Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường trung học phổ thông thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình giáo dục huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Bắc Tân Uyên

Huyện Bắc Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2023 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2022 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên.

Sau khi chia tách, huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bình Dương, phía Đông của huyện giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thị xã Tân Uyên và huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp thị xã Tân Uyên và phía Bắc giáp huyện Phú Giáo. Huyện có diện tích tự nhiên là 40.087 ha; có hai con sông lớn chảy qua là sông Bé và sông Đồng Nai, diện tích chủ yếu là trồng cây cao su và cây ăn quả có múi (cam, quýt, bưởi da xanh, bưởi da cam). Dân số toàn huyện hiện nay là 62.392 người với 12651 hộ.

2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội của huyện Bắc Tân Uyên

Huyện có 10 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 08 xã thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1234/QĐ-UBND ngày 09/5/2021 của UBND tỉnh Bình Dương:Tân Lập, Tân Thành, Tân Định, Lạc An, Đất Cuốc, Thường Tân, Tân Mỹ và Hiếu Liêm (trừ xã Tân Bình và xã Bình Mỹ) với 54 ấp. Cơ cấu kinh tế của huyện là Nông lâm nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ (46,58% – 29,98% – 23,44%). Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế , giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp ước thực hiện 2056 tỷ đồng. Trong đó, trồng trọt chiếm tỷ trọng 80,52% chăn nuôi chiếm 19,48%. GDP bình quân đầu người đạt 39,5 – 40 triệu đồng/người/năm. Đến cuối năm 2025, Huyện có 07/10 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Trong bối cảnh có nhiều khó khăn thách thức nhưng nhìn chung đến nay, tình hình kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện tiếp tục có chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch; an sinh xã hội được đảm bảo. Cơ sở hạ tầng và giao thông nông thôn tiếp tục được đầu tư, xây dựng; tình hình sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp duy trì hoạt động ổn định. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, số lượng hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thu ngân sách ước đạt kế hoạch đề ra. Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn huyện được giữ vững và ổn định. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và công nhân xa quê được quan tâm và thực hiện tốt. Ngành giáo dục, y tế đạt được nhiều kết quả tích cực trong nâng cao trình độ đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Hoạt động văn hóa, TDTT được tổ chức, từng bước đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân. (Trích báo cáo số 418/BC-UBND ngày 28/12/2025 về tình hình phát triển KT-XH, QP-AN năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2026) Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.1.3. Khái quát tình hình giáo dục của huyện Bắc Tân Uyên

Đi lên cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời kế thừa truyền thống hiếu học của miền quê Tân Uyên, Chiến khu Đ, ngành Giáo dục và Đào tạo huyện trong những năm qua, đặc biệt từ khi tách huyện năm 2023 đến nay đã có bước phát triển và đạt được một số những thành tựu đáng kể, đóng góp xứng đáng vào phong trào giáo dục tỉnh Bình Dương cũng như sự phát triển kinh tế – xã hội địa phương.

Cơ sở vật chất trường học ngày càng được quan tâm đầu tư tăng cường, quy mô GD&ĐT phát triển và tương đối đồng đều, chất lượng giáo dục ổn định và được nâng lên qua từng năm. Toàn huyện có 10 xã với tổng số trường là 25 (trong đó: Mầm non- Mẫu giáo: 10 (06 Mầm non, 04 mẫu giáo), 10 trường Tiểu học; 02 trường THCS và 03 trường THPT (có cấp THCS)). Với tổng số công chức, viên chức, nhân viên toàn ngành giáo dục (các trường công lập) là 1055 người. Cụ thể:

Phòng Giáo dục và Đào tạo: 13 người(07 nữ), trong đó điều động từ trường 3 GV. Phòng GDĐT có 09/10 công chức có trình độ đại học (90%), 01 đang học Đại học và 01 đang học Thạc sỹ QLGD.

Bậc học Mầm non: có 328 người, trong đó GV dạy lớp 190 người, CBQL 31 người (31 nữ), nhân viên hành chánh 107 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100% (190/190), trong đó trung cấp 82/190 (43,16%), cao đẳng 60/190 (31,58%), đại học 48/190 (25,26%). ;

Bậc Tiểu học: có 384 người, trong đó GV 250 người, CBQL 24 người, nhân viên hành chính 110 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên chiếm 99,2%: trung cấp 19/250 (7,6%), cao đẳng 83/250 (33,2%), đại học 145/250 (58%), thạc sỹ 01/250 (0,4%); cấp học còn 02 GV chưa đủ chuẩn (0,8%).

