Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Thành phố Việt trì, Tỉnh Phú Thọ
2.1.1. Đặc điểm kinh tế, chính trị
Thành phố Việt Trì nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Phú Thọ, là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc Tổ quốc. Địa giới hành chính giáp các tỉnh, huyện: Phía Đông giáp với huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc); phía Nam giáp với huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc), huyện Ba Vì (thành phố Hà Nội); phía Tây giáp với huyện Lâm Thao; phía Bắc giáp huyện Phù Ninh. Thành phố Việt Trì là đô thị trung tâm của các tỉnh Trung du và miền núi Bắc Bộ và là một trong 21 đô thị loại I của Việt Nam. Việt Trì là trung tâm kinh tế chính trị, văn hóa, khoa học kĩ thuật của tỉnh Phú Thọ, có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh và là đô thị động lực trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ và cả vùng trung du và miền núi Bắc Bộ. Được xem là đất phát tích, kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt Nam, Việt Trì là thành phố du lịch về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, nơi có kinh đô Văn Lang – kinh đô đầu tiên của người Việt, quê hương đất tổ vua Hùng. Nơi đây còn là thành phố công nghiệp, công nghệ kỹ thuật cao. Đây cũng là cửa ngõ vùng Tây Bắc, đầu mối giao thông nối giữa các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nằm trên hành lang kinh tế Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh. Thành phố Việt Trì có 23 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 13 phường: Bạch Hạc, Bến Gót, Dữu Lâu, Gia Cẩm, Minh Nông, Minh Phương, Nông Trang, Tân Dân, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Vân Cơ, Vân Phú và 10 xã: Chu Hóa, Hùng Lô, Hy Cương, Kim Đức, Phượng Lâu, Sông Lô, Tân Đức, Thanh Đình, Thụy Vân, Trưng Vương.
Thành phố Việt Trì được biết đến là thành phố công nghiệp đầu tiên ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa với các ngành dệt, giấy, hóa chất, sứ… và còn được gọi là thành phố ngã ba sông vì nằm gần nơi hợp lưu của sông Thao, sông Lô và sông Đà thành sông Hồng. Hiện nay, thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc. Việt Trì được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư để trở thành một trong những đô thị lớn nhất Việt Nam. Không chỉ phát triển về kinh tế, văn hóa, Việt Trì còn là thành phố cội nguồn dân tộc. Ngày 10/3 âm lịch hàng năm là ngày Giỗ tổ Hùng Vương, bốn phương tụ hội về thăm viếng Tổ tiên. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
- Đặc điểm văn hóa, giáo dục Trung học cơ sở
Năm học 2024 – 2025, ngành GD&ĐT thành phố Việt Trì tiếp tục có bước phát triển khá toàn diện. Quy mô và chất lượng giáo dục từng bước được nâng cao; đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý được quan tâm bồi dưỡng. Toàn thành phố có 78 đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trực thuộc, 19 đơn vị giáo dục ngoài công lập, 20 cơ sở giáo dục tư thục với hơn 2.100 cán bộ, giáo viên, nhân viên. Trong đó, thành phố có 75 trường đạt chuẩn quốc gia, tăng 2,5% so với năm học trước; 100% cán bộ quản lý trình độ trên chuẩn, 87,9% giáo viên trên chuẩn, 89,82% giáo viên dạy tiếng Anh đạt từ B2 trở lên. 23/23 xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 3; đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Tỉ lệ trẻ mầm non suy dinh dưỡng giảm từ 1% – 2% so với năm học trước; tỉ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%; tỉ lệ học sinh tốt nghiệp Trung học cơ sở đạt 98,96%; 1.561 học sinh đỗ vào lớp 10 các trường Trung học phổ thông công lập, chiếm 55%, tăng 4,3% so với năm học trước; 1.903 học sinh tiểu học và 868 học sinh Trung học cơ sở đạt giải tại các kỳ thi học sinh giỏi các cấp. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình hợp tác giao lưu trao đổi, học tập kinh nghiệm trong giáo dục với một số nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp…
2.1.2. Kết quả học tập bộ môn Ngữ văn
Kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày càng được nâng cao và không ngừng được cải thiện.
- Biểu đồ 2.1. Kết quả học tập bộ môn Ngữ văn của HS Bảng 2.1. Thống kê số lượng HSG môn Ngữ văn
Thông qua 2 bảng số liệu trên có thể thấy kết quả xếp loại học tập môn Ngữ văn của học sinh đạt kết quả tăng dần qua các năm. Năm học 2023-2024, có 53,1% học sinh xếp loại khá trở lên (trong đó có 18,4% xếp loại giỏi). Đến năm học 2025-2026 tỉ lệ học sinh xếp loại khá giỏi tăng lên 54% (trong đó có 18,8% xếp loại giỏi). Như vậy, có thể thấy sự nỗ lực, cố gắng rất lớn trong giảng dạy và học tập môn Ngữ văn của cả giáo viên và học sinh các trường Trung học cơ sở trong những năm gần đây.
Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng HSG cũng được các trường chú trọng, xem là mũi nhọn phát triển nhà trường. Chính vì thế mà số lượng HS đạt kết quả cao trong các kỳ thi HSG cũng ngày càng tăng lên.
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và công tác quản lý vấn đề này để tìm ra những khác biệt, hạn chế làm cơ sở thực tiễn đề xuất hệ thống biện pháp QL hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Trên cơ sở lý luận về quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở đã được trình bày ở chương 1, để thấy được thực trạng của vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tiến hành tổ chức khảo sát thực trạng ở một số trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ với các nội dung cụ thể sau:
- Khảo sát thực trạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
- Khảo sát thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
2.2.3. Phương pháp khảo sát
- Dùng phiếu điều tra khảo sát: thu thập ý kiến của các đối tượng khảo sát về vấn đề đã được xác định.
- Quan sát thực tế để tìm kiếm thông tin và minh chứng bổ sung cần thiết giúp việc đánh giá kết quả khách quan, chính xác hơn.
2.2.4. Tiêu chí và thang đánh giá Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Dựa trên cách quy điểm của thống kê toán trong nghiên cứu khoa học để đánh giá kết quả nghiên cứu:
Trong đó:
- ĐTB: là điểm trung bình
- Di: là điểm mức độ đạt được
- Ni: số người cho điểm mức độ
- N: số người tham gia khảo sát
Lượng hóa bằng điểm theo nguyên tắc cụ thể như sau:
Bảng 2.2. Quy ước tiêu chí và điểm đánh giá
- Điểm trung bình đánh giá các mức độ tác động: 1,00 ≤ ĐTB ≤ 1,75:
- Không quan trọng / Chưa bao giờ/ Kém/ Không ảnh hưởng 1,75 < ĐTB ≤ 2,50:
- Ít quan trọng/ Thỉnh thoảng/ Trung bình/ Đôi khi 2,50 < ĐTB ≤ 3,25:
- Quan trọng/ Thường xuyên/ Khá/ Ảnh hưởng 3,25 < ĐTB ≤ 4,00:
- Rất quan trọng/ Rất thường xuyên/ Tốt/ Rất ảnh hưởng
2.2.5. Mẫu và địa bàn khảo sát
Khảo sát 15 Cán bộ quản lý (02 Cán bộ quản lý phòng GD trung học thuộc Sở GD&ĐT; 03 Cán bộ quản lý phòng GD&ĐT TP Việt Trì; 10 Cán bộ quản lý của 5 trường Trung học cơ sở trên địa bàn), 30 giáo viên và 200 HS ở 05 trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể như sau:
- Bảng 2.3. Đối tượng và địa bàn khảo sát
2.3. Thực trạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Để đánh giá thực trạng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở Thành phố Việt Trì, Tỉnh Phú Thọ, tác giả khảo sát 15 Cán bộ quản lý (02 Cán bộ quản lý phòng GD trung học thuộc Sở GD&ĐT; 03 Cán bộ quản lý phòng GD&ĐT TP Việt Trì; 10 Cán bộ quản lý của 5 trường Trung học cơ sở trên địa bàn), 30 giáo viên và 200 HS ở 05 trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ các vấn đề sau:
2.3.1. Thực trạng thực hiện các mục tiêu trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý, GV về việc thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.4. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý,GV về mức độ thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy mục tiêu “Định hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 2.85, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, mục tiêu “Vận dụng các kiến thức của môn Ngữ văn vào thực tiễn cuộc sống” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các mục tiêu còn lại, ĐTB = 2.23, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.5. Đánh giá của HS về mức độ thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy mục tiêu “Định hướng, tạo điều kiện cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.06, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, mục tiêu “Vận dụng các kiến thức của môn Ngữ văn vào thực tiễn cuộc sống” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các mục tiêu còn lại, ĐTB = 2.37, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.6. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả thực hiện các mục tiêu trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy mục tiêu “Hình thành và phát triển cho học sinh phẩm chất nhân cách, các năng lực tâm lý – xã hội,…” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 2.83, mức độ đánh giá là “Khá”, mục tiêu “Vận dụng các kiến thức của môn Ngữ văn vào thực tiễn cuộc sống” được đánh giá đạt kết quả thấp nhất so với các mục tiêu còn lại, ĐTB = 1.97, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.3.2. Thực trạng thực hiện các nội dung trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.7. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Trải nghiệm tinh thần” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.03, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, nội dung “Trải nghiệm mô phỏng” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.22, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.8. Đánh giá của HS về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Trải nghiệm tinh thần” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.02, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, nội dung “Trải nghiệm mô phỏng” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.42, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.9. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả thực hiện các nội dung trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Trải nghiệm tình cảm” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 2.98, mức độ đánh giá là “Khá”, nội dung “Trải nghiệm mô phỏng” được đánh giá đạt kết quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.48, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.3.3. Thực trạng hình thức và phương pháp trải nghiệm Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
