Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục theo hướng tiếp cận đảm bảo chất lượng tại trường tiểu học – trung học cơ sở PASCAL dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về trường TH – THCS Pascal, thành phố Hà Nội
2.1.1. Vị trí địa lí
Trường Tiểu học – Trung học cơ sở Pascal tọa lạc trên lô đất TH2 với diện tích 12.000 m2 trong KĐT Mới Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Trường Pascal là một trong những trường lớn có 100% vốn đầu tư là của tư nhân. Trường nằm trên địa bàn dân cư đông đúc và năng động vì Bắc Từ Liêm là một quận rất trẻ, mới được thành lập nên có nhiều cơ chế chính sách tốt cho giáo dục. Trường TH – THCS Pascal đã trải qua 5 năm học với nhiều khó khăn nhưng đã ghi dấu được những thành công ban đầu thực sự đáng tự hào. Cộng đồng giáo dục Pascal mà trung tâm là các em học sinh, các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ học sinh đã cùng xây đắp được một môi trường giáo dục nhân văn – hiện đại – năng động với 6 giá trị cốt lõi: Tự chủ – Yêu thương – Trung thực – Tri thức – Sáng tạo – Thành công. Mỗi giá trị này được thầy và trò Pascal nỗ lực tích lũy trong từng bài học, từng hoạt động trong và ngoài trường. Trường Tiểu học – Trung học cơ sở Pascal kiên trì thực hiện sứ mệnh: Chú trọng giáo dục phát triển nhân cách và năng lực toàn diện để tất cả học sinh của Pascal có nề n tảng tri thức vững vàng, có năng lực thực tiễn để có cơ hội thành công trong các môi trường làm việc, sáng tạo đỉnh cao trong tương lai.
2.1.2. Về quy mô trường lớp
Năm học 2018 – 2019, trường TH – THCS Pascal có:
- 45 lớp học: Khối Tiểu học là 34 lớp và khối THCS là 11 lớp 1175 học sinh
- 95 cán bộ, giáo viên, nhân viên
- Học sinh giỏi cấp thành phố: 8
- Học sinh giỏi cấp quận: 58
- Học sinh giỏi trong các cuộc thi khác: 26
2.1.3. Về cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên
- Về số lượng: 146 (CBQL: 8, GV: 109; NV: 29)
- Về trình độ đào tạo:
Trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên, nhân viên trường TH – THCS Pascal được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1. Trình độ đào tạo của CB, GV, NV trường TH – THCS Pascal
Qua bảng 2.1 ta thấy:
- Đội ngũ cán bộ, giáo viên trường Pascal đều có trình độ cao (100% trên chuẩn), trình độ đại học và thạc sĩ chiếm đa số
- Đội ngũ các bộ quản lý có trình độ đào tạo cao hơn giáo viên và nhân viên mà họ quản lý. Vì vậy khi thực hiện các hoạt động quản lý sẽ gặp nhiều thuận lợi.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.2. Thực trạng thiết bị giáo dục ở trường TH – THCS Pascal, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
2.2.1 Thực trạng xây dựng thiết bị giáo dục
Pascal là trường tư thục nên toàn bộ trang thiết bị giáo dục là Hội đồng quản trị trường tự đầu tư và không được nhà nước cấp phát. Thế nên, việc đầu tư mua sắm thiết bị giáo dục cần phải thực hiện theo lộ trình. Tại đây, họ ưu tiên xây dựng cơ sở vật chất như hệ thống phòng học, hệ thống phòng ăn, hệ thống phòng ngủ trưa, hệ thống các phòng chức năng như thư viện, phòng thực hành lý, hóa sinh, phòng tin học, phòng đoàn đội và đặc biệt họ dành diện tích rất lớn để xây dựng nhà đa năng, khu thể thao lên tới 5000m2 trên tổng diện tích 12.000 m2. Các thiết bị giáo dục đã được trang bị dần theo từng năm học, đến thời điểm hiện tại cũng được tăng cường rất nhiều.