  • Bậc trung học Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Cấp Trung học cơ sở: 02 trường Trung học cơ sở có 73 người, trong đó GV 43 người, CBQL 04 người (01 nữ), nhân viên hành chính 26 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100% (43/43): cao đẳng 17/43 (39,53%), đại học 26/43 (60,47%).

Hiện nay, toàn huyện có 3 trường THPT có 2 cấp học – THPT và THCS. Tổng số CBGVNV là 257 người, trong đó GV dạy lớp cấp THCS có 107 người, GV dạy cấp THPT có 91 người, CBQL 11 người (04 nữ), nhân viên hành chánh 48 người. Cụ thể như sau:

Trường THPT Thường Tân là trường nằm ở vùng sâu vùng xa của tỉnh và cách trung tâm hành chính huyện Bắc Tân Uyên khoảng 20 km, đời sống của nhân dân đa số làm nông nghiệp, số ít làm công nhân và buôn bán nhỏ. Trường có hai cấp học (THCS và THPT), địa bàn tuyển sinh chủ yếu ở 4 xã Thường Tân, Tân Mỹ, Lạc An, Hiếu Liêm. Học sinh ở xa đa số đến trường bằng xe buýt. CBGVNV có lập trường tư tưởng, chính trị vững vàng; có tinh thần đoàn kết và có ý thức trách nhiệm cao. Nền nếp giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh được ổn định. Đội ngũ giáo viên ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy. Chất lượng giáo dục của trường ngày một được nâng lên tạo được niềm tin của nhân dân và các cấp lãnh đạo ở địa phương. Cơ sở vật chất được tăng cường, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của việc dạy học và các hoạt động giáo dục. Môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, an ninh trật tự được đảm bảo. Hàng năm có khoảng 19 lớp với hơn 600 học sinh. Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường là 57, 100% CBQL, giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, trong đó CBQL 3 người, GV dạy lớp cấp THCS có 16 người, GV dạy cấp THPT có 23 người, nhân viên hành chính 15 người. Tỷ lệ học sinh lên lớp thẳng: 86%, hơn 98% học sinh xếp loại hạnh kiểm từ khá trở lên, tỷ lệ học sinh giỏi văn hóa đạt giải trong các kỳ thi còn hạn chế, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS và THPT: 100%, trúng tuyển Đại học 70%. Có 100% CBQL, GV được đánh giá chuẩn từ khá trở lên, có 14 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 01 giáo viên đạt GVG cấp huyện, 01 giáo viên đạt vào vòng 2 hội thi giáo viên dạy giỏi giải thưởng Võ Minh Đức, có 15 SKKN trong đó: loại B: 14, loại C: 01, có 6/8 tổ đạt LĐTT sở khen. Tập thể đơn vị trường nhiều năm liền được UBND tỉnh tặng bằng khen “Tập thể lao động xuất sắc” (số liệu năm học 2025 – 2026)

