Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai của bộ tài nguyên và môi trường dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. KHÁI QUÁT VỀ BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

2.1.1. Khái quát về Bộ Tài nguyên và Môi trường

Ngay sau khi giành được chính quyền, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tổ chức Chính phủ lâm thời và xác định các lĩnh vực do nhà nước quản lý trong đó có các lĩnh vực về tài nguyên và môi trường, cụ thể như sau:

Ngày 03 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 41/SL, thành lập các sở, trong đó có Sở tổng Thanh tra Khoáng chất và Kỹ nghệ được chuyển sang Bộ Quốc dân Kinh tế; Sở Trước bạ, Văn tư, Quản thủ điền thổ và thuế trực thu được chuyển về Bộ Tài chính; Sở Thiên văn và Đài Thiên văn Phủ Liễn về trực thuộc Bộ Công chính và Giao thông. Đây là cơ sở để thành lập cơ quan quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản cũng như quản lý nhà nước về đất đai và khí tượng thủy văn trong chế độ mới. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Ngày 12 tháng 10 năm 1992, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã được thành lập. Ngày 22 tháng 5 năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22 – CP về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Theo đó, Cục Môi trường là cơ quan đầu tiên chuyên trách về bảo vệ môi trường có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, công nghệ và Môi trường thống nhất quản lý các hoạt động bảo vệ môi trường trong cả nước.

Ngày 05 tháng 8 năm 2002, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI và Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thủy văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường thuộc các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công nghiệp; Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; khí tượng thủy văn; đo đạc bản đồ.

Ngày 04 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường (thay thế Nghị định số 25/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 3 năm 2008).

Theo đó: “Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ” (Điều 1, Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/03/2013 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm: Bộ trưởng, 04 Thứ trưởng và 31 tổ chức, gồm: 7 Vụ, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ, 4 Tổng cục, 5 Cục, 6 đơn vị sự nghiệp trực tiếp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ và 7 đơn vị sự nghiệp khác theo quy định tại Quyết định số 74/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bên cạnh đó, Bộ quản lý 02 doanh nghiệp và 01 quỹ gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà xuất bản tài nguyên môi trường và bản đồ Việt Nam và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tổng công ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam và Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam. Bộ có chức năng quản lý các Văn phòng giúp việc các tổ chức phối hợp liên ngành do Bộ là cơ quan thường trực gồm: Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản; Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Văn phòng Ban chỉ đạo 33); Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mêcông Việt Nam.

Cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường gồm: Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

07 vụ: Vụ Tổ chức Khoa học và Công nghệ; thưởng và Tuyên truyền Cán bộ; Vụ Hợp tác Quốc tế; Vụ Kế hoạch; Vụ Vụ pháp chế; Vụ Tài chính; Vụ Thi đua Khen

04 Tổng cục: Tổng cục Quản lý Đất đai; Tổng cục Môi trường; Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; Tổng cục Địa chất Khoáng sản Việt Nam

05 Cục: Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam; Cục Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu; Cục Quản lý tài nguyên nước; Cục Công nghệ Thông tin; Cục Viễn thám Quốc gia;

06 Đơn vị sự nghiệp: Báo Tài nguyên và Môi trường; Tạp chí Tài nguyên và Môi trường; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường; Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản; Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và biến đổi khí hậu; Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; Trường Đại Tài nguyên và Môi trường TP.Hồ Chí Minh; Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền trung.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Vai trò của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong quản lý đất đai

Như vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực, trong đó có đất đai [7]. Với vị trí đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn rất cụ thể trong quản lý nhà nước về đất đai. Cụ thể như:

  • Trình các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, dự thảo nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
  • Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương trình về quản lý đất đai thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
  • Ban hành thông tư, quyết định, chỉ thị và các văn bản khác về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của bộ; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý đất đai của bộ. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.
  • Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về quản lý, sử dụng đất sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, các vùng và quản lý sau khi được Quốc hội phê duyệt; hướng dẫn việc bố trí quỹ đất cho phát triển thị trường bất động sản trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất…[7]

Như vậy, Bộ Tài nguyên và Môi trường đóng vai trò đầu mối quan trọng để thực hiện việc quản lý thống nhất trong cả nước trong lĩnh vực đất đai. Cụ thể trong thực hiện nội dung đầu tiên trong 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai là ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện ban hành các thông tư, thông tư liên tịch để hướng dẫn thực hiện các nội dung trong nghị định của Chính phủ về QLNN về đất đai.

2.2. THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

2.2.1. Những căn cứ pháp lý của quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hệ thống văn bản QPPL chi phối trực tiếp tới quy trình ban hành văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong giai đoạn 2012 – 2016 bao gồm những văn bản chính sau:

  • Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008, Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015
  • Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 8/2/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP
  • Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/03/2013 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường
  • Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/ 7/ 2011 của Chính Phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.
  • Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính; Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính.
  • Thông tư số 46/2014/TT-BTNMT ngày 01 tháng 08 năm 2014 quy định về xây dựng, ban hành văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay đã có thông tư mới số 32/2016/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 năm 2016 thay thế Thông tư số 46/2014/TT-BTNMT.
  • Thông tư 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02/12/2010 hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật [35]

2.2.2. Những kết quả đạt được trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.2.2.1. Kết quả chung

  • Số lượng thông tư, thông tư liên tịch được ban hành:

Trong những năm qua, công tác ban hành văn bản QPPL về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường (ban hành thông tư, thông tư liên tịch) đáp ứng một phần quan trọng trong lĩnh vực quản lý của Bộ cũng như đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước. Trong giai đoạn 2012 -2016, số lượng thông tư và thông tư liên tịch được ban hành như sau:

Tổng số văn bản QPPL về lĩnh vực quản lý đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành dưới hình thức thông tư là 36 văn bản, dưới hình thức thông tư liên tịch là 6 văn bản. Số lượng văn bản về tài nguyên đất so với các lĩnh vực khác có sự chênh lệch khá lớn. “Trong giai đoạn từ 2012 -2016 với quản lý tài nguyên nước chỉ có 19 thông tư, 0 thông tư liên tịch; quản lý địa chất và khoáng sản có ban hành 26 thông tư, 04 thông tư liên tịch; quản lý biển và hải đảo có 09 thông tư, 01 thông tư liên tịch. Quản lý môi trường ban hành 50 thông tư, 04 thông tư liên tịch” [34]. Như vậy, bên cạnh lĩnh vực môi trường thì đất đai là một lĩnh vực rất được chú trọng bởi sự quan trọng cũng như tính thời sự của nó.

Năm 2014 là năm đạt được nhiều kết quả trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Số lượng thông tư về quản lý đất đai tăng đột biến. Nguyên nhân chính là ngay sau sự ra đời của Luật Đất đai 2013 được Quốc hội thông qua, Tổng cục quản lý đất đai đã tập trung xây dựng, trình Bộ để Bộ ban hành theo thẩm quyền 13 thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai. Các nhiệm vụ được giao trong Luật cơ bản được hoàn thành, bảo đảm phù hợp với thời điểm có hiệu lực thi hành của Luật Đất đai 2013 (01 tháng 7 năm 2014)[28]. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

  • Chất lượng thông tư, thông tư liên tịch được ban hành:

Căn cứ vào những nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong Luật Đất đai năm 2013, căn cứ vào Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 4/4/2017 của Chính Phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, có thể chia những nội dung quản lý nhà nước về đất đai thành 04 nhóm với những văn bản QPPL được ban hành tương ứng như sau:

Thứ nhất: Nhóm văn bản QPPL về hướng dẫn thống kê và kiểm tra tình hình đất đai, từ đó biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai, về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai. Cụ thể:

  • Về số lượng đất đai: Nhà nước nắm về diện tích đất đai trong toàn quốc gia, trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương; nắm về diện tích của mỗi loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, v.v…; nắm về diện tích của từng chủ sử dụng và sự phân bố trên bề mặt lãnh thổ…Về chất lượng đất: nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của từng loại đất,độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất v.v…, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp.
  • Về hiện trạng sử dụng đất: Nhà nước nắm về thực tế quản lý và sử dụng đất có hợp lý, có hiệu quả không? có theo đúng quy hoạch, kế hoạch không? cách đánh giá phương hướng khắc phục để giải quyết các bất hợp lý trong sử dụng đất đai.

Để thực hiện những nội dung đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành những thông tư như sau:

Thông tư số 15/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật điều tra thoái hóa đất.

Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất.

Thông tư số 2012/TT-BTNMT ngày 10/4/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về trình tự, nội dung, phương pháp điều tra, đánh giá chất lượng đất.

Thông tư số 03/2012/TT-BTNMT ngày 12/4/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc quản lý sử dụng đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện thủy lợi Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thông tư số 02/2012/TT-BTNMT ngày 19/3/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chuẩn thông tin địa lý cơ sở

Thông tư số 06/2012/TT-BTNMT ngày 01/6/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Định mức kinh tế – kỹ thuật xây dựng hệ thống thông tin địa danh Việt Nam và nước ngoài phục vụ công tác lập bản đồ

Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT ngày 24/04/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Thông tư số 18/2013/TT-BTNMT ngày 18/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế – kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

Thông tư số 31/2013/TT-BTNMT ngày 23/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy trình nghiệp vụ lưu trữ tài liệu đất đai

Thông tư số 33/2013/TT-BTNMT ngày 25/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế – kỹ thuật lưu trữ tài liệu đất đai.