Bảng 2.2. Thống kê các trang thiết bị giáo dục tại trường TH – THCS Pascal
Xem xét thực tế tại trường TH – THCS Pascal, nhà trường dành rất nhiều kinh phí cho việc đầu tư các thiết bị giáo dục, năm học nào cũng được bổ sung rất nhiều đồ dùng mới. Bên cạnh đó, Ban giám hiệu nhà trường còn tổ chức cuộc thi thiết kế đồ dùng dạy học sáng tạo, các dự án giáo dục nhà trường thực hiện trong năm học cũng cung cấp một lượng lớn tư liệu để dạy học, góp phần rất lớn việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Khó khăn mà nhà trường gặp phải đó là hiện tại trường mới chỉ có một cô giáo phụ trách thư viện đồng thời phụ trách việc bảo quản thiết bị giáo dục, nhưng do số lượng học sinh lớn gần 1200 học sinh, cán bộ, giáo viên gần 100 người, số lượng đồ dùng cho các hoạt động quá nhiều nên cần huy động thêm giáo viên kiêm nhiệm phụ trách quản lý thiết bị giáo dục của một số mảng như phòng đoàn đội, phòng tin học… Cho nên, người phụ trách thiết bị giáo dục thực chất chỉ làm công tác cho giáo viên mượn và thu hồi lại thiết bị giáo dục mà chưa làm đầy đủ các chức năng như một người phụ trách thiết bị giáo dục thực sự.
2.2.2. Thực trạng thiết bị giáo dục Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục tại trường TH – THCS Pascal, tôi tiến hành khảo sát trên 3 nhóm khách thể:
- Nhóm 1: Cán bộ quản lý: 08 người
- Nhóm 2: Giáo viên: 32 người
- Nhóm 3: Học sinh: 171 người
Qua tìm hiểu 211 cán bộ, giáo viên, học sinh trường TH – THCS Pascal tôi thấy thiết bị giáo dục tại trường vẫn đã tương đối đầy đủ, có những bộ phận còn thiếu thốn các dụng cụ thí nghiệm thực hành không đồng bộ. Tuy nhiên về chất lượng của những thiết bị hiện có lại tương đối tốt và hiện đại, hữu ích, đặc biệt là nhóm giáo cụ của các môn năng khiếu, tin học và thể dục và giáo dục kỹ năng sống. Đối với nhóm giáo cụ của phòng lý, hóa thì mới tạm đủ và chất lượng chưa được đồng bộ. Các giáo viên của hai bộ môn này hay phải đưa học sinh đi kiểm nghiệm kiến thức tại các trung tâm công nghệ cao hay tự chế các dụng cụ mô phỏng lại kiến thức. Thực trạng khảo sát được nêu trong bảng.
Qua bảng 2.4 cho thấy, ở Pascal việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ trong các bài giảng được sử dụng thường xuyên, liên tục. Bởi thực tế với việc này đã được đưa vào quy ước lao động tập thể. Chất lượng các tiết học phải được đảm bảo và nâng cao dần thì ngôi trường mới phát triển được và trên thực tế Pascal là một môi trường phát triển nhanh chóng. Mới qua 5 năm hoạt động mà Pascal đã có gần 1200 học sinh. Chất lượng của trường được thể hiện bởi chất lượng giảng dạy và chất lượng phục vụ. Muốn đạt được điều đó thì không ai khác tạo nên chất lượng chính là đội ngũ quản lý, giáo viên, nhân viên nhà trường. Với mỗi năm học nhà trường đều tổ chức đánh giá mức độ hài lòng và hạnh phúc của học sinh về từng chương trình, về từng nhân viên. Chính vì khắt khe trong việc nâng cao chất lượng nên tần suất sử dụng thiết bị giáo dục của giáo viên rất cao. Bởi chính thiết bị giáo dục là một trong những thành tố quan trọng trong quá trình dạy học. Những thiết bị giáo dục nào mà nhà trường chưa kịp trang bị giáo viên thường cho học sinh xem những clip mô phỏng lại quá trình thí nghiệm hoặc đưa học sinh đi thực tế tại những trung tâm công nghệ cao. Với vai trò là một giáo viên trực tiếp làm việc tại trường tôi đánh giá cao tinh thần giảng dạy, sự chịu khó và trách nhiệm với nghề của giáo viên trường TH – THCS Pascal.
Qua bảng 2.5 cho thấy hầu hết các thiết bị giáo dục của môn năng khiếu, tin học, thể dục, kỹ năng sống, máy tính, máy chiếu thì đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên phòng thực hành lý, hóa, sinh thì chưa được đầy đủ, chưa đáp ứng tốt nhu cầu của chương trình. Các giáo viên phải chủ động tìm những nguồn khác để cho học sinh được thực hành, được kiểm nghiệm, tự lĩnh hội kiến thức.
Bảng 2.6. Công tác nâng cao trình độ kỹ năng sử dụng thiết bị giáo dục cho cán bộ, giáo viên, nhân viên
Qua bảng 2.6 cho thấy trường TH – THCS Pascal đã chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng sử dụng thiết bị giáo dục cho các bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Với 3 hình thức nhà trường sử dụng thì hình thức “Sử dụng chuyên gia của nhà trường hoặc mời chuyên gia đến tập huấn” kiến thức về việc sử dụng thiết bị giáo dục được nhà trường hay sử dụng nhất. Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
Bảng 2.7. Công tác bảo trì, bảo dưỡng, bảo quản và sửa chữa thiết bị giáo dục tại trường TH – THCS Pascal
Qua bảng 2.7 cho thấy: Công tác quản lý, bảo trì, bảo dưỡng, bảo quản thiết bị giáo dục của Pascal chưa tốt. Để thuận lợi cho việc mượn – trả đồ dùng nên nhà trường đã chia các thiết bị ra nhiều bộ phận khác nhau để quản lý nên công tác tập hợp thiết bị giáo dục đi bảo trì, bảo dưỡng còn chậm trễ. Bên cạnh đó những giáo viên phụ trách các phòng chức năng chủ yếu còn kiêm nhiệm nên thời gian dành cho việc sắp xếp và tìm hiểu tình trạng của thiết bị chưa được bố trí hợp lý. Mặt khác với tần suất sử dụng thiết bị giáo dục nhiều như thế nên việc hay hỏng hóc xảy ra là điều hiển nhiên. Nhà trường ít chú ý đến việc tra dầu mỡ cho máy móc hay độ ẩm của phòng máy móc trong mùa nồm, dịch bảo quản mối mọt đối với tài liệu là sách báo, bàn đồ… cũng chưa được sử dụng. Hàng quý nhà trường đã tiến hành kiểm kê những cũng chưa cải thiện nhiều trong việc sửa chữa thiết bị. Nhưng hàng năm nhà trường bỏ ra số tiền tương đối để đầu tư Cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục đảm bảo điều kiện dạy và học.
2.3. Thực trạng quản lí thiết bị giáo dục theo hướng tiếp cận đảm bảo chất lượng ở trường TH – THCS Pascal, thành phố Hà Nội
2.3.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò của thiết bị và quản lý thiết bị giáo dục trong nhà trường
Thiết bị giáo dục là phương tiện đặc biệt quan trọng quyết định đến việc đổi mới phương pháp dạy học, là một thành tố quan trọng của quá trình dạy học, được thầy và trò cùng sử dụng trong các giờ lên lớp. Thiết bị giáo dục có khả năng to lớn giúp cho việc tổ chức hoạt động của học sinh theo hướng tích cực, chủ động, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
Với vị trí vai trò quan trọng như thế nên ở Pascal thiết bị giáo dục là một phần không thể thiếu trong mỗi tiết học. Tình thần sử dụng thiết bị giáo dục hỗ trợ cho việc hình thành và tự lĩnh hội kiến thức được thấm nhuần trong tư tưởng và hành động của nhà quản lý, của giáo viên và học sinh. thiết bị giáo dục là rất quan trọng và không thể thiếu trong các tiết dạy của giáo viên. Phong trào tự làm đồ dùng dạy học được các giáo viên và học sinh đón nhận một cách rất hào hứng và nhiệt tình. Điều đó được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.8. Nhận thức về vai trò của thiết bị giáo dục của CBQL, GV trường TH – THCS Pascal
2.3.2. Thực trạng xây dựng và tổ chức hoạt động bộ máy quản lí thiết bị giáo dục
Bảng 2.9. Công tác xây dựng và hoạt động của bộ máy quản lý thiết bị giáo dục
Qua bảng 2.9 cho thấy công tác xây dựng và hoạt động của bộ máy quản lý thiết bị giáo dục của trường TH – THCS Pascal tương đối tốt, mỗi thành viên trong tổ đều nắm được nhiệm vụ của mình và tiến hành hoạt động tốt. Tuy nhiên chế độ chính sách và đãi ngộ đối với các bộ, giáo viên kiêm nhiệm thêm việc quản lý Cơ sở vật chất chưa được tốt cho lắm, mới chỉ có một chút được gọi là động viên. Giáo viên chủ yếu làm vì tinh thần trách nhiệm với nhà trường và vì thuận lợi cho việc giảng dạy bộ môn mình đang quản lý. Đặc biệt đối với phòng thực hành lý, hóa, sinh thì cả ba nhóm trưởng của 3 môn học này đều có chìa khóa và phải phụ trách công việc của phòng nên chính sách hỗ trợ lại phải chia sẻ nên cũng là những điều gây cản trở đến sự vận hành quản lý thiết bị giáo dục. Công tác phân công công việc với phòng bộ môn này luôn gặp khó khăn vì luôn trong tình trạng “cha chung không ai khóc”. Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
Bảng 2.10. Mức độ nhận thức và năng lực của đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên trong việc quản lý thiết bị giáo dục
Quan bảng 2.10 ta thấy: Đội ngũ quản lý của Pascal có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu của giáo dục và luôn luôn được tin tưởng khi thực hiện những nhiệm vụ quản lý của mình. Đội ngũ giáo viên cũng luôn hoàn thành nhiệm vụ cơ bản và lấy được niềm tin từ nhà trường, học sinh và phụ huynh. Tuy nhiên vẫn có một bộ phận giáo viên chưa tự tin thực hiện những phương pháp dạy học mới cần áp dụng công nghệ cao trong các giờ lên lớp.
2.3.3. Thực trạng về quản lí xây dựng thiết bị giáo dục
Qua bảng 2.11 cho thấy công tác xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư, phát triển thiết bị giáo dục theo nguyên tắc đảm bảo chất lượng Pascal đã có nhưng mới chỉ dừng lại ở khâu lập kế hoạch tốt, còn khâu giám sát đánh giá các nội dung của công tác thiết bị giáo dục chưa được tốt lắm. Điều này là do bộ máy quản lý thiết bị giáo dục quá cồng kềnh. Thuận lợi cho giáo viên trong việc mượn – trả thiết bị giáo dục nhưng công tác quản lý và giám sát lại gặp khó khăn. Tuy nhiên nhà trường lại rất đầu tư trong việc phát triển hệ thống thiết bị giáo dục để đảm bảo và đáp ứng được nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh. Ngoài việc mua các trang thiết bị thì các kỳ thi tự làm đồ dùng dạy học sáng tạo cũng được triển khai thường xuyên. Chính thầy cô giáo và học sinh là người biết mình cần gì nhất trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Thế nên ở Pascal có rất nhiều thiết bị và mô hình phục vụ việc học tập của các con. Đây cũng là những hoạt động ngoại khóa mà giáo viên và học sinh rất yêu thích.
Hàng năm vào đầu năm học thì các cán bộ quản lý bộ phận mình đã có thức lập kế hoạch quản lý sử dụng cũng như kế hoạch sử dụng thiết bị vào đầu năm học trong bảng kế hoạch năm học của giáo viên, của tổ chuyên môn và của nhà trường. Điều này đã được tổng hợp qua bảng 2.12.
Bảng 2.12. Thời điểm lập kế hoạch quản lý và sử dụng thiết bị giáo dục
2.3.4. Thực trạng về quản lí việc sử dụng và bảo quản thiết bị giáo dục Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
Ở Pascal việc sử dụng thiết bị giáo dục trong các giờ học được thực hiện tốt, hiệu suất sử dụng cao, tần suất sử dụng thường xuyên. Chính những điều này đã tạo nên chất lượng dạy học ở Pascal. Giáo viên nhiệt tình trong công tác chuyên môn, học sinh hứng thú trong việc tự lĩnh hội kiến thức và tự chế những đồ dùng ứng đụng được kiến thức đã học. Điều đó được thể hiện thông qua bảng sau.
- Bảng 2.13. Công tác quản lý việc sử dụng thiết bị giáo dục
- Bảng 2.14. Quy trình ĐBCL trong công tác thiết bị giáo dục
Qua bảng 2.14 ta thấy: Pascal đã thiết lập chuẩn và xây dựng quy trình đảm bảo chất lượng cho công tác quản lý thiết bị giáo dục. Tuy nhiên, việc áp dụng quy trình này vào thực tế còn nhiều bất cập nên tỉ lệ triển khai thành công chưa cao, mới chủ yếu đạt mức khá và trung bình. Điều này xảy ra có thể do hai nguyên nhân: Thứ nhất, là quy trình xây dựng lên chưa được hoàn thiện nên gặp khó khăn cho những người sử dụng. Thứ hai là do công tác tuyên truyền và triển khai văn hóa chất lượng trong nhà trường chưa thực hiện triệt để. Công tác đánh giá việc triển khai các quy trình này cũng chưa sát sao và thường xuyên. Như vậy văn hóa chất lượng thể hiện qua việc áp dụng các quy trình của đảm bảo chất lượng vào công tác quản lý thiết bị giáo dục là chưa cao.
Để nâng cao công tác quản lý thiết bị giáo dục theo tiếp cận đảm bảo chất lượng thì cần xây dựng một hệ thống các quy trình đảm bảo chất lượng sao cho đầy đủ và dễ sử dụng. Với quy trình đảm bảo chất lượng mà Pascal xây dựng cho công tác quản lý thiết bị giáo dục vẫn còn dài dòng, chưa ngắn gọn nên những người sử dụng thiết bị giáo dục gặp nhiều khó khăn khi áp dụng quy trình này. Điều này được thể hiện qua bảng 2.15.
Bảng 2.15. Đánh giá việc vận hành quy trình quản lý thiết bị giáo dục theo tiếp cận đảm bảo chất lượng
Qua bảng 2.16 ta thấy: Cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên ở Pascal đều nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng quy trình trong quản lý thiết bị giáo dục theo tiếp cận đảm bảo chất lượng. Mục tiêu này rất quan trọng và rất cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. Bởi chỉ có nâng cao chất lượng thì nhà trường mới tồn tại bền vững và lâu dài. Và quản lý theo chất lượng, quản lý bằng các quy trình là lời giải cho bài toán nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Bảng 2.17. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận hành quy trình quản lý thiết bị giáo dục
Từ kết quả trên cho thấy: ở Pascal đã xây dựng được một số quy trình vận hành trong quản lý thiết bị giáo dục nhưng chưa đầy đủ. Việc thực hiện những quy trình đã ban hành cũng chưa cao. Nguyên nhân là do quy trình chưa dễ thực hiện còn lườm rà và cần nhiều bộ phận phối hợp. Công tác kiểm tra việc thực hiện quy trình chưa được thực hiện thường xuyên và chưa chặt chẽ. Hoạt động phân tích đánh giá và cải thiện quy trình quản lý được thực hiện rất bị động và có những hạng mục chưa thực hiện. Việc kết hợp giữa CB, GV, NV để xây dựng quy trình quản lý và thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý chưa được hiệu quả. Tuy nhiên mọi thành viên trong trường đều nhận thức được rằng việc cùng nhau xây dựng quy trình hợp lý và thực hiện quy trình quản lý nghiêm ngặt là con đường hiệu quả nhất trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
Bên cạnh đó thì công tác bảo quản thiết bị giáo dục chưa được tốt và khoa học. Thời gian khắc phục còn hạn chế. Điều đó xảy ra là do các đồ dùng dạy học đã được phân về từng tổ chuyên môn nên tốn nhiều phòng, kho cho việc lưu trữ, công tác thống kê cũng gặp khó khăn, công tác bảo trì, bảo quản chưa tốt vì quản lý các phòng chức năng toàn là giáo viên kiêm nhiệm nên không có chuyên môn sau trong việc sắp xếp và sao cho khoa học và bảo quản sao cho tốt nhất. Điều đó được thể hiện qua bảng 2.18.
Bảng 2.18. Công tác bảo trì, bảo dưỡng, bảo quản thiết bị giáo dục của nhà trường Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
2.3.5. Thực trạng quản lí nâng cao năng lực, tạo điều kiện cho CB,GV tham gia quản lí thiết bị giáo dục
Đối với công tác nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng sử dụng thiết bị giáo dục cho cán bộ, giáo viên tại trường TH – THCS Pascal thì nhà trường chủ yếu sử dụng phương pháp mời chuyên gia đến bồi dưỡng, tập huấn hoặc sử dụng chuyên gia của nhà trường đào tạo nội bộ vào các sáng thứ 7. Ngoài ra những thiết bị yêu cầu cao trong việc sử dụng ngoài đào tạo nội bộ trường còn gửi văn bản hướng dẫn sử dụng đến từng bộ phận có liên quan.
2.4. Đánh giá thực trạng thiết bị giáo dục và quản lý thiết bị giáo dục trường TH – THCS Pascal, thành phố Hà Nội
Qua khảo sát thực tế và đánh giá thực trạng thiết bị giáo dục và quản lý thiết bị giáo dục tại trường TH – THCS Pascal, tôi rút ra một số nhận định sau:
2.4.1. Điểm mạnh
Hội đồng quản trị trường có những định hướng rõ ràng về việc đầu tư tăng cường trang bị Cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục. Điều này thể hiện trong việc nhà trường dành rất nhiều diện tích (5000 m2) để xây dựng khu thể thao liên hợp. Trang bị đồng bộ các thiết bị giáo dục hiện đại ngay từ đầu.