Trường THPT Lê Lợi cách trung tâm huyện Bắc Tân Uyên khoảng 2 km, là trường có quy mô lớn (gần 1500 học sinh, 42 lớp), cơ sở vật chất được đầu tư tương đối đầy đủ, đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của nhà trường yêu nghề, có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, trường có 99 CBGVNV, 100% CBQL, giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, trong đó CBQL 4 người, GV dạy lớp cấp THCS có 53 người, GV dạy cấp THPT có 25 người, nhân viên hành chính 17 người. Đa số học sinh có ý thức phấn đấu trong học tập, đã xác định động cơ và mục tiêu học hành đúng đắn và có ý thức rèn luyện đạo đức, nền nếp, kỷ cương của nhà trường được duy trì và từng bước nâng cao, điểm tuyển sinh đầu vào của học sinh đầu cấp thấp so với các trường trong tỉnh, tỷ lệ học sinh lên lớp hàng năm 95%, học sinh xếp loại hạnh kiểm khá trở lên 97%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 96.3%, tốt nghiệp THPT đạt 100%, trúng tuyển Đại học 63%. Hàng năm nhà trường có rất nhiều học sinh giỏi về văn hóa đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh, Quốc gia và nhiều giải thưởng phong trào khác. Có 100% CBQL, GV được đánh giá chuẩn từ khá trở lên, có 33 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 03 giáo viên đạt GVG cấp huyện, 01 giáo viên đạt vào vòng 2 hội thi giáo viên dạy giỏi giải thưởng Võ Minh Đức, có 40 SKKN, NCKHSPUD trong đó: loại A: 03, loại B: 32, loại C: 05, có 6/8 tổ đạt LĐTT sở khen; 2/8 tổ đạt LĐTT sở CN. Tập thể đơn vị trường nhiều năm liền được UBND tỉnh tặng bằng khen “Tập thể lao động xuất sắc” (số liệu năm học 2025 – 2026). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Trường THPT Tân Bình cách trung tâm huyện Bắc Tân Uyên khoảng 21 km, là trường có quy mô lớn (hơn 1300 học sinh, 42 lớp), cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học đảm bảo các yêu cầu tối thiểu để phát triển giáo dục toàn diện học sinh, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn, trình độ sư phạm khá tốt, đảm bảo các yêu cầu phát triển giáo dục, trường có 101 CBGVNV, 100% CBQL, giáo viên có trình độ đạt chuẩn trở lên, trong đó CBQL 4 người, GV dạy lớp cấp THCS có 38 người, GV dạy cấp THPT có 43 người, nhân viên hành chính 16 người. Đa số học sinh là con em gia đình nông dân, nguồn thu của gia đình chủ yếu từ nguồn thu nhập bán mũ cây cao su, điều kiện học tập còn nhiều khó khăn, ý thức tự giác tự học, tự rèn chưa cao, điểm tuyển sinh đầu vào của học sinh đầu cấp thấp so với các trường trong tỉnh, tỷ lệ HS lên lớp hàng năm 95%, học sinh xếp loại hạnh kiểm khá trở lên 98%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 95,2%, tốt nghiệp THPT đạt 100%, trúng tuyển Đại học 85%. Hàng năm nhà trường có rất nhiều học sinh giỏi về văn hóa đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh, Quốc gia và nhiều giải thưởng phong trào khác. Có 100% CBQL, GV được đánh giá chuẩn từ khá trở lên, có 24 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, có 25 SKKN, NCKHSPUD trong đó cấp trường xếp loại Loại A: 06, loại B: 14, loại C: 05, cấp ngành 6 SKKN loại B, có 6/8 tổ đạt LĐTT sở khen; 2/8 tổ đạt LĐTT sở CN. Tập thể đơn vị trường nhiều năm liền được UBND tỉnh tặng bằng khen “Tập thể lao động xuất sắc” nhưng năm học 2025 – 2026 Hoàn thành nhiệm vụ (Do có viên chức vi phạm chính sách dân số) (số liệu năm học 2025 – 2026)

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.2.1. Nội dung khảo sát

Nhận thức về hoạt động tổ chuyên môn: Chúng tôi đã tìm hiểu nhận thức của cán bộ giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn, các nội dung của hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT.

Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua phỏng vấn, khảo sát ý kiến cán bộ quản lý giáo viên, chúng tôi đã tìm hiểu cơ cấu tổ chuyên môn trong trường THPT, việc thực hiện các nội dung của hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT tham gia khảo sát.

Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương: Thông qua khảo sát ý kiến cán bộ quản lý và giáo viên, chúng tôi tìm hiểu việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT về các mặt: nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tổ chuyên môn, kết quả thực hiện các nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Chúng tôi cũng tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, qua đó xác định nguyên nhân của thực trạng.

2.2.2. Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng

Công cụ điều tra, khảo sát thực trạng là 1 phiếu hỏi dành cho cán bộ quản lý, giáo viên. Thông qua phiếu hỏi, chúng tôi phỏng vấn các đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, giáo viên trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên với các nội dung đã xác định trong phần nội dung khảo sát.

  • Sử dụng phần mềm SPSS statitis 20,0 để xử lý thông tin trong phiếu điều

2.2.3. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo trong công cụ điều tra, khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach đã được tích hợp sẵn trong phần mềm SPSS, cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Độ tin cậy của thang đo được xác định bằng hệ số tin cậy Anpha – Cronbach

Hệ số tin cậy đo được là 0,958. Theo các nhà thống kê, hệ số tin cậy từ 0,70 trở lên là thang đo dùng được. Ở đây hệ số tin cậy là 0,958 cho phép kết luận độ tin cậy đạt mức tốt.

2.2.4. Tổ chức điều tra, khảo sát

Khảo sát với 209 đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, Giáo viên trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương. Trong đó:

  • Trường THPT Thường Tân: 1 Hiệu trưởng, 2 phó hiệu trưởng, 7 TTCM, 7 tổ phó CM, 25 GV.
  • Trường THPT Lê Lợi: 1 Hiệu trưởng, 3 phó hiệu trưởng, 7 TTCM, 7 tổ phó CM, 64 –67 GV.
  • Trường THPT Tân Bình: 1 Hiệu trưởng, 3 phó hiệu trưởng, 7 TTCM, 7 tổ phó CM, Tổng số CBQL-GV của 3 trường khảo sát là 209, số phiếu khảo sát là 209, số phiếu hợp lệ là 209.

Cụ thể trình bày ở bảng 2.2 sau đây:

  • Bảng 2.2. Phân bố số lượng và thành phần mẫu nghiên cứu

Về giới tính, do chọn mẫu theo nguyên tắc ngẫu nhiên và đặc trưng của hội đồng sư phạm của các trường học ở nước ta là nam CBQL-GV ít hơn nữ CBQL-GV nên khách thể nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CBQL-GV. Nhưng lý do này xuất phát từ tính khách quan nên vẫn đảm bảo đầy đủ nguyên tắc nghiên cứu khoa học. Cụ thể, nữ chiếm 69,9% và nam 30,1%.

Về độ tuổi, CBQL-GV có độ tuổi dưới 30 là 49 (23,4%), từ 30 đến 40 tuổi chiếm 119 (56,9%), từ 41 đến 50 tuổi là 25 (12%) và trên 50 tuổi là 16 (7,7%). Điều này đảm bảo độ tin cậy và khách quan của mẫu nghiên cứu.

Về kinh nghiệm giảng dạy, CBQL-GV có kinh nghiệm giảng dạy dưới 5 năm là 46 (chiếm 22%), từ 5 đến dưới 10 năm là 34 người (chiếm 16,3%), có 64 CBQL-GV có kinh nghiệm từ 10 đến dưới 15 năm chiêm 30,6%. Kinh nghiệm giảng dạy từ 15 đến dưới 20 năm có 34 người chiếm 16,3% và kinh nghiệm trên 20 năm có 31 người chiếm 14,8%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tắc chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Về trình độ chuyên môn, CBQL-GV có trình độ cao đẳng chiếm 32 (15,3%). Trình độ đại học là 168 (80,4%), có 9 CBQL-GV có trình độ sau đại học (chiếm 4,3%).

Về chức vụ trong nhà trường, Hiệu trưởng có 3 người (chiếm 1,4%), phó Hiệu trưởng là 8 (chiếm 3,8%), Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là 42 người (chiếm 20,1%) và GV là 156 người (chiếm 74,6%).

Về kinh nghiệm làm công tác quản lý, có 156 người (chiếm 74,6%) người chưa có kinh nghiệm làm công tác quản lý, ứng với các GV đang làm công tác giảng dạy, có kinh nghiệm quản lý dưới 5 năm là 6 người (chiếm 2,9%), kinh nghiệm từ 5 đến 10 năm là 27 người (chiếm 12,9%), kinh nghiệm từ 10 đến 15 năm là 11 người (chiếm 5,3%), kinh nghiệm từ 15 đến 20 năm là 1 người (chiếm 0,5%) và có kinh nghiệm quản lý trên 20 năm có 8 người (chiếm 3,8%).

2.2.5. Quy ước thang đo

Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi, giới tính và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ tự và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như số trung bình, tỷ lệ phần trăm.

Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert 5 với mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5- 1)/5 = 0,8, nên ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng như sau (theo nội dung câu hỏi trong bảng khảo sát): 1,00 – 1,80 (không cần thiết, không ảnh hưởng, không thuận lợi, không khó khăn, kém, không quan trọng); 1,81 – 2,60; (ít cần thiết, ít ảnh hưởng, ít thuận lợi, ít khó khăn, yếu, ít quan trọng); 2,61 – 3,40: (ảnh hưởng ở mức trung bình, bình thường, trung bình); 3,41 – 4,20: (ảnh hưởng ở mức khá, thuận lợi, khó khăn, khá, quan trọng); 4,21 – 5,00: (ảnh hưởng nhiều, rất thuận lợi, rất khó khăn, tốt, rất quan trọng).

Cụ thể trong bảng sau:

  • Bảng 2.3. Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.3.1. Nhận thức của CBQL-GV về hoạt động tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.3.1.1. Nhận thức của CB-GV về tầm quan trọng của tổ chuyên môn

Để tìm hiểu nhận thức của CBQL-GV về tầm quan trọng của tổ chuyên môn ở các trường THPT, chúng tôi đã đưa ra 2 ý kiến về vai trò của hoạt động tổ chuyên môn để CBQL-GV thể hiện sự đồng tình của họ với các ý kiến đó, qua đó có thể thấy được nhận thức của họ về tầm quan trọng của tổ chuyên môn. Kết quả thu được thể hiện trong bảng dưới đây:

  • Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL-GVvề tầm quan trọng của tổ chuyên môn

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cung cấp những thông tin khá thú vị. Cả hai nhận định đề tài đưa ra về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn trong nhà trường THPT đều được khách thể đánh giá ở mức độ “hoàn toàn đồng ý” với cùng ĐTB = 4,64. Nhìn vào tỉ lệ lựa chọn các mức độ cũng thấy, không có CBQL-GV nào lựa chọn mức độ “hoàn toàn không đồng ý” và “phân vân”, chỉ có 1 người (chiếm 0,5%) lựa chọn “đồng ý”, còn lại 99,5% lựa chọn ở mức độ “đồng ý” và “hoàn toàn đồng ý”.

  • Biểu đồ 2.1. Tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn

Có thể nói, đây là tỷ lệ rất cao chứng tỏ CBQL-GV đã nhận thức một cách khá sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn. Có thể nói, tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở trực tiếp nhất đối với các hoạt động của giáo viên, là nền tảng để tổ chức và triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn một cách cụ thể và hiệu quả. Tổ chuyên môn có vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, là “trung tâm” bồi dưỡng giáo viên nhằm giúp giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn nói chung và thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nói riêng. Đồng thời, tổ chuyên môn là nơi quản lý trực tiếp bồi dưỡng giáo viên về nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ; phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi và khó khăn của từng giáo viên trong quá trình giảng dạy và giáo dục. Đây cũng là bộ phận chủ yếu, giữ vai trò quyết định trong công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên. Chỉ có ở tổ chuyên môn, giáo viên mới có điều kiện trực tiếp và thuận lợi nhất để rèn luyện và từng bước nâng cao trình độ tay nghề của mình. Bởi vì, sinh hoạt tổ chuyên môn có tính tổ chức, chủ động và mang tính tập thể cao. Sinh hoạt tổ chuyên môn là nơi thực hiện các hoạt động chia sẻ đồng nghiệp về chuyên môn, là môi trường tốt nhất cho những giáo viên còn hạn chế về năng lực và chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy, nhất là giáo viên tập sự có dịp để trao đổi, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ tay nghề. Từ đó có thể kết luận hoạt động của tổ chuyên môn sẽ góp phần đảm bảo chất lượng giảng dạy của giáo viên, từ đó đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường, bởi giáo viên chính là lực lượng quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Việc tất cả CBQL-GV nhận thức sâu sắc được vai trò của hoạt động tổ chuyên môn là tiền đề để nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn. Để so sánh sự khác biệt trong nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT giữa các nhóm khách thể xét trên các tiêu chí: độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên quản lý, thâm niên giảng dạy, chúng tôi tiến hành thực hiện kiểm nghiệm Anova và T-test với độ tin cậy 95%. Kết quả cho thấy tất cả các trị số P đều >0,05, do đó không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khách thể này trong nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn (xem thêm phụ lục). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.3.1.2. Nhận thức của CBQL-GV về nội dung hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Bất cứ trường học nào cũng có tổ chuyên môn và nhiệm vụ của tổ chuyên môn được quy định sẵn trong Điều lệ trường Trung học. Tuy vậy, có phải CBQL-GV nào cũng nắm vững được nội dung của hoạt động tổ chuyên môn? Để trả lời câu hỏi này, đề tài tiến hành khảo sát ý kiến của các CBQL-GV trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.5. Nhận thức của CBQL-GV về nội dung của hoạt động tổ chuyên môn

Nhiệm vụ của tổ chuyên môn đã được quy định cụ thể tại Mục 2 và mục 3, Điều 16 Điều lệ trường trung học. Theo đó, nội dung hoạt động tổ chuyên môn bao gồm những việc sau đây: a) Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường; b) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và các quy định khác hiện hành; c) Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó; d) Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên. Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu. Nói tóm lại, tổ chuyên môn là tổ chức theo sát các hoạt động của GV, từ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch đến kiểm tra, giám sát, xếp loại GV trong năm học sau khi đã thực hiện xong các kế hoạch. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 5 nội dung mà đề tài đã liệt kê, có 4 nội dung được khách thể đánh giá ở mức độ “hoàn toàn đồng ý” với ĐTB từ 4,55 đến 4,65, cụ thể: Tổ chuyên môn tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên trong tổ trong năm học (ĐTB = 4,65); Tổ chuyên môn xây dựng, thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học (ĐTB = 4,63); Tổ chuyên môn thực hiện nề nếp sinh hoạt, họp theo quy định (ĐTB = 4,61); Tổ chuyên môn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ (ĐTB = 4,55). Đây là những công việc cơ bản thuộc chức trách, nhiệm vụ của tổ chuyên môn đã được quy định rõ trong Điều lệ trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và những nội dung này cũng thường được hiệu trưởng kiểm tra thường xuyên.

Nội dung được xếp ở vị trí cuối cùng là “Tổ chuyên môn quản lý việc thực hiện kế hoạch của từng giáo viên trong tổ trong năm học”. Tuy xếp ở vị trí cuối cùng nhưng nội dung này vẫn được đánh giá ở mức độ “đồng ý”, tiệm cận với “hoàn toàn đồng ý”. Để so sánh sự khác biệt trong nhận thức về nội dung của hoạt động tổ chuyên môn ở trường THPT giữa các nhóm khách thể xét trên các tiêu chí: độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên quản lý, thâm niên giảng dạy, chúng tôi tiến hành thực hiện kiểm nghiệm Anova và T-test với độ tin cậy 95%. Với tất cả các trị số P đều >0,05, kết quả cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khách thể này trong nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn (xem thêm phụ lục).

Như vậy, có thể nói các nội dung của hoạt động tổ chuyên môn đã được các CBQL-GV nhận thức được đầy đủ, rõ ràng. Đây là tín hiệu rất tốt để thực hiện công tác sinh hoạt chuyên môn trong trường THPT .

2.3.2. Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Việc CBQL-GV đều có nhận thức rất tốt về vai trò cũng như nội dung của hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT như kết quả nghiên cứu ở những phần trên là một kết quả rất đáng mừng trong việc thực hiện công tác sinh hoạt tổ chuyên môn. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác tổ chức thực hiện sinh hoạt tổ chuyên môn đã được thực hiện như thế nào trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã liệt kê tất cả 5 công việc mà tổ chuyên môn cần phải thực hiện theo quy định, (bao gồm: Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học; Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ; Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ (Hoạt động dự giờ và góp ý giờ dạy trong tổ; Hoạt động chuyên đề của tổ; Hoạt động học tập và sinh hoạt chuyên môn thường xuyên của tổ); Tham gia đánh giá và xếp loại giáo viên trong tổ (theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên và các quy định hiện hành khác; Thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định) và yêu cầu CBQL-GV đánh giá một cách khách quan về hiệu quả của những công việc mà tổ chuyên môn ở đơn vị công tác của họ đã thực hiện. Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.6 như sau:

  • Bảng 2.6. Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các nội dung liệt kê trong công tác sinh hoạt tổ chuyên môn đều được các CBQL-GV đánh giá là có thực hiện đầy đủ (không có tổ chuyên môn nào không thực hiện) và kết quả thực hiện rơi vào mức độ “khá” và “tốt” với ĐTB trải dài từ 3,58 đến 4,25. Yếu tố được xếp ở thứ hạng đầu tiên và là yếu tố duy nhất được đánh giá ở mức độ thực hiện “tốt” với ĐTB = 4,25 là: Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học. Yếu tố được xếp ở vị trí thứ 2 là Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ (ĐTB = 4,20, được đánh giá ở mức độ thực hiện khá nhưng có ĐTB khá tiệm cận với mức đánh giá “tốt”). Cả hai nội dung này đều liên quan đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch liên quan đến hoạt động của tổ chuyên môn. Có thể nói, xây dựng kế hoạch là dự kiến chương trình hành động cả học kỳ, cả năm học của mỗi cá nhân GV cũng như của cả tổ. Việc xây dựng kế hoạch một cách chi tiết, khả thi, dự trù trước được những thuận lợi, khó khăn sẽ tạo điều kiện rất lớn cho hoạt động của tổ cũng như tạo điều kiện cho việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng cũng như các cấp quản lý cao hơn. Vì vậy, việc hai nội dung này được các CBQL-GV đánh giá là được thực hiện ở mức độ khá nhất trong các nội dung là điều đáng mừng. Tuy nhiên, xét một cách chi tiết, tỷ lệ thực hiện ở mức độ “tốt” đối với hai nội dung này chưa phải là cao khi chỉ có 33,0% và 29,2% thực hiện tốt. Tỷ lệ này chưa đáp ứng được sự mong đợi về hiệu quả của hoạt động tổ chuyên môn dưới góc độ quản lý. Con số này đòi hỏi cần phải có biện pháp cải thiện để nâng cao hơn nữa nội dung xây dựng và thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Hai nội dung được xếp ở vị trí cuối cùng là “Hoạt động chuyên đề của tổ” (ĐTB = 3,58) và “Thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định” (ĐTB = 3,67). Có thể thấy, mặc dù hai nội dung này vẫn nằm trong mức đánh giá mức độ thực hiện “khá”, tuy nhiên, ĐTB khá tiệm cận với mức đánh giá “trung bình”. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại tỷ lệ nhất định được CBQL-GV đánh giá thực hiện ở mức độ yếu (8,6% ở nội dung “Hoạt động chuyên đề của tổ” và 4,3% ở nội dung “Thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định”), tỷ lệ thực hiện tốt nội dung này cũng không cao (10% và 11,5%). “Hoạt động chuyên đề của tổ” là nội dung thuộc công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV trong nhiệm vụ của tổ chuyên môn. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động chuyên môn trong trường THPT. Mặc dù, hiện nay GV THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hầu hết có văn bằng đạt chuẩn, trên chuẩn và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ khá vững vàng, song không phải lúc nào kiến thức, kỹ năng sư phạm cũng đáp ứng được tất cả những tình huống dạy học và các mối quan hệ xã hội, chưa kể đến một vài GV còn có nhiều hạn chế trên từng vấn đề cụ thể cần khắc phục. Hơn nữa, đổi mới để phát triển là điều tất yếu trong mọi lĩnh vực cuộc sống, nó càng đặc biệt quan trọng hơn trong công tác giáo dục đào tạo hiện nay. Vì vậy, việc không ngừng học tập vươn lên để nhận thức là điều không thể thiếu đối với người làm nghề dạy học. Bên cạnh những con đường để GV học tập, rèn luyện tri thức như học nâng cao trình độ, thao giảng,… thì việc tổ chức chuyên đề là một trong những biện pháp hiệu quả, dễ thực hiện đối với tổ chuyên môn. Qua việc tổ chức chuyên đề sẽ giúp giáo viên trực tiếp giảng dạy tháo gỡ được những khó khăn vướng mắc trong quá trình dạy học. Chuyên đề còn là nơi giáo viên bộc lộ được năng lực và trình độ chuyên môn, trình độ quản lý trong các nhà trường. Qua chuyên đề giáo viên trong nhà trường cũng có cơ hội học tập, trao đổi với đồng nghiệp những kinh nghiệm hay trong giảng dạy và giáo dục học sinh. Đó là những bài học sư phạm hết sức thiết thực. Rõ ràng, với vai trò quan trọng như vậy, kết quả nghiên cứu về thực trạng thực hiện nội dung này chưa đáp ứng được yêu cầu đối với hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đây là kết quả mà các CBQL giáo dục cần quan tâm để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn nói riêng và hoạt động giáo dục của nhà trường nói chung.

Nội dung “Thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định” cũng có tỷ lệ thực hiện ở mức độ “tốt” không cao (chỉ 11,5%), dù ĐTB vẫn nằm trong mức đánh giá thực hiện khá. Thực tế trong trường THPT, trong quá trình sinh hoạt tổ chuyên môn, việc đi trễ, về sớm, bỏ họp hoặc tham gia họp không đúng số buổi quy định, tham dự họp qua loa, đối phó không phải là tình trạng hiếm. Đây cũng là vấn đề cần thiết phải chấn chỉnh trong thời gian tới hướng tới việc tổ chức hoạt động sinh hoạt chuyên môn nền nếp, quy củ. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

  • Bảng 2.7. So sánh ý kiến giữa các nhóm đối tượng khảo sát về thực trạng hoạt động tổ chuyên môn

Kết quả kiểm nghiệm Anova cho thấy, với P=0,000<0,05 có thể kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về thực trạng hoạt động tổ chuyên môn giữa các nhóm khách thể khác nhau về chức vụ, thâm niên quản lý và thâm niên giảng dạy. Cụ thể, xét theo chức vụ, hiệu trưởng thuộc nhóm có hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn cao nhất (ĐTB = 4,00), tiếp đến là tổ trưởng, tổ phó chuyên môn (ĐTB = 3,98) và thấp nhất là phó hiệu trưởng (ĐTB = 3,13). Xét theo thâm niên quản lý, nhóm khách thể có hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn cao nhất là nhóm có thâm niên quản lý từ 5 đến dưới 10 năm (ĐTB = 4,00) và thấp nhất là nhóm có thâm niên quản lý từ 15 đến dưới 20 năm. Ở bình diện thâm niên giảng dạy, nhóm khách thể có thâm niên giảng dạy từ 15 đến dưới 20 năm có hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn tốt nhất (ĐTB = 4,56) và thấp nhất là nhóm có thâm niên từ 20 năm trở lên (ĐTB = 3,90).

Ở những bình diện còn lại như: độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn… khi dùng kiểm nghiệm Anova và T-test đều cho kết quả trị số P>0,05 (xem phụ lục), do đó có thể kết luận không có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khách thể này về thực trạng hoạt động tổ chuyên môn.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Để kiểm tra nhận thức của CBQL-GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT, tác giả đã yêu cầu các CBQL-GV tham gia khảo sát đánh giá mức độ quan trọng theo ý kiến cá nhân của họ về hoạt động quản lý này. Kết quả thu được sau khi xử lý được thể hiện ở bảng dưới đây: Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

  • Bảng 2.8. Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Trong trường THPT, tổ chuyên môn có vai trò quan trọng, song để tổ chuyên môn hoạt động có hiệu quả thì công tác quản lý đối với hoạt động tổ chuyên môn cần phải được người hiệu trưởng quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Quản lý hoạt động tổ chuyên môn có hiệu quả là động lực thúc đẩy chất lượng giáo dục. Thông qua tổ chuyên môn, hiệu trưởng sẽ nắm được sâu sát hoạt động của giáo viên, phát huy cao độ sự thống nhất giữa hiệu trưởng với các thành viên trong tập thể sư phạm. Vì vậy, tăng cường chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn là mối quan tâm thường xuyên của hiệu trưởng. Hay nói cách khác, quá trình quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng luôn luôn gắn chặt với việc chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn. Tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý hoạt động tổ chuyên môn là nội dung quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với công tác quản lý nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay.

  • Biểu đồ 2.2. Tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn

Theo Tâm lý học Macxit, nhận thức chính là cơ sở, là tiền đề cho thái độ, hành. Do đó, việc nhận thức một cách đúng đắn tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn sẽ là cơ sở, là tiền đề để việc thực hiện công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn diễn ra hiệu quả, sâu sắc. Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.8 cho thấy, 96,2% CBQL cho rằng việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn là “quan trọng” và “rất quan trọng” (ĐTB = 4,83). Đây là tỷ lệ rất cao, đáp ứng được sự mong đợi về nhận thức của CBQL-GV.

2.4.2. Thực trạng cơ cấu tổ chuyên môn ở các trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Qua trao đổi với 3 thầy Hiệu trưởng 3 trường THPT trong huyện, cho thấy do cả 3 trường đều là 3 trường có 2 cấp học (THCS và THPT), số lượng học sinh trong từng cấp học không nhiều nên số lượng giáo viên bộ môn cũng không nhiều, việc chia tổ phải thực hiện theo nhiều hướng khác nhau để đảm bảo tổ có từ 5 thành viên trở lên (1 tổ độc lập), do đó phải cơ cấu tổ chuyên môn đơn môn, tổ chuyên môn hai môn, tổ chuyên môn ba môn trở lên như sau:

Trường THPT Thường Tân có 57 CBGVNV, được chia làm 8 tổ trong đó có 1 tổ Văn phòng và 7 tổ chuyên môn (1 tổ Ngữ văn, 1 tổ Sử – Địa- Giáo dục công dân, 1 tổ Ngoại ngữ, 1 tổ Toán – Tin, 1 tổ Lý – Công nghệ, 1 tổ Hóa – Sinh, 1 tổ Thể dục- Giáo dục Quốc phòng), mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 phó tổ trưởng để quản lý tổ.

Trường THPT Lê Lợi có 99 CBGVNV, được chia làm 8 tổ trong đó có 1 tổ Văn phòng và 7 tổ chuyên môn (1 tổ Ngữ văn – Công nghệ phục vụ, 1 tổ Sử – Địa- Giáo dục công dân, 1 tổ Anh văn, 1 tổ Toán – Tin, 1 tổ Lý – Công nghệ Công nghiệp, 1 tổ Hóa – Sinh – Công nghệ Nông nghiệp, 1 tổ Họa – Nhạc – Thể dục- Quốc phòng), mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 phó tổ trưởng để quản lý tổ.

Trường THPT Tân Bình có 101 CBGVNV, được chia làm 8 tổ trong đó có 1 tổ Văn phòng và 7 tổ chuyên môn (1 tổ Văn, 1 tổ Sử – Địa- Giáo dục công dân, