết. Qua đó, thắt chặt mối đoàn kết trong dòng họ của người để lại di sản và người thừa kế theo pháp luật.
Quyền sở hữu và quyền thừa kế của công dân được pháp luật bảo vệ không chỉ ở chính nội dung của quy phạm mà còn được thực hiện trên thực tế. Quy định về thừa kế đã giải quyết triệt để quan hệ của những người có quyền thừa kế theo pháp luật. Pháp luật tôn trọng triệt để quyền để lại di sản và quyền thừa kế của công dân là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất trong xã hội phát triển phù hợp với các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay và tương lai. Diện thừa kế theo pháp luật được mở rộng là phù hợp với thực tế của các quan hệ xã hội, loại bỏ sự áp đặt thiếu khách quan, không toàn diện, không phù hợp với đời sống xã hội về quan hệ huyết thống của những người trong dòng tộc.
Sự mở rộng diện thừa kế theo số lượng hàng thừa kế tạo sự chủ động cho cơ quan xét xử trong quá trình sử dụng các quy phạm pháp luật về thừa kế để giải quyết những tranh chấp từ quan hệ đó. Tính nhất quán, ổn định ở bình diện rộng vừa khái quát, vừa khoa học, phù hợp với thực tế và có tính khả thi, thuyết phục khi cần giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế.
Như vậy, xác định diện thừa kế theo pháp luật trước hết để xác định những người có quyền hưởng di sản, sau nữa loại trừ những người không thuộc diện thừa kế theo pháp luật hoặc thuộc diện thừa kế nhưng không có quyền hưởng thừa kế theo pháp luật. Phạm vi những người thừa kế theo pháp luật được xác định dựa trên ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Ba mối quan hệ này có tính độc lập tương đối, quan hệ này là tiền đề của quan hệ kia. Tuy nhiên, từng quan hệ được xác định theo quy định của pháp luật giữa người để lại di sản với người thừa kế. Chỉ có sự xác định diện những người thừa kế theo pháp luật chuẩn xác mới ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong dòng tộc và có tác dụng giáo dục ý thức sống, ý thức pháp luật cho những người thuộc diện thừa kế. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Việc xác định diện thừa kế theo pháp luật Việt Nam trong Bộ luật Dân sự năm 2005 theo khuynh hướng mở rộng hơn so với các văn bản pháp luật trước đó đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, bảo đảm tuyệt đối việc chuyển quyền sở hữu tài sản của người chết cho những thân nhân của chủ sở hữu đó, mở rộng tính dân chủ trong pháp luật thừa kế, phù hợp với tình hình thực tiễn của cách mạng trong giai đoạn hiện nay, khuyến khích mọi người sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho gia đình và cho xã hội.
2.3. HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
Căn cứ vào mối quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng ở mức độ thân thích khác nhau mà pháp luật của các nước đều xác định thứ tự ưu tiên theo một trình tự hưởng di sản và theo đó hàng thừa kế được hình thành. Như vậy, không phải tất cả người thuộc diện thừa kế theo pháp luật đều được hưởng di sản mà người được nhận di sản thừa kế phụ thuộc vào vị trí hàng thừa kế.
Nếu quy định về diện thừa kế có thể bất biến hoặc tương đối ổn định thì hàng thừa kế mang tính chất khả biến trong phạm vi diện thừa kế. Mỗi thời kỳ, giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, hàng thừa kế được quy định khác nhau. Phân chia hàng thừa kế theo pháp luật là căn cứ vào mức độ gần gũi và trách nhiệm nuôi dưỡng của người để lại di sản thừa kế và người thừa kế. Pháp luật nước ta chia những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật thành hàng thừa kế phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của đất nước.
Với mục tiêu đảm bảo đúng đắn quyền lợi của các thành viên trong gia đình, đảm bảo sự kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội, củng cố, phát triển tình đoàn kết thương yêu lẫn nhau trong nội bộ gia đình, góp phần xây dựng gia đình mới dân chủ, hạnh phúc, kế thừa những văn bản trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 676 vẫn quy định ba hàng thừa kế, tuy nhiên có sự bổ sung, mở rộng để phù hợp với yêu cầu phát triển của đời sống xã hội.