- Thực trạng hình thức trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.10. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy hình thức “Thực địa, tham quan, dã ngoại” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.05, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, hình thức “Sân khấu hóa văn học” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các hình thức còn lại, ĐTB = 2.08, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.11. Đánh giá của HS về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy hình thức “Thực địa, tham quan, dã ngoại” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.07, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, hình thức “Sân khấu hóa văn học” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các hình thức còn lại, ĐTB = 2.22, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.12. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả sử dụng hình thức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy hình thức “Thực địa, tham quan, dã ngoại” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 3.15, mức độ đánh giá là “Khá”, hình thức “Sân khấu hóa văn học” được đánh giá đạt kết quả thấp nhất so với các hình thức còn lại, ĐTB = 2.18, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
- Thực trạng phương pháp trải nghiệm Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.13. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy phương pháp “Phương pháp thảo luận nhóm” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.08, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, phương pháp “Phương pháp trò chơi” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các phương pháp còn lại, ĐTB = 2.27, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.14. Đánh giá của HS về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy phương pháp “Phương pháp giải quyết vấn đề” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 2.89, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, phương pháp “Phương pháp trò chơi” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các phương pháp còn lại, ĐTB = 2.44, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.15. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả sử dụng phương pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy phương pháp “Phương pháp đóng vai” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 3.12, mức độ đánh giá là “Khá”, phương pháp “Phương pháp trò chơi” được đánh giá đạt kết quả thấp nhất so với các phương pháp còn lại, ĐTB = 2.22, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.3.4. Thực trạng đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn của học sinh Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về mức độ thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn của học sinh ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.16. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ thực hiện đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về mức độ thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoạt động của học sinh” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.03, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, nội dung “Xây dựng công cụ đánh giá kết quả trải nghiệm phù hợp năng lực của HS” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.08, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.17. Đánh giá của HS về mức độ thực hiện đánh giá kết quả trải hoạt động nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ thực hiện đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Quan sát, đánh giá qua sản phẩm hoạt động của học sinh” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 2.98, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, nội dung “Xây dựng công cụ đánh giá kết quả trải nghiệm phù hợp năng lực của HS” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.34, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.18. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả thực hiện đánh giá kết quả trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Đánh giá khách quan, công bằng” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 3.18, mức độ đánh giá là “Khá”, nội dung “Học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau” được đánh giá đạt kết quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.28, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.3.5. Thực trạng về điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.19. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Sử dụng sách giáo khoa” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.35, mức độ đánh giá là “Rất thường xuyên”, nội dung “Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.35, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Bên cạnh đó, tác giả khảo sát HS về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.20. Đánh giá của HS về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua bảng kết quả đánh giá của HS về mức độ sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Sử dụng sách giáo khoa” được đánh giá là thường xuyên sử dụng nhất với ĐTB = 3.18, mức độ đánh giá là “Thường xuyên”, nội dung “Sử dụng đồ dùng thực tế trong đời sống” được đánh giá ít thường xuyên nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.35, mức độ đánh giá là “Thỉnh thoảng”.