Thông tư số 49/2013/TT-BTNMT ngày 26/12/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của định mức kinh tế – kỹ thuật điều tra thoái hóa đất ban hành kèm theo Thông tư số 15/2012/ TT-BTNMT ngày 26/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thông tư số 34/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng quản lý khai thác hệ thống thông tin đất đai

Thông tư số 17/2014/TT-BTNMT ngày 21/4/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc xác định ranh giới diện tích và xây dựng cơ sở dữ liệu đất trồng lúa

Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính

Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính

Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập điều chỉnh quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thông tư số 42/2014/TT-BTNMT ngày 29/7/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế – kỹ thuật thống kê kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

Thông tư số 48/2014/TT-BTNMT ngày 22/8/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về xác định đường địa giới hành chính cắm mốc địa giới và lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp

Thông tư số 75/2015/TT-BTNMT ngày 28/12/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về cơ sở dữ liệu đất đai

Thông tư số 09/2015/TT-BTNMT ngày 23/3/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật lập điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [33]

Trong các nhóm nội dung, đây là nhóm được hướng dẫn thực hiện nhiều nhất, tập trung nhất với tổng là 21 thông tư được ban hành [18], chiếm 61% số lượng văn bản QPPL về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc đưa ra một cơ sở dữ liệu về đất đai và tình hình đất đai với hiện trạng của nó chính là tiền đề và là căn cứ quan trọng nhất để các cơ quan nhà nước (cụ thể là Bộ Tài nguyên và Môi trường) thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai của mình. Trong giai đoạn 2012 – 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã căn bản hình thành nên một bức tranh về đất đai với những dữ liệu và hiện trạng của tình hình quản lý, sử dụng đất, kế hoạch và quy hoạch sử dụng đất.

Thứ hai: Nhóm các văn bản hướng dẫn thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế thông qua việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Những thông tư được ban hành phục vụ mục đích này là:

Thông tư số 04/2013/TTLT-UBDT-BTC-BTNMT ngày 18/11/2013 hướng dẫn thực hiện một số điều của Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn

Thông tư số 50/2013/TT-BTNMT ngày 27/12/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật đo đạc địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thông tư số 30/2013/TT-BTNMT ngày 14/10/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định thực hiện lồng ghép việc đo đạc lập hoặc chỉnh lý bản đồ địa chính và đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất xây dựng hồ sơ địa chính cơ sở dữ liệu địa chính

Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ giao đất cho thuê đất chuyển mục đích sử dụng đất thu hồi đất

Thông tư số 16/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 4/4/2015 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Trung tâm phát triển quỹ đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường

Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 4/4/2015 hướng dẫn chức năng nhiệm vụ quyền hạn cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài Nguyên Môi trường

Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất

Thông tư số 07/2015/TT-BTNMT ngày 26/2/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập phương án sử dụng đất; lập hồ sơ ranh giới sử dụng đất; đo đạc lập bản đồ địa chính; xác định giá thuê đất; giao đất cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với công ty nông lâm nghiệp[33]

Trong giai đoạn 2012 – 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành 10 thông tư thuộc nhóm nội dung này. Nhà nước chiếm hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng. Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau. Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế. Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Ví dụ như một trong những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2013 là những quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Luật bổ sung quy định về các trường hợp đăng ký lần đầu, đăng ký biến động, đăng ký đất đai điện tử. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 05 năm 2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là sự cụ thể hóa những quy định đó để cơ quan nhà nước cũng như người dân dễ dàng thực hiện. Hoặc vấn đề thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư luôn là vấn đề nóng được người dân quan tâm. Trong Luật Đất đai năm 2013 cũng đã đề cập tới vấn đề này theo hướng đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội. Cùng với việc Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì Bộ Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào những văn bản pháp lý cơ sở đó để ban hành những quy định cụ thể trong lĩnh vực mình phụ trách quản lý với Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Thứ ba: Nhóm văn bản QPPL với nội dung hướng dẫn các hoạt động thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai. Bao gồm các thông tư như sau:

Thông tư số 35/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc điều tra đánh giá đất đai

Thông tư số 61/2015/TT-BTNMT ngày 25/12/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cấp và quản lý chứng chỉ định giá đất

Thông tư số 60/2015/TT-BTNMT ngày 15/12/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật điều tra đánh giá đất đai.

Thông tư số 33/2016/TT-BTNMT ngày 7/11/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật điều tra đánh giá đất đai

Thông tư số 49/2016/TT-BTNMT ngày 28/12/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về công tác giám sát, kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm trong lĩnh vực quản lý đất đai [33]

Với những thông tư trên, nhà nước có những căn cứ để tiến hành thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai. Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụ thể thực hiện. Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sử dụng đất. Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thứ tư. Nhóm văn bản QPPL hướng dẫn thực hiện các chính sách tài chính về đất đai. Các văn bản cụ thể như sau:

Thông tư số 26/2013/TT-BTNMT ngày 26/9/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc xác định diện tích đất loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp quy định tại điều 31 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần

Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất

Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BTNMT-BTP ngày 4/4/2015 quy định việc tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất.

Thông tư số 20/2015/TT-BTNMT ngày 27/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Định mức kinh tế – kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất

Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT: Quy định về hồ sơ và trình tự thủ tục tiếp nhận luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất22-06-2016 [33]

Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Hoạt động này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền sử dụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử dụng đất), thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử dụng đất…) nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.

Như vậy, căn cứ vào Luật Đất đai hiện hành, nghị định của Chính Phủ về quản lý đất đai, những thông tư, thông tư liên tịch được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, đáp ứng được nhu cầu về quản lý đất đai. Nắm chắc tình hình đất đai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất đai một cách hợp lý theo quy hoạch, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát là củng cố trật tự trong phân phối đất đai và sử dụng đất đai, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước.

Như vậy, với vai trò quản lý chung trong cả nước về lĩnh vực tài nguyên – môi trường nói chung và lĩnh vực tài nguyên đất đai nói riêng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kịp thời ban hành hệ thống các thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn để cùng với các văn bản quy phạm khác trong phạm vi thẩm quyền được giao, tạo lập một hành lang pháp lý cho việc áp dụng, thực hiện của người dân, tổ chức, và việc quản lý của chính Bộ Tài nguyên và Môi trường. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

2.2.2.2. Kết quả đạt được trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường

  • Hình thành được những văn bản quy phạm làm căn cứ pháp lý để ban hành văn bản QPPL về quản lý đất đai.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 ra đời, kèm theo đó là Nghị định số 24/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết về biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về Kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có những thay đổi theo sát với chỉ đạo cấp trên. Thông tư số 46/2014/TT-BTNMT ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, ban hành văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường thay thế Quyết định số 21/2007/QĐ-BTNMT ngày 10/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Và khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 được ra đời với những hướng dẫn triển khai từ Nghị định số: 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật ban hành văn bản QPPL thì liền sau đó là sự ra đời của Thông tư số 32/2016/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về xây dựng, ban hành văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Mục đích của việc ban hành văn bản quy định về quy trình xây dựng văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường là vì cơ chế, chính sách do Bộ Tài nguyên và Môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân và tổ chức nên rất cần có một quy trình chặt chẽ để văn bản QPPL của Bộ được ban hành có tính khả thi cao, minh bạch đảm bảo sự tham gia góp ý của các đối tượng liên quan, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân và tổ chức.

Bên cạnh đó, thể chế quy định về nguồn kinh phí cho việc thực hiện các bước trong hoạt động xây dựng văn bản cũng được hoàn thiện. Trước năm 2010, kinh phí ban hành văn bản QPPL được thực hiện theo Thông tư số 100/2006/TT-BTC ngày 23 tháng 10 năm 2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo cho công tác xây dựng các văn bản QPPL. Từ năm 2010, kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02 tháng 12 năm 2010. Ngày 14 tháng 7 năm 2014, liên Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP thay thế Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nguồn kinh phí này được quy định cho từng quy trình, từng bước, từng giai đoạn xây dựng văn bản QPPL, bao gồm: Nghiên cứu, lập đề nghị xây dựng văn bản; lập đề nghị chương trình xây dựng văn bản của các bộ, ngành và tổ chức phân công thực hiện; điều tra, khảo sát và nghiên cứu đánh giá, tổng kết thực tiễn trong quá trình lập đề nghị xây dựng, soạn thảo văn bản và thi hành pháp luật; soạn thảo văn bản; đánh giá tác động của văn bản; tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự án, dự thảo văn bản; ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án, dự thảo văn bản; góp ý, thẩm định dự án, dự thảo văn bản; thẩm tra của Văn phòng Chính phủ về dự án, dự thảo văn bản.

Điểm đổi mới đáng chú ý nhất của Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP so với thông tư trước trong các nội dung liên quan tới việc xây dựng, ban hành thông tư chính là về thủ tục thanh quyết toán: để quản lý chi tiêu theo hướng đơn giản, gọn nhẹ so với quy định hiện hành, tại điểm a, khoản 2 Điều 6 quy định thực hiện phương thức khoán kinh phí trên sản phẩm hoàn thành kèm theo bảng kê chi tiết các nội dung chi, mức chi theo quy định tại thông tư liên tịch, không cần kèm theo hóa đơn, chứng từ. Việc khoán chi trên sản phẩm hoàn thành sẽ tiết kiệm nhiều thời gian, chi phí khi thanh toán tiền kinh phí xây dựng văn bản và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Trước mỗi sự thay đổi từ thực tế cuộc sống đã đặt ra yêu cầu thay đổi trong chính sách pháp luật. Như vậy, hệ thống thể chế cho hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL cũng như quy định về nguồn kinh phí cho việc thực hiện các bước trong quy trình xây dựng văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường nói chung và trong lĩnh vực quản lý đất đai đã khá đầy đủ và toàn diện.

  • Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL về quản lý đất đai được tinh gọn, giảm đầu mối ban hành

Trước khi có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, thẩm quyền của Bộ trưởng ban hành các loại văn bản QPPL là: thông tư, quyết định, chỉ thị, thông tư liên tịch. Sau khi có Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, thẩm quyền của Bộ trưởng ban hành các loại văn bản QPPL là: thông tư và thông tư liên tịch (giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ). Với sự ra đời của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, thẩm quyền của Bộ trưởng vẫn là ban hành thông tư và thông tư liên tịch, tuy nhiên có sự thu hẹp lại phạm vi ban hành thông tư liên tịch (bỏ hình thức thông tư liên tịch giữa các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ). Như vậy, kể từ năm 2009, Bộ trưởng không ban hành loại văn bản QPPL là chỉ thị, quyết định. Theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2008 thì các quyết định, chỉ thị đã ban hành vẫn tiếp tục có hiệu lực đến khi có văn bản khác thay thế.

Việc giảm đi số lượng văn bản được coi là văn bản QPPL sẽ góp phần tăng tính tập trung vào chất lượng các văn bản QPPL được ban hành (bởi một văn bản được coi là văn bản QPPL phải đáp ứng nhiều yêu cầu, ban hành theo một trình tự thủ tục theo đúng quy định pháp luật), tránh ban hành chồng chéo nội dung giữa các văn bản QPPL của bộ.

  • Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức ngày càng được nâng cao

Trước khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế có hiệu lực, còn tồn tại tình trạng thiếu tổ chức pháp chế ở một số đơn vị, công tác pháp chế giao cho cán bộ văn phòng phụ trách. Sau khi Nghị định số 55/2011/NĐ-CP được triển khai, tổ chức pháp chế ở các đơn vị thuộc bộ được kiện toàn, đến nay, hầu hết các đơn vị thuộc bộ đều thành lập tổ chức pháp chế và có cán bộ chuyên trách làm công tác pháp chế. Việc kiện toàn tổ chức pháp chế ở các đơn vị, trong đó có Tổng cục quản lý đất đai giúp cho chất lượng văn bản QPPL khi gửi Vụ Pháp chế được nâng cao. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng về quy trình xây dựng văn bản QPPL tại Bộ Tài nguyên và Môi trường luôn được quan tâm. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức các lớp bồi dưỡng về quy trình xây dựng văn bản. Bộ cử cán bộ liên quan đến công tác xây dựng văn bản tham gia các khóa tập huấn này. Nhờ đó cán bộ, công chức của bộ ngày càng được tích lũy thêm kiến thức, kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm trong triển khai công việc được giao.

Số lượng các lớp tập huấn về quy trình ban hành văn bản QPPL: Tính từ năm 2012 đến nay, các cán bộ công chức của bộ đã được tham gia một số lớp tập huấn về xây dựng văn bản cũng như quy trình xây dựng văn bản như:

Các lớp tập huấn do Vụ Pháp chế là cơ quan đầu mối về công tác pháp luật tổ chức (mời giảng viên của Bộ Tư pháp)

Năm 2012, bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước và có sự hỗ trợ kinh phí xây dựng Luật Đất đai năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 02 lớp tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về xây dựng văn bản QPPL. Đối tượng được tập huấn là cán bộ công chức tại các cục, vụ, đơn vị thuộc Bộ và một số cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường.

Năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 04 lớp tập huấn quy trình, kỹ thuật xây dựng văn bản QPPL cho hơn 100 cán bộ công chức tại các cục, vụ, đơn vị thuộc bộ. Qua tập huấn, cán bộ công chức đã hiểu rõ hơn về quy trình xây dựng văn bản QPPL.

Trong năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức 02 buổi tập huấn cho công chức, người lao động trực tiếp tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; trực tiếp tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cũng như tiếp nhận và xử lý phản ánh kiến nghị của tổ chức, cá nhân về nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính. [13]

Các lớp tập huấn do Bộ Tư pháp và các cơ quan khác tổ chức:

Năm 2012, Bộ Tư pháp đã tổ chức 01 lớp bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng xây dựng văn bản QPPL tại Hà Nội cho cán bộ làm công tác pháp chế thuộc các bộ, ngành.

Riêng với Tổng Cục quản lý đất đai – đơn vị chịu trách nhiệm chính trước Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý đất đai, trong đó có nhiệm vụ soạn thảo văn bản QPPL về quản lý đất đai thì công tác bồi dưỡng nhân sự càng phải đề cao khi muốn có những văn bản QPPL thực sự chất lượng. “Để thực thi hiệu quả các chính sách pháp luật đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai đã thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ ngành có chuyên môn, nghiệp vụ cao. Cụ thể, trong giai đoạn 2011 – 2015, Tổng cục đã tổ chức 8 lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý Nhà nước về đất đai và nghiệp vụ chuyên môn cho 416 lượt cán bộ của Tổng cục và các đơn vị trực thuộc. Tổ chức 19 hội nghị tập huấn chuyên môn nghiệp vụ về quản lý đất đai cho 2.355 lượt cán bộ chuyên môn của Tổng cục và các Sở TN&MT thuộc 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương’’ [11] Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Trong năm 2016, Trung tâm Đào tạo và Truyền thông đất đai đã mở 4 lớp đào tạo bồi dưỡng về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh với 306 học viên tham dự [11]

  • Tổ chức thực hiện với các bước trong quy trình ban hành có nhiều đổi mới tích cực

Sau khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và các nghị định hướng dẫn được ban hành, để tổ chức thực hiện tốt quy trình ban hành văn bản QPPL tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ đã ban hành Thông tư số 46/2014/TT-BTNMT ngày 01 tháng 08 năm 2014 quy định về xây dựng, ban hành văn bản QPPL thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Với sự ra đời của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Thông tư số 32/2016/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 năm 2016 được ra đời thay thế Thông tư số 46/2014/TT-BTNMT, kịp thời làm căn cứ cơ sở để trong những năm qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thực hiện tốt quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL.

Lập dự kiến kế hoạch xây dựng văn bản QPPL: Việc lập dự kiến kế hoạch xây dựng văn bản QPPL đã được thực hiện khá bài bản và có một chiều dài tổng thể nhất định chứ không đơn thuần chỉ là những kế hoạch trong ngắn hạn. Theo Quyết định số 655/QĐ-BTNMT ngày 13 tháng 4 năm 2011 phê duyệt chương trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL giai đoạn 2011 – 2015 thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã có 136 thông tư trong tất cả các lĩnh vực dự kiến ban hành, riêng trong lĩnh vực quản lý đất đai, số lượng thông tư dự kiến ban hành là 13 thông tư. Trên cơ sở đó, căn cứ vào nhu cầu thực tế, hàng năm Vụ Pháp chế gửi công văn cho các đơn vị thuộc Bộ đề nghị đề xuất xây dựng văn bản gửi về Vụ Pháp chế. Trên cơ sở đó, căn cứ chiến lược phát triển của ngành và định hướng hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL của Bộ trên lĩnh vực, Vụ Pháp chế tổng hợp và trình Bộ trưởng ban hành Chương trình xây dựng văn bản QPPL hàng năm, trong đó có lĩnh vực đất đai. Năm 2014, theo Quyết định số 101/QĐ-BTNMT ngày 20 tháng 01 năm 2014 và Quyết định số 1633/QĐ-BTNMT ngày 05 tháng 8 năm 2014 chương trình năm 2014, Bộ dự kiến xây dựng và ban hành 59 văn bản (56 thông tư, 03 thông tư liên tịch), trong đó có 12 văn bản về lĩnh vực đất đai [28]

Như vậy, công tác lập kế hoạch ban hành văn bản QPPL đã khá được chú trọng. Đây sẽ là cơ sở để cơ quan chủ quản có thể chủ động được tốt nhất các nguồn lực cho sự ra đời các văn bản QPPL chất lượng.

  • Soạn thảo văn bản: Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập; Tổ soạn thảo: căn cứ vào chương trình xây dựng văn bản QPPL đã được phê duyệt hàng năm, các đơn vị được giao chủ trì soạn thảo tiến hành thành Tổ soạn thảo (đối với dự thảo thông tư).

Tổng kết, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật và các thông tin tư liệu có liên quan đến nội dung của dự thảo; khảo sát, nghiên cứu thực tế địa phương, cơ sở hoặc nước ngoài; đánh giá tác động văn bản; tổ chức soạn thảo theo đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng; kịp thời xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ phụ trách về những nội dung quan trọng, những vấn đề mang tính nhạy cảm;

  • Tổ chức thực hiện việc lấy ý kiến và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan về dự thảo văn bản:

Trong những năm qua, khi soạn thảo văn bản các đơn vị chủ trì thường tự quyết định hình thức, đối tượng lấy ý kiến theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Công tác xin ý kiến góp ý trong quá trình soạn thảo văn bản đã đạt được một số kết quả như sau:

Số lần lấy ý kiến góp ý cho một văn bản : Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật không quy định mỗi một văn bản phải lấy ý kiến bao nhiêu lần trong quá trình soạn thảo là đủ. Việc quyết định số lần lấy ý kiến tùy thuộc vào nhận thức của các đơn vị. Tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, có rất nhiều văn bản được lấy ý kiến nhiều lần dưới các hình thức khác nhau có thể là 10 lần, 20 lần.