2.3.1. Hàng thừa kế thứ nhất Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Có thể thấy ở hàng thừa kế thứ nhất tồn tại cả ba mối quan hệ: huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng, phản ánh đầy đủ nhất bản chất của hàng thừa kế hàng thừa kế thứ nhất: Gồm những người thuộc các bậc khác nhau: Bề trên có cha để, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của người chết; ngang hàng thì có vợ, chồng; bề dưới có các con.
Những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau và là đại diện đương nhiên của nhau theo Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Nếu họ vi phạm nghĩa vụ theo Luật Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Dân sự thì họ bị tước quyền thừa kế theo Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Quan hệ vợ – chồng
Pháp luật phong kiến quy định hàng thừa kế thứ nhất chỉ có con cái. Vợ hoặc chồng không được quy định trong một hàng thừa kế cố định nào và vị trí của người vợ bao giờ cũng bị xem nhẹ. Khi người phụ nữ kết hôn thì người chồng đương nhiên trở thành chủ sở hữu của tất cả tài sản trong gia đình, quyền lực gia đình tập trung vào người chồng. Về vấn đề này, Quốc triều Hình Luật tiến bộ hơn so với pháp luật thời kỳ phong kiến. Theo quy định, những tài sản do vợ và chồng làm ra thì chia đôi. Người còn sống sở hữu 1/2, phần của người chết sẽ chia thừa kế. Trước khi chia thừa kế, phải dành lại 1/20 điền sản để làm hương hỏa. Mặc dù vậy, vị trí của người phụ nữ trong xã hội phong kiến vẫn không được cải thiện là bao.
Khác với pháp luật phong kiến, xuất phát từ tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân, pháp luật thực định luôn xem đó là cơ sở để xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật. Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “Vợ, chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế”. Vợ, chồng bao giờ cũng được ghi nhận ở hàng thừa kế thứ nhất của nhau.
Không chỉ ghi nhận quyền thừa kế của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân (hôn nhân hợp pháp hoặc được Tòa án công nhận), trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, đã kết hôn với người khác thì quyền thừa kế của nhau vẫn được pháp luật bảo đảm, cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
- Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
- Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
Quan hệ cha mẹ và con
Cha mẹ và con được hưởng thừa kế của nhau dựa trên quan hệ huyết thống. Xuất phát từ cha mẹ sinh các con và có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng các con trưởng thành. Ngược lại, các con phải kính trọng, yêu thương, chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ. Do vậy, hoàn toàn phù hợp khi họ là những người được hưởng thừa kế ở hàng thứ nhất của nhau.
Trong quan hệ thừa kế ở hàng thứ nhất thì con nuôi cũng được thừa kế của cha mẹ nuôi. Pháp luật thời kỳ phong kiến tuy thừa nhận bình đẳng giữa các con trong gia đình (theo quy định trong Luật Hồng Đức, hàng thừa kế thứ nhất gồm các con: con trai, con gái) nhưng lại quy định con nuôi không được thừa kế di sản của bố, mẹ bởi vì trong xã hội phong kiến, việc thừa kế di sản không những là việc thừa hưởng quyền sở hữu tài sản mà còn là sự kế thừa danh dự và địa vị xã hội của ông, bà, cha, mẹ. Đồng thời, pháp luật nước ta trước đây cũng không thừa nhận quan hệ thừa kế giữa người con được cho đi làm con nuôi của người khác với cha mẹ đẻ. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành thừa nhận sự tồn tại của cả hai mối quan hệ thừa kế giữa con nuôi với cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Điều này phù hợp với đạo đức truyền thống vì quan hệ nuôi dưỡng phát sinh khi có sự kiện nhận con nuôi nhưng quan hệ huyết thống là quan hệ máu mủ ruột thịt, là quan hệ thiêng liêng không thể chia cắt.