Mặc khác tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về kết quả sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.21. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về kết quả sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về kết quả sử dụng điều kiện tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Sử dụng đồ dùng dạy học tự làm” được đánh giá đạt kết quả cao nhất với ĐTB = 3.15, mức độ đánh giá là “Khá”, nội dung “Sử dụng sách giáo khoa” được đánh giá kết quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.22, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Để đánh giá thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả khảo sát 15 Cán bộ quản lý, 30 giáo viên ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ các vấn đề sau: Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
2.4.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn
Tác giả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn của Cán bộ quản lý, GV, kết quả như sau:
- Biểu đồ 2.2. Nhận thức của Cán bộ quản lý và GV về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn
Như vậy, đa số Cán bộ quản lý, GV nhận thức tốt tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn, không có Cán bộ quản lý nào nhận xét “Không quan trọng”, chỉ có 3.3% GV chọn “Không quan trọng”. Trong khi đó có 40% Cán bộ quản lý, 40% GV chọn “Rất quan trọng”, 46.7% Cán bộ quản lý chọn “Quan trọng”, 43.3% GV chọn “Quan trọng”. Tuy nhiên vẫn còn 13.3% Cán bộ quản lý, 13.3% GV chọn “Ít quan trọng”, 3.3% GV chọn “Không quan trọng”, như vậy vẫn còn một số ít GV chưa nhận thức tốt tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Tác giả khảo sát nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn của HS, kết quả như sau:
- Biểu đồ 2.3. Nhận thức của HS về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn
Qua biểu đồ, tác giả nhận thấy HS chưa nhận thức tốt tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn, cụ thể có đến 32% HS chọn “Ít quan trọng”, 21.5% HS chọn “Không quan trọng”. Tìm hiểu thực tế, tác giả được biết nguyên nhân là do đa số các em cho rằng để học môn Ngữ văn tốt chỉ cần học kiến thức GV dạy trên lớp và đọc nhiều sách liên quan đến môn học là đủ.
2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về việc xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.22. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về việc xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về việc xây dựng kế hoạch hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng của nhà trường trong việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá đạt hiệu quả cao nhất với ĐTB = 3.15, mức độ đánh giá là “Tốt”, nội dung “Xây dựng các biện pháp thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá đạt hiệu quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.42, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.4.3. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về việc tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.23. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về việc tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về việc tổ chức thực hiện hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch tổ chức trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá đạt hiệu quả cao nhất với ĐTB = 3.00, mức độ đánh giá là “Tốt”, nội dung “Huy động các nguồn tài chính để tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh” được đánh giá đạt hiệu quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.25, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.4.4. Thực trạng chỉ đạo triển khai hoạt động trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý,GV về việc chỉ đạo triển khai hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.24. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về việc chỉ đạo triển khai hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về việc chỉ đạo triển khai hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch, thiết kế giáo án tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá đạt hiệu quả cao nhất với ĐTB = 3.05, mức độ đánh giá là “Tốt”, nội dung “Chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho hoạt động trải nghiệm” được đánh giá đạt hiệu quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.28, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.4.5. Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động trải nghiệm
Tác giả khảo sát Cán bộ quản lý, GV về việc kiểm tra đánh giá hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, kết quả như sau:
- Bảng 2.25. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về việc kiểm tra đánh giá hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV về việc kiểm tra đánh giá hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tác giả nhận thấy nội dung “Kiểm tra nề nếp lên lớp” được đánh giá đạt hiệu quả cao nhất với ĐTB = 3.12, mức độ đánh giá là “Tốt”, nội dung “Kiểm tra hoạt động học tập của học sinh về các nội dung hoạt động trải nghiệm” được đánh giá đạt hiệu quả thấp nhất so với các nội dung còn lại, ĐTB = 2.28, mức độ đánh giá là “Trung bình”.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Tác giả khảo sát đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về các yếu tố ảnh hưởng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thu được kết quả sau:
- Biểu đồ 2.4. Đánh giá của Cán bộ quản lý và GV về các yếu tố ảnh hưởng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Qua kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, GV, tác giả nhận thấy đa số Cán bộ quản lý, GV đánh giá các yếu tố đều ảnh hưởng đến hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Trong đó, yếu tố “Nhận thức và năng lực của cán bộ quản lý về hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn” được đánh giá là ảnh hưởng nhiều nhất với ĐTB = 3.38, mức độ đánh giá là “Rất ảnh hưởng”, yếu tố “Đặc điểm học sinh” được đánh giá là ít ảnh hưởng so với 4 yếu tố còn lại, ĐTB = 2.55, mức độ đánh giá là “Ảnh hưởng”
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
2.6.1. Thành công và nguyên nhân
Đội ngũ giáo viên nhà trường đa phần là nhiệt tình trách nhiệm, tích cực áp dụng các phương pháp mới trong giảng dạy các bộ môn nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng.
GV đã nhận thức được vai trò quan trọng của người thầy trong quá trình dạy học, trong việc nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời nêu cao tinh thần, trách nhiệm của người GV trong công tác giảng dạy, nghiêm túc thực hiện mọi nội quy, quy chế của nhà trường và của ngành đề ra. Đội ngũ GV môn Ngữ văn trẻ nhiệt tình, có trách nhiệm, yêu nghề, có phương pháp giảng dạy mới đa số đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
Nhà trường đã có kế hoạch tổ chức và dự kiến xu hướng phát triển đa dạng các hình thức hoạt động giáo dục, trong đó có hoạt động giáo dục trải nghiệm, đưa hoạt động này đi vào nề nếp, sắp xếp có tính chuyên môn hoá, tạo sự tự giác chấp hành các chủ trương của nhà trường.