Ví dụ: Thông tư số 03/2012/TT-BTNMT ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc quản lý sử dụng đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện thủy lợi đã lấy ý kiến góp ý cho dự thảo bằng nhiều hình thức như tổ chức họp trực tiếp tại các địa phương có hồ thủy điện lớn để lấy ý kiến của các cán bộ thủy lợi, cán bộ nông nghiệp địa phương, đặc biệt là các địa phương thường xuyên xảy ra các hiện tượng ngập do hệ thống thủy lợi, thủy điện như Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang… Tổ chức các cuộc hội thảo vùng, tham vấn ý kiến của các chuyên gia nước ngoài, gửi văn bản lấy ý kiến các Bộ, ngành có liên quan (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn…)

Hình thức lấy ý kiến ngày càng phong phú: Việc tổ chức lấy ý kiến góp ý cho văn bản được các cơ quan chủ trì soạn thảo trong Bộ tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau:

Một là: Tổ chức hội nghị, hội thảo Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Đây là hình thức được áp dụng tương đối phổ biến trong Bộ. Hội nghị, hội thảo được tổ chức nhiều dưới quy mô khác nhau và ở nhiều địa điểm khác nhau như hội thảo các tổ chức trong nước, hội thảo tham vấn các chuyên gia nước ngoài, hội thảo vùng, miền. Khi tổ chức hội thảo, hội nghị, đơn vị chủ trì có thể lắng nghe ý kiến đóng góp một cách trực tiếp và có điều kiện để trao đổi ngay với đại biểu để làm sáng tỏ vấn đề. Thông thường các cuộc hội nghị, hội thảo đem lại hiệu quả cao. Đặc biệt, trong một số lĩnh vực như đánh giá đất đai, tình trạng thoái hóa đất….được sự tài trợ của các tổ chức quốc tế, các hội nghị, hội thảo đóng góp ý kiến được tổ chức thường xuyên hơn và quy mô được mở rộng hơn. Ví dụ: Sáng 03/10, tại Hải Phòng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về dự thảo thông tư quy định về đo đạc, lập bản đồ địa chính, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận đối với Công ty nông, lâm nghiệp và thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ. Tham dự Hội thảo có đại diện các đơn vị thuộc Tổng cục Quản lý đất đai và gần 80 đại biểu một số Sở TN&MT khu vực miền Bắc, miền Trung. Ngoài ra, tham dự Hội thảo còn có các đại biểu đại diện Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn một số tỉnh [17]

Hai là: Gửi văn bản lấy ý kiến

Các đơn vị chủ trì trong Bộ cũng thường lấy ý kiến các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, các chuyên gia, tổ chức có liên quan dưới hình thức này. So với việc tổ chức hội nghị, hội thảo thì hình thức gửi văn bản ít tốn kém hơn. Hình thức này giúp các cơ quan chủ trì soạn thảo có ý kiến góp ý chính thức của các cơ quan, tổ chức có liên quan, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề còn nhiều tranh cãi và có tài liệu làm cơ sở để thuyết phục người có thẩm quyền ban hành văn bản.

Ba là: Đăng tải trên trang tin điện tử của Bộ

Hiện nay hầu hết các đơn vị đều đã có trang thông tin điện tử riêng cho đơn vị mình. Với Tổng Cục quản lý đất đai, đã có website riêng [30] và thường xuyên được cập nhật, đăng tải các dự thảo văn bản ở vị trí trung tâm trên trang tin điện tử của đơn vị mình. Điều này giúp cho những đơn vị, tổ chức, cá nhân nào quan tâm đến nội dung của dự thảo văn bản có điều kiện tiếp cận. Đồng thời hình thức này cũng mở rộng hơn các đối tượng được lấy ý kiến so với hình thức tổ chức tổ chức hội nghị, hội thảo và gửi lấy ý kiến. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Phạm vi đối tượng được lấy ý kiến ngày càng được mở rộng. Các đơn vị đã tổ chức lấy ý kiến của nhiều đối tượng khác nhau, không chỉ bó hẹp ở các đơn vị trong Bộ, các bộ, ngành trung ương mà đối tượng được lấy ý kiến còn là các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, các doanh nghiệp, chuyên gia trong nước và các chuyên gia nước ngoài. Điều này khiến cho văn bản được xây dựng có thể phù hợp với quy định của nhiều lĩnh vực khác nhau, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và áp dụng có chọn lọc các kinh nghiệm của các nước trên thế giới. Đặc biệt là việc lấy ý kiến các dối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản đã được các đơn vị thuộc Bộ tính đến trong quá trình soạn thảo.

Ví dụ: Tổng cục Quản lý đất đai đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến nội dung dự thảo Thông tư Quy định kỹ thuật về cơ sở dữ liệu đất đai ngày 19 tháng 6 năm 2015. Chủ trì hội nghị có ông Lê Văn Lịch – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai, cùng tham dự hội nghị có sự tham gia của ông Nguyễn Thế Dũng – chủ nhiệm dự án Hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (dự án VLAP), lãnh đạo và cán bộ chuyên môn thuộc 17 Sở Tài nguyên và Môi trường, các chuyên gia thuộc Bộ Thông tin truyền thông và các đơn vị có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực xây dựng phần mềm hệ thống thông tin đất đai [18]

Chỉnh lý dự thảo văn bản, xây dựng tờ trình Bộ trưởng, gửi xin ý kiến thẩm định; Hoàn thiện dự thảo văn bản sau khi có ý kiến thẩm định; chuẩn bị hồ sơ trình Bộ trưởng ký ban hành văn bản. Các đơn vị chủ trì xây dựng văn bản của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tuân thủ các bước trên trong quá trình xây dựng văn bản.

  • Thẩm định dự thảo:

Qua một thời gian thực hiện công tác thẩm định, các chuyên viên của Vụ Pháp chế ngày càng hiểu rõ về vị trí, vai trò của công tác thẩm định văn bản QPPL và tích lũy được kinh nghiệm trong khi thẩm định. Về nội dung thẩm định không chỉ đơn thuần về mặt câu, chữ của văn bản mà hướng đến các nội dung khác như sự cần thiết ban hành văn bản, tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản, không trái với các văn bản QPPL đã ban hành trước đó.

Thời hạn thẩm định văn bản được đảm bảo: Các chuyên viên của Vụ Pháp chế đã đảm bảo thời gian thẩm định văn bản theo Thông tư số 32/2016/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 năm 2016 là 7 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, hầu như không có trường hợp nào để quá hạn. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Khi nhận được hồ sơ đề nghị thẩm định văn bản do các đơn vị gửi đến, Lãnh đạo Vụ Pháp chế đã phân công các chuyên viên thẩm định theo từng lĩnh vực được phân công phụ trách. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, các chuyên viên của Vụ phải có công văn thẩm định trình Lãnh đạo Vụ Pháp chế.

Trong trường hợp văn bản có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, chuyên viên được giao chủ trì thẩm định có thể kiến nghị với lãnh đạo Vụ để thành lập nhóm chuyên viên thẩm định. Ví dụ như thẩm định về Thông tư 60/2015/TT-BTNMT ngày 15 tháng 12 năm 2015 quy định về kỹ thuật điều tra đánh giá đất đai, Lãnh đạo Vụ đã cử một số chuyên viên tham gia thẩm định cùng chuyên viên chủ trì dưới dạng góp ý kiến, không có họp trực tiếp để thảo luận. Trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về chuyên viên chủ trì thẩm định.

  • Giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định và trình Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng ký ban hành.

Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo sau khi nhận được ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế là phải nghiên cứu, chỉnh sửa dự thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể không tiếp thu ý kiến thẩm định nhưng phải giải trình với lãnh đạo Bộ về vấn đề đó.

Về cơ bản, việc tiếp thu ý kiến thẩm định của Vụ Pháp chế đã được các đơn vị thực hiện nghiêm túc. Các đơn vị thường có sự trao đổi với Vụ Pháp chế sau khi nhận được ý kiến thẩm định nhằm làm rõ các vấn đề. Trong trường hợp không tiếp thu, ý kiến đó được giải trình trong tờ trình Lãnh đạo Bộ.

  • Đăng công báo sau khi Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng ký ban hành.

Việc đăng công báo sau khi Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng ký ban hành đã được các đơn vị soạn thảo tuân thủ đúng theo quy định theo Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015.

  • Nguồn kinh phí để thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL được nâng lên ở một số hạn mục

Kinh phí phục vụ cho xây dựng và ban hành văn bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường bố trí trong kinh phí thường xuyên theo quy định của Bộ Tài chính.

Trước năm 2014, kinh phí ban hành văn bản QPPL được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02/12/2010 hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Từ năm 2014, kinh phí cho công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL đã được quy định tại Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14 tháng 07 năm 2014 hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Theo Điều 3 của Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP, nguồn kinh phí này đã được quy định cho từng quy trình, từng bước, từng giai đoạn xây dựng văn bản QPPL. Đồng thời, mức chi cho từng công đoạn của quy trình xây dựng ban hành văn bản có định mức rõ ràng, một số nội dung đã cao hơn so với quy định tại Thông tư liên tịch số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

  • Chi soạn thảo đề cương chi tiết dự thảo văn bản

Đối với Thông tư Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Soạn thảo văn bản mới hoặc thay thế: mức chi tối đa 1.000.000đồng/ đề cương; soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều: mức chi tối đa 800.000 đồng/đề cương.

  • Chi soạn thảo văn bản:

Đối với Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ: Soạn thảo văn bản mới hoặc thay thế: mức chi tối đa 3.000.000đồng/dự thảo văn bản; soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều: mức chi tối đa 2.000.000đồng/ dự thảo văn bản.

  • Chi soạn thảo các báo cáo phục vụ công tác xây dựng văn bản và hoàn thiện hệ thống pháp luật:

Báo cáo tổng hợp ý kiến; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý, thẩm định: mức chi tối đa 1.500.000 đồng/báo cáo (tăng hơn so với thông tư 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP, mức chi tối đa chỉ 1.000.000 đồng/báo cáo)

  • Báo cáo nhận xét đánh giá của người phản biện, ủy viên Hội đồng thẩm định, báo cáo tham luận theo đơn đặt hàng của cơ quan, đơn vị chủ trì soạn thảo: Đối với các văn bản trong đó có thông tư, mức chi tối đa 800.000 đồng/báo cáo (tăng so với Thông tư 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP, mức chi tối đa chỉ 500.000 đồng/báo cáo)
  • Báo cáo đánh giá tác động của văn bản: Báo cáo đánh giá tác động sơ bộ: mức chi tối đa 4.000.000 đồng/báo cáo; Báo cáo đánh giá tác động đơn giản: mức chi tối đa 5.000.000 đồng/báo cáo; Báo cáo đánh giá tác động đầy đủ: mức chi tối đa 6.000.000 đồng/báo cáo.