Quy định về hàng thừa kế thứ nhất cho thấy, giữa con đẻ và con nuôi không có sự phân biệt, những người con này có quyền thừa kế ngang nhau khi hưởng di sản thừa kế của cha mẹ. Điều này phù hợp với mục đích nhận và nuôi con nuôi, thể hiện lòng nhân đạo, yêu thương giữa cha mẹ và con trong gia đình, đồng thời bù đắp những thiếu hụt về tinh thần cho những người con nuôi.
Xuất phát từ phong tục, truyền thống, văn hóa, kinh tế, xã hội không giống nhau nên những quy định của pháp luật về hàng thừa kế của các nước có sự khác nhau. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Theo Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, quyền thừa kế đầu tiên đối với di sản của người chết là những người bề dưới, không kể độ tuổi, giới tính và không phụ thuộc vào hình thức hôn nhân của cha mẹ đều được hưởng di sản. Như vậy, ở hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của Cộng hòa Pháp thì không phụ thuộc vào bất kỳ một hàng thừa kế nào. Vợ hoặc chồng chỉ được thừa kế di sản của nhau trong trường hợp không có thân thuộc của bên vợ hoặc chồng chết trước có thể thừa kế.
Pháp luật Nhật Bản không xếp vợ, chồng vào một hàng thừa kế nào. Xuất phát từ việc quy định hàng thừa kế thứ nhất dựa trên quan hệ huyết thống trực hệ, do vậy, vợ chồng theo quy định của pháp luật Nhật Bản không thuộc hàng thừa kế thứ nhất do không có quan hệ huyết thống. Ngoài ra, pháp luật Nhật Bản không coi quan hệ nuôi dưỡng là cơ sở xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật. Có trường hợp những người được hưởng thừa kế cùng một lúc nhưng lại không được hưởng phần di sản như nhau. Trong trường hợp có hai người thừa kế cùng hàng thì phần của người chồng và người vợ của người để lại di sản sẽ được hưởng theo nguyên tắc nhất định.
So với các nước, quy định về hàng thừa kế thứ nhất của pháp luật nước ta được xây dựng trên cơ sở phù hợp với truyền thống gia đình Việt Nam. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có mối quan hệ thân thuộc gần gũi nhất được xây dựng trên nền tảng gia đình, trong đó cha mẹ có bổn phận và trách nhiệm cùng nhau duy trì cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái. Ngược lại, con cái có nghĩa vụ yêu thương, kính trọng, phụng dưỡng cha mẹ. Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất có quyền hưởng di sản ngang nhau và là những người được thừa kế đầu tiên theo pháp luật khi mở thừa kế.
2.3.2. Hàng thừa kế thứ hai
Hàng thừa kế thứ hai bao gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Ở hàng thừa kế này, các bậc bề trên có ông bà nội, ngoại; ngang bậc có anh, chị, em ruột; bề dưới có các cháu gọi người để lại di sản là ông, bà nội ngoại. Có thể nhận thấy, những người thuộc hàng thứ hai có mối quan hệ thân thích khá gần với người để lại di sản. Tuy nhiên, ông, bà, anh, chị, em ruột, các cháu không thể đặt vị trí ngang hàng với cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản nên chỉ được ưu tiên hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Xét về mối quan hệ nuôi dưỡng ở hàng thừa kế thứ hai thì ông, bà là người thay cha, mẹ (khi cha mẹ mất hoặc cha mẹ không đủ điều kiện nuôi dưỡng) chăm sóc, dạy dỗ cháu nên người. Nghĩa vụ này xuất phát từ mối liên hệ máu mủ trong gia đình, dòng tộc, đồng thời xuất phát từ nền tảng đạo đức của người Việt. Ngược lại, các cháu phải yêu thương, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà lúc tuổi già sức yếu. Vì vậy, ông bà và các cháu là những người thuộc diện thừa kế của nhau và được xếp vào hàng thứ hai.