Việc khai thác Cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện hỗ trợ cho hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn bước đầu đạt kết quả, tạo ra sự chuyển biến mới trong QL hoạt động DH ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn. Từ đó, Cơ sở vật chất nhà trường ngày càng được nâng cao, phục vụ tốt hơn cho hoạt động DH.
2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Một số cán bộ, giáo viên, nhân viên nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm trong dạy học nói chung và môn Ngữ văn nói riêng. Chính vì thế, họ chưa thực sự trách nhiệm, tâm huyết với nghề, thiếu sự chủ động trong tổ chức các Hoạt động trải nghiệm trong dạy học bộ môn.
Một số cán bộ quản lý chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở. Một số cán bộ quản lý còn làm việc theo cảm tính, chưa khoa học. Cán bộ quản lý đã thực hiện nhiều biện pháp để tác động đến ý thức, nhận thức của giáo viên về tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn tuy nhiên còn chưa thường xuyên và thiếu tính hệ thống, đồng bộ.
Nhiều giáo viên đạt trình độ chuyên môn trên chuẩn nhưng kiến thức chuyên môn, kỹ năng tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn còn hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của bộ môn. Tồn tại một số giáo viên ngại đổi mới, chưa tích cực trong quá trình tự học, tìm tòi những phương pháp, hình thức tổ chức trải nghiệm tích cực cho HS.
Việc quản lý xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức các hoạt động trong dạy học Ngữ Văn còn thiếu sự quan tâm, nặng về hình thức chưa thực sự tích cực đổi mới, chưa đi vào chiều sâu để hướng đến phát triển năng lực, phẩm chất người học. Giáo viên chưa chủ động trong quá trình thiết kế hoạt động trải nghiệm, các nội dung chậm đổi mới, không phù hợp với đặc thù bộ môn Ngữ văn và đặc điểm HS của nhà trường.
Kỹ năng tin học, kỹ năng khai thác, ứng dụng internet vào tìm kiếm, mở rộng kiến thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học Ngữ văn còn rất hạn chế.
Công tác kiểm tra, đánh giá việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học bộ môn Ngữ văn chưa sâu sát, thiếu hiệu quả. Hoạt động tự đánh giá của HS hay đánh giá của HS dành cho GV môn Ngữ văn trong các hoạt động trải nghiệm còn chưa chú trọng.
Kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào nghiên cứu hứng thú của học sinh đối với các vấn đề liên quan, xây dựng chương trình tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn còn chưa thể hiện tính sáng tạo. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
Công tác tổ chức, chỉ đạo hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn còn chưa đồng bộ, một số nội dung chưa được tiến hành thường xuyên. Tổ chức, quản lý chỉ đạo còn chưa chặt chẽ, việc kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên, công tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.
Chính sách, chế độ phụ cấp cho đội ngũ giáo viên Ngữ văn còn hạn hẹp, chưa tạo được động lực cho GV đổi mới phương pháp dạy học.
Tiểu kết chương 2
Qua khảo sát thực trạng, nhận thấy hiện nay, chất lượng hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa được thực hiện một cách toàn diện khoa học, từ việc xây dựng chương trình kế hoạch, bồi dưỡng đội ngũ Cán bộ quản lý, GV, huy động các lực lượng giáo dục, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động.
Qua khảo sát cho thấy, hoạt động trải nghiệm hay quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã được nhận thức đúng đắn, Cán bộ quản lý nhà trường đã quan tâm chỉ đạo; GV đã nỗ lực thực hiện và đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập, tồn tại cần giải quyết: hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn còn chưa được thực hiện đồng bộ, hệ thống; Các nội dung còn chưa đa dạng; hình thức và phương pháp tổ chức chưa có sự đổi mới; Công tác xây dựng kế hoạch cho hoạt động còn yếu; Hoạt động chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động cũng còn nhiều bất cập…
Để nâng cao chất lượng DH nói chung và chất lượng bộ môn Ngữ văn nói riêng, nhất thiết phải có biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý DH, hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở.
Từ cơ sở lý luận ở chương 1 và thực trạng ở chương 2, tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn ở các trường Trung học cơ sở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhằm giúp Hiệu trưởng chuyên môn quản lý tốt hoạt động dạy học của mình, qua đó nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung và hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Các biện pháp được trình bày và khảo sát tính cần thiết, khả thi ở chương 3. Luận văn: Thực trạng trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp trải nghiệm trong dạy học môn Ngữ văn

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

