Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn, Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. GIỚI THIỆU VỀ UBND QUẬN ĐỒ SƠN, HẢI PHÕNG

2.1.1 Giới thiệu về UBND quận Đồ Sơn

Quận Đồ Sơn được thành lập và chính thức đi vào hoạt động theo địa giới hành chính mới từ ngày 01/01/2008, căn cứ vào Nghị định 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kiến Thụy để thành lập Quận Đồ Sơn, Quận Dương Kinh thành phố Hải Phòng. Quận Đồ Sơn bao gồm toàn bộ 3.153,07 ha diện tích tự nhiên của Thị xã Đồ Sơn cũ và 1.095 ha diện tích tự nhiên của xã Hợp Đức huyện Kiến Thuỵ. Quận có diện tích tự nhiên 42,4807 km2, dân số 44.775 nhân khẩu với 7 phường trực thuộc.

UBND quận là cơ quan quản lý Nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng quản lý nhà nước tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng tại địa phương;

Đối tượng quản lý của UBND Quận lớn bao gồm: 12 cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, 29 đơn vị sự nghiệp, 07 phường; toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của quận (trên 1.000 người).

Cơ cấu tổ chức của UBND quận được xây dựng theo quy định tại Điều

  • Luật Tổ chức chính quyền địa phương, bao gồm:
  • Chủ tịch UBND và 02 Phó chủ tịch UBND.
  • 12 cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận

Với đặc thù là cơ quan quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, UBND quận Đồ Sơn còn quản lý các đơn vị sự nghiệp sau:

Các đơn vị sự nghiệp giáo dục

  • Các đơn vị sự nghiệp khác

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của UBND quận Đồ Sơn.

Cơ cấu tổ chức của UBND quận Đồ Sơn được phân ra thành 3 nhóm. *) Nhóm các cơ quan chuyên môn: Quận Đồ Sơn hiện có 12 cơ quan chuyên môn gồm Phòng: Nội vụ; Tư pháp; Tài chính – Kế hoạch; Tài nguyên và Môi trường; Lao động – Thương binh và Xã hội; Du lịch, Văn hóa và Thông tin; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Thanh tra; Văn phòng HĐND và UBND; Phòng Quản lý đô thị; Phòng Kinh tế. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Nhóm các đơn vị sự nghiệp giáo dục:

  • Bậc học Mầm non: 09 trường;
  • Bậc học bậc Tiểu học: 06 trường;
  • Bậc học bậc THCS: 05 trường;
  • Trung tâm Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên.

Nhóm các đơn vị sự nghiệp khác

Đơn vị sự nghiệp tự chủ một phần kinh phí, gồm:

  • Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể thao;
  • Đài phát thanh;
  • Trung tâm Dân số Kế hoạch hóa gia đình;
  • Đơn vị sự nghiệp tự chủ hoàn toàn kinh phí:
  • Trung tâm Phát triển quỹ đất;
  • Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng;
  • Ban Quản lý các di tích lịch sử văn hóa;
  • Trung tâm Dịch vụ và Phát triển du lịch;
  • Ban Quản lý Bến xe;
  • Hội chữ thập đỏ.

Chức năng nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn:

  • Văn phòng HĐND và UBND quận:

Tham mưu tổng hợp cho UBND về: Hoạt động của UBND; tham mưu cho Chủ tịch UBND về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch UBND; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động của UBND và các cơ quan nhà nước ở địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của UBND; trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND quận, chuyển hồ sơ đến các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận giải quyết và nhận kết quả để trả cho cá nhân, tổ chức; giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác ngoại vụ, biên giới.

  • Phòng Nội vụ: Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua – khen thưởng.

  • Phòng Tư pháp:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

  • Phòng Tài chính – Kế hoạch:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tài chính; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế tư nhân.

  • Phòng Tài nguyên và Môi trường:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo.

  • Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Việc làm; dạy nghề; lao động, tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội.

  • Phòng Du lịch, Văn hóa và Thông tin: Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông và Internet; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin.

  • Phòng Giáo dục và Đào tạo:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.

  • Phòng Y tế:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số – kế hoạch hóa gia đình.

  • Thanh tra quận:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

  • Phòng Kinh tế:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại; nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối.

  • Phòng Quản lý đô thị:

Tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông.

2.1.3. Đội ngũ công chức, viên chức của UBND quận Đồ Sơn Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức của UBND quận được chia làm 2 bộ phận.

  • Công chức hành chính

Bảng 2.1: Số lượng và cơ cấu công chức hành chính tại UBND quận Đồ Sơn năm 2025

Qua bảng 2.1, ta có thể thấy: Đội ngũ công chức hành chính của UBND quận chủ yếu là các chuyên viên và chuyên viên chính. Trong đó, tỷ trọng chuyên viên chính đạt 13,5% là khá cao.

Biểu đồ 2.1 : Cơ cấu đội tuổi của CBCC quận Đồ Sơn năm 2025

Về độ tuổi, 66% CBCC quận có độ tuổi dưới 30-50, điều này cho thấy đa số CBCC quận ở độ tuổi trung niên, độ tuổi sung sức cống hiến cho công việc. Tuy nhiên, tỷ lệ CBCC có độ tuổi dưới 30 chỉ chiếm 13.75 % là tương đối ít, điều này cho thấy mức độ trẻ hóa của đội ngũ CBCC quận là thấp. Cũng theo thống kê trong cuộc điều tra khảo sát của chúng tôi, hầu hết CBCC được hỏi trong độ tuổi này đều ủng hộ việc xây dựng VHCS là một điều cần thiết, hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của UBND quận, trong khi đó khoảng 10% CBCC được hỏi thuộc độ tuổi trung niên cho rằng việc ban hành quy chế VHCS chỉ mang tính hình thức, không thực sự hiệu quả. Điều này phần nào phản ánh rằng đội ngũ CBCC trẻ sẽ dễ quen và chấp nhận những tiêu chuẩn giá trị mới cũng như dễ thay đổi hành vi của họ theo hướng tích cực hơn.

  • Viên chức sự nghiệp

Bảng 2.2: Số lượng và cơ cấu viên chức sự nghiệp năm 2025

Về viên chức sự nghiệp, chia làm 2 loại là viên chức sự nghiệp và viên chức giáo dục. Về cơ cấu ngạch công chức, ta thấy vì đây là khối viên chức sự nghiệp nên tỉ lệ chuyên viên chính thấp hơn. Còn đối với khối sự nghiệp giáo dục, giáo viên chiếm đa số. Với tính đặc thù của ngành giáo dục, việc xây dựng văn hóa công sở với bộ phận viên chức này sẽ thuận lợi hơn.

Cơ cấu độ tuổi của hai nhóm viên chức này có thể được biểu thị ở 2 biểu đồ 2.2a, 2.2b.

  • Biểu đồ 2.2a: Cơ cấu độ tuổi của viên chức khối sự nghiệp giáo dục
  • Biểu đồ 2.2b: Cơ cấu độ tuổi của viên chức khối sự nghiệp công lập

Như vậy, cũng giống như khối công chức hành chính quận, đội ngũ viên chức khối sự nghiệp công lập có tỷ trọng độ tuổi trung niên cao và độ tuổi dưới 30 chiếm ít nhất. Trong khi đó, đối với khối viên chức sự nghiệp giáo dục, mức độ trẻ hóa rất cao, tỷ lệ viên chức dưới 30 tuổi chiếm tới 40.39%, một lần nữa cho thấy việc xây dựng văn hóa công sở đối với khối sự nghiệp giáo dục sẽ có nhiều thuận lợi hơn.

Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, do điều kiện nguồn lực và thời gian có hạn, tác giả chỉ nghiên cứu thực trạng VHCS đối với khối công chức hành chính làm việc tại UBND quận, nơi thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, giải quyết các công việc có tính chất quản lý hành chính Nhà nước.

2.2. THỰC TRẠNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI UBND QUẬN ĐỒ SƠN, HẢI PHÕNG Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Vấn đề văn hóa công sở là một vấn đề được UBND quận Đồ Sơn đặc biệt quan tâm. Với quyết tâm xây dựng một công sở văn hóa, ngày 15/9/2025, UBND quận Đồ Sơn đã ban hành “Quy chế Văn hóa công sở và Quy tắc ứng xử của cán bộ,công chức, viên chức các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND quận Đồ Sơn”. Quy chế bao gồm 5 Chương, 26 Điều quy định về các phương diện: trang phục của cán bộ công chức; giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức; bài trí công sở. Việc ban hành quy chế thể hiện quyết tâm của lãnh đạo UBND quận Đồ Sơn trong việc xây dựng văn hóa công sở. Tuy nhiên quy chế này mới được ban hành và đưa vào thực hiện từ tháng 9/2025, khoảng thời gian thực hiện quy chế mới được rất ngắn, hiện vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề liên quan đến văn hóa công sở cần phải được nhận diện và giải quyết. Ngoài ra, việc quan trọng hơn là phải xem Quy chế ban hành được áp dụng áp dụng như thế nào trong thực tiến, tránh trường hợp việc ban hành chỉ là theo “mốt” (Thuận An, 2009). Có thể nói, do thời gian ban hành quy chế đến nay quá ngắn, nên trong nghiên cứu này chúng tôi chưa thể phản ánh được hiệu quả và tác động của quy chế đến việc xây dựng VHCS tại UBND quận.

2.2.1. Điều kiện làm việc của cán bộ công chức UBND quận Đồ Sơn

Điều kiện làm việc là một thành tố, đồng thời cũng là một biểu hiện của văn hóa công sở. Điều kiện làm việc cho ta biết cách thức tổ chức công việc hợp lý hay chưa, môi trường làm việc đáp ứng hay chưa nhu cầu của nhân viên.

Trụ sở của UBND quận có diện tích khuôn viên: 3.888,0 m2,gồm 03 dãy nhà 3 tầng với tổng diện tích xây dựng: 1.249,6 m2 trong đó nhà A: 795,5 m2; nhà B: 202,1 m2; nhà C: 252,0 m2. Đây trước là là trụ sở làm việc của UBND thị xã Đồ Sơn. Từ khi thành lập quận, số lượng các phòng ban, cán bộ công chức tăng khiến cho diện tích làm việc rất chật hẹp, không đảm bảo tiêu chuẩn diện tích làm việc theo quy định tại Quyết định số 260/2006/QĐ-TTg ngày 14/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, nhà làm việc Hội đồng nhân dân quận vẫn chưa được xây dựng. Nguồn kinh phí từ ngân sách Thành phố cấp và ngân sách Quận bố trí hàng năm chỉ đảm bảo phục vụ sửa chữa thường xuyên, nâng cấp cải tạo các công trình có tổng mức đầu tư, quy mô nhỏ, không đủ để đầu tư, xây dựng mới Trung tâm hành chính, chính trị Quận.

Về cách thức bài trí công sở, trụ sở UBND quận tuân thủ theo quy chế văn hóa ban hành ở trên ở các khía cạnh: treo Quốc huy, quốc kỳ; biển tên cơ quan. Các phòng làm việc đều có biển tên, ghi rõ tên đơn vị; danh sách gồm họ và tên, chức danh cán bộ, công chức, viên chức trong phòng. Vị trí đặt biển tên được đặt ở chỗ dễ nhìn, dễ trông thấy.

Tuy nhiên, việc bố trí, tổ chức phòng làm việc của các cán bộ công chức của Ủy ban cũng tồn tại một số vấn đề. Kết quả khảo sát điều tra được thể hiện ở biểu đồ 2.3. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Biểu đồ 2.3: Kết quả khảo sát về điều kiện làm việc

Theo kết quả ở biểu đồ 2.3, 31.25 % cán bộ được hỏi cho biết họ không hài lòng với cách sắp xếp trong phòng làm việc của mình. Các trang thiết bị, đồ đạc trong phòng được bố trí chưa ngăn nắp, tiện lợi, thẩm mỹ. Theo họ, đó là do diện tích phòng làm việc hẹp nên việc bố trí các trang thiết bị không khoa học. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, các phòng làm việc về cơ bản đều được trang bị đầy đủ hệ thống phương tiện làm việc và trang thiết bị. Vấn đề ở chỗ các cán bộ công chức chưa tận dụng và phát huy hết công dụng của chúng, chưa thực sự có ý thức sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp các đồ dùng. Trên bàn làm việc còn tồn tại phổ biến tình trạng giấy tờ, hồ sơ, tài liệu không được sắp xếp gọn gàng.

Một khía cạnh quan trọng nữa trong điều kiện làm việc là các cán bộ công chức phải được cung cấp đầy đủ trang thiết bị cũng như văn phòng phẩm cần thiết. Theo kết quả khảo sát, hầu hết cán bộ được hỏi (90%) cho rẳng họ được đáp ứng tốt trang thiết bị và văn phòng phẩm. Khi hỏi rõ thêm, họ cho biết; các văn phòng phẩm thông dụng như giấy in, giấy photo, các loại bút, ghim… được cung cấp theo định kỳ rất đầy đủ. Các loại văn phòng phẩm chuyên dụng cho các phòng chuyên môn như: bìa hồ sơ, các loại sổ sách, mực đóng dấu… được cung cấp theo nhu cầu thực tế của cán bộ.

Về các tiện ích khác, trụ sở làm việc của UBND quận nằm ở vị trí trung tâm, tiện đường cho cán bộ công chức đi làm việc, cho khách và nhân dân đến liên hệ công tác. Trụ sở cũng có sân đỗ ô tô, rộng, thuận tiện, có nhà để xe dành riêng cho khách và cán bộ nhân viên. Theo quy chế ban hành, Ủy ban không thu phí gửi phương tiện giao thông của người đến giao dịch, làm việc, liên hệ công tác. Quang cảnh trụ sở được tổ chức thông thoáng, sạch đẹp, không có hàng quán kinh doanh lộn xộn vây quanh.

Nhìn chung, trụ sở làm việc của UBND quận Đồ Sơn đạt yêu cầu về cảnh quan, là một nét tích cực đóng góp vào việc xây dựng văn hóa công sở. Tuy nhiên, diện tích sử dụng làm việc thực sự của một số bộ phận (đặc biệt là Hội đồng nhân dân) còn chưa đảm bảo. Việc bố trí bên trong các văn phòng làm việc còn chưa hợp lý. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân có tính lịch sử do trước đây chỉ là trụ sở của UBND thị xã Đồ Sơn, do vấn đề kinh phí Nhà nước chưa đủ để thực hiện xây mới, nhưng một phần cũng do ý thức và phong cách làm việc của một số cán bộ công chức, cần phải có những biện pháp điều chỉnh

2.2.2. Trình độ của cán bộ công chức, viên chức UBND quận Đồ Sơn Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Theo Nguyễn Thị Huyền Hạnh (2025), trình độ, năng lực nhận thức của các CBCC được biểu hiện qua mức độ nắm vững kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, chức trách, quyền và nghĩa vụ của bản thân; hệ thống các quy tắc xử sự với cấp trên, đồng nghiệp và với nhân dân…là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến VHCS. Để có thể xây dựng một nền văn hóa công sở tiên tiến, thì đội ngũ CBCCVC cần phải có được trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí của mình.

Hiện nay, theo đề án tinh giản biên chế của UBND quận Đồ Sơn, đội ngũ cán bộ công chức của UBND quận đều đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ tương ứng với các vị trí biên chế. Cơ cấu trình độ của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức quận được thể hiện trong bảng 2.3.

Bảng 2.3: Cơ cấu theo trình độ của CBCCVC quận Đồ Sơn

  • Cơ cấu trình độ trên có thể được biểu thị ở biểu đồ 2.4.

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu trình độ CC hành chính tại UBND quận Đồ Sơn

Qua biểu đồ 2.4 có thể thấy, gần 77.5% CBCC hành chính quận có trình độ đại học và 1.25% có trình độ trên đại học, chỉ có 2.5 % CBCC (là các nhân viên lái xe )là chưa qua đào tạo. Có thể nói trình độ đội ngũ CBCC quận là khá cao, hầu hết đều đáp ứng tiêu chuẩn đề ra của vị trí. Đây là một điểm rất thuận lợi cho việc xây dựng và duy trì nền VHCS tiên tiến.

Tuy nhiên, dữ liệu ở bảng 2.3 chỉ phản ánh được trình độ bằng cấp nói chung, có tính tất cả các loại hình đào tạo bao gồm tại chức, từ xa, chính quy…và chưa tính đến yếu tố bằng cấp có đúng chuyên ngành hay không. Theo đề án việc làm và đề án tinh giản biên chế quận Đồ Sơn, hiện nay ở UBND quận vẫn còn tình trạng có đơn vị bố trí, sử dụng công chức, viên chức chưa đúng với trình độ đào tạo, chưa hợp lý, còn mang tính chất cảm tính.

Ngoài ra, một số công chức, viên chức do chuyển từ cơ chế cũ, được hình thành từ nhiều nguồn nên cơ cấu chưa đồng bộ, trình độ, phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Một số chức danh công chức, viên chức tuy đạt chuẩn theo quy định nhưng do tuổi cao, năng lực hạn chế và trình độ chuyên môn không phù hợp với vị trí đang làm lại chưa đủ điều kiện nghỉ hưu, chưa có chính sách hỗ trợ hợp lý về chế độ nghỉ hưu trước tuổi nên chưa thể bố trí, bổ nhiệm được cán bộ trẻ thay thế.

2.2.3. Tác phong làm việc của cán bộ công chức, viên chức UBND quận Đồ Sơn

Trong xã hội hiện đại, mọi thiết bị, khoa học, kỹ thuật đều có thể nhập khẩu, duy chỉ có con người và tác phong vốn có là rất khó thay thế. Vì thế nó có rất nhiều vấn đề bất cập. Đây là biểu hiện cơ bản và quan trọng của văn hóa công sở, chưa có một phong trào hay một biện pháp hữu hiệu nào có thể thay đổi lề lối làm việc, tác phong, ứng xử của cán bộ, công chức.

Để khảo sát lề lối làm việc của cán bộ công chức quận, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “Anh/ chị thường bắt đầu một ngày làm việc như thế nào?”. Kết quả thu được là: 27.6% dọn dẹp qua phòng làm việc; 16.4% uống trà cùng đồng nghiệp; 33.6% trao đổi một số thông tin cần thiết; chỉ có 22.4% bắt đầu làm việc ngay. Các phương án đưa ra trả lời đã có sự cân nhắc một chút về cầu chữ để đối tượng được khảo sát trả lời một cách khách quan. Bởi nếu hỏi thẳng điều cần biết, chúng ta sẽ không thể nhận được câu trả lời thẳng thắn, trung thực. Căn cứ vào kết quả điều tra, kết hợp với phưong pháp quan sát thực tế và phân tích, chúng tôi kết luận một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức quận có lề lối làm việc chưa khoa học, còn trì trệ và thiếu chủ động.

Đây là tác phong vốn có của người Việt Nam do chịu ảnh hưởng của tập quán nông nghiệp. Khác với người phương Tây, khi làm việc họ luôn bắt đầu ngay và bắt đầu một cách tập trung, thì người phương Đông đặc biệt là người Việt Nam thường rất đủng đỉnh, tuỳ tiện trong công việc. Cán bộ công chức cũng vậy, khi đến công sở, họ ít khi bắt đầu ngay vào công việc mà thường làm một số việc cá nhân riêng tư. “Dọn dẹp qua phòng làm việc” chỉ chiếm một thời gian rất ít vì việc đó đã có cán bộ vệ sinh đảm nhiệm. Thực tế của công việc này là các việc lặt vặt khác như: cắm hoa, rửa ấm chén, tranh thủ sắc thuốc, sạc điện thoại…Có 27.6% cán bộ, công chức bắt đầu một ngày làm việc như vậy. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Việc uống trà cùng đồng nghiệp trước khi bắt đầu công việc là một thực tế không cần phải ngụy biện bằng hành động khác vì đó là một thói quen sinh hoạt văn hoá; phải chấp nhận nó như một lẽ tự nhiên. Tuy nhiên điều đáng nói đây là thời gian dành cho việc này lại quá nhiều, nó không chỉ diễn ra vào đầu giờ làm, mà còn diễn ra trong suốt quá trình làm, thậm chí cả khi sắp hết giờ. Mỗi khi có khách đến phòng, không kể việc riêng hay việc tư, mọi người trong phòng có thể ngừng hết công việc để uống trà, tiếp chuyện. Có những người đã tâm sự “tôi đã lang thang qua tám ấm trà ở các phòng ban trong cơ quan”. Điều đó cho thấy, một số cán bộ công chức quận đã quá lạm dụng việc uống trà đề trốn tránh công việc. Vì không có một cơ quan nào lại có thể đưa ra quy định cấm nhân viên uống trà trong giờ làm việc.

Có 33.6% cán bộ công chức quận thường trao đổi một số thông tin cần thiết trước khi bắt đầu công việc. Nhu cầu này là thiết thực và thực tế là có nhiều cán bộ, công chức làm như vậy. Nhưng đó chỉ là số ít. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi thấy phần lớn việc “trao đổi thông tin cần” là những chuyện cá nhân, riêng tư, chuyện gia đình, chứ không phải chuyên công việc.

Những con số thống kê đó không thể tuyệt đối chính xác nhưng theo đánh giá của chúng tôi nó phản ánh gần chính xác tình hình thực tế. Đây là một thực trạng khá phổ biến nên sớm được chấn chỉnh. Nguyên nhân của tình trạng này, ngoài yếu tố văn hoá truyền thống còn là do ý thức của cán bộ, công chức, sự quản lý thiếu chặt chẽ của lãnh đạo và những “kẽ hở” của quy định, quy chế.

  • Giao tiếp, ứng xử của cán bộ công chức quận.

Giao tiếp, ứng xử cũng thể hiện tác phong làm việc của cán bộ công chức quận. Bởi ngoài kiến thức chuyên môn về hành chính, những kỹ năng về xử lý, tổng hợp thông tin, soạn thảo, xử lý văn bản… cán bộ công chức quận còn phải có kỹ năng giao tiếp hành chính. Giao tiếp hành chính là giao tiếp vì mục đích công việc, người giao tiếp là đại diện cho cơ quan, cho tổ chức nên đòi hỏi nhiều yêu cầu về từ ngữ, cách xưng hô, cử chỉ, thái độ giao tiếp…Về cơ bản, chúng tôi thấy cán bộ công chức quận tại các phòng mà chúng tôi khảo sát có tác phong giao tiếp tương đối phù hợp với vị trí của cơ quan: nghiêm túc và lịch sự. Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại ở một số ít cán bộ. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Về cách xưng hô, đây là một thành tố giao tiếp quan trọng vì nó thể hiện mối quan hệ thứ bậc, thể hiện vị trí của các đối tượng giao tiếp. Người Việt Nam có thói quen xưng hô theo tuổi tác, chứ không xưng hô theo vị trí, chức vụ. Vì vậy mà trong giao tiếp hành chính, cán bộ công chức quận không quen xưng “tôi”“anh/ chị”. Với những đối tượng giao tiếp ngoài cơ quan thì cách xưng hô tương đối phù hợp. Tuy nhiên giao tiếp trong nội bộ cơ quan cách xưng hô thường quá gần gũi, thân mật do bị ảnh hưởng bởi tư tưởng “người trong một nhà”. Trong công sở, cán bộ công chức quận đã sử dụng rất nhiều từ ngữ “phi hành chính hoá” mối quan hệ như : gọi “ Bác” xưng “ Em”, xưng “ Chị ”, thậm chí “mày, tao”…Cách xưng hô như vậy không phù hợp trong hoạt động của Ủy ban. Khi gặp gỡ ở ngoài họ có thể xưng hô như vậy một cách thoải mái nhưng khi đang thực thi công vụ thì nên lựa chọn cách xưng hô chính thống hơn như gọi “anh, chị”, xưng “tôi”. Đối với những người lớn tuổi, có thể gọi “cô, chú” xưng “cháu” vừa đảm bảo ngôi thứ, phù hợp với đạo đức truyền thống lại vừa lịch sự. Tại một cơ quan như UBND quận, cách xưng hô không lịch sự sẽ làm giảm tính uy nghiêm của cơ quan nhà nước, gây ấn tượng không tốt với các cơ quan cấp trên, cấp dưới và mọi tầng lớp nhân dân.

Về từ ngữ giao tiếp, đôi khi cán bộ công chức quận vẫn sử dụng từ “lóng”, từ xuyên tạc hoặc “Anh hoá” những từ Việt Nam. Ví dụ, cán bộ công chức quận hay gọi thủ trưởng bằng “sếp”, …Trong giao tiếp công sở, những từ ngữ như vậy cần được loại bỏ. Cán bộ công chức quận chỉ nên dùng những từ ngữ chính thống, chân phương, không nên dùng những từ quá đa nghĩa, nhạy cảm hoặc thiếu lịch sự.

Về cử chỉ giao tiếp, trong giờ làm việc, khi đang thực thi công vụ, một số cán bộ công chức quận có cử chỉ giao tiếp chưa đẹp. Khi giao tiếp với đồng nghiệp trong cơ quan, họ thường có những hành động trêu đùa rất tự nhiên. Với khách đến làm việc, một số cán bộ công chức quận vẫn có những cử chỉ thiếu nghiêm túc và lịch sự.

Ví dụ: vừa nói chuyện vừa làm việc riêng, vuốt tóc quá nhiều, rung đùi, hoặc gõ bàn liên tục …

Về thái độ giao tiếp, khi giao tiếp với nhân dân, một số cán bộ của Ủy ban vẫn còn chưa có thái độ thực sự tích cực. Ở một số bộ phận (đặc biệt các bộ phận liên quan đến các thủ tục đất đai, địa chính), khi tiếp xúc với dân phần lớn họ có thái độ hết sức thờ ơ, lạnh lùng. Người dân muốn gặp người có thẩm quyền giải quyết công việc phải chờ đợi hết lịch này đến lịch khác. Khi được bố trí gặp thì họ phải chờ ở phòng thường trực với khoảng thời gian không phải là ngắn. Hầu như ở cơ quan nào, chúng ta cũng được nghe câu cửa miệng hết sức quen thuộc: “Ông cần gì?” “Bà cần gì? ”. Câu hỏi này không có gì khiếm nhã song nó thể hiện thái độ của quyền, cơ chế “ xin- cho”. Nhìn vào nền hành chính của các nước trên thế giới, chúng ta sẽ thấy văn hoá giao tiếp hành chính của họ khác hẳn với ta. Khi tiếp xúc với dân, cán bộ công chức luôn đặt câu hỏi hết sức khiêm tốn: “Thưa ông/bà, chúng tôi có thể giúp gì cho ông/bà? Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

  • Trang phục của cán bộ công chức quận.

Qua quá trình quan sát, chúng tôi thấy rằng phần lớn cán bộ công chức quận làm việc trang phục lịch sự, phù hợp với vị trí công việc. Nói chung, cán bộ công chức quận là những người có trình độ nhất định nên chúng tôi chưa thấy có một trường hợp nào ăn mặc quá lố lăng, kệch cỡm hay lập dị. Đây là một kết quả đáng mừng. Khi được hỏi về trang phục công sở, 68.3% cán bộ công chức quận lựa chọn tính lịch sự và nhã nhặn; 31.7% còn lại lựa chọn tính thời trang và tiện lợi. Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ công chức quận khi đến công sở ăn vận hơi cầu kỳ, kiểu cách và có một chút tự do. Biểu hiện là một số trang phục mang tính chất dạ hội, thể thao đã bắt đầu xuất hiện trong một số công sở. Trong cuộc sống hiện đại, năng động nhu cầu được mặc đẹp, hợp thời trang, tiện đi lại là nhu cầu hết sức cần thiết. Tuy nhiên, mỗi cán bộ công chức quận nên cân đối hài hoà với tính lịch sự và nhã nhặn để có một tác phong của một công chức nhà nước.

UBND quận Đồ Sơn, trong quy chế văn hóa đã có quy định về trang phục. Nội dung của quy chế như sau:

  1. Khi thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức, viên chức phải mặc trang phục công sở gọn gàng, lịch sự.
  2. Cán bộ, công chức, viên chức có trang phục riêng theo quy định chuyên ngành thì thực hiện theo quy định của pháp luật;
  3. Khuyến khích các cơ quan, đơn vị trang bị đồng phục cho cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên cơ quan, đơn vì mình.”

Theo khảo sát của chúng tôi, trên 90% các cán bộ được hỏi ủng hộ việc UBND trang bị đồng phục. Bởi mọi người cho rằng về việc hiểu thế nào là trang phục “gọn gàng, lịch sự” còn chưa thống nhất. Hiện này, ở bộ phận Thanh tra và Hội đồng Nhân dân đã có đồng phục. Các cán bộ công chức ở các bộ phận khác cũng đều ủng hộ việc này vì cho rằng việc mặc đồng phục sẽ tạo được nét văn hóa riêng biệt, rất lịch sự, phù hợp với hầu hết vóc dáng của các cán bộ công chức. Ngoài ra, khách đến làm việc tại UBND quận cũng ủng hộ quan điểm này.

2.2.3. Các mối quan hệ của cán bộ công chức UBND quận Đồ Sơn

  • Mối quan hệ giữa cán bộ công chức quận với lãnh đạo.

Lãnh đạo ở đây bao gồm lãnh đạo đơn vị (Chánh, Phó văn phòng, Trưởng phòng)… Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ giữa cán bộ công chức quận với lãnh đạo đơn vị vì đây là sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên. Mối quan hệ này đã được quy định, điều chỉnh bằng văn bản và có tính bắt buộc thực hiện. Cho nên, về cơ bản các cán bộ công chức quận đều tuân thủ, làm theo sự điều hành của lãnh đạo. Thái độ làm việc rất nghiêm túc và ít có tư tưởng chống đối. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tại một số bộ phận vẫn còn tồn tại một số điểm chưa tốt. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Bảng 2.4: Kết quả điều tra về mối quan hệ giữa lãnh đạo- nhân viên

Kết quả trả lời câu hỏi số 8 phản ánh sự cố gắng hoàn thành công việc của các CBCC quận khi được giao nhiệm vụ khó khăn so với năng lực của họ. Nhưng kết quả này cũng phản ánh mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên đôi khi thiếu tính dân chủ. Về nguyên tắc đây là mối quan hệ mang tính quyền uy và phục tùng. Nhưng điều đó không có nghĩa là thủ trưởng nói sao thì nhân viên phải làm vậy. Mọi quy định của Nhà nước đều cho phép cán bộ, công chức có quyền bày tỏ ý kiến riêng nếu thấy quyết định của thủ trưởng chưa hợp lý. Theo kết quả trên, chỉ có 5.55% dám “từ chối với lãnh đạo”. Kết quả đó cho thấy một tín hiệu đáng mừng là phần đông cán bộ rất có trách nhiệm trong công việc. Nhưng đồng thời cũng cảnh báo một vấn đề: tính dân chủ không được phát huy rộng rãi. Thoạt đầu, có lẽ chúng ta sẽ không đánh giá cao phương án từ chối với lãnh đạo. Nhưng phân tích kỹ một chút, chúng ta sẽ thấy đó là cách giải quyết hoàn toàn có thể chấp nhận được. Với những nhiệm vụ quá khó khăn, vượt quá khả năng của mình, cán bộ công chức quận không nên chấp nhận hoàn cảnh mà nên mạnh dạn đề nghị lãnh đạo chuyển nhiệm vụ đó cho người khác. Bởi “thà chối bảy lượt chứ không sai hứa một lần”. Đó là biểu hiện của tính dân chủ và trách nhiệm trong công việc. Trong các môi trường doanh nghiệp tư nhân, tiêu biểu là Công ty FPT, doanh nghiệp hàng đầu về lĩnh vực công nghệ thông tin ở Việt Nam, tính dân chủ được phát huy rất cao. Theo họ, đó là một trong những bí quyết đem lại sự thành công trong công việc: “Nếu như người quản lý đề nghị bạn làm một việc gì đó, nhưng bản thân bạn cảm thấy điều đố không đúng thì bạn không nên làm điều đó và phải tìm cách đưa ra những lập luận của riêng mình, nếu như bạn sai thì bạn vẫn được tôn trọng có trách nhiệm.” (Lê Thị Đan Dung, 2004)

Mặt khác, khi tiếp xúc với lãnh đạo, nhiều cán bộ công chức quận cảm thấy có khoảng cách, thiếu sự gần gũi, thân thiện. Khi trả lời câu hỏi thứ 9, 40% người được hỏi cảm thấy bình thường, 14.8% không nêu ý kiến (không muốn trả lời); đặc biệt 16,7 % thấy căng thẳng và lo lắng, chỉ có 27.7% thấy thoải mái và tự nhiên. Thực tế này cho thấy mối quan hệ này cần được cải thiện để giữa lãnh đạo với nhân viên tuy là quan hệ thứ bậc nhưng phải đảm bảo sự gần gũi, hợp tác như những người đồng nghiệp. Có như vậy không khí làm việc mới dễ chịu, hiệu quả công việc mới cao.

Đặc biệt, qua quan sát chúng tôi thấy trong mối quan hệ với lãnh đạo, một số cán bộ công chức quận thiếu sự chân thật. Nói cách khác họ tận dụng mối quan hệ này để cầu tiến, phục vụ lợi ích cá nhân chứ không vì mục đích công việc. Trong quan hệ hàng ngày, nhiều nhân viên có thái độ xu nịnh nhằm lấy lòng thủ trưởng. Số khác thì luôn đề cao thủ trưởng, không dám có chính kiến của mình sợ bị trù dập. Tư tưởng đó là một lực cản rất lớn cho sự phát triển của cơ quan.

  • Mối quan hệ giữa các cán bộ công chức quận với nhau.

Để khảo sát các mối quan hệ của con người đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Bởi các mối quan hệ không phải là những giá trị hữu hình mà chúng ta có thể nhìn thấy ngay. Với trình độ có hạn về tâm lý học, xã hội học, chúng tôi chỉ có thể khảo sát một phần của mối quan hệ trong công sở. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Nhìn chung, trong công việc các cán bộ công chức quận đều có sự hợp tác, tương trợ lẫn nhau. Đó là hệ quả tất yếu của đặc tính công việc. Có thể trong tính cách, trong cách sống có những điểm khác biệt nhưng mọi cán bộ công chức quận đều đặt mình vào guồng công việc chung của cả cơ quan. Nếu được giao một nhiệm vụ khó khăn, 31.48% cán bộ công chức quận nghĩ ngay đến sự giúp đỡ của đồng nghiệp. Kết quả này hết sức khách quan và chân thật (Thực tế tỷ lệ này có thể lớn hơn). Bởi khi đưa ra câu hỏi, chúng tôi cố ý để người được hỏi hiểu rằng đây là câu hỏi trắc nghiệm về tinh thần trách nhiệm trong công việc. Nên phần lớn cán bộ chọn phương án: “tìm mọi cách để giải quyết”. Những người lựa chọn phương án “nhờ đồng nghiệp giúp đỡ” phải là những người hết sức thẳng thắn, vì theo họ sự lựa chọn này thể hiện sự thiếu năng lực trong công việc. Nhìn dưới góc độ mối quan hệ, chúng tôi lại đánh giá cao phương án này vì đó là biểu hiện của sự tương trợ, hợp tác, giúp đỡ nhau giữa các cán bộ công chức quận.

Đa số cán bộ công chức quận cảm thấy dễ chịu khi phối hợp cùng đồng nghiệp (44.16%). Đơn giản là vì sự phối hợp sẽ làm cho gánh nặng công việc được san sẻ, trách nhiệm được giảm bớt. Đây là tâm lý rất phổ biến của người Việt Nam, là kết quả của lối sống “cộng đồng”, “cộng cảm”.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ công chức quận có tư tưởng cục bộ, bản vị trong công việc. Khi phải phối hợp cùng đồng nghiệp họ cảm thấy “không thoải mái lắm vì không được làm theo ý ” (16.7%). Tính độc lập, tự chủ trong công việc có thể rất phù hợp trong cuộc sống hiện đại. Nhưng đối với hoạt động văn phòng, với thuộc tính văn hoá của dân tộc thì sự độc lập, tự chủ phải hết sức khéo léo. Nếu không những người có tư tưởng này rất khó hoà mình vào mối quan hệ chung của cơ quan.

Những người còn lại cảm thấy “bình thường” khi hợp tác với đồng nghiệp trong công việc. Có nghĩa là với họ hợp tác cũng được, không hợp tác cũng được. Những người lựa chọn phương án trả lời này là những người rất dễ hoà nhập, nhưng cũng có lập trường riêng trong công việc. Đối với những công việc cần sự phối hợp, họ sẵn sàng hợp tác. Đối với những công việc không cần phối hợp, họ tự tin đảm nhận và giám chịu trách nhiệm về công việc đó.

Bên cạnh những kết quả thu được từ phiếu khảo sát, chúng tôi còn nhận thấy một số vấn đề khác qua quá trình quan sát thực tế.

Mối quan hệ công việc của cán bộ công chức đôi khi bị chi phối bởi quan hệ cá nhân. Nếu như họ thực sự yêu quý nhau thì không có gì phải bàn. Sự phối hợp trong công việc chắc chắn có sự ăn ý, có cơ sở để đạt hiệu quả cao. Không khí làm việc cũng hết sức thoải mái, dễ chịu. Nhưng nếu những với những đồng nghiệp không có cảm tình, họ thường không thích làm việc chung, không thích chia sẻ những khó khăn, thuận lợi. Điều đó dẫn đến sự tò mò, quan tâm quá mức đến đời tư của nhau, giảm uy tín của nhau. Điều đó gây tổn hại rất lớn đến hiệu quả làm việc chung của cả công sở.

Đối với quan hệ nam nữ trong công sở, đây là mối quan hệ tế nhị, cần phải hết sức thận trọng. Đối với người phương Đông, đặc biệt là người Việt Nam, quan hệ nam nữ bị điều phối bởi nhiều quy định khắt khe từ thời phong kiến. Công sở là cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức là đại diện cho nhà nước vì vậy phải có thái độ làm việc đúng mực với đồng nghiệp khác giới.

Khi đến các bộ phận chức năng, chúng tôi thấy vẫn còn tình trạng cán bộ công chức quận trêu ghẹo nhau một cách thiếu nghiêm túc. Các cán bộ nam, khi gặp cán bộ nữ thường thích cà kê một vài câu đưa đẩy, bóng gió. Tình trạng này phổ biến hơn ở những cán bộ trẻ tuổi. Đành rằng sự hài hước, thư giãn trong công việc là không thể thiếu để tạo ra một không khí làm việc thoải mái. Nhưng mọi cái đều phải có giới hạn, tránh thái quá. Có thể thực chất các mối quan hệ là trong sáng, nhưng khi người dân, hoặc khách đến làm việc tại UBND, họ đâu biết được bản chất của mối quan hệ. Họ chỉ biết đó là thái độ thiếu nghiêm túc, không nên diễn ra ở công sở.

2.2.4. Vấn đề cải cách hành chính tại UBND quận Đồ Sơn Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Việc thực hiện tốt văn hóa công sở, hay xây dựng cơ quan văn hóa là góp phần thực hiện mục tiêu của chương trình tổng thể cải cách hành chính, hướng đến một nền hành chính công văn minh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả… để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước, phục vụ nhân dân tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư đến làm ăn (Hoàng Quyên, 2009). Vì vậy khi xem xét về tác phong làm việc của CBCC với dân tại một đơn vị hành chính Nhà nước như UBND quận, chúng tôi muốn phản ánh thông qua việc thực hiện vấn đề cải cách hành chính hiện nay tại UBND quận.

Hiện nay, việc công khai, minh bạch các thủ tục hành chính tại quận đang được thực hiện như ở bảng 2.5.

Bảng 2.5: Tình hình công khai, minh bạch các TTHC tại UBND quận Đồ Sơn năm 2025

Qua bảng trên ta thấy, mức độ công khai minh bạch TTHC tại UBND quận Đồ Sơn mới chỉ thực hiện được ở mức công khai quy trình. Còn việc sử dụng hỗ trợ từ các dịch vụ công nghệ thông tin còn rất hạn chế (chỉ chiếm có 17/258 TTHC, tương đương với 6.5% các TTHC). Điều này đồng nghĩa với việc để giải quyết các TTHC, người dân và doanh nghiệp vẫn phải đến trụ sở UBND làm việc trực tiếp. Điều quan trọng là đối với công sở hành chính thực hiện cơ chế một cửa, cán bộ tiếp dân cần có thái độ mềm mỏng nắm vững các quy chế, nguyên tắc, thủ tục, hướng dẫn cặn kẽ để khách bớt công sức và thời gian đi lại nhiều lần, nhất là cần làm việc đúng giờ quy định. Trong khảo sát của chúng tôi, người dân đến liên hệ làm việc tại UBND quận đều chưa tỏ ra thực sự hài lòng với các TTHC liên quan đến nội dung cấp GCNQSDĐ. Do đặc thù công việc, các TTHC trong lĩnh vực này khá phức tạp, liên quan đến nhiều bộ phận, nhiều loại giấy tờ, chứng từ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực này, vẫn tồn tại sự phàn nàn của người dân về thái độ của công chức, sự nhiệt tình hướng dẫn của họ đối với dân.

Việc công khai, minh bạch các TTHC chỉ là vấn đề mang tính quy trình. Điều quan trọng là kết quả của quy trình ấy được thực hiện như thế nào? Đóng góp vào kết quả của các quy trình này, năng lực làm việc và tác phong làm việc của CBCC quận đối với người dân đóng vai trò tối quan trọng. Như đã phân tích ở trên, năng lực đội ngũ CBCCVC quận về cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Tuy nhiên, kết quả giải quyết TTHC ở UBND quận vẫn còn tồn tại một số vấn đề.

Bảng 2.6: Kết quả việc giải quyết các hồ sơ TTHC năm 2025

Kết quả ở bảng 2.6 cho thấy, ở bộ phận một cửa UBND quận, tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng hạn chiếm 95%, trong khi tỷ lệ này ở các bộ phận một cửa UBND các phường lên tới 99%. Kết quả này cũng phản ánh rất rõ những bất cập liên quan đến lĩnh vực, xây dựng, địa chính, đất đai khi 100% các hồ sơ không đúng hạn đều thuộc về lĩnh vực này. Như trên đã phân tích, vấn đề địa chính đất đai luôn luôn là một vấn đề phức tạp, liên quan đến những khiếu kiện, có những khiếu kiện tập thể, thời gian kéo dài…gây mất niềm tin của người dân. Có thể nói, đây là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, vì vậy đòi hỏi các CBCC làm việc trong lĩnh vực này không chỉ cần có đủ năng lực chuyên môn nghề nghiệp mà còn đòi hỏi tác phong làm việc, giao tiếp hết sức “văn hóa” “mềm mỏng”. Qua những khảo sát từ phía người dân đến làm việc tại UBND, thì đội ngũ CBCC quận chưa đạt được yêu cầu này. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Liên quan đến TTHC, hiện UBND quận đã ứng dụng Công nghệ thông tin trong chỉ đạo điều hành. Mức độ cung cấp trực tuyến của các TTHC được thể hiện trong bảng 2.7.

Bảng 2.7: Các thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến

Theo bảng 2.7, 100% các thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến ở mức độ 1 và 2. Có 5 thủ tục hành chính thuộc 3 lĩnh vực được cung cấp ở mức độ 3 nhưng lại chưa phát sinh hồ sơ đăng ký qua hệ thống mạng. Không có TTHC nào được cung cấp ở mức độ 4. Nghĩa là hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các TTHC tại UB quận mới chỉ dừng ở việc “đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ” và “cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu”. Điều này cho thấy mức độ ứng dụng CNTT vào hỗ trợ các TTHC còn chưa hiệu quả. Hầu hết các TTHC người dân phải trực tiếp đến UBND quận thì mới có thể giải quyết được. Điều này phản ánh niềm tin của người dân vào các dịch vụ hỗ trợ này chưa tốt, cũng phản ánh phần nào vào tác phong làm việc của CBCC liên quan đến các dịch vụ này. Các vấn đề như mức độ và thời gian phản hồi các hồ sơ trực tuyến, kỹ năng làm việc trực tuyến của CBCC cũng như những yếu tố văn hóa liên quan đến kết hợp giải quyết TTHC trực tuyến và trực tiếp cũng cần phải được xem xét.

2.2.5 Hoạt động hội họp, hội thảo tại UBND quận Đồ Sơn

Trong cuộc khảo sát đã thực hiện, chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu những cuộc họp trong nội bộ cơ quan. Qua phương pháp phỏng vấn, chúng tôi thấy việc tổ chức các cuộc họp ở UBND quận còn tồn tại một số vấn đề sau:

Mật độ các cuộc họp diễn ra quá nhiều. Có nhiều cán bộ công chức quận cho biết thời gian họ đi họp có khi bằng thời gian thực hiện công việc chuyên môn. Ngoài những cuộc họp mang tính định kỳ trong phạm vi văn phòng, họ còn phải tham gia các cuộc họp lớn của cơ quan và các cơ quan khác…Trong những cuộc họp đó không phải cuộc họp nào cũng cần thiết và cần đến sự có mặt của họ. Đó là vì khi tổ chức các cuộc họp, những người tổ chức đã không xác định, giới hạn rõ thành phần dự họp.

Việc lạm phát các cuộc họp đã dẫn đến tình trạng nhiều cán bộ công chức quận không coi trọng việc đi họp. Có người khi được mời đi họp đã đùn đẩy, nhờ người khác đi họp hộ. Có người tuy tham dự nhưng chỉ đến cho đủ số lượng, không quan tâm đến nội dung buổi họp. Chúng ta đều biết rằng họp cũng là một hình thức làm việc, do đó mọi cán bộ công chức quận cần phải có ý thức trong việc tham gia các cuộc họp đó. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Họp là một hình thức làm việc tập thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng xử văn hoá, có trật tự, có tổ chức. Một cuộc họp không thể tránh khỏi việc tranh luận. Mà có tranh luận thường sẽ có những bất đồng. Thực tế nhiều cuộc họp đã diễn ra không suôn sẻ, thậm chí thất bại vì sự tranh luận quá gay gắt, bất đồng ý kiến không thể dàn xếp. Người chủ toạ mất phương hướng còn đại biểu thì khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình. Nhiều cuộc họp khác lại diễn ra quá tẻ nhạt, người thì đông nhưng ý kiến lại rất ít. Mọi người ai cũng tham gia cho đủ, chứ không chuẩn bị hoặc quan tâm đến nội dung phát biểu. Thông thường đó là những cuộc họp nhỏ, người tổ chức không chỉ định người báo cáo hoặc tham luận.

Một vấn đề nữa là các cuộc họp mất quá nhiều chi phí phát sinh không cần thiết. Những chi phí cho việc in ấn tài liệu, trang trí phòng họp, chuẩn bị trang thiết bị… là những chi phí bắt buộc nên chúng tôi không thấy có vấn đề gì. Nhưng nhiều cuộc họp ngoài những chi phí đó còn tốn kém rất nhiều vào các khoản không thực sự cần thiết với quy mô cuộc họp như: quà cáp, phong bì, ăn uống.. .Đó là biểu hiện của sự phô trương, lãng phí. Với những cuộc họp , hội nghị do nước ngoài tài trợ, sự lãng phí đó còn nghiêm trọng hơn nữa.

Chế độ hội họp đã được nhà nước quy định rất rõ ràng. Hàng năm mỗi cơ quan đều phải lập và trình các cấp có thẩm quyền xét kế hoạch tổ chức các cuộc họp, hội nghị của cơ quan mình. Tuy nhiên đó là những cuộc họp lớn, cần được quản lý,tổ chức khoa học, hợp pháp. Nhưng trong mỗi cơ quan luôn diễn ra những cuộc họp nhỏ ngoài dự kiến. Có thể những cuộc họp này không ảnh hưởng nhiều đến tài chính của cơ quan, nhưng lại ảnh hưởng đến thời gian làm việc của cán bộ, công chức.

2.2.6. Hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động khác.

Bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào cũng đều duy trì các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao. Tuy hoạt động này không nằm trong nội dung công việc nhưng nó góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho cán bộ, công chức; tăng cường sự đoàn kết, gắn bó trong công sở. Đặc biệt những hoạt động lớn, liên cơ quan, liên ngành còn tạo cơ hội cho sự giao lưu hợp tác giữa các cơ quan, đoàn thể với nhau. Một số hoạt động ngoài tính chất giải trí còn mang tính giáo dục, tính chính trị.

  • Ý thức được điều đó, UBND quận rất chú ý tới lĩnh vực hoạt động này.

Để nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của cán bộ, viên chức, tại trụ sở UBND những điểm sinh hoạt văn hoá như nhà thi đấu bóng bàn, sân chơi cầu lông…Các hoạt động văn nghệ chào đón những ngày lễ lớn được Công đoàn cơ quan tổ chức nghiêm túc, với sự tham gia của tất cả phòng ban, đơn vị trong UBND. Ngoài các hoạt động này, cán bộ công chức còn được cung cấp thường xuyên các loại sách, báo, tạp chí thuộc lĩnh vực chuyên ngành và các lĩnh vực khác. Như vậy, về cơ bản, đời sống tinh thần của cán bộ công chức quận nói riêng đang ngày được cải thiện.

Tuy nhiên, theo khảo sát của tác giả Luận văn, chỉ có 35% các bộ phận thường xuyên duy trì các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao; 65% duy trì ở mức độ không thường xuyên. Như vậy ở nhiều bộ phận, hoạt động này chưa thực sự được chú ý, chỉ mang tính thời vụ, tổ chức một cách đối phó nên chưa có chiều sâu. Nguyên nhân là do nhiều vị lãnh đạo chưa ý thức được tầm quan trọng của các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, coi đó chỉ là hoạt động bề nổi nên khoán trắng cho Công đoàn.

Chính vì các hoạt động chưa thực sự chất lượng nên chưa thu hút được đông đảo cán bộ tham gia. Trong số những người được hỏi, 34.4% cán bộ chưa từng tham gia hoạt động này. Những người đã tham gia, phần lớn là bị ép buộc chứ không tham gia một cách tự nguyện. Điều này cũng rất dễ hiểu. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Phần đông cán bộ là người có gia đình nên họ không có thời gian dành cho hoạt động đoàn thể. Nguyên nhân khác là do các hoạt động này chưa thực sự hấp dẫn. Tuy nhiên nếu ai đó tổ chức liên hoan văn nghệ dưới hình thức “karaoke” thì họ lại rất hào hứng tham gia. Như vậy không phải là họ không yêu văn nghệ mà là những chương trình văn nghệ của cơ quan chưa hấp dẫn họ.

Ngược lại với tình trạng trì trệ của hoạt động văn nghệ, hoạt động thể dục thể thao của công chức nam lại diễn ra quá sôi nổi. Chưa hết giờ làm việc, nhiều cán bộ công chức quận đã ngừng công vụ, chuẩn bị quần áo, dụng cụ cho môn “thể thao công sở”: cầu lông hoặc bóng bàn.

Hoạt động thăm, viếng người ốm, ma chay, hiếu hỷ cũng sôi động không kém. Hễ trong cơ quan có việc hiếu, việc hỷ lập tức các phòng, ban đều cử đại diện đi dự. Những hoạt động như thế này thường huy động rất nhiều nhân lực và ôtô của cơ quan. Việc quan tâm đến đời sống của cán bộ công chức là cần thiết, song chúng tôi nghĩ nó nên được đơn giản hoá để đỡ tốn thời gian và chi phí của cơ quan. Với danh nghĩa cơ quan, chỉ cần Công đoàn đại diện là đủ. Nếu muốn bày tỏ mối quan hệ cá nhân, thì các cán bộ nên bố trí đi ngoài giờ làm việc, không ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn công sở.

2.2.7. Đánh giá chung về văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn

Qua phân tích thực trạng VHCS tại UBND quận Đồ Sơn, có thể nhận thấy VHCS tại Ủy ban quận có những khía cạnh tích cực và tồn tại như sau:

2.2.7.1. Những khía cạnh tích cực

Về điều kiện làm việc: trụ sở làm việc của UBND quận Đồ Sơn đạt yêu cầu về cảnh quan, là một nét tích cực đóng góp vào việc xây dựng văn hóa công sở.

Về trình độ đội ngũ cán bộ công chức: nhìn chung, trình độ đội ngũ CBCC quận là khá cao, hầu hết đều đáp ứng tiêu chuẩn đề ra của vị trí. Đây là một điểm rất thuận lợi cho việc xây dựng và duy trì nền VHCS tiên tiến.

Về hiệu quả hoạt động và tác phong làm việc với dân của các bộ phận “một cửa”: 100% các thủ tục hành chính đảm bảo tính công khai, minh bạch về quy trình. Tỷ lệ các TTHC được giải quyết đúng hạn là cao.

Về tác phong làm việc: về cơ bản, cán bộ công chức quận có tác phong giao tiếp tương đối phù hợp với vị trí của cơ quan: nghiêm túc và lịch sự. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

Về các hoạt động văn nghệ, TDTT và các hoạt động khác: UBND quận đã có sự chú ý quan tâm đến các hoạt động này. Các hoạt động được thực hiện đa dạng, phong phú, tổ chức theo định kỳ.

2.2.7.2. Những tồn tại và nguyên nhân

Bên cạnh, những thành tựu trên, VHCS tại UBND quận vẫn còn có những tồn tại sau cần phải được xem xét cải thiện:

Thứ nhất, bầu không khí giữa lãnh đạo và CBCC chưa thực sự là bầu không khí dân chủ. Điều này sẽ có ảnh hưởng không tốt đến việc xây dựng VHCS tiên tiến.

Thứ hai, chất lượng đội ngũ CBCC tuy có cải thiện, nhưng còn tồn tại một số công chức tuy đạt chuẩn theo quy định nhưng do tuổi cao, năng lực hạn chế và trình độ chuyên môn không phù hợp với vị trí đang làm lại chưa đủ điều kiện nghỉ hưu, chưa có chính sách hỗ trợ hợp lý về chế độ nghỉ hưu trước tuổi nên chưa thể bố trí, bổ nhiệm được cán bộ trẻ thay thế. Ngoài ra, một số cán bộ công chức quận có lề lối làm việc chưa khoa học, còn trì trệ và thiếu chủ động.

Thứ ba, công cuộc CCHC tuy đã được thực hiện quyết liệt, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề trong lĩnh vực xây dựng, địa chính. Vấn đề ứng dụng các dịch vụ CNTT trong giải quyết các TTHC còn mang lại hiệu quả thấp.

Thứ tư, UBND quận chưa có những biện pháp cứng rắn về thể chế rõ ràng liên quan đến việc thực hiện VHCS… Những CBCC thực hiện nghiêm túc, gương mẫu VHCS chưa được biểu dương, việc xử phạt các cán bộ vi phạm các quy định về VHCS còn chưa đủ mang tính răn đe do còn tồn tại sự nể nang.

Thứ năm, chưa có nhiều phong trào cụ thể về VHCS được tổ chức. Các hoạt động văn hóa tập thể hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng lại ở hoạt động TDTT. Hơn nữa tỷ lệ tham gia của các CBCC vào các hoạt động này chưa cao.

Thứ sáu, việc bố trí bên trong một số văn phòng làm việc còn chưa hợp lý, các khẩu hiệu nhắc nhở xây dựng VHCS còn chưa nhiều. Luận văn: Thực trạng văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp văn hóa công sở tại UBND quận Đồ Sơn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537