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định bổ sung cháu nội, cháu ngoại của người để lại di sản được hưởng di sản theo trình tự hàng. Đây là điểm mới so với quy định về người thừa kế theo hàng tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 1995. Quy định này xét theo quan niệm dân gian “nước mắt chảy xuôi” là phù hợp quy luật cuộc sống. Di sản của ông, bà được chuyển giao đến đời cháu sẽ đảm bảo hầu như chắc chắn của cải của ông, bà sẽ được kế tục và duy trì đến đời sau. Hơn nữa, xét về thực tiễn, quy định này sẽ bảo vệ triệt để hơn nữa quyền thừa kế của các cháu nội, ngoại của người để lại di sản trong những trường hợp cụ thể, đồng thời cũng giải quyết có hiệu quả hơn các quan hệ xã hội có liên quan đến việc chia di sản và nhận di sản thừa kế, tạo ra sự nhất thể hóa trong các quy định của pháp luật về thừa kế.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy quy định các cháu hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai như Điều 676 thực tế sẽ xảy ra những trường hợp rất phức tạp, bởi vì các cháu nội, ngoại được thừa kế của ông, bà nội ngoại chỉ có thể xảy ra trong hai trường hợp:
- Bố mẹ các cháu không được quyền hưởng di sản, hàng thừa kế thứ nhất không còn ai hưởng di sản;
- Bố mẹ các cháu từ chối hưởng di sản, hàng hàng thừa kế thứ nhất không còn ai hưởng di sản.
Hơn nữa, trong trường hợp hàng thừa kế thứ nhất không còn ai thì cũng không áp dụng hàng thứ hai đối với các cháu vì trường hợp này sẽ áp dụng thừa kế thế vị cho các cháu.
Cùng với ông ông bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột của người chết được xác định là những người ở hàng thừa kế thứ hai. Do cùng cha mẹ, cùng cha hoặc cùng mẹ sinh ra, anh, chị, em ruột là những người có mối quan hệ huyết thống. Trong gia đình, nếu không còn cha, mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con thì các anh, chị, em phải yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng nhau, do đó họ là những người thừa kế ở hàng thứ hai của nhau.
Pháp luật một số nước trên thế giới cũng thừa nhận quyền thừa kế giữa anh, chị, em ruột nhưng có sự phân biệt giữa anh, chị, em cùng mẹ, cùng cha và anh chị em cùng cha hoặc cùng mẹ. Pháp luật Thái Lan quy định: Anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thuộc hàng thừa kế sau của anh, chị, em cùng cha cùng mẹ. Pháp luật Nhật Bản lại quy định anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha chỉ được hưởng kỷ phần bằng 1/2 của anh, chị, em cùng cha mẹ đối với người để lại thừa kế. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Hàng thừa kế thứ hai không bao gồm anh, chị em nuôi như trong một số văn bản về thừa kế giai đoạn trước quy định và cũng không bao gồm cháu nuôi. Con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với cha mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với những người con khác của người nhận con nuôi. Cha mẹ của người nhận con nuôi cũng không có quyền thừa kế của người con nuôi đó. Như vậy, pháp luật không công nhận quan hệ thừa kế giữa những người mà theo cách gọi trong dân gian là anh, chị, em nuôi với nhau, ông bà nuôi với cháu nuôi. Điều này là hợp lý bởi quan hệ con nuôi chỉ phát sinh do sự kiện nhận nuôi con nuôi. Quan hệ đó chỉ có ý nghĩa đối với người nhận nuôi và người được nhận nuôi mà không làm ảnh hưởng tới những người thân thích khác trong gia đình của người nhận nuôi con nuôi.
2.3.3. Hàng thừa kế thứ ba
Hàng thừa kế thứ ba bao gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Ở hàng thừa kế thứ ba: Bề trên có các cụ nội, ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột; bề dưới có các cháu ruột là con của anh, chị, em ruột và các chắt của người để lại di sản.
Trong hàng thừa kế thứ ba có mối quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ và có những người không thuộc đại diện đương nhiên của nhau. Phạm vi những người hưởng di sản được mở rộng thêm với quy định những người có quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ xa hơn được hưởng di sản thừa kế của nhau. Điều này thể hiện sự bảo vệ ở mức cao hơn quan hệ huyết thống trong phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Quy định người thừa kế được hưởng di sản không phân biệt huyết thống về bên nội hay bên ngoại thể hiện sự tiến bộ của pháp luật hiện hành về thừa kế của nước ta.
Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột – những người là anh, chị, em ruột của cha, mẹ người để lại di sản, mặc dù thông thường không thuộc chung một gia đình với người để lại di sản, không có nghĩa vụ nuôi dưỡng luật định với người để lại di sản nhưng là người có quan hệ thân thích bàng hệ với người đó.
Cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột – ngược lại, là con của anh, chị, em ruột người để lại di sản. Nếu anh, chị, em ruột là những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai thì con của họ được xếp vào hàng thừa kế thứ ba là hợp lý. Thực tế họ không thể cùng cha, mẹ mình là những người có quan hệ gần gũi hơn với người chết đồng thời nhận di sản.
Cụ nội, cụ ngoại của người chết; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Tại hàng thừa kế thứ ba, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bổ sung đối tượng được thừa kế là các chắt của người chết mà người chết là các cụ nội, ngoại. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng quy định như vậy là không cần thiết vì trên thực tế cụ và các chắt có khoảng cách về độ tuổi khá lớn, thường không trực tiếp nuôi dưỡng nhau. Di sản của cụ để lại đến thế hệ chắt thì sự chia nhỏ tài sản là rất lớn. Ngược lại, di sản của chắt được phân chia tới các cụ cũng là điều rất ít xảy ra bởi khó có trường hợp chắt lại chết trước cụ và bản thân các cụ nếu có thực tế nhận di sản của chắt thì ý nghĩa kinh tế của di sản là không đảm bảo. Quan điểm như vậy không thực sự hợp lý bởi không phù hợp với truyền thống Việt Nam: lá lành đùm lá rách, yêu thương nhau, không phù hợp với tình hình xã hội Việt Nam hiện đại và xa rời mục đích cơ bản của thừa kế là tài sản của thế hệ trước để lại thế hệ sau.
Qua phân tích về các hàng thừa kế, ta nhận thấy Luật Dân sự hiện hành điều chỉnh hàng thừa kế trong phạm vi từ Cụ đến Chắt (đều thuộc hàng thừa kế thứ ba của nhau) và không quy định xa hơn là xuất phát từ thực tế tuổi thọ của con người. Đồng thời, việc mở rộng hàng thừa kế nhằm tránh di sản thừa kế nằm trong tay Nhà nước, di sản phải được chia hết trong dòng tộc, mục đích nhằm củng cố và bảo hộ triệt để hơn nữa quyền lợi những người trong dòng tộc.
2.3.4. Trình tự hưởng di sản theo hàng
Pháp luật phân chia ba hàng thừa kế như vậy đồng thời cũng quy định rõ về trình tự hưởng di sản theo hàng thừa kế.
Khoản 3 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
Theo quy định của pháp luật, người thừa kế phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế, vì vậy, nếu không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất do họ đã chết hoặc chưa chết nhưng không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản thì việc phân chia di sản theo hàng đó không thể thực hiện được mà phải tính đến việc chia thừa kế cho những người ở hàng thừa kế thứ hai và tương tự đến hàng thừa kế thứ ba.
Như vậy, các hàng thừa kế nói trên được hưởng di sản theo nguyên tắc: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang bằng nhau, hàng gần loại trừ hàng xa và không thể có hai người thừa kế ở hai hàng khác nhau cùng được hưởng di sản theo pháp luật.
2.4. THỪA KẾ THẾ VỊ Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Theo quy định, người thừa kế là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế. Như vậy, nếu con chết trước cha, mẹ thì họ không được hưởng di sản của cha mẹ mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho những người thân gần gũi trong gia đình thì Pháp lệnh Thừa kế đã quy định tại Điều 26 và Bộ luật Dân sự năm 1995 đã cụ thể hóa tại Điều 680 như sau: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống” [24]. Những trường hợp này được gọi là thừa kế thế vị.
Tại Bộ luật Dân sự năm 2005, vấn đề thừa kế thế vị đã có sự bổ sung, hoàn thiện hơn tại Điều 677 như sau:
Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [27].
Như vậy, thừa kế thế vị theo Bộ luật Dân sự năm 2005 được hiểu là việc cháu hoặc chắt thay thế người cha hoặc người mẹ hoặc ông nội, ngoại hoặc bà nội, ngoại đã chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ để hưởng di sản của người là ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại chết sau hoặc chết cùng vào một thời điểm với cha, mẹ hoặc ông, bà nội, ngoại của cháu. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ: Ông A chết năm 2000 không để lại di chúc. Cha mẹ và vợ ông A đều đã chết trước đó. Ông có 2 người con là B và C. B có 2 người con là D, E. Tuy nhiên, B lại chết cùng thời điểm với ông A. Như vậy, D và E là cháu ông A được thay bố mình là B nhận 1/2 di sản thừa kế theo pháp luật do ông A để lại. Phần di sản mà D va E được nhận bằng phần di sản mà C được thừa kế.
Quan hệ thừa kế theo hàng nói chung và quan hệ thừa kế thế vị nói riêng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan hệ thừa kế thế vị về bản chất không phải là quan hệ thừa kế theo trình tự hàng nhưng có liên quan mật thiết với thừa kế theo hàng thừa kế. Hàng thừa kế là căn cứ để xác định quan hệ thừa kế thế vị trong trường hợp con của người để lại di sản là người được hưởng thừa kế theo hàng nhưng đã chết trước hoặc chết vào cùng một thời điểm với người để lại di sản. Những người thừa kế thế vị chỉ được hưởng chung một suất thừa kế được chia theo pháp luật mà người được thừa kế theo hàng được hưởng nếu còn sống nhưng đã chết trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với người để lại di sản. Trong ví dụ trên: Nếu ông A để lại khối di sản là 200 triệu đồng, D và E được thay bố mình là B nhận 1/2 di sản, tức là 100 triệu. Sau đó D và E chia đôi số di sản đã nhận thay cho bố, mỗi người được hưởng 50 triệu.
Quy định về thừa kế thế vị trong Bộ luật Dân sự năm 2005 là nhằm bảo vệ quyền lợi của các cháu, các chắt của người để lại di sản một cách trực tiếp trong trường hợp cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt lại chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc các cụ nội, ngoại, tránh tình trạng di sản của ông bà nhưng các cháu không được hưởng, lại để cho ngươi khác hưởng. Như vậy, thừa kế thế vị bảo tồn được truyền thống và đạo lý trong quan hệ giữa những ngươi thân thuộc nhất của người để lại di sản đã và đang được thừa nhận ở Việt Nam.
Thừa kế thế vị không những chỉ phát sinh giữa những người có quan hệ huyết thống mà còn phát sinh giữa những người chỉ có quan hệ nuôi dưỡng, yêu thương nhau. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì con riêng của vợ hoặc của chồng với cha kế, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế theo pháp luật của nhau và các con của họ còn được thừa kế thế vị theo Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005. Quy định này thể hiện tính nhân đạo nhằm giáo dục tình nhân ái trong quan hệ giữa những thành viên trong gia đình, mặc dù giữa họ không có huyết thống. Quy định như vậy là phù hợp với thực tế của đời sống xã hội.
Có thể nhận thấy, những căn cứ xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005 như phân tích ở trên thể hiện rõ nguyên tắc mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế và nguyên tắc củng cố, giữ vững tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình – hai trong số các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế Việt Nam. Xuất phát từ mục đích xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, trong đó mọi người thương yêu, giúp đỡ nhau, quy định về hàng thừa kế khoa học, phù hợp hơn đã giúp cho tinh thần đoàn kết, tương trợ giữa những người trong gia đình được giữ vững và phát huy. Đặc biệt, sự mở rộng diện thừa kế theo số lượng hàng thừa kế, các quy định về hàng thừa kế liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, người già yếu, cô đơn… đã thể hiện bản chất nhân đạo và tiến bộ của pháp luật thừa kế nước ta. Luận văn: Thực trạng diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tiến bộ, hợp lý như đã phân tích, những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005 không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại nhất định. Điều đó đòi hỏi chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung kịp thời để các quy định về diện và hàng thừa kế được hoàn thiện và sát thực hơn, đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của đời sống kinh tế, xã hội nói chung và giao lưu dân sự nói riêng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật
