Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục của huyện Đắk Glong
2.1.1. Đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình kinh tế – xã hội
Đắk Glong là một huyện nghèo của tỉnh Đắk Nông, huyện được thành lập theo Nghị định 82/2011/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ huyện Đắk Nông cũ. Đắk Glong nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Nông, giáp với các huyện Lắk ở phía Đông Bắc, Đam Rông ở phía Đông, Lâm Hà ở phía Đông Nam, Di Linh và Bảo Lâm ở phía Nam, Đắk R’lấp và thị xã Gia Nghĩa ở phía Tây Nam, Đắk Song ở phía Tây và Krông Nô ở phía Bắc.
Huyện Đắk Glong có tổng diện tích tự nhiên là 144.776,02 ha, toàn huyện có 07 đơn vị hành chính cấp xã (06/07 là xã đặc biệt khó khăn, 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới) với 61 thôn, bon (trong đó, có 30 bon đông đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ). Dân số trên toàn huyện là 16.891 hộ, với 72.933 nhân khẩu (theo kết quả điều tra hộ nghèo năm 2026), trong đó: đồng bào dân tộc thiểu số có 8.925 hộ, với 43.620 khẩu, chiếm gần 60% và có 30 dân tộc cùng sinh sống; số hộ nghèo của huyện là 4.662 hộ, 24.571 khẩu, chiếm tỷ lệ 27,6 %, trong đó hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số là 3.821 hộ, 20.883 khẩu, chiếm 81,96% tổng số hộ nghèo. Hộ cận nghèo trên địa bàn huyện là 1.642 hộ, với 8.448 khẩu, chiếm 9,72%. Số hộ dân sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm trên 80%, còn lại là lao động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, dân dụng, tiểu thương, có mức thu nhập thấp.
Có thể nói nếu so với mặt bằng chung của cả nước, điều kiện kinh tế – xã hội còn thấp. Bởi lẽ, huyện có địa hình phức tạp, có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, nhiều phong tục tập quán lạc hậu còn tồn tại, người dân chủ yếu là thuần nông, trình độ dân trí thấp. Xuất phát điểm kinh tế chậm phát triển, nền kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp còn mang tính tự cung tự cấp, chưa quen với phương thức sản xuất hàng hóa. Các tiềm năng về khoáng sản, đất, lao động, du lịch chưa được đầu tư khai thác, sử dụng chưa có hiệu quả, tất cả các yếu tố đó đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển giáo dục. [40].
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục huyện Đắk Glong Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Sau 16 năm xây dựng và phát triển, ngành giáo dục và đào tạo huyện Đắk Glong cũng đạt được nhiều thành tựu quan trong như:
Kết thúc năm học 2025-2026 toàn huyện 7/7 xã có đầy đủ các cấp học từ mầm non đến trung học cơ sở, có 40 đơn vị trường học gồm: bậc học mầm non 16 trường (03 trường tư thục); có 11 trường tiểu học, 03 trường tiểu học và trung học cơ sở; 07 trường trung học cơ sở, 02 trường trung học phổ thông, 01 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông; được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục – xóa mù chữ mức độ 1 vào năm 2015, có 06 trường đạt chuẩn quốc gia: 02 trường trung học cơ sở, 02 trường tiểu học và 02 trường mầm nom, hệ thống trường lớp được đầu tư xây dựng theo các chương trình dự án của huyện nghèo. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên từng bước ổn định [40].
Trong những năm gần đây, trên cơ sở các văn bản của BGDĐT, của Sở Giáo dục đào tạo, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông, UBND huyện đã chỉ đạo ngành giáo dục và đào tạo huyện, đẩy mạnh, phát hiện, đào tạo bồi dưỡng nhân tài, cải tiến kiểm tra đánh giá, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý. Chất lượng giáo dục đã chuyển biến, học sinh có đạo đức, tác phong, ý thức trong việc tham gia các phòng trào, tham gia các hoạt động xã hội. Chất lượng mũi nhọn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Số học sinh tham gia các hội thi, kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia tăng cả về số lượng và chất lượng.
Mặt khác, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục xây dựng bồi dưỡng cho đội ngũ nhà giáo, tạo điều kiện cho đội ngũ nhà giáo tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống. Qua đó đội ngũ viên chức toàn ngành giáo dục được nâng cao về chất lượng, tiếp tục được kiện toàn và bổ sung về số lượng, đảm bảo đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (Bảng 2.7 phụ lục số 1). Như vậy, nhìn chung về chất lượng đội ngũ nhà giáo tỷ lệ đạt chuẩn 95%, trên chuẩn là 61,3%. Đây là điều kiện cần thiết, là nền tảng để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục, là cơ sở để phát triển đội ngũ nhà giáo của huyện nhà.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất trường học đã được các cấp quan tâm đầu tư. Từ năm học 2022-2023 đến nay Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện đã tham mưu các cấp trong công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị dạy học với tổng kinh phí hơn 70,5 tỷ đồng (xây dựng 14 phòng cho các trường mầm non, 28 phòng cho các trường tiểu học, xây dựng mới cho 02 trường trung học cơ sở theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.
Sự nghiệp giáo dục, đào tạo có bước khởi sắc đáng kể, chất lượng dạy và học ở tất cả các bậc học ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục và đạo tạo. Mạng lưới trường lớp không ngừng được đầu tư xây dựng với 40 trường học từ bậc mầm non đến trung học phổ thông, 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên và Nghề nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho con em trong huyện đến học tập. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của huyện nhà. Hiện nay, có 100% cán bộ quản lý đạt chuẩn về trình độ đào tạo (trong đó 78% trên chuẩn); 95% giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở đạt chuẩn về trình độ đạo tạo (trong đó 61,3% trên chuẩn) Đảng viên là cán bộ giáo viên, nhân viên chiếm 45,5% độ ngũ. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Kỉ cương học đường tiếp tục được duy trì, các tệ nạn xã hội được ngăn chặn không để xâm nhập vào trường học, môi trường giáo dục được đảm bảo cho sự phát triển toàn diện nhân cách của học sinh.
Thực hiện tốt công bằng xã hội trong giáo dục, quan tâm đúng mức tới sự phát triển giáo dục ở những vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Thực hiện tốt chương trình giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực đối với phong trào xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, với việc hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sơ, với phòng trào khuyến học, khuyến tài ở địa phương.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục huyện Đắk Glong còn bộc lộ những hạn chế:
- Chất lượng giáo dục giữa các vùng chưa đồng đều, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và đời sống của học sinh còn hạn chế.
- Công tác quản lý giáo dục, phương pháp dạy học ở các trường chậm được đổi mới; năng lực quản lý của một số cán bộ quản lý còn chưa năng động linh hoạt; công tác xã hội hóa giáo dục ở một số địa phương làm chưa tốt.
- Cơ sở vật chất của các trường mầm non, mẫu giáo còn rất yếu, kinh phí giáo dục đầu tư cho hoạt động chăm sóc giáo dục, mua sắm trang thiết bị dạy học hằng năm còn rất thấp so với thực tế.
2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục mầm non huyện Đắk Glong
- Quy mô phát triển giáo dục mầm non
- Bảng 2.1. Thống kế quy mô phát triển giáo dục mầm non
Toàn huyện có 13 trường mầm non công lập, trung bình mỗi xã có một trường, riêng xã Quảng Sơn có 03 trường: trường mẫu giáo Họa Mi, trường mẫu giáo Sơn Ca, trường mẫu giáo Hoa Pơ Lang. Số nhóm lớp, số trẻ đặc biệt là tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đến lớp ngày càng tăng. Như vậy, với quy mô phát triển hiện nay, giáo dục mầm non huyện Đắk Glong cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ và đáp ứng tốt nhu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Song vẫn có nhiều trường có quá nhiều điểm lẻ (như Trường mẫu giáo Họa Mi xã Quảng Sơn có tới 05 điểm trường, trường mẫu giáo Hoa Lan xã Đắk R’măng có 05 điểm trường, trường mẫu giáo Hoa Đào xã Đắk Som có 05 điểm trường). Trong khi các trường vùng thuận lợi tỷ lệ trẻ/lớp vượt quá so với Điều lệ trường mầm non, thì ở các trường vùng khó khăn không đảm bảo tỷ lệ trẻ/lớp phải dạy lớp ghép 2-3 độ tuổi. Những vấn đề đó không chỉ ảnh làm hưởng đến chất lượng thực hiện chương trình giáo dục mầm non mà còn ảnh hưởng đến việc bố trí sắp xếp đội ngũ giáo viên đứng lớp và công tác chỉ đạo chuyên môn của Phòng Giáo dục và Đào tạo.
- Chất lương chăm sóc giáo dục trẻ Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
- Bảng 2.2. Thống kê chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng
Toàn huyện có 11/13 trường mầm non tổ chức bán trú với 54 nhân viên cấp dưỡng, trong đó 100% nhân viên cấp dưỡng được đào tạo về kĩ thuật chế biến món ăn. Tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường ngày càng cao; 6/13 trường có nhân viên y tế học đường, công tác khám sức khỏe cho trẻ chưa được thực hiện đúng theo quy định, đa số trẻ được theo dõi sức khỏe bằng biểu đồ phát triển. Chất lượng bán trú được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng được giảm đáng kể qua từng năm. Tuy nhiên tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở các trường mầm non trên địa bàn huyện Đắk Glong vẫn cao so với mặt bằng chung toàn tỉnh Đắk Nông. Một số bếp ăn chưa đảm bảo theo quy định ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức bán trú tại trường. Đời sống nhân viên cấp dưỡng không ổn định, mức lương thấp, chủ yếu phụ thuộc vào sự đóng góp từ phụ huynh. Mức ăn của trẻ ở một số vùng còn thấp (từ 7.000-10.000đ/ngày/trẻ), còn chênh lệch với giá cả thị trường nên chưa đáp ứng các yêu cầu tối thiếu về chất lượng calo cần thiết trong ngày/trẻ.
- Bảng 2.3. Thống kê chất lượng giáo dục mầm non
Hiện nay, 100% các trường mầm non trên địa bàn huyện Đắk Glong áp dụng chương trình giáo dục mầm non lấy trẻ làm trung tâm, 100% giáo viên được tập huấn và thực hiện phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, vùng miền địa phương, nhiều giáo viên năng động, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Các trường đã triển khai và thực hiện có hiệu quả Bộ công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ 5 tuổi, thiết lập và xậy dựng bộ công cụ đánh giá theo từng tiêu chí phù hợp với đối tượng học sinh. Khai thác và sử dụng có hiệu quả phần mềm Kidsmart. Giáo viên đã chú trọng việc giáo dục và dạy kĩ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, trẻ thực sự có nhiều cơ hội tham gia trải nghiệm khám phá, tìm tòi, qua đó nhân cách của trẻ dần được hình thành và phát triển tốt. Bên cạnh đó các trường còn từng bước hình thành và giáo dục trẻ khả năng tự phục vụ trong các sinh hoạt hằng ngày của bản thân, chuẩn bị cho trẻ tâm thế sẵn sàng vào lớp 1. Mặc dù vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy trẻ làm trung tâm ở một số trường vùng sâu, vùng xa còn khó khăn thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ còn có sự chênh vênh giữa các vùng miền trên địa bàn huyện Đắk Glong. Mặt khác, đa số trẻ em dân tộc H’Mông ở các trường: MG Quảng Hòa xã Quảng Hòa, MG Hoa Pơ Lang xã Quảng Sơn, MG Hoa Lan xã Đắk R’măng, MG Hoa Đào, Đắk Nang thuộc xã Đắk Som,… còn chưa biết tiếng phổ thông. Do đó, công tác chăm sóc giáo dục các cháu ở những vùng này còn hạn chế.
Hằng năm Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu cho UBND huyện kế hoạch tuyển sinh, kế hoạch phát triển bậc học mầm non với lộ trình và bước đi cụ thể, trên cơ sở khảo sát, đánh giá đúng thực trạng của địa phương đề ra các mục tiêu phát triển phù hợp. Vì vậy thời gian qua, những chính sách phù hợp trong việc xây dựng và tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục mầm non huyện Đắk Glong. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Bên cạnh đó, cấp học mầm non huyện Đắk Glong luôn được sự quan tâm chỉ đạo có hiệu quả của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Nông. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên không ngừng được nâng lên, Tỷ lệ đội ngũ có trình độ đào tạo trên chuẩn khá cao.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên đã có chuyển biến rõ nét về nhận thức, có phẩm chất đạo đước tốt, tác phòng mẫu mực. Có ý thức trách nhiệm với công việc được phân công; đảm bảo uy tín, chất lượng trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ; tạo được niềm tin ở phụ huynh và các cấp ủy Đảng.
Trong năm 2025 ngành giáo dục huyện Đắk Glong đã tuyển dụng được hơn 120 giáo viên mầm non mới nhằm từng bước khắc phục tình trạng thiếu giáo viên trong những năm gần đây.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì cấp học mầm non huyện Đắk Glong vẫn còn gắp nhiều khó khăn hạn chế sau:
Là huyện nghèo có tỷ lệ dân di cư tự do đến cao, tỷ lệ sinh nở ở một số vùng đồng bào dân tộc H’ Mông như Quảng Hòa, Đắk Rmăng, Đắk Nang còn cao. Do đó, hằng năm số trẻ em có nhu cầu ra lớp là rất lớn. Tuy nhiên, với số lượng giáo viên hiện có thì ngành giáo dục huyện nhà cũng chỉ tuyển được số trẻ từ 4 – 5tuổi; 5-6 tuổi đến trường, số còn lại các cháu từ 3-4 tuổi và trong độ tuổi nhà trẻ có nhu cầu đi học nhưng không được đến trường (vì thiếu giáo viên).
Với đặc thù là huyện có dân di cư tự do đến cao, đa số dân số là người dân tộc thiểu số (76%) tỷ lệ hộ nghèo cao (56,2%) trình độ dân trí còn thấp và tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự bao cấp nói chung và giáo dục nói riêng vẫn còn nhiều ở một số xã có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Đặc biệt là ở các xã cách xa trung tâm như Quảng Hòa, Đắk Nang, Đắk Rmăng nên một bộ phận không nhỏ phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em làm ảnh hưởng đến công tác phổ cập giáo dục và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị cho giáo dục mầm non thường xuyên được đầu tư, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu tăng lên hằng năm và chỉ đạt mức tối thiểu so với quy định, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Công tác quy hoạch và phát triển cấp học còn nhiều hạn chế, chậm được khắc phục, diện tích đất của một số trường không đáp ứng với quy mô phát triển số lượng trẻ trên địa bàn, vì vậy tỷ lệ huy động trẻ đến trường còn thấp. Môi trường cảnh quan sư phạm chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, thiếu cây canh bóng mát, thiếu thiết bị đồ dùng, đồ chơi so với quy định. Mặt khác một số công trình được đầu tư trước đây chưa có công trình vệ sinh khép kín nên ảnh hưởng đến công tác vệ sinh môi trường và phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Hệ thống phòng học, phòng chức năng ở một số trường đang xuống cấp, thậm chí có nhiều trường học không có phòng chức năng nên ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
Hiện nay toàn huyện mới chỉ có 11/13 trường có bếp ăn bán trú còn 02 trường chưa có bếp ăn bán trú là trường MG Quảng Hòa xã Quảng Hòa và trường MG Hoa Lan xã Đăk R’măng. Do đó, cũng ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ. Bên cạnh đó cũng còn một số trường chưa được đầu tư bếp ăn một chiều nên cũng phần nào ảnh hưởng đến vấn đề an toàn thực phẩm trong nuôi dưỡng trẻ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
2.2.1. Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
- Mục tiêu
Đánh giá thực trạng việc quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất nâng cao hiệu quả quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Nội dung
Nội dung khảo sát thực trạng tập trung vào hai vấn đề chính: thứ nhất là các nội dung quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia: Lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện; Chỉ đạo thực hiện; Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Thứ hai là các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Nội dung khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
- Đối tượng khảo sát
- Bảng 2.4. Đối tượng tham gia khảo sát thực trạng
2.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp
- Mục tiêu
Sử dụng các dữ liệu thứ cấp (các biên bản họp của Phòng Giáo dục đào tạo liên quan đến xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Đắk Glong, các báo cáo tổng kết của phòng giáo dục về công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, báo cáo của các trường mầm non về quá trình xây dựng trường mầm đạt chuẩn quốc gia, hồ sơ của các trường mầm non trong quá trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia …) để đánh giá kết quả phát triển giáo dục mầm non và xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Nội dung
Tìm hiểu quá trình xây dựng báo cáo tự đánh giá của các trường mầm
Các nội dung liên quan trong báo cáo tự đánh giá và các tiêu chuẩn đạt được theo 5 tiêu chuẩn của thông tư 19/TT-BGDĐT.
Các nội dung báo cáo của các trường theo Công văn số 5942/BGDĐT- QLCL về việc hướng dẫn tự đánh giá và đánh giá ngoài trường mầm non, ban hành ngày 28 tháng 12 năm 2024 của Bộ Giáo dục đào tạo.
2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu định lượng Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
- Mục tiêu
Phân tích dữ liệu thu được để chỉ ra thực trạng vấn đề nghiên cứu trên thực tiễn quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Nội dung
Các phép thống kê mô tả được áp dụng để phân tích thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông gồm số lượng, tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình.
- Xử lý số liệu khảo sát
Nhận, kiểm tra phiếu khảo sát có hợp lệ hay không, phiếu hợp lệ là những phiếu trả lời đầy đủ các câu hỏi, loại bỏ các phiếu chỉ trả lời một phương án khảo sát. Sau đó, phân loại các loại phiếu theo đối tượng khảo sát, nhập vào bảng tính excel, thống kê số lượng trả lời từng phương án theo từng câu theo từng đối tượng khảo sát, cuối cùng sử dụng công thức tính điểm trung bình và tỷ lệ phần trăm như sau:
- Thang đánh giá
Các mức độ đánh giá được khảo sát trong luận văn như sau:
- Xử lý số liệu bằng cách tính điểm trung bình các lần khảo sát như sau
- Tốt (Rất quan trọng): 4 điểm; Khá (Quan trọng): 3 điểm;
- Trung bình (Ít quan trọng): 2 điểm Yếu (Không quan trọng): 1 điểm
- Điểm trung bình chung (TBC) ký hiệu X ,YTBC ( Y , X )= (T/CT*4)+(K/ÍtCT*3)+(TB/KhôngCT*2)+(Y/Không CT*1) N
- Thang điểm của 4 mức độ cách nhau: 1.0 điểm
- Từ 0 điểm đến 1.0 điểm: Yếu trọng.
- Từ 1.01 đến 2.0 điểm: Trung bình
- Từ 2.01 đến 3.0 điểm: Khá
- Từ 3.01 đến 4.0 điểm: Tốt
- Mức độ thực hiện: Tốt/ Khá/ Trung bình/ Kém.
- Mức độ quan trọng: Rất quan trọng/ Quan trọng/ Ít quan trọng/ Không quan
- Mức độ thường xuyên: Rất thường xuyên/ Thường xuyên/ Ít thường xuyên/ Không thường xuyên.
- Nhận thức về mức độ ảnh hưởng: Rất ảnh hưởng/ảnh hưởng/Ít ảnh hưởng/ Không ảnh hưởng.
2.3 Thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia huyện Đắk Glong Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
2.3.1. Quá trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Sau ngày thành lập huyện năm 2011, là thời gian áp dụng Quyết định 36/2014/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2014 về việc ban hành quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, để thực hiện kế hoạch xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian đầu chia tách huyện điều kiện kinh tế ngân sách, KT-XH còn nhiều khó khăn vất vả, khi mới chia tách ra chỉ mới được 01 trường mẫu giáo duy nhất, đó là trường mẫu giáo Hoa Hồng. Huyện Đảng bộ xác định nhiệm kỳ đầu tiên giai đoạn 2011-2016 là giai đoạn hình thành và phát triển về số lượng trường, lớp, số lượng học sinh; Và giai đoạn này đã phát triển được 8/8 trường mầm non, mẫu giáo công lập.
Giai đoạn, nhiệm kỳ 2016-2021 là giai đoạn tiếp tục phát triển số lượng, chất lượng và khởi đầu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Phòng Giáo dục đào tạo huyện Đắk Glong đã xem việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia là chủ trương lớn mang tính chiến lược của ngành nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới. UBND huyện Đắk Glong đã thành lập Ban chỉ đạo để thực hiện lộ trình này theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện các nhiệm kỳ. Giai đoạn này áp dụng Thông tư 02/2020/TT- BGDĐT ngày 08/02/2020 của Bộ Giáo dục đào tạo ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Ngành Giáo dục đào tạo huyện và các trường xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của bậc mầm non. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện xây dựng trường chuẩn quốc gia ở huyện Đắk Glong còn chậm, kết quả là phát triển được thêm 02 trường mẫu giáo, công nhận được 1/10 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 10% so tổng số trường mầm non trên toàn huyện.
Năm 2011 khi mới thành lập, huyện chỉ có 01 trường ở 01 xã trung tâm huyện với 07 lớp, 06 xã còn lại có 11 lớp với 277 cháu. Qua 14 năm, hình thành, xây dựng và phát triển huyện Đắk Glong. Đến nay năm 2027, tổng số trường: 13 trường mầm non, mẫu giáo công lập, số lượng học sinh tăng lên có tổng số hơn 4.700 trẻ đến lớp. Giai đoạn này ngành tiếp tục thực hiện theo Thông tư 19/TT- Giáo dục đào tạo ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Bộ Giáo dục đào tạo Ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục và đạt chuẩn quốc gia đối với trường mầm non.
Tất cả đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên đều học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Phòng GD&ĐT tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên đi đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực quản lý, tổ chức nuôi dạy trẻ được đánh giá cao. Học sinh được học tập trong môi trường thuận lợi. Do đó, tinh thần học tập vui chơi và rèn luyện thể lực của trẻ ở các trường đạt cao hơn hẳn. Các trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2016-2021 tiếp tục duy trì, bổ sung hoàn thiện cao hơn nhằm giữ vững danh hiệu trường đạt chuẩn quốc gia, và tiếp tục xây dựng chuẩn ở mức độ 2, trường chưa đạt chuẩn từng bước phấn đấu đạt chuẩn. Đến nay trên toàn huyện chỉ mới có 2/13 trường đạt chuẩn quốc gia đạt tỷ lệ 15,4%. Có 11/13 trường chưa đạt chuẩn quốc gia chiếm tỷ lệ 84,6%. Có 02 trường đăng ký phấn đấu đạt chuẩn quốc gia vào năm học 2027-2022. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Qua kiểm tra, khảo sát đối chiếu với 5 tiêu chuẩn xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục đào tạo ban hành cho thấy 11 trường mầm non, mẫu giáo còn lại đã đạt được các chuẩn cụ thể như sau:
- Tiêu chuẩn 1: 6/11 trường, đạt tỷ lệ 55%
- Tiêu chuẩn 2: 7/11 trường, đạt tỷ lệ 64%
- Tiêu chuẩn 3: 5/11 trường, đạt tỷ lệ 45%
- Tiêu chuẩn 4: 9/11 trường, đạt tỷ lệ 82%
- Tiêu chuẩn 5: 7/11 trường, đạt tỷ lệ 64%
Tóm lại, công tác xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia đã có những bước chuyển biến tích cực.
2.3.2. Thực trạng việc lập kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Đắk Glong lần thứ IV; căn cứ Báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Đắk Glong (2026) báo cáo phát triển giáo dục, đào tạo và dự toán ngân sách nhà nước năm 2027 và kế hoạch 5 năm 2027-2035 trên địa bàn huyện Đắk Glong; Căn cứ Kế hoạch số 06-KH/UBND, Kế hoạch xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia huyện Đắk Glong giai đoạn 2027-2035 và tầm nhìn đến 2040, ban hành ngày 22/12/2026; Căn cứ Tờ trình số 41/TTr-UBND, tờ trình về việc thông qua kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2027-2035 nguồn ngân sách huyện. Ban hành ngày 23 tháng 7 năm 2027.
Qua thực tế khảo sát cho thấy, phòng Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành điều tra, khảo sát tình hình thực tế các trường mầm non, mẫu giáo trong toàn huyện, đối chiếu với 5 tiêu chuẩn xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia do Bộ Giáo dục đào tạo quy định, từ đó:
Xây dựng kế hoạch quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia theo từng năm học và từng giai đoạn cụ thể theo các tiêu chuẩn quy định; quy hoạch mạng lưới trường lớp, hệ thống trường học được phân bố trên địa bàn hợp lý; kế hoạch phát triển giáo dục đáp ứng việc học tập của trẻ, phù hợp với việc phân bổ dân cư lâu dài, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Có kế hoạch đầu tư trọng điểm về cơ sở vật chất như xây dựng phòng học, phòng chức năng, khối phục vụ học tập, khối phòng tổ chức ăn, khối phòng hành chính quản trị, sân vườn, công trình nước sạch và vệ sinh… đảm bảo theo yêu cầu tiêu chuẩn; trang bị đầy đủ bàn ghế, bố trí trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi hợp lý cho các trường góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở các trường.
Có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý giáo dục và trình độ lý luận chính trị cho cán bộ quản lý và giáo viên nguồn các trường mầm non, mẫu giáo trong huyện.
Để tìm hiểu thực trạng công tác lập kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả tiến hành khảo sát tìm hiểu đánh giá thực tế việc xây dựng kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia với bốn mức độ: Đã thực hiện tốt, Đã thực hiện ở mức khá; Đã thực hiện ở mức trung bình; Đã thực hiện ở mức mức kém.
Về đánh giá thực tế việc xây dựng kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia thì có 24% đánh giá đã thực hiện tốt; 46% đánh giá khá; 27% có đánh giá mới thực hiện đạt ở mức trung bình và đánh giá ở mức kém là 3%.
- Biểu đồ 2.1. Đánh giá về hiệu quả của việc lập kế hoạch quản lý xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc gia
Đa số cán bộ quản lý và giáo viên cho rằng việc lập kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là cần thiết, qua phỏng vấn một số cán bộ quản lý và giáo viên đều cho rằng việc lập kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là cần thiết và nội dung kế hoạch mang tính khả thi, các biện pháp thực hiện trong kế hoạch phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường và các nội dung kế hoạch đã cụ thể hóa các tiêu chuẩn trong xây dựng trường MN ĐCQG. Tuy nhiên, về nội dung thể hiện tầm nhìn dài hạn trong kế hoạch và nội dung huy động các lực lượng trong và ngoài trường tham gia xây dựng kế hoạch còn là khâu yếu và chưa được đánh giá, quan tâm đúng mức. Do đó, khi xây dựng kế hoạch đây cũng là các nội dung cần được quan tâm xây dựng và triển khai trong quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Đắk Glong trong thời gian tới.
2.3.3. Thực trạng quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Đối với nội dung tổ chức thực hiện xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia qua khảo sát cho thấy phòng giáo dục đã tổ chức tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong Đảng bộ, chính quyền và toàn thể các tập thể, cá nhân có liên quan nhằm thống nhất chủ trương và cùng với ngành giáo dục đầu tư xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
Có kế hoạch phối hợp với phòng Tài chính – Kế hoạch, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Kinh tế – Hạ tầng, Trung tâm phát triển quỹ đất quy hoạch mở rộng diện tích và cân đối kinh phí để xây dựng trường mầm non đạt chuẩn.
Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Ủy ban nhân dân huyện thành lập Ban chỉ đạo xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cấp huyện; xác định những nội dung công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, bộ phận trong Ban chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý xây dựng trường đạt chuẩn một cách thuận lợi và hợp logic.
Tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2026-2035 và định hướng đến 2040 của Ủy ban nhân dân huyện đến Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Chủ tịch Công đoàn các trường mầm non, mẫu giáo. Giao nhiệm vụ cho Hiệu trưởng các trường mầm non, mẫu giáo có trách nhiệm quan tâm đầu tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.
- Bảng 2.5. Thực trạng quản lý công tác tổ chức thực hiện hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Qua kết quả khảo sát ở bảng trên cho thấy đa số Cán bộ quản lý, GV đều đánh giá khá tốt các nội dung trong việc lập kế hoạch quản lý xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc gia của phòng Giáo dục đào tạo. Bên cạnh đó, vẫn còn một số Cán bộ quản lý,GV chưa đồng tình hoặc đánh giá thấp các nội dung trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở các nội dung như cơ chế phối hợp, chuẩn bị nguồn lực và khen thưởng, xử lý kịp thời những tập thể, cá nhân khi thực hiện (có tỷ lệ đánh giá mức độ chưa đạt lần lượt là: 41%; 39%; 42%). Như vậy, muốn công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia thì chủ thể quản lý bên cạnh các nội dụng đã triển khai thì cần có cơ chế phối hợp cụ thể giữa nhà trường, phòng Giáo dục đào tạo và các lực lượng khác, Chuẩn bị nguồn lực để thực hiện và động viên, khen thưởng, xử lý kịp thời những tập thể, cá nhân trong quá trình thực hiện.
2.3.4. Thực trạng việc chỉ đạo thực hiện xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Để tìm hiểu thực trạng việc chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của của phòng Giáo dục đào tạo đối với các trường mầm non trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả tiến hành khảo sát (phụ lục 1) kết quả được tổng hợp ở bảng bên dưới: Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
- Bảng 2.6. Thực trạng quản lý công tác chỉ đạo thực hiện hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Bảng 2.6 tổng hơp ý kiến đánh giá của đội ngũ Cán bộ quản lý và GV các trường mầm non trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, về thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia qua các nội dung khảo sát ở 5 tiêu chí đánh giá cho thấy Phòng Giáo dục đào tạo đã thực hiện tốt nội dung chỉ đạo các trường thực hiện các nhiệm vụ xây dựng trường MN ĐCQG. Tuy nhiên, ở các nội dung giám sát, hỗ trợ và chỉ đạo công tác thi đua, khen thưởng vẫn còn thực hiện chưa tốt trong công tác chỉ đạo mới đạt tỷ lệ 12%. Do vậy, để việc chỉ đạo thực hiện xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia có hiệu quả thì chủ thể quản lý cần có sự hỗ trợ, giám sát các đơn vị trường MN trong quá trình thực hiện, đồng thời cần quan tâm hơn nữa trong công tác thi đua, khen thưởng nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra.
2.3.5. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra các trường trong việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã đề ra, định kỳ hành năm phòng giáo dục đã tiến hành thành lập nhiều đoàn khảo sát, kiểm tra việc thực hiện quy trình tự đánh giá và đánh giá ngoài trường MN đạt chuẩn quốc gia trên toàn huyện theo 05 tiêu chuẩn của thông tư 19/TT-BGDĐT. Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá mức độ đạt được và chưa đạt được theo từng tiêu chí, tiêu chuẩn mà nhà trường đã thực hiện. Đồng thời, qua đó đoàn kiểm tra cũng có những tư vấn nhằm giúp nhà trường hoàn thiện thêm các loại hồ sơ, minh chứng cho quá trình hoàn thiện hồ sơ tự đánh giá. Bên cạnh đó, thông qua những kết quả đánh giá những tiêu chuẩn đạt và chưa đạt đoàn kiểm tra cũng có những đề xuất với chính quyền địa phương, các ngành, các cấp quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ về nhân lực, vật lực cho nhà trường.
Nhằm đánh giá thực trạng quản lý công tác kiểm tra đánh giá việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của đội ngũ Cán bộ quản lý và GV các trường mầm non trên địa bàn huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông, tác giả tiến hành khảo sát (phụ lục 1) kết quả được tổng hợp ở bảng bên dưới:
- Bảng 2.7. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra các trường trong việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Qua kết quả ở Bảng 2.7 cho thấy đa số các Cán bộ quản lý, GV đều đánh giá khá tốt thực trạng công tác kiểm tra các trường trong việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, ở nội dung rút kinh nghiệm cho các đơn vị khác vẫn còn một tỷ lệ lớn Cán bộ quản lý, GV có nhận định và đánh giá ở mức độ trung bình hoặc thấp. Do đó, vấn đề này cần được chủ thể quản lý xem xét, hoàn thiện trong các nội dung quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
2.3.6. Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
Để tìm hiểu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của đội ngũ Cán bộ quản lý và GV các trường mầm non trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, tác giả tiến hành khảo sát và thông qua kết quả khảo sát thì các yếu tố đều rất ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, do vậy, muốn đạt được mục tiêu thì chủ thể quản lý cần phải có những biện pháp quản lý hợp khoa học quản lý tác động lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đắk Glong
Từ những thực trạng về quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia như đã nêu trên thì có thể đánh giá chung về thực trạng quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông cho thấy những ưu điểm và hạn chế như sau.
2.4.1. Ưu điểm
Từ những thực trạng đã nêu ở trên có thể thể khái quát, đánh giá chung về những ưu điểm trong công tác quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đắk Glong như sau:
- Đã tích cực tham mưu Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện ban hành các Kế hoạch, Nghị quyết, Quyết định về xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia một cách nhanh chóng, tạo cơ sở cho việc chỉ đạo các trường xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện đúng hướng.
- Thường xuyên, tích cực chỉ đạo các trường trong việc quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
- Đã có sự phối hợp với các phòng ban đơn vị trong việc quản lý, chỉ đạo xây dựng các trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, sự phân công, phân nhiệm trong vấn đề xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch xây dựng trường MN đạt chuẩn quốc.
- Đã thường xuyên, tích cực kiểm tra nhằm tư vấn, thúc đẩy các trường trong việc hoàn thiện việc xây dựng các trường MN đạt chuẩn quốc gia.
- Tổ chức quy hoạch cán bộ quản lý cho các trường giai đoạn 2022 – 2026 và giai đoạn 2027 – 2035, tạo điều kiện cho cán bộ quản lý đương chức và giáo viên trong diện quy hoạch tham gia học các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý giáo dục và trình độ lý luận chính trị. Đồng thời, có kế hoạch bồi dưỡng giáo viên theo chu kỳ hằng năm, đặc biệt là có kế hoạch bồi dưỡng để tăng số lượng giáo viên đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo.
- Khảo sát, quy hoạch mở rộng diện tích và dồn các điểm trường, đảm bảo diện bình quân 8m2/trẻ ở thành thị và 12m2/trẻ ở nông thôn cho các trường. Đồng thời, thực hiện quy hoạch mặt bằng tổng thể gồm hạng mục cần đầu tư xây dựng đảm bảo theo yêu cầu tiêu chuẩn. Qua đó, tạo điều kiện cho trẻ ra lớp và trẻ được ăn bán trú ngày càng tăng cao.
2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Bên cạnh những ưu điểm, trong công tác quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Đắk Glong vẫn còn những hạn chế như sau:
- Trước hết, công tác xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia còn chậm hơn nhiều so các huyện khác trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (2/13 trường)
- Công tác chỉ đạo còn có những bất cập: một số trường chưa có kế hoạch dài hạn trong lộ trình xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia.
- Trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở các nội dung vẫn còn chưa có cơ chế phối hợp, chuẩn bị nguồn lực.
- Mặc dù công tác tham mưu của phòng là tích cực; Tuy nhiên, do đặc thù là một huyện nghèo nên việc đầu tư Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, ngay cả các trường đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia cũng cần phải tiếp tục hoàn thiện các hạng mục theo tiêu chuẩn quy định.
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
- Nguyên nhân khách quan
Do có sự thay đổi quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia (Thông tư số 19/TT-BGDĐT ban hành ngày 28 tháng 10 năm 2024 thay thế Thông tư số 02/2020/TT-BGDĐT ngày 08/02/2020) nên trình độ chuyên môn, trình độ quản lý giáo dục và trình độ lý luận chính trị của một số cán bộ quản lý không đáp ứng được Tiêu chuẩn 1 – Tổ chức và quản lý và một số hồ sơ phải thay đổi theo quy định của thông tư mới.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của các trường mầm non, mẫu giáo rất thiếu. Bên cạnh đó một số các trường mầm non có nhiều điểm lẻ nên việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất đạt chuẩn gặp nhiều khó khăn.
- Nguyên nhân chủ quan
Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa làm tốt công tác tuyên truyền để Cấp ủy, chính quyền địa phương, các đoàn thể xã hội, nhân dân và cán bộ, giáo viên một số địa phương chưa nhận thức sâu sắc về việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là một yêu cầu bức thiết, tất yếu để nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ trong giai đoạn hiện nay, mà đối tượng được hưởng thụ trước hết là chính con em họ. Thực hiện chưa đồng bộ, chưa kiên quyết các chức năng tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia nên chưa tạo được động lực cho cán bộ, giáo viên và nhân viên. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
Một số Hiệu trưởng còn chưa năng động, chưa thật sự cố gắng xây dựng kế hoạch có một lộ trình vừa mang tính cụ thể vừa mang tính ổn định lâu dài để tham mưu cho Cấp ủy địa phương ra Nghị quyết chuyên đề về xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn, trên cơ sở đó trình Hội đồng nhân dân địa phương công khai phương án thu chi, xây dựng và giám sát.
Công tác tham mưu cho UBND huyện về việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học đáp ứng yêu cầu trường mầm non đạt chuẩn quốc gia chưa kịp thời.
Tiểu kết chương 2
Việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, chủ trương này được Đảng bộ, chính quyền, nhân dân, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của các trường mầm non, mẫu giáo trên địa bàn huyện Đắk Glong cùng hưởng ứng và nỗ lực phấn đấu thực hiện. Nhờ đó, đã có được những kết quả bước đầu nhất định và thay đổi đáng kể, đáp ứng được mục tiêu chăm sóc, giáo dục trẻ của của bậc học mầm non. Trước hết phải nói đến cảnh quan sư phạm, cơ sở vật chất trường học tường đối đầy đủ, khang trang xanh – sạch – đẹp, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ từng bước được nâng lên.
Tuy nhiên vấn đề quản lý xây dựng trường mầm non đạ chuẩn quốc gia là công việc khó khăn phức tạp đòi hỏi có nhiều thời gian, công sức, đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng đồng bộ của các phòng ban, đơn vị trong ban chỉ đạo, cùng với sự kiên trì nỗ lực của các cấp quản lý giáo dục, sự lãnh đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự tham gia đóng góp tích cực của toàn xã hội. Do đó, vẫn còn nhiều bất cập, khó khăn, cần phải được kịp thời khắc phục.
Nguyên nhân của thực trạng này là do thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi của các trường mầm non chưa đạt yêu cầu; kinh phí giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường để mua sắm, sửa chữa, bổ sung trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác chăm sóc, giáo dục trẻ còn hạn chế. Ngoài những nguyên nhân trên, còn thiếu sự nỗ lực của cán bộ quản lý và sự nhiệt tình của một bộ phận giáo viên, dẫn đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở một số trường chưa được nâng cao.
Kết quả khảo sát thực trạng trên đây là cơ sở để nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia ở chương tiếp theo. Luận văn: Thực trạng xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp xây dựng trường mầm non chuẩn quốc gia

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