Soạn thảo văn bản góp ý, báo cáo thẩm định, thẩm tra văn bản.

  • Văn bản góp ý: đối với các văn bản trong đó có Thông tư, mức chi tối đa 500.000 đồng/văn bản.
  • Báo cáo thẩm định, báo cáo thẩm tra: Đối với dự thảo thông tư, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, mức chi tối đa 500.000 đồng/báo cáo.
  • Chỉnh lý hoàn thiện đề cương nghiên cứu, các loại báo cáo, bản thuyết minh, tờ trình văn bản, mức chi tối đa 500.000 đồng/lần chỉnh sửa. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.
  • Chỉnh lý dự thảo văn bản: mức chi tối đa 600.000 đồng/lần chỉnh lý.
  • Chi cho cá nhân tham gia họp, hội thảo, tọa đàm, hội nghị và họp báo: * Tham gia họp, hội thảo, tọa đàm, hội nghị phục vụ công tác lập đề nghị xây dựng dự kiến chương trình, soạn thảo, đánh giá tác động, góp ý, thẩm định, thẩm tra văn bản; điều tra, khảo sát; theo dõi, đánh giá về tình hình thi hành pháp luật: chủ trì: mức chi 150.000 đồng/người/cuộc họp; các thành viên tham dự: mức chi 100.000 đồng/người/cuộc họp; ý kiến tham luận bằng văn bản của thành viên tham dự; mức chi tối đa 500.000 đồng/văn bản.
  • Tham dự các cuộc họp báo công bố Luật, Pháp lệnh và các văn bản đã được cấp có thẩm quyền ký ban hành; người chủ trì cuộc họp: mức chi 150.000 đồng/người/cuộc họp; các thành viên tham dự: mức chi 70.000 đồng/người/cuộc họp.

Như vậy, theo quy định của Thông tư số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP, các giai đoạn của quá trình xây dựng văn bản đều đã có các mức chi rõ ràng, cụ thể. Theo đó, hàng năm các đơn vị được giao chủ trì xây dựng văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã lập kế hoạch kinh phí xây dưng văn bản theo quy định. Nguồn kinh phí này bước đầu đã tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu trong quy trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2.3. NHỮNG HẠN CHẾ CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

2.3.1. Những hạn chế của văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Việc mâu thuẫn giữa thông tư, thông tư liên tịch của Bộ với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên Xét theo chủ thể quản lý nhà nước về đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai trên phạm vi cả nước, giao cho Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất cũng là chủ thể cao nhất trong vấn đề quản lý về đất đai. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước. Từ đó, hệ thống văn bản QPPL về quản lý đất đai cũng theo hệ thống tương ứng. Quốc hội ban hành Luật Đất đai, Chính phủ ban hành các Nghị định về quản lý đất đai căn cứ vào các nội dung trong Luật Đất đai. Bộ Tài nguyên Môi trường sẽ ban hành các thông tư, thông tư liên tịch để thực hiện việc hướng dẫn triển khai các điều luật vào thực tế cuộc sống. Một trong những nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất khi xây dựng văn bản QPPL đó là “Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật” [9]. Nhưng trong thực tế, vẫn có những thông tư, thông tư liên tịch về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường mâu thuẫn với các văn bản QPPL ở cấp cao hơn.

Ví dụ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tại khoản 2 Điều 77 Nghị định số 43/NĐ-CP quy định sau 30 ngày kể từ ngày niêm yết thông báo về việc mất giấy chứng nhận mới nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận. Tuy nhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số 24/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính lại quy định thời gian niêm yết là 15 ngày, khó khăn cho địa phương trong thực hiện các thủ tục. Qua đó, có thể thấy sự không thống nhất trong quy định của nghị định và thông tư. Vì vậy, để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, cần sửa đổi thông tư trên theo hướng thống nhất thời gian niêm yết thông báo việc mất giấy chứng nhận là 30 ngày; sau 30 ngày mới được thực hiện nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận.

Văn bản QPPL về quản lý đất đai của nhà nước nói chung, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn còn một số vấn đề chưa được đưa vào những quy định của Pháp luật để có những hướng dẫn thực hiện nhất định hoặc đã có quy định nhưng còn chưa sát với thực tế cuộc sống. Cụ thể như:

  • Về giá đất: Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Giá đất vừa là sản phẩm tất yếu của cơ chế thị trường, vừa là công cụ để nhà nước quản lý đất đai và thị trường bất động sản, đồng thời giá đất là phương tiện để Nhà nước thực hiện các chính sách xã hội về đất đai, giá đất còn góp phần đảm bảo cho cơ chế sử dụng đất có hiệu quả và tiết kiệm, nhưng giá đất ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện nay đều thấp hơn nhiều so với giá thực tế. Khung giá đất do Chính phủ ban hành vẫn theo hướng cào bằng giữa các thửa đất cùng loại đất nhưng có mục đích sử dụng đất khác nhau. Ví dụ như: Đất chuyên dùng phục vụ mục đích thương mại, dịch vụ và đất chuyên dùng dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh thông thường. Chưa có quy định về khung giá đất thuộc khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố khắc phục tình trạng đất ở cùng một khu vực, cùng mục đích sử dụng, cùng một thời điểm nhưng lại có giá khác nhau. Việc định giá đất đai chưa có tính chất kịp thời, khách quan, khoa học, vẫn còn những chênh lệch lớn so với thực tế biến động.

  • Về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Pháp luật về đất đai chưa đưa ra được những căn cứ xác đáng để bồi thường sát với thực tế và mức độ thiệt hại của người sử dụng đất; chưa đảm bảo được sự công bằng giữa các đối tượng bị thu hồi đất. Từ đó tình trạng khiếu kiện của những người bị thu hồi đất vẫn diễn ra.

Pháp luật đất đai hiện hành chưa có những quy định để buộc những chủ đầu tư, những tổ chức, cá nhân được hưởng lợi do Nhà nước giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, làm giá đất tăng lên, nhất là những khu đất ở mặt đường, phải nộp một khoản tiền cho Nhà nước. Điều này gây thất thu cho ngân sách nhà nước.

2.3.2. Những hạn chế trong thực hiện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.3.2.1.Về thẩm quyền ban hành Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành các văn bản QPPL để quản lý nhà nước trên các lĩnh vực về tài nguyên môi trường như: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; khí tượng thuỷ văn; đo đạc, bản đồ. Với một khối lượng lĩnh vực rất lớn, trên phạm vi cả nước, việc phân công các thứ trưởng phụ trách theo nhóm các lĩnh vực là điều tất yếu. Hiện tại, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang có 01 Bộ trưởng và 03 Thứ trưởng. Bộ trưởng vừa thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý mọi hoạt động của Bộ và trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực công tác sau đây: Chỉ đạo việc xây dựng thể chế, chiến lược, chính sách về tài nguyên và môi trường; các lĩnh vực chuyên ngành: quản lý đất đai, biến đổi khí hậu; các mặt công tác tổ chức cán bộ, kế hoạch, tài chính, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, công nghệ thông tin, thanh tra; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng…Như vậy, trong lĩnh vực đất đai, hiện tại ở Bộ Tài nguyên và Môi trường do chính Bộ trưởng phụ trách quản lý trực tiếp. Điều này vừa là một ưu thế (đây là một lĩnh vực nóng, đặc biệt quan trọng nên việc trực tiếp quản lý của Bộ trưởng sẽ tạo sự quan tâm sát sao hơn với lĩnh vực này), nhưng cũng là một hạn chế tất yếu. Bởi trong cương vị là Bộ trưởng, vừa phải quản lý chung tất cả mọi lĩnh vực do Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm trách, vừa phải phụ trách một lĩnh vực rất lớn và rất nặng sẽ không tránh khỏi những điều còn thiết sót. Kiêm nghiệm trong thẩm quyền đang là một vấn đề cần được quan tâm tại Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Trên thực tế, pháp luật hiện hành không thiếu các quy định về xử lý việc ban hành văn bản trái pháp luật, thậm chí luật còn xác định rõ nếu người nào ban hành văn bản QPPL sai, thì tùy mức độ có thể bị kỷ luật trong trường hợp cố tình ban hành văn bản QPPL sai trái. Theo Điều 87 của Luật ban hành văn bản QPPL 2008 thì các văn bản QPPL phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát, kiểm tra thường xuyên, nhằm phát hiện những nội dung sai trái hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc bãi bỏ nội dung các văn bản sai trái. Đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sai trái đó. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một trường hợp nào được xử lý đúng như quy định của pháp luật

2.3.2.2. Về nhân sự

Một là: Việc nắm vững quy trình xây dựng văn bản QPPL của cán bộ, công chức vẫn chưa thực sự đảm bảo chất lượng. Nhiều cán bộ, công chức mặc dù đã được tập huấn kỹ năng soạn thảo nhưng khi tiến hành soạn thảo vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Hai là: Các lớp tập huấn về kỹ năng, quy trình xây dựng văn bản QPPL cho cán bộ, công chức của Bộ vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu đào tạo. Có năm có tổ chức lớp nhưng có năm không có lớp nào. Việc đào tạo nhiều khi mang tính chất lồng ghép với các hoạt động khác như rà soát, kiểm tra văn bản. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Việc tham mưu ban hành văn bản QPPL do các đơn vị chuyên môn thực hiện, trong khi đó cán bộ chuyên môn chỉ hiểu về chuyên môn thuần túy, không có kiến thức về luật. Điều này đã dẫn đến ngôn ngữ trong nhiều văn bản chưa thật sự là ngôn ngữ pháp lý. Nhiều từ ngữ thiếu chính xác, mang nhiều ý nghĩa, hoặc không xác định như các từ “có thể”, “không cần thiết”…vẫn được sử dụng nên khó hiểu, khó giải thích, trong khi đó hoạt động giải thích pháp luật lại chưa được quan tâm đúng mức. Tình hình đó khiến việc áp dụng thiếu thống nhất và đầy đủ, vừa khó thực hiện vừa tạo kẽ hở cho những đối tượng cố ý lợi dụng vi phạm pháp luật.

2.3.2.3. Về tổ chức thực hiện

Bên cạnh những việc đã làm được thì vẫn còn những hạn chế, tồn tại trong thực hiện quy trình ban hành văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Cụ thể như sau:

Về lập chương trình xây dựng văn bản QPPL: So với kế hoạch đặt ra trong dài hạn (kế hoạch 5 năm) thì sự phát sinh thêm là quá lớn (theo kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015, đặt ra kế hoạch ban hành Thông tư là 13 văn bản, trong khi thực tế ban hành lên tới 30 thông tư và 6 thông tư liên tịch, gấp 2,7 lần so với dự kiến). Vẫn còn tình trạng bổ sung, điều chỉnh chương trình. Tuy nhiên, nếu xét theo kế hoạch hàng năm đặt ra thì tỷ lệ thực hiện so với mức kế hoạch hàng năm lại tương đối thấp. Tính trung bình hàng năm tỷ lệ văn bản được ban hành chỉ chiếm 60% so với kế hoạch đặt ra. Ví dụ trong năm 2014, số lượng thông tư được ban hành lớn nhất trong các năm ở giai đoạn 2012-2016 với 13 thông tư, 4 thông tư liên tịch. Tuy nhiên, trong đó có đến ½ số thông tư là thuộc chương trình ban hành của năm 2013 và ngoài chương trình. Điều đó cho thấy tính kế hoạch xây dựng văn bản QPPL còn chưa tốt, thiếu tính tiên liệu, dự báo thực tế trong kế hoạch ban hành văn bản QPPL, trong khi tính ban hành tức thời để giải quyết tình trạng bức xúc đã và đang diễn ra trong thực tế lại cao. Như vậy, tính hiệu quả và hiệu lực của văn bản QPPL đó sẽ không được kéo dài, dễ lạc hậu so với thực tế.

 Soạn thảo văn bản: Việc thành lập Tổ soạn thảo (đối với các Thông tư của Bộ), một số đơn vị chỉ tập trung mời các thành phần thuộc đơn vị, chưa mở rộng đối với các thành phần có liên quan. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng văn bản khi được ban hành. Do các thành viên liên quan không được tham gia tổ soạn thảo nên các nội dung dự thảo chưa có sự đóng góp nhiều chiều của các bên. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Đánh giá tác động văn bản: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đều quy định đối với các dự án Luật, Pháp lệnh, dự thảo Nghị định, Thông tư cơ quan chủ trì xây dựng văn bản phải đánh giá tác động của dự thảo văn bản. Tuy nhiên, trên thực tế, đây là hoạt động vừa mới lại vừa khó. Do vậy tại Bộ Tài nguyên và Môi trường trong thời gian qua, các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản mặc dù đã tiến hành đánh giá tác động nhưng bản đánh giá tác động còn sơ sài, chưa đáp ứng được yêu cầu. Cụ thể như bản đánh giá tác động của dự thảo Thông tư 61/2015/TT -BTNMT ngày 25 tháng 12 năm 2015 quy định về cấp và quản lý chứng chỉ định giá đất chỉ 5 trang giấy [28]

  • Lấy ý kiến góp ý:

Xác định thiếu đối tượng cần lấy ý kiến: Luật ban hành văn bản QPPL cho phép tùy theo từng văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ xác định đối tượng lấy ý kiến cho phù hợp với nội dung văn bản. Việc xác định đối tượng lấy ý kiến nhiều khi vẫn còn thiếu, thường rơi vào các trường hợp sau:

Không xác định hết các cơ quan, đơn vị có liên quan: để xác định thế nào là các cơ quan có liên quan phụ thuộc vào nội dung văn bản đang soạn thảo và chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhưng các đơn vị trong Bộ, các chuyên viên trực tiếp soạn thảo văn bản nhiều khi không hình dung được hết chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành hoặc coi nhẹ việc lấy ý kiến nên chỉ thực hiện mang tính hình thức. Điều này dẫn đến nhiều trường hợp khi trình văn bản sang Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp hay Vụ Pháp chế của Bộ thì các cơ quan này có ý kiến đề nghị lấy ý kiến bổ sung của các cơ quan có liên quan.

Chưa chú trọng việc lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của văn bản: Một số đơn vị chỉ tập trung vào lấy ý kiến của các Bộ, ngành, các nhà khoa học, chuyên gia và các cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương mà không chú trọng đến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Đối tượng chịu sự tác động cũng đã được lấy ý kiến nhưng chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực quản lý của ngành, chưa chú trọng lấy ý kiến của những người nông dân. Đặc biệt trong lĩnh vực quản lý đất đai, xuất phát từ những bức xúc, khiếu kiện của người dân từ các sự việc thực tế, các cơ quan nhà nước mới tiếp nhận những hạn chế trong văn bản để sửa đổi. Điều này gây ra rất nhiều hệ lụy cho xã hội. Ví dụ, hiện tại Tổng Cục quản lý đất đai, đơn vị chủ trì được giao soạn thảo thông tư quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật đất đai. Trong bản dự thảo của thông tư này, những vấn đề bất cập trong các văn bản QPPL được ban hành không lâu trước đó đang được đưa ra và sửa đổi. Trong đó có nội dung: “Điều 10. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2014/TT- BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 quy định về hồ sơ địa chính: Bổ sung khoản 5 vào Điều 11” với nội dung là đề nghị bổ sung quy định về hồ sơ hợp lệ bởi cách hiểu về quy định về hồ sơ hợp lệ khi tiếp nhận còn chưa thống nhất (là đủ thành phần tài liệu hồ sơ hay yêu cầu nội dung hồ sơ, hay tính thống nhất giữa các tài liệu hồ sơ tiếp nhận), dẫn đến tình trạng trả lại hồ sơ còn tùy tiện, nhiều hồ sơ tiếp nhận còn chưa bảo đảm yêu cầu để giải quyết, gây kéo dài thời gian thực hiện thủ tục do phải mất thêm thời gian hoàn thiện hồ sơ, bên cạnh đó cũng có trường hợp hồ sơ không thể giải quyết được nhưng không có cơ sở để trả lại như trường hợp hợp đồng, văn bản thực hiện quyền đã có công chứng, chứng thực nhưng nội dung lập không đúng quy định, không đúng tên của người sử dụng đất, không đủ điều kiện thực hiện quyền. Hiện trạng này sẽ khó xảy ra nếu lấy ý kiến rộng rãi của chính các cán bộ làm công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và người dân. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Chưa thực hiện việc gửi dự thảo đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến. Nghị định 24/2009/NĐ-CP đòi hỏi đối với những dự án, dự thảo quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thì phải gửi đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, tại Bộ Tài nguyên và Môi trường việc lấy ý kiến theo hình thức này hầu như còn chưa được thực hiện vì các đơn vị chủ trì soạn thảo cho rằng văn bản liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thường là các văn bản về lĩnh vực đầu tư và hướng dẫn Luật Doanh nghiệp do Bộ Kế hoạch Đầu tư chủ trì soạn thảo.

Phương thức lấy ý kiến văn bản chưa phát huy được sức mạnh của công nghệ tiên tiến: Việc tổ chức lấy ý kiến ở Bộ thường tập trung dưới một số hình thức truyền thống như: gửi văn bản lấy ý kiến hoặc tổ chức hội nghị, hội thảo. Các hình thức này có một số ưu điểm là rõ ràng, trực tiếp nhưng lại tốn kém về kinh phí. Trong khi đó, việc gửi các bộ, ngành, các địa phương lấy ý kiến bằng văn bản QPPL không đảm bảo hiệu quả. Do các cơ quan này thường giao cho một chuyên viên góp ý kiến, chưa lấy ý kiến số đông của các đơn vị liên quan. Hiện tại trên trang website của Tổng cục quản lý đất đai, của Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng liên tục đăng những dự thảo thông tư và có phần gửi những đóng góp, ý kiến xây dựng. Nhưng những cá nhân, tổ chức không thể theo dõi được những đóng góp đó để nhìn nhận vấn đề được tổng thể, toàn diện hơn. Cũng như việc theo dõi những chỉnh sửa, tiếp thu các đóng góp của cơ quan chủ quản. Việc lấy ý kiến còn mang nặng tính hình thức.

Thời gian lấy ý kiến chưa đảm bảo quy định: Theo quy định thời gian lấy ý kiến ít nhất là 20 ngày làm việc kể từ ngày đưa dự án, dự thảo ra lấy ý kiến. Việc xác định thời gian “20 ngày” phải phụ thuộc vào các hình thức lấy ý kiến khác nhau. Ví dụ như việc đăng tải văn bản lên phương tiện thông tin đại chúng thì 20 ngày có thể được xác định ngay từ ngày văn bản được đăng tải lên nhưng đối với hình thức lấy ý kiến bằng cách gửi văn bản để xin ý kiến thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải tính toán sao cho hợp lý. Thông thường, các văn bản được các cơ quan của Bộ đưa ra lấy ý kiến chỉ có thời gian từ 7 – 15 ngày.

Về việc tiếp thu ý kiến góp ý: Nhiều đơn vị chủ trì soạn thảo cho mình quyền được tiếp thu hay không tiếp thu ý kiến góp ý, chỉ tiếp thu những ý kiến có lợi cho đơn vị mình hay đúng với ý đồ của người soạn thảo. Điều này làm cho việc lấy ý kiến trở nên hình thức, lãng phí. Nhiều trường hợp các ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chỉ được cơ quan chủ trì soạn thảo kẹp vào hồ sơ trình ban hành văn bản mà không được tổng hợp và giải trình theo quy định của pháp luật bằng văn bản tổng hợp hoặc ít nhất là tại tờ trình ban hành văn bản. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Về việc chuẩn bị tài liệu để lấy ý kiến: theo quy định tại Nghị định 24/2009/NĐ-CP quy định khi lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản QPPL thì “cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến góp ý; đăng tải toàn văn dự thảo trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến”. Tuy nhiên, trong thực tế tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, số lượng văn bản đưa ra lấy ý kiến được chuẩn bị trước những vấn đề cần xin ý kiến là rất ít. Thông thường các cơ quan soạn thảo chỉ đưa ra dự thảo và tờ trình để lấy ý kiến. Điều này khiến cho việc góp ý bị tản mạn, không tập trung vào những vấn đề mà chính cơ quan chủ trì soạn thảo còn đang vướng mắc, nên sau khi tổ chức lấy ý kiến, cơ quan chủ trì soạn thảo vẫn không có cơ sở để quyết định các vấn đề còn nhiều tranh cãi.

  • Thẩm định văn bản :
  • Phương thức tổ chức thẩm định còn chưa phong phú.

Theo quy định của Luật ban hành văn bản QPPL và Thông tư số 46/201/TT-BTNMT thì cơ quan thẩm định có thể tổ chức khảo sát hoặc trong trường hợp cần thiết, Vụ pháp chế tổ chức lấy ý kiến tham gia thẩm định dưới các hình thức sau:

  • Gửi hồ sơ thẩm định lấy ý kiến các đơn vị, cá nhân có liên quan.
  • Phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo tổ chức cuộc họp lấy ý kiến tham gia thẩm định với đại diện các đơn vị và cá nhân có liên quan.
  • Yêu cầu đơn vị chủ trì soạn thảo cung cấp thêm thông tin, tài liệu có liên quan để làm rõ nội dung của dự thảo.

Quá trình thẩm định ở Vụ Pháp chế trong thời gian qua cho thấy, các văn bản do Vụ Pháp chế thẩm định được tổ chức dưới hình thức phân công cho từng chuyên viên phụ trách lĩnh vực thẩm định, chưa có văn bản nào được thẩm định dưới hình thức lấy ý kiến các đơn vị, cá nhân có liên quan hay họp với đơn vị chủ trì soạn thảo.

Với phương thức tổ chức thẩm định còn hạn chế như vậy chưa huy động được năng lực của tập thể, của các chuyên gia vì vậy cũng ảnh hưởng đến chất lượng của văn bản được thẩm định.

Bên cạnh đó việc chuẩn bị hồ sơ thẩm định vẫn chưa được một số đơn vị chú trọng, thường rơi vào những trường hợp sau:

  • Hồ sơ gửi thẩm định chỉ có duy nhất phiếu trình văn bản và dự thảo văn bản kèm theo. Đây là những trường hợp các đơn vị trình văn bản lên Lãnh đạo Bộ nhưng Lãnh đạo Bộ chỉ đạo lấy ý kiến của Vụ Pháp chế.
  • Hồ sơ gửi thẩm định nhưng không có công văn đề nghị thẩm định mà được gửi như góp ý văn bản.
  • Hồ sơ thiếu tờ trình hoặc thiếu bản tổng hợp ý kiến tham gia của các đơn vị hoặc Tờ trình, bản tổng hợp ý kiến tham gia không đáp ứng yêu cầu. Tờ trình văn bản trình bày rất sơ sài chỉ để cho đủ hồ sơ, không nêu dược các nội dung cần thiết, thậm chí cả sự cần thiết ban hành văn bản. Nhiều khi Tổng cục quản lý đất đai không gửi bản tổng hợp ý kiến tham gia của các đơn vị, hoặc gửi kèm theo bản photo ý kiến của các đơn vị mà không có giải trình ý kiến đó được tiếp thu hay không. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của cơ quan thẩm định

Với nhiều văn bản QPPL, đơn vị chủ trì ban hành vẫn còn coi việc thẩm định của Vụ pháp chế như là một thủ tục để được đóng dấu. Sau khi có ý kiến thẩm định của Vụ pháp chế cũng không cần giải trình, chỉ cần kẹp ý kiến đó vào hồ sơ của mình là đủ. Điều này làm cho tính pháp lý của việc thẩm định văn bản bị giảm.

Những điều trên dẫn tới sự thiếu nhất quán giữa nội dung luật và văn bản hướng dẫn thi hành đang là điểm khó xử lý. Cụ thể như, điều 105 của Luật Đất đai 2013 quy định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND tỉnh được ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường, không quy định được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài. Tuy nhiên, tại Điều 37, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành lại quy định được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài. Và tại Thông tư Điều 19 cũng căn cứ vào quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP để áp dụng thực hiện “Trường hợp đính chính nội dung sai sót và trường hợp chứng nhận bổ sung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận đã cấp do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo quy định tại Điều 105 của Luật Đất đai 2013 và Điều 37 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thực hiện”. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tại Điều 114 của Luật Đất đai 2013 không quy định giá đất cụ thể để tính giá khởi điểm trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất, nhưng Điều 15 của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP lại quy định giá đất cụ thể làm căn cứ để xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất…Những quy định nằm rải rác, không thống nhất chính là hệ quả của việc thực hiện quy trình ban hành văn bản chưa tốt, đặc biệt là khâu thẩm định văn bản còn yếu kém.

2.3.2.4. Về nguồn tài chính

Về hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo cho công tác xây dựng văn bản QPPL và hoàn thiện hệ thống pháp luật thì trước 2014, thực hiện theo Thông tư số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 02/12/2010, từ 2014 thực hiện theo Thông tư liên tịch số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP ngày 14 tháng 07 năm 2014 thì: Căn cứ vào khả năng ngân sách và tính chất phức tạp của mỗi văn bản, thủ trưởng cơ quan, đơn vị được giao chủ trì lập dự kiến chương trình; xây dựng; thẩm định; thẩm tra văn bản QPPL quyết định mức chi cụ thể nhưng không được vượt mức chi quy định hoặc khung mức chi tối đa quy định tại Thông tư số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP: Đối với dự thảo thông tư, thông tư liên tịch: mức phân bổ kinh phí tối đa 15 triệu đồng/dự thảo văn bản có nội dung ít phức tạp, phạm vi điều chỉnh hẹp và tối đa là 30 triệu đồng/dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, dự thảo văn bản có nội dung phức tạp, phạm vi đối tượng thực hiện rộng trong toàn quốc, phải tổ chức họp để lấy ý kiến nhiều lần. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Như vậy, với các mức chi như trên, mặc dù đã được nâng lên so với Thông tư số 100/2006/TT-BTC, nhưng đến thông tư số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP, tại Điều 5 – định mức phân bổ kinh phí bảo đảm cho công tác xây dựng văn bản và hoàn thiện hệ thống pháp luật vẫn giữ nguyên mức chi đó mà không thay đổi. Việc đảm bảo tiến hành tất cả các công việc để soạn thảo văn bản từ khâu chuẩn bị cho đến khâu ban hành là gần như không đáp ứng được so với nhu cầu thực tiễn. Đây cũng là khó khăn mói chung của công tác lập pháp nước ta[28]. Thực tiễn nhiều văn bản phải bỏ dở trong quá trình soạn thảo vì không có kinh phí để tiếp tục xây dựng, ảnh hưởng đến tiến độ của văn bản. Mặt khác, với nguồn kinh phí hạn hẹp cho một văn bản, không đảm bảo đủ các bước trong quá trình soạn thảo văn bản thì chất lượng của văn bản đó sẽ bị ảnh hưởng.

Mặc dù hàng năm, nguồn kinh phí cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được bố trí, tuy nhiên, nguồn kinh phí này còn thấp để đảm bảo chất lượng văn bản. Thông tư số 92/2014/TTLT-BTC-BTP-VPCP với những thay đổi nhỏ so với Thông tư số 192/2010/TTLT-BTC-BTP-VPCP trong mức chi cho các hoạt động xây dựng văn bản QPPL. Nhìn chung, mức chi này vẫn còn thấp. Bên cạnh đó, một số định mức chi như chi cho hoạt động khảo sát phục vụ hoạt động thẩm định văn bản QPPL chưa được quy định tại thông tư mới nhất.

2.4. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA BỘ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG

2.4.1. Nguyên nhân chung

Luật Đất đai năm 2013 là đạo luật quan trọng, có tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, thu hút được sự quan tâm rộng rãi của nhân dân. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai, Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Việc mâu thuẫn giữa thông tư, thông tư liên tịch của Bộ với các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên là do nguyên nhân chính như sau: Các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ (thông tư, thông tư liên tịch), sau khi được đơn vị chủ quản tiến hành soạn thảo, Vụ Pháp chế sẽ là đơn vị thẩm tra về tính hợp hiến, hợp pháp của chúng. Tuy nhiên, khối lượng các văn bản QPPL do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, các dự thảo văn bản QPPL mà Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành lập để trình lên cơ quan cấp trên (Chính phủ, Quốc hội…) là rất nhiều, vì vậy việc rà soát văn bản để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản không phải đơn giản và nhanh chóng. Nhất là khi hệ thống thông tin điện tử hỗ trợ chưa được áp dụng nhiều. Đó là nguyên do của những sai sót, không đồng nhất giữa văn bản QPPL về quản lý đất đai của cấp dưới với cấp trên. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Thông tư, thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý đất đai, Nghị định của Chính phủ về quản lý đất đai và Luật Đất đai vẫn còn để trống một số vấn đề chưa được luật hóa, hoặc đã có quy định nhưng chưa sát với thực tế. Một trong những lý do đó là vấn đề lợi ích, Bộ Tài nguyên và Môi trường chính là cơ quan chủ quản, trực tiếp quản lý về đất đai trên phạm vi cả nước, lại vừa là cơ quan chủ quản lập dự thảo Luật Đất đai, dự thảo các nghị quyết, nghị định về đất đai để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ xem xét ban hành, đồng thời ban hành các thông tư, thông tư liên tịch để triển khai hướng dẫn các điều luật. Đây chính là hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, không chỉ riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường mà tất cả các cơ quan đợn vị khác, sẽ có tính thiên vị để đảm bảo tối đa nhất lợi ích của cơ quan mình.

2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tài nguyên và Môi trường

2.4.2.1. Về thẩm quyền ban hành

Những vấn đề kiêm nhiệm nhiều vị trí còn diễn ra không chỉ trong cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường mà ở hầu khắp các bộ, ngành khác ở nước ta. Trong khi, cơ chế phân giao trách nhiệm, quy trách nhiệm của người đứng đầu đã được đề cao, được cụ thể hóa hơn nhưng hầu như vẫn mang tính hình thức, những sai phạm vẫn chỉ dừng lại ở mức kiểm điểm, rút kinh nghiệm… chưa có tác dụng cao. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã không xác lập trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người dân khi cơ quan nhà nước ban hành văn bản QPPL sai, trái. Vì vậy “Vấn đề này cũng cần phải nghiên cứu để bảo đảm nguyên tắc nhà nước pháp quyền”[30]. Ban hành văn bản trái pháp luật không có chế tài xử lý thỏa đáng chính là một trong những nguyên nhân làm cho các văn bản sai trái chưa có chiều hướng giảm trong thời gian qua

2.4.2.2. Về nhân sự

Kinh phí tổ chức các lớp bồi dưỡng: Nguồn kinh phí cho việc tổ chức lớp tập huấn về quy trình xây dựng văn bản QPPL chưa được bảo đảm.

Chương trình, nội dung tập huấn: Chưa xây dựng được chương trình, giáo trình cụ thể về quy trình xây dựng văn bản QPPL tại các lớp bồi dưỡng, tập huấn. Thực tế thời gian qua cho thấy, lớp tập huấn nào cũng một tài liệu mang tính chung chung, chưa có một giáo trình với những ví dụ thực tiễn. Do đó gây nhàm chán cho các học viên tham gia tập huấn. Từ đó, thái độ tham gia tập huấn của cán bộ học viên còn mang tính hình thức, chống đối, đánh trống ghi tên chứ chưa đem lại những kết quả nghiêm túc như mong muốn. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

2.4.2.3. Về tổ chức thực hiện

Các bước trong quy trình ban hành văn bản QPPL của Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn còn những hạn chế nhất định. Có những nguyên nhân chính như sau:

Về lập chương trình xây dựng văn bản QPPL: Chưa dự báo được nhu cầu trong thời gian dài cho việc lập dự kiến chương trình kế hoạch xây dựng văn bản: Nhiều đơn vị chủ trì soạn thảo chưa dự báo được nhu cầu trong thời gian dài mà chủ yếu do nhu cầu đột xuất, bức xúc của thực tế. Do vậy, đơn vị soạn thảo chưa chuẩn bị chu đáo cho công tác soạn thảo cũng như dự kiến tiến độ soạn thảo dẫn đến chậm tiến độ và chất lượng chưa cao. Đây chính là nguyên nhân của việc liên tục phải sửa đổi, thay thế các văn bản hướng dẫn thực hiện luật trong một thời gian ngắn của cùng một vấn đề. Ví dụ như Thông tư số 20/2015/TT- BTNMT ngày 27 tháng 04 năm 2015 ban hành định mức kinh tế – kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất. Và ngay sau đó chưa đầy 2 năm, dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 20/2015/TT- BTNMT ban hành Định mức kinh tế – kỹ thuật để lập dự toán ngân sách nhà nước phục vụ công tác định giá đất cũng được ra đời ngày 13 tháng 07 năm 2017 để trình ký ban hành.

Hơn nữa, số lượng kế hoạch tuy khá nhiều nhưng các kế hoạch của Bộ chưa thực sự thành một hệ thống thống nhất, thiếu tính xâu chuỗi; còn thiếu quy trình chuẩn đối với việc xây dựng những kế hoạch chủ yếu, các bước xây dựng kế hoạch đôi khi còn thiếu hợp lý, theo hướng chủ quan, áp đặt; còn có sự “vênh” khá lớn giữa các kế hoạch về nội dung và kế hoạch kinh phí đảm bảo triển khai các kế hoạch nội dung (đặc biệt là thời gian xây dựng kế hoạch); có sự chênh lệch khá lớn về khả năng xây dựng và chất lượng xây dựng kế hoạch của các đơn vị trong Bộ (nơi làm tốt, nơi làm sơ sài, hình thức); lý do là nhận thức của lãnh đạo một số đơn vị về vai trò của công tác kế hoạch còn hạn chế; thiếu thể chế lập kế hoạch; hoạt động xây dựng kế hoạch còn thiếu chuyên nghiệp; thiếu các thông tin, số liệu thống kê, thiếu những nghiên cứu cần thiết phục vụ công tác lập kế hoạch của ngành, điều kiện đảm bảo xây dựng kế hoạch còn hạn chế….

Soạn thảo văn bản: Tổ soạn thảo chưa chú trọng tới việc mời các thành phần có liên quan, đặc biệt là các thành phần có chuyên môn, chuyên trách về Luật để đảm bảo tính pháp lý cho văn bản. Xuất phát từ tư tưởng chủ quan, quan liêu và tính lợi ích cục bộ. Tính khách quan, toàn diện của văn bản sẽ bị ảnh hưởng.

  • Lấy ý kiến góp ý: Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

Việc xác định thiếu đối tượng cần lấy ý kiến là do đơn vị chủ trì soạn thảo vẫn coi nhẹ tầm quan trọng của việc lấy ý kiến với dự thảo hoặc chưa lường hết những tình huống xảy ra để tham vấn các đơn vị liên quan. Đặc biệt vẫn có tình trạng chỉ một nhóm nhỏ trong số những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ văn bản được tham gia lấy ý kiến. Điều này dẫn tới tính thiếu thực tế, thậm trí là lạc hậu so với thực tế của một số văn bản được ban hành.

Việc triển khai những công nghệ tiên tiến của chính cơ quan chủ quản và việc tiếp cận những công nghệ ấy của cá nhân liên quan đang có nhiều khó khăn. Vì vậy không lấy được số lượng ý kiến cao để đảm bảo việc đánh giá về dự thảo văn bản được toàn diện.

Trong việc tổ chức thẩm định văn bản: Đa phần các văn bản đều qua Vụ Pháp chế xem xét và đánh giá trước khi trình ký. Vụ Pháp chế phụ trách việc rà soát và hệ thống hóa các văn bản QPPL sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu, chỉnh lý và ban hành các văn bản QPPL mới. Tuy nhiên, trên thực tế, do số lượng văn bản QPPL trong các lĩnh vực được ban hành quá lớn và ngày một gia tăng nên việc rà soát văn bản của Bộ chỉ dừng lại ở mức đưa ra được những văn bản không còn hiệu lực, bị bãi bỏ hoặc có văn bản được thay thế, chưa chỉ ra được có những văn bản nào còn bị chồng chéo, mâu thuẫn cần điều chỉnh lại hoặc các văn bản QPPL có những nội dung không còn phù hợp và cần được sửa đổi, bổ sung. Trong khi đó, công tác hệ thống hóa văn bản QPPL chưa được tiến hành thường xuyên, có năm làm được, có năm chưa làm được. Điều này dẫn tới khó khăn trong quản lý và chưa có được cái nhìn tổng thể về hệ thống các văn bản QPPL trong lĩnh vực có liên quan.

2.4.2.4. Về tài chính

Do nguồn ngân sách của Nhà nước chưa thể cân đối cho hoạt động xây dựng văn bản QPPL mức cao theo yêu cầu công việc. Trước mắt, việc quy định nội dung chi và mức chi chỉ dừng lại ở việc đủ đáp ứng được những yêu cầu cơ bản.

Kinh phí cho công tác soạn thảo văn bản: kinh phí theo quy định chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế đề ra, định mức cho mỗi loại văn bản này là rất thấp. Từ đó nó không trở thành nguồn động lực để các cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ một cách chuyên tâm và được hỗ trợ một cách chuyên nghiệp nhất.

Tiểu kết chương 2

Ở chương này, tác giả luận văn đã trình bày những thông tin cơ bản về Bộ Tài nguyên và Môi trường với cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Bộ trong quản lý nhà nước về các lĩnh vực được giao, trong đó có quản lý đất đai. Ban hành văn bản QPPL nói chung và văn bản QPPL về quản lý đất đai nói riêng là một hình thức thực hiện nhiệm vụ quản lý được giao của Tài

nguyên và Môi trường. Sau đó, tác giả luận văn trình bày về thực trạng của hệ thống văn bản QPPL về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường với nội dung như sự đáp ứng về số lượng, chất lượng của chúng so với thực tế yêu cầu, những kết quả đạt được trong thực hiện quy trình ban hành những văn bản này. Từ đó, tác giả luận văn đưa ra những hạn chế còn vướng mắc và nguyên nhân của hạn chế đó. Đây chính là những cơ sở cho việc đưa ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện văn bản QPPL về quản lý đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường ở Chương 3. Luận văn: Thực trạng văn bản quy phạm pháp luật quản lý đất đai.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đất đai

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537