Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội, giáo dục THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
2.1.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15/2015/QH12 về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội, kinh tế của huyện Mỹ Đức đã có nhiều sự thay đổi tích cực. Cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển biến từ nền kinh tế thuần nông sang kinh tế du lịch, dịch vụ thương mại. Du lịch dịch vụ thương mại của huyện đã trở thành nền kinh tế mũi nhọn của huyện, chiếm tới trên 40% GDP của toàn huyện.
Lĩnh vực văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, an sinh xã hội được đảm bảo tỷ lệ hộ nghèo giảm, chính sách lao động ngày càng được quan tâm, chương trình xây dựng nông thôn mới có nhiều kết quả tích cực; công tác cải cách thủ tục hành chính, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đảm bảo đúng quy trình, thẩm quyền quy định. Công tác quân sự, quốc phòng an ninh được tăng cường và hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân thành phố giao; tình hình trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được còn một số tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực đất đai, một số vấn đề về an ninh trật tự, trật tự văn minh đô thị, nếp sống văn minh, công tác thi hành án dân sự.
Huyện Mỹ Đức là một huyện của Thành Phố Hà Nội. Là huyện mới được sát nhập vào Hà Nội nhưng điều kiện kinh tế cũng còn khó khăn. Tuy vậy nhưng người dân nơi đây rất ham học. Ở đây có những câu chuyện về gương hiếu học đáng trân trọng. Mỹ Đức rất chú trọng xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng, hiện nay huyện có 100% xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng. Những mặt tích cực nêu trên chính là những cơ sở thuận lợi phát triển giáo dục của Huyện Mỹ Đức.
2.1.2. Khái quát về tình hình giáo dục THCS của huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
2.1.2.1. Xây dựng củng cố mạng lưới trường lớp Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Toàn huyện hiện có 23 trường THCS. Trường THCS trực thuộc có qui mô cao nhất là 28 lớp, qui mô thấp nhất là 8 lớp. Về bố trí trường lớp thuận lợi cho học sinh đến trường, cũng như đáp ứng tốt yêu cầu phổ cập THCS, phổ cập THPT.
Với tổng số cán bộ quản lý 54 đồng chí; với khoảng hơn 800 cán bộ giáo viên. Số HS THCS do Phòng giáo dục quản lý là 9250 HS . Trong đó trẻ tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6: 9180/9250 tỉ lệ 99,24%. Tiến độ huy động HS có nhiều thuận lợi hơn. Hầu hết cấp ủy, UBND các xã, thị trấn đều quan tâm phối hợp với ngành triển khai và thực hiện có hiệu quả công tác phổ cập THCS, phổ cập THPT.
2.1.2.2. Về chất lượng giáo dục
- a) Ưu điểm:
Toàn ngành hưởng ứng tích cực cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chủ đề năm học “Đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.
Chất lượng giáo dục được ổn định, giữ vững và được nâng cao theo từng năm. CSVC trường học từng bước được đầu tư phát triển theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá. Sách, thiết bị, đồ dùng dạy học và các phương tiện khác được tăng cường đầu tư đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, sách giáo khoa và PPDH.
Công tác phổ cập giáo dục và xây dựng xã hội học tập được ngành giáo dục, các lực lượng xã hội quan tâm và đạt nhiều kết quả. Đội ngũ CBQL, GV ổn định để phục vụ việc chỉ đạo quản lý và hoạt động dạy học trong toàn địa bàn.
- b) Hạn chế:
Còn một số GV chưa theo kịp yêu cầu đổi mới chương trình, chậm tiến bộ, không có hướng cầu tiến. CSVC, trang thiết bị còn thiếu, phát triển chậm. Số HS bỏ học vào các lớp 8, 9 ở THCS còn nhiều.
Một số kiến thức bộ môn quá tải đối với HS; hoạt động học tập liên hệ thực tế địa phương chưa được phát huy; sách giáo khoa chưa thể hiện được đặc trưng của vùng, miền. Toàn huyện có 5 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia gồm: Trường THCS Đốc Tín, Hợp Thanh, Phúc Lâm, Đại Hưng, …… trong việc thực hiện phổ cập giáo dục Trung học.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Điều tra thực trạng nhằm thu thập, tìm kiếm thông tin để từ đó đánh giá thực trạng quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp tại các trường THCS huyện Mỹ Đức. Từ đó chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến những thực trạng trên và rút ra kết luận có tính khái quát.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Thông qua phiếu khảo sát điều tra với các GV và cán bộ quản lý để biết được thực traṇg dạy học môn toán theo hướng tích cực và tình trạng hoc̣ tâp̣ của HS ở trường THCS; nắm được thuận lợi và khó khăn của GV và HS trong quá trình học tập môn Toán ở trường THCS huyện Mỹ Đức.
GV dạy toán đã tìm hiểu và DHTH hay chưa. Nếu dạy thì GV áp dụng theo mô hình DHTH nào. Những khó khăn mà GV gặp phải khi xây dựng và dạy các chủ đề DHTH. ..
Đánh giá về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học ở trường THCS. Thái độ của HS đối với giờ học môn Toán. Những NL mà HS phát triển được khi học môn hóa học.
2.2.3 Đối tượng khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, Thành Phố Hà Nội, tác giả tiến hành điều tra khảo sát ở hai nhóm khách thể tại 5 trường THCS:
Nhóm CBQL: 40 người, gồm Hiệu trưởng, phó HT, tổ trưởng tổ KHTN, tổ phó tổ KHTN; Nhóm trưởng bộ môn Toán – Tin, Lý – Công nghệ. Nhóm GV: gồm 59 thầy cô giáo là GV dạy môn Toán, Vật Lý, Tin học, Công nghệ.
- Bảng 2.1. Danh sách 05 trường tiến hành khảo sát tại huyện Mỹ Đức
2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Sử dụng phương pháp phỏng vấn, trao đổi và tham khảo ý kiến chuyên gia.
Sau khi thu phiếu thăm dò, chúng tôi đã dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả.
Qua kết quả khảo sát đánh giá được nhận thức về sự cần thiết của dạy học tích hợp trong dạy học sinh THCS, hiểu được nội dung dạy học tích hợp, về việc quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở đơn vị mình để từ đó có những nhận định, đề xuất về dạy học tích hợp môn toán tại các trường THCS của huyện Mỹ Đức.
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức
2.3.1. Thực trạng về thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
Chương trình dạy học môn Toán phải thực sự là một kế hoạch hành động sư phạm liên kết mục tiêu giáo dục với các lĩnh vực nội dung, phương pháp, PTDH, tiến trình giờ học (tổ chức giờ học) và cách thức đánh giá kết quả học tập của HS. Nội dung dạy học cần dựa trên cơ sở một bộ chương trình chuẩn, đảm bảo tính phổ thông, toàn diện, hướng nghiệp. Đồng thời nội dung dạy học môn Toán ở trường THCS theo phải được tinh giản, thiết thực và cập nhật với sự phát triển của khoa học – công nghệ.
- Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết của CBQL, giáo viên về dạy học tích hợp
Sự hiểu biết về những nội dung DHTH trong môn toán của GV THCS cũng còn nhiều bất cập. GV hiểu được khái niệm DHTH là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một môn học hoặc một số môn học khác nhau trong quá trình dạy học. Đó là sự lồng ghép, sự kết hợp các nội dung các phân môn trong một môn học hoặc nội dung của các môn học với những cách thức (nội dung, phương pháp, kĩ năng) khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn GV chưa hiểu được các hình thức (cách thức) tích hợp. GV còn lúng túng trong việc phân biệt các quan điểm và cách thức DHTH “đa môn”, “liên môn”, “xuyên môn” là như thế nào. Từ đó, việc phân biệt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học như dạy học theo dự án; dạy học theo chủ đề; dạy học giải quyết vấn đề; và vận dụng một số kĩ thuật dạy học… chưa phù hợp và còn lúng túng.
Theo bảng số liệu trên cho thấy, cả Cán bộ quản lý và giáo viên đều có mức độ hiểu biết cao trong dạy học tích hợp môn toán ở trường THCS tại huyện Mỹ Đức. Dạy học tích hợp tránh được sự trùng lắp giữa các môn, tiết kiệm thời gian và công sức của giáo viên có 80% cán bộ đánh giá ở mức 3 và 4; 76,3% đánh giá ở mức 3 và 4. Đối với nội dung Giảm thời gian học lí thuyết tăng thực hành và những hoạt động trải nghiệm, sáng tạo cho HS thì có 80% cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá ở mức 3 và 4; Điều đó chứng tỏ CBQL và GV đều cho rằng việc học tích hợp sẽ có nhiều thời gian cho học sinh được thực hành, trải nghiệm, sáng tạo… đây chính là ưu điểm của phương pháp dạy tích hợp. GV phải huy động kiến thức và kĩ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau trong dạy học tích hợp được đánh giá hơn 82.5% – 85% ở cả hai nhóm với mức 3 và 4. Điều này cho thấy cán bộ quản lý và giáo viên đều nhận thức được việc cần huy động lượng kiến thức tổng hợp của nhiều môn học. Việc này đòi hỏi cán bộ giáo viên cần phải nghiên cứu, phối hợp để xây dựng kế hoạch bài học phù hợp.
2.3.2. Thực trạng về năng lực giảng dạy môn Toán theo hướng tích hợp của giáo viên Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
2.3.2.1. Về trình độ đào tạo
- Biểu đồ 2.1. Trình độ CBQL, giáo viên tại các trường THCS huyện Mỹ Đức
Tỉ lệ tốt nghiệp đại học chiếm khoảng 67,2%, trình độ cao đẳng sư phạm chiếm 2,5%, và sau đại học chiếm 32,3 %. Quan đó cho thấy đa số cán bộ giáo đạt trình độ trên chuẩn (chiếm 69,7%). Đây chính là bước thuận lợi để các trường đổi mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt đưa phương pháp dạy học tích hợp vào các môn học trong trường được hiệu quả và khả năng thành công cao.
- Biểu đồ 2.2.Thâm niên công tác GV
Về thâm niên giảng dạy dưới 5 năm có 10,2 %; từ 5 đến 10 năm chiếm 30,5%; số GV có thâm niên từ trên 10 năm trở lên chiếm 59,3%. Điều này cho thấy số GV có kinh nghiệm giảng dạy chiếm một tỉ lệ khá cao. Tuy nhiên số GV có tuổi đời và tuổi nghề cao này sẽ là một bộ phận ngại đổi mới, hạn chế về khả năng công nghệ và tiếp cận với các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới. Điều đáng lưu ý là phần lớn GV được đào tạo đơn môn, nhưng cũng có một tỉ lệ lớn (chiếm 40.68%) là những GV được đào tạo hai môn với mô hình rất đa dạng như: Toán – Lí, Toán – Tin, Toán – Công nghệ. Đây là bộ phận GV mà khi thực hiện DH môn toán theo hướng TH sẽ có nhiều thuận lợi hơn GV được đào tạo đơn môn
2.3.2.2. Thực trạng năng lực dạy học môn toán theo hướng tích hợp của GV THCS tại huyện Mỹ Đức
Năng lực dạy học là yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động dạy học của GV, nó gồm tổ hợp các thành tố như khả năng nhận thức, kiến thức, khả năng thực hành, động cơ, thái độ… của GV đáp ứng những yêu cầu của hoạt động dạy học. DHTH cũng là quá trình hoạt động dạy học nhưng là quá trình dạy học chú trọng giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống. Trên cơ sở quan niệm trên, chúng tôi tiến hành xem xét mức độ đạt được về năng lực DHTH môn toán của GV. Trong số 59 giáo viên toán được phỏng vấn, chúng tôi thu được kết quả như sau. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
- Nhận thức của GV về tầm quan trọng của các kiến thức khi DHTH
- Biểu đồ 2.3. Thực trạng đánh giá nhận thức tầm quan trọng của các kiến thức của GV khi DHTH
Phần lớn GV đều nhận thức được để DHTH thành công trước hết GV phải giỏi kiến thức môn học mà mình đảm nhận, 84,75% GV cho yêu cầu này là quan trọng và rất quan trọng; về tầm quan trọng các kiến thức nền tảng mà GV khi DHTH cần phải biết như kiến thức về triết học, toán, kiến thức về tự nhiên đối với các môn khoa học tự nhiên, có 72,88% cho là quan trọng và rất quan trọng. Có 76,27% GV cho rằng yêu cầu về nắm vững kiến thức và kĩ năng về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn là quan trọng và rất quan trọng. Tuy nhiên, cũng có một bộ phận GV cho rằng những kiến thức nền tảng là bình thường (27.12%) và không quan trọng (3,39%). Đặc biệt là kiến thức về công nghệ thông tin và ngoại ngữ, có 25.42% GV cho là bình thường; về khả năng tự học, tự nghiên cứu có 22,03% GV cho là bình thường. Như vậy GV chỉ coi trọng những kiến thức môn học trong khối tự nhiên mà chưa thấy được tầm quan trọng của những kiến thức nền tảng và công cụ. Trong thực tế thì những kiến thức và năng lực nền tảng và công cụ có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo thành công cho dạy học môn toán theo hướng tích hợp.
- Đánh giá mức độ đạt được của GV về kiến thức phục vụ DH môn toán theo hướng tích hợp
- Biểu đồ 2.4. Thực trạng mức độ kiến thức khi DH môn Toán của giáo viên
So với nhận thức về tầm quan trọng của kiến thức thì mức độ đạt được về kiến thức khi dạy học môn toán theo hướng tích hợp, theo kết quả tự đánh giá của GV, có tỉ lệ thấp hơn nhiều.
Về kiến thức về khoa học tự nhiên mà GV đảm nhận có 71.19% GV tự đánh giá là tốt và rất tốt, có 23.73% GV tự đánh giá là bình thường.
Với các kiến thức nền tảng thì có 55.93% GV đánh giá tốt và rất tốt, có đến 37,29% tự đánh giá là bình thường. Tỉ lệ GV tự đánh giá đạt được ở mức độ bình thường các tiêu chí khác cũng khá cao, như kiến thức về các phương pháp dạy học tích hợp 27.12%; kiến thức về tâm lí học, giáo dục học 32.20%; kiến thức về ngoại ngữ, tin học 33.90%; và khả năng về tự học, tự nghiên cứu 33.9%. Như vậy, còn một tỉ lệ GV khoảng trên dưới 30% tự đánh giá về năng lực ở mức độ bình thường. Đây cũng là một con số đáng lo ngại khi bộ phận này tiến hành DHTH, vì yêu cầu của dạy học tích hợp đòi hỏi kiến thức bộ môn và liên môn của GV cao hơn nhiều.
2.3.2.3. Thực trạng về năng lực dạy học môn Toán của GV theo hướng tích hợp
- a) Nhận thức về tầm quan trọng của những năng lực cần thiết đáp ứng DHTH
Theo điều tra phần lớn các ý kiến GV được phỏng vấn đều cho rằng năng lực dạy học bộ môn hiện đang dạy là rất quan trọng (88.13%), năng lực này như là một năng lực trung tâm để phối hợp/tiếp nhận các năng lực khác cùng đạt mục tiêu của DHTH. Năng lực biết xây dựng chủ đề/nội dung, tổ chức, phương pháp và thiết kế kế hoạch dạy học môn toán theo hướng tích hợp là 84.74%; có năng lực dạy học tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS 83.05%; có năng lực sử dụng, khai thác thông tin khoa học phục vụ cho bài giảng 62.71%. Tuy nhiên, có một tiêu chí về năng lực nắm vững các kiến thức liên ngành, trong dạy học toán thì có đến 16,95% GV cho là không quan trọng và 57.62% cho là bình thường. Số GV cho tiêu chí này là quan trọng chỉ chiếm 27,12%. Điều này cho thấy GV chưa hiểu hết những yêu cầu về năng lực DHTH, chưa thấy tầm quan trọng của việc nắm vững những kiến thức và năng lực liên ngành. Với vốn kiến thức và phương pháp dạy học hạn hẹp đó sẽ làm cho hiệu quả dạy học nói chung và DHTH nói riêng không cao. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
- b) Đánh giá mức độ đạt được của GV theo yêu cầu về năng lực DHTH
Theo kết quả tự đánh giá của GV ở trên, mức độ đạt được của các năng lực cần cho DHTH như sau: Năng lực đạt được trong dạy học bộ môn mình được đào tạo là 79.66%, thấp hơn yêu cầu về nhận thức. Ở mức độ đồng ý và rất đồng ý về mức độ đạt được các năng lực tiếp theo như sau: Năng lực nắm vững kiến thức liên ngành có 69.49% GV; năng lực DHTH như hiểu biết về DHTH (nắm được bản chất của DHTH, biết xây dựng chủ đề/nội dung, tổ chức dạy học, phương pháp, thiết kế kế hoạch DHTH…) có 67.8% GV; năng lực dạy học tích cực hóa hoạt động của HS có 71.19% GV; năng lực sử dụng, khai thác thông tin khoa học phục vụ cho bài giảng có 71.19% GV.
2.3.3. Thực trạng về ý thức học tập môn Toán theo hướng tích hợp của học sinh
- Bảng 2.3. Thực trạng ý thức học tập môn Toán của học sinh theo hướng tích hợp
Theo đánh giá của giáo viên dạy học trên lớp có 71.19% học sinh tích cực học tập trên lớp, trong đó 64.41% chuẩn bị bài trước khi đến lớp; CBQL thì đánh giá có khoảng 60% chuẩn bị bài lên lớp ở mức khá trở lên và có 70% học sinh khá tích cực trong giờ học theo quan sát của CBQL. Tỷ lệ này cũng được giáo viên và CBQL đánh giá cao hơn nhiều so với những tiết học truyền thống. Về tỷ lệ tích cực làm việc nhóm, GV cho rằng có 64.41% chủ động tham gia, còn có 19.24% không có ý kiến gì trong suốt quá trình học và cũng tương tự như đánh giá của CBQL (20%). Điều này có thể do kế hoạch bài dạy chưa tốt hoặc cách bao quát, phân nhóm của giáo viên chưa thực sự hợp lý. Và cũng có thể do năng lực tiếp thu, tính cách nhút nhát của cá nhân các học sinh đố với các môn học tự nhiên còn hạn chế.
2.3.4. Thực trạng về sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của các trường THCS.
- Bảng 2.4. Thực trạng về mức độ sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Toán
Để thực hiện tốt giờ dạy tích hợp, yếu tố về tài liệu học tập cũng như các thiết bị dạy học là vô cùng quan trọng, giúp giờ học sinh động và đạt được hiệu quả cao nhất. Trong thực tế hiện nay, các trường tuy cơ sở trường lớp khang trang, nhưng các phòng thực nghiệm, tài liệu và thiết bị dạy chưa thể đáp ứng toàn bộ các tiết học. Nhiều tiết học phải lấy mô hình thực nghiệm qua video, hình ảnh làm giảm đi sự hứng khởi trong học tập của học sinh. Bởi vậy cả CBQL và GV đều đánh về cơ sở vất chất phục dạy học trung bình yếu cao. Cụ thể CBQL đánh giá đến 70% phòng học, phòng thực nghiệm phục vụ học tập tích hợp là trung bình và yếu. GV đánh giá tới gần 65% tài liệu, máy tính phục vụ học tích hợp môn toán ở mức trung bình và yếu. CBQL và GV đều đánh thiết bị dạy học chỉ đạt ở mức trung bình và yếu là chủ yếu (65% và 50%).
Đây chính là yếu tố ảnh hưởng đánh kể đến chất lượng dạy và học. Bởi vậy các nhà quản lý cần lưu ý để tăng cường, bổ sung để giúp cho công tác dạy học tích hợp tại các trường THCS tại huyện Mỹ Đức đi vào chiều sâu và có hiệu quả hơn.
2.3.5. Thực trạng về kiểm tra, đánh giá kết quả học Toán theo hướng tích hợp của học sinh THCS huyện Mỹ Đức Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Thực hiện kiểm tra, đánh giá mới của môn Toán là kiểm tra, đánh giá ngay trong quá trình học sinh học tập trên lớp thông qua hoạt động của học sinh. GV tiến hành cho học sinh đánh giá học sinh hoặc giáo viên đánh giá HS. Việc lặp lại quá trình trên như vậy sẽ hình thành được ở học sinh thói quen tự kiểm tra, đánh giá; đánh giá mình và đánh giá bạn. Khi đó việc đánh giá một nội dung dạy học sẽ được chính xác hơn.
Đổi mới đánh giá không có nghĩa là thay cách đánh giá hiện hành bằng một cách đánh giá khác hiệu nghiệm hơn. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng các hình thức kiểm tra truyền thống, GV cần tìm hiểu, áp dụng thử và phát triển các phương kiểm tra, đánh giá khách quan khác, qua đó nhận rõ những ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp này, sử dụng phối hợp, hợp lí với các phương pháp kiểm tra truyền thống.
- Bảng 2.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá ý thức học môn Toán theo hướng tích hợp của học sinh
Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định. Nhận xét của CBQL và GV về việc thực hiện đúng chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định ở mức tốt chiếm trên 70%, chứng tỏ các trường được khảo sát đều thực hiện đúng, nghiêm túc chế độ kiểm tra, cho điểm theo quy định chung của Bộ giáo dục và đào tạo. Đây cũng là nhận định chung của một số tổ trưởng, GV Toán ở các trường được khảo sát.
Việc chấm và trả bài đúng thời hạn, có nhận xét chung và lời phê cụ thể cho từng bài được thực hiện thường xuyên và kết quả đạt được là khá tốt. Giáo viên tự đánh giá có 77.97 % cho rằng bản thân chấm và trả bài đúng thời hạn, có phê bài nghiêm túc. Trong đó CBQL cho rằng chỉ có 67.5% chấm bài và trả bài đúng thời hạn cho học sinh. Qua đó cho thấy các trường cơ bản thực hiện nghiêm túc chấm và trả bài đúng thời hạn cho HS. Tuy nhiên, theo quan sát trong các bài kiểm tra, các bài thi, GV ít khi có nhận xét chung và lời phê cụ thể cho từng bài mà điều này sẽ giúp kích thích HS đối với những bài làm tốt, còn đối với những bài làm không tốt sẽ giúp HS nhận ra vấn đề của mình cần giải quyết và tìm cách khắc phục.
Về hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, các giáo viên được trao đổi cho rằng việc đánh giá, kiểm tra là khách quan và công bằng theo hướng phát triển các năng lực của HS. Vấn đề này CBQL và GV đánh giá là tốt và đạt mức trên 60%. Chúng ta biết rằng muốn đổi mới nội dung, phương pháp dạy học môn Toán theo hướng tích hợp giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì kiểm tra đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển các năng lực của học sinh. Kết quả khảo sát cho ta thấy ở các trường việc kiểm tra đánh giá mang tính khách quan, công bằng, mặc dù vậy việc kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển các năng lực của học sinh còn chưa được thực hiện tốt lắm. Điều này cũng phù hợp với nhận xét của một số tổ trưởng tổ Toán và GV dạy Toán có nhiều kinh nghiệm ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Để có cái nhìn khách quan hơn khi đánh giá năng lực dạy học môn toán theo hướng tích hợp của GV THCS tại huyện Mỹ Đức, chúng tôi đã lấy ý kiến đánh giá của CBQL giáo dục từ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn và ban giám hiệu các trường THCS. Về mức độ đáp ứng năng lực của GV THCS, số liệu thu được cho thấy kết quả đánh giá của CBQL có tỉ lệ thấp hơn so với kết quả tự đánh giá của GV.
2.4.1. Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
Quản lý về việc xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán là một công việc không dễ dàng, đòi hỏi cần phải huy động các lực lượng giáo dục trong nhà trường, theo dõi nắm bắt tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch hàng tuần, tháng thông qua kiểm tra lịch báo giảng, sổ đầu bài, dự giờ, sử dụng thời khóa biểu…Thực trạng quản lý kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán được thể hiện ở bảng thống kê sau:
- Bảng 2.6. Thực trạng quản lý việc xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
Đánh giá của GV cũng giống như CBQL, đối với việc Phổ biến, tổ chức học tập, thảo luận về kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của CBQL đạt 70% trở lên. Chứng tỏ rằng ở các trường THCS huyện Mỹ Đức luôn quan tâm, chỉ đạo các hoạt động chuyên môn ở mức cao ở các khối lớp. Đây là cơ sở để các hoạt động dạy học ở các tổ chuyên môn đạt kết quả cao.
Tuy nhiên vẫn còn một số trường chưa coi trọng nội dung này, dẫn đến việc GV còn lúng túng trong việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo hướng tích hợp cho cán bộ giáo viên. Việc này khi được phổng vấn các giáo viên đều cho rằng đó là nhiệm vụ của Hiệu phó phụ trách chuyên môn và tổ trưởng tổ toán. Theo nhận định của CBQL và GV các trường thường xuyên tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng kế hoạch dạy học môn Toán theo học kì, năm học và kết quả thực hiện ở mức khá tốt (CBQL chiếm 85%, GV chiếm 91.56%). Theo nghiên cứu, quan sát thực tế các trường đều làm tốt công tác này, tuy nhiên khi triển khai thực hiện vẫn còn một số GV chưa làm tốt việc xây dựng kế hoạch dạy học, dẫn đến việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán chưa thực sự tốt.
Đánh giá của CBQL và GV về việc phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán theo hướng tích hợp là được khá tốt, cụ thể: CBQL đánh giá tốt là 60%, GV đánh giá tốt đạt 61.02%. Qua đó chứng tỏ Ban Giám hiệu Nhà trường luôn phối hợp với tổ trưởng tổ toán để quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán của GV. Theo quan sát, tham khảo ý kiến của một số tổ trưởng tổ toán thì đa số các trường việc phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học môn Toán theo hướng tích hợp là khá tốt.
2.4.2. Thực trạng quản lý việc đổi mới nội dung chương trình dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của giáo viên
Với cấp THCS, trong Chương trình mới, môn Toán được cấu trúc theo các mạch kiến thức là: Số và Đại số; Hình học và Đo lường; Thống kê và Xác suất. Chủ đề Hàm số và đồ thị được bố trí từ lớp 8. Với định hướng tăng cường các yếu tố trực quan trong dạy học nội dung Hình học, từ lớp 6 đến lớp 9 vẫn tiếp tục bố trí mạch kiến thức Hình học trực quan tiếp nối mạch kiến thức Hình học trực quan ở tiểu học. Chương trình giảm mức độ phức tạp trong dạy học các nội dung: Phân tích đa thức thành nhân tử; giải phương trình bằng phương pháp đặt ẩn phụ, đặc biệt là phương trình chứa dấu giá trị tuyệt đối; dạy học về đường tròn. Tăng cường thêm một số nội dung về thống kê và xác suất gắn với ứng dụng trong đời sống thực tiễn; Coi trọng việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại, phần mềm dạy học; Tăng cường thực hành, luyện tập và ứng dụng toán học vào thực tiễn.
Như vậy để quản lý việc đổi mới nội dung chương trình môn toán theo hướng tích hợp, CBQL trước hết cần đánh năng lực của giáo viên về dạy học môn toán.
- Bảng 2.7. Thực trạng quản lý các năng lực dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của giáo viên
Từ bảng trên cho thấy đánh giá của CBQL về năng lực DH môn toán theo hướng tích hợp của GV là đáng lo ngại. Kết quả cho thấy CBQL đánh giá các tiêu chí về năng lực GV vẫn còn khoảng từ 10 đến 20% GV được đánh giá đạt mức độ trung bình, cá biệt ở tiêu chí về kiến thức chuyên môn sâu có đến 35.0 % ý kiến được đánh giá GV ở mức độ trung bình. Đồng thời về khả năng trao đổi, hợp tác với đồng nghiệp có 45% ý kiến đánh giá ở mức trung bình và yếu. Tương tự đánh giá của chính các giáo viên cúng cho rằng, hiểu biết về dạy học toán theo tích hợp còn hơn 25% ở mức trung bình và yếu, hay năng lực tự học có tới 20% cho rằng chưa cao. Như vậy, cần có các giải pháp quyết liệt thì mới đẩy nhanh việc nâng cao năng lực DH môn toán theo hướng tích hợp cho đội ngũ GV THCS ở huyện Mỹ Đức.
Từ đánh giá trên, CBQL nhận định được thực trạng đổi mới nội dung chương trình dạy học môn toán theo hướng tích cực một cách khách quan nhất. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
- Biểu đồ 2.5. Thực trạng quản lý đổi mới nội dung chương trình môn toán
Quan biểu đồ trên chúng ta nhận thấy, cả CBQL và GV đều đánh giá việc quản lý nội dung chương trình môn toán theo hướng tích hợp ở mức khá là cao nhất (45% và 40.68%). Bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận cho rằng việc quản lý chưa tốt, còn yếu kém (5% và 3.49%).
Từ thực trạng này, cán bộ quản lý tại các trường THCS cũng cần nhìn nhận và đánh giá lại công việc chuyên môn để nâng cao chất lượng quản lý chuyên môn tại đơn vị mình.
2.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy Toán theo hướng tích hợp của giáo viên
Chương trình môn Toán mới đòi hỏi giáo viên phải thay đổi phương pháp giáo dục, phải quán triệt tinh thần “lấy người học làm trung tâm”, phát huy phẩm chất, tính tích cực, tính chủ động của HS và chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập của từng cá nhân. Yêu cầu mới khiến giáo viên cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó HS được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề; linh hoạt trong việc vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực. Như việc liên quan đến kiến thức về chu vi hình học ở môn Toán, hoặc kiến thức về sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng ở môn Sinh học, các loại phân vô cơ, hữu cơ trong môn Hóa học; thì giáo viên có thể tổ chức cho các em tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo bằng việc cho các nhập vai như những người nông dân thực sự.
Giáo viên có thể cùng học sinh trực tiếp xuống đồng ruộng, tham gia vào việc cấy và chăm sóc lúa cùng với với các bác nông dân. Thông qua đó, GV kết hợp hướng dẫn các em về cách tính diện tích của một thửa ruộng trên thực tế, giới thiệu về các loại phân vô cơ, hữu cơ cần thiết cho một ruộng lúa, ruộng ngô và giới thiệu về quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, cây đậu,…Như vậy có thể thấy, từ hoạt động trải nghiệm sáng tạo này, giáo viên không chỉ tích hợp kiến thức của nhiều môn học khác nhau như: Toán, Vật lý, Sinh học, Hóa học, Địa lý mà còn giúp học sinh phát triển được nhiều kỹ năng sống. Qua đó nhằm phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh và giúp các em vận dụng được những kiến thức đã học vào trong thực tiễn của cuộc sống. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
- Bảng 2.8. Thực trạng quản lý việc phân công giáo viên giảng dạy môn Toán
Khi được phỏng vấn cán bộ quản lý về thực trạng dạy học tích hợp môn toán tại đơn vị mình, các CBQL và GV đều đánh giá cao về việc phân công công tác giảng dạy, và đều đánh mức độ khá trở chiếm gần 80%. Trong công tac này, việc điều chỉnh lịch phân rất cần thiết khi thực hiện không phù hợp hoặc không đạt hiệu quả nhưng cả CBQL và GV cho rằng việc quản lí về điều chỉnh lịch hợp lý ở mức trung bình và yếu còn cao, chiếm hơn 35%. Đây chính là một yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả dạy học tích hợp, nếu như không có điều chỉnh phù hợp sớm.
- Bảng 2.9. Thực trạng quản lý giáo viên chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Toán
Qua bảng thu thập số liệu trên, chúng ta nhận thấy cả CBQL và GV đều đánh việc hướng dẫn các quy định, yêu cầu về lập kế hoạch bài dạy môn Toán theo hướng tích hợp còn chưa cao (CBQL đánh giá tốt là 32%, GV đánh giá tốt là 23.73%). Vấn đề này khi phỏng vấn một cán bộ giáo viên trực tiếp họ đều cho rằng, đa số họ nhận được công văn hướng dẫn, ít được tập trực tiếp nên có nhiều khó khăn khi thực hiện.
Chưa tổ chức được nhiều hoạt động trao đổi, hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch bài dạy thống nhất phụ hợp tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và phương pháp dạy hiệu quả nên còn có 35% CBQL đánh giá ở mức Trung bình và yếu, điều này cũng như đánh giá của giáo viên (35.49%).
- Bảng 2.10. Thực trạng quản lý giáo viên tổ chức dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
Qua đánh giá của giáo viên và cán bộ quản lý, việc quản lý tổ chức dạy học của giáo viên được đánh giá cao việc thực hiện nghiêm túc kế hoạch bài học (chiếm trên 75% khá, tốt), trong đó chỉ có một số đồng chí đánh giá chưa tốt khi được phỏng vấn đều có lý do vì sức khỏe. Về việc tổ chức dự giờ, đánh giá giờ học của giáo viên thì đây là công việc phụ trách của Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn và tổ trưởng, tổ phó. Công việc này cũng được CBQL và giáo viên đánh giá cao ở các trường THCS huyện Mỹ Đức. Với đánh giá 45% ở mức trung bình và yếu, CBQL ở các trường THCS Mỹ Đức đề ra nhiệm vụ cao hơn trong công việc này, trong khi đó, GV đánh giá 35% ở mức TB và yếu.
Vấn đề tổ chức các hội thi giáo viên giỏi các cấp thì cả CBQL và GV đều đánh giá mức thấp còn cao (17.5 % và 16.95%). Qua đó cấp quản lý và giáo viên nhận định cần tăng cường công tác tổ chức các hội thi về giảng tích hợp để cán bộ giáo viên có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau.
Việc lấy ý kiến của người học về giờ giảng của giáo viên thực chất đã được thực hiện khá phổ biến ở các trường đại học. Nhưng đối với vấn đề này tại các trường phổ thông thì còn nhiều hạn chế. Tại các trường THCS Mỹ Đức đã thực hiện nhưng chưa đồng bộ, và còn yếu như đánh giá của CBQL là 20% và GV là 30.51%).
2.4.4. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất cho hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của học sinh Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
- Bảng 2.11. Thực trạng quản lý sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Toán theo hướng tích hợp của học sinh
Trong những năm gần đây, cơ sở vật chất tại các trường đã được trang bị tương đối đầy đủ. Phòng học đầy đủ tiện nghi, thường xuyên được bảo dưỡng để phục vụ cho công tác dạy và học. Từ bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, đối với tài liệu học tập, CBQL đánh giá việc quản lý đạt 80% là khá tốt, còn GV đánh giá là hơn 70%. Các thiết bị dạy học bảo quản tại phòng trang thiết bị, có cán bộ thiết bị trường học quản lý. Bởi vậy CBQL và GV đều đánh giá cao thực trạng này, chỉ có 5% CBQL cho rằng việc quản lý còn yếu, và tương tự có 6.78% GV đánh giá yếu. Về đánh giá quản lý về cơ sở vật chất trong phòng học, phòng thực nghiệm cũng được CBQL, GV đánh giá ở mức tốt là 40%, khá 30% và có 10 % là đánh giá yếu. Bằng phỏng vấn trực tiếp, chúng tôi nhận thấy phù hợp với các ý kiến của CBQL, cho rằng một số GV cho rằng ở nhiệm vụ này CBQL thực hiện còn yếu.
2.4.5. Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp.
- Bảng 2.12. Thực trạng quản lý việc kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
Đổi mới KTĐG phải gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và gắn với phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Coi trọng việc phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá, qua đó giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy học, giúp học sinh phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong học tập; các cấp quản lí cũng kịp thời điều chỉnh các hoạt động dạy và học, kiểm tra đáng giá một cách kịp thời. Trên cơ sở đó, các trường THCS tại huyện Mỹ Đức đã luôn coi trọng kiểm tra đánh giá, nên kết quả khảo sát đạt kết quả cao. Trong bảng trên có việc quản lý rà soát nội dung kiểm tra, đánh giá thường xuyên thì CBQL nhận định việc này làm chưa tốt (35% yếu), GV đánh giá việc này thấp hơn (12.87%). Về ngân hàng câu hỏi thi của các tổ chuyên môn đều do tổ trưởng quản lý, báo cáo với hiệu phó phụ trách chuyên môn. Nhưng khi dạy học tích hợp, cần phối hợp liên môn trong xây dựng câu hỏi thi, kiểm tra. Vấn đề này đôi khi CBQL chỉ đạo còn lúng túng, chưa đạt hiệu quả cao. Do đó cả GV và CBQL đều cho rằngvấn đề này còn yếu đến hơn 20%. Đây cũng là một trong các nội dung cần quan tâm để đánh giá đúng học sinh khi học tích hợp.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp ở các trường THCS huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
2.5.1. Ưu điểm và nguyên nhân
Khảo sát ý kiến đánh giá tác động của các yếu tố thuận lợi đến công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán, tác giả nhận thấy, việc dạy học môn toán luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban giám hiệu, tổ trưởng trong hoạt động giảng dạy trong nhà trường. Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ sở vật chất cơ bản đảm bảo cho việc đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, phương tiện dạy học, cung ứng tốt cho hoạt động dạy học môn Toán. Môi trường sư phạm tốt giúp ích cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
2.5.2. Yếu điểm và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
Giáo viên ít viết sáng kiến kinh nghiệm, tự làm đồ dùng dạy học môn Toán thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện dạy học môn Toán hoặc là đã xuống cấp. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa kích thích tính chủ động, tích cực và khả năng tự đánh giá của học sinh Thay đổi quan niệm và thói quen dạy học môn Toán của giáo viên là việc không đơn giản chưa quản lý tốt việc xây dựng kế hoạch hoạt động của giờ học, hệ thống câu hỏi bài tập. Môn Toán chưa được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất trong hoạt động dạy học của nhà trường giáo viên chưa hiểu sâu sắc bản chất của đổi mới PPDH môn Toán chậm đổi mới trong công tác quản lý HĐDH môn Toán, chưa có nhiều thư viện đạt chuẩn, tiên tiến.
2.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Toán theo hướng tích hợp
- Về công tác chuyên môn: Lãnh đạo và các cán bộ giáo viên
Tuy có kiến thức lý thuyết về dạy học tích hợp nhưng việc thực hiện về xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và thực hiện kế hoạch chưa tốt. Vấn đề này chưa có quy chế thực hiện cụ thể nên việc đánh giá vấn còn mang tính hình thức. Nội dung tích hợp liên môn hay đơn môn còn nhiều giáo viên lúng túng nên việc xây dựng kế hoạch bài giảng gặp nhiều khó khăn.
Về cơ sở vật chất tuy đầy đủ nhưng vẫn còn chưa phù hợp với dạy tích hợp. Các phòng học thực hành còn hạn chế, nhiều tiết học còn phải thay vì đi thực tiến bằng việc xem qua máy chiếu, làm cho sự hứng khởi của tiết học giảm đi rất nhiều. Cần tổ chức tốt phong trào tự làm đồ dùng dạy học, phổ biến nhân rộng kinh nghiệm tự làm đồ dùng dạy học. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
Về phía học sinh: Còn chưa quen với mô hình học mới, tuy hứng khởi trong tiết học nhưng về nắm bắt nội dung còn khá hạn chế. Chưa thực sự chủ động lĩnh hội thi thức tổng hợp mà một tiết dạy tích hợp mang lại.
Kết luận chương 2
Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng cho thấy các trường THCS trong huyện Mỹ Đức đã và đang rất quan tâm đến việc quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp. Về cơ bản có thể thấy rằng đa số cán bộ quản lí, giáo viên đã nhận thức đúng, đánh giá cao vai trò của các yếu tố liên quan đến việc dạy học môn toán theo hướng tích hợp. Về thực trạng quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp theo đánh giá của đội ngũ giáo viên và đánh giá của các nhà quản lý, chúng tôi đã đánh giá được những mặt mạnh, những mặt còn yếu kém. Từ những phân tích trên chúng tôi đã đưa ra những nhận định về yếu tố thuận lợi, những khó khăn trong việc quản lý dạy học toán theo hướng tích hợp tại các trường THCS của huyện Mỹ Đức. Đồng thời đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý trong các trường THCS. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng việc quản lý dạy học môn toán theo hướng tích hợp còn nhiều bất cập, trong quá trình tổ chức thực hiện các nhà trường THCS trong huyện vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng. Bản thân các đồng chí CBQL, tổ trưởng Chuyên môn, nhóm trưởng nhóm chuyên môn còn chưa hiểu sâu việc tích hợp môn Toán với các môn học khác như thế nào, lồng ghép vào lúc nào thì phù hợp; Điều đó đã thúc đẩy việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng, tìm những nguyên nhân và đề xuất những biện pháp quản lý sao cho tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, khắc phục được những tồn tại đã nêu trong việc quản lý dạy học môn Toán. Đây là cơ sở để chúng tôi thực hiện các phương pháp thực nghiệm để đưa ra những kết luận mới của đề tài trong chương 3 và đưa ra những giải pháp, đề xuất giúp việc quản lý hoạt động dạy học môn toán theo hướng tích hợp tại các trường THCS huyện Mỹ Đức đạt hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Toán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Toán