- CBQL cũng như GV đều nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học. Đây là điều kiện cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cũng như đảm bảo được yêu cầu phát triển và tiến tới hội nhập quốc tế của nhà trường.
- Quy trình đầu tư mua sắm, sử dụng và bảo quản thiết bị giáo dục tương đối hoàn chỉnh.
- TBGD của trường được đảm bảo ở mức tối thiểu so với quy định của Bộ giáo dục và đào tạo cũng như yêu cầu dạy học của giáo viên.
- Những cuộc thi đồ dùng dạy học sáng tạo được tổ chức hàng năm thông qua tiêu chí chấm thi hội giảng mỗi năm 2 lần đã mang lại hiệu quả phát triển thiết bị giáo dục tương đối cao.
2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
- Một số giáo viên còn ngại khó khi sử dụng thiết bị giáo dục trong các bài giảng. Phương pháp và kĩ thuật sử dụng thiết bị giáo dục còn lúng túng nên hiệu suất sử dụng thiết bị giáo dục còn chưa cao.
- Đội ngũ quản lý thiết bị giáo dục còn mỏng và phải kiêm nhiệm thêm nhiều việc nên công tác mượn – trả thiết bị giáo dục chưa được nhanh gọn.
- Nguồn kinh phí để đầu tư thiết bị giáo dục đều do Hội đồng quản trị tri trả, chưa được sự quan tâm và đầu tư, cấp phát của nhà nước.
- Công tác tập huấn sử dụng thiết bị giáo dục tiên tiến chưa được tổ chức thường xuyên.
- Các phòng chức năng và kho thiết bị giáo dục, thư viện còn nhỏ.
2.4.3. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
- CSVC, các trang bị bảo quản như, giá kệ, thuốc chống mối mọt… còn thiếu nên làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng và bảo quản thiết bị giáo dục.
- CBQL và GV chưa được đào tạo chuyên sâu về công tác quản lý thiết bị giáo dục nên rất lúng túng trong quá trình chỉ đạo điều hành và sử dụng thiết bị giáo dục.
- Công tác hướng dẫn sử dụng thiết bị giáo dục chưa cao nên họ cũng chưa biết cách bảo quản sao cho đúng cách.
- Nguyên nhân chủ quan
- Một số GV nhận thức về vai trò, vị trí của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học còn chưa cao nên vẫn có tư tưởng dạy chay, ngại khó trong việc sử dụng thiết bị giáo dục hiện đại
- Công tác xã hội hóa trong việc huy động các nguồn lực để trang bị thiết bị giáo dục còn chưa cao.
- Số lượng học sinh tăng lên nhanh nên công tác quản lý thiết bị giáo dục cũng gặp nhiều khó khăn.
- Năng lực quản lý thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng còn hạn chế vì không được đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực này mà chủ yếu quản lý bằng kinh nghiệm nên chưa thực sự tạo ra được những biện pháp khả thi trong vấn đề quản lý thiết bị giáo dục.
- Công tác kiểm tra đánh giá công tác quản lý thiết bị giáo dục của Hiệu trưởng còn xem nhẹ, chưa thường xuyên.
Tiểu kết chương 2
Trường TH – THCS Pascal đã được Hội đồng quản trị trường trang bị, đầu tư Cơ sở vật chất TBGD nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu giáo dục ngoài yếu tố khách quan thì công tác quản lý thiết bị giáo dục trong nhà trường có vai trò hết sức quan trọng.
Thực tế, tại trường TH – THCS Pascal công tác quản lý thiết bị giáo dục đã được chú trọng song vẫn còn nhiều bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Vấn đề này làm cho người quản lý, nhà giáo dục phải trăn trở về trách nhiệm của mình trong công tác quản lý thiết bị giáo dục sao cho đảm bảo được chất lượng giáo dục của nhà trường.
Với những tồn tại cơ bản tại chương 2, chúng tôi nhận thấy cần phải xây dựng những biện pháp hợp lý, khoa học trong công tác quản lý thiết bị giáo dục nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục. Luận văn: Thực trạng về quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lí thiết bị giáo dục tại trường tiểu học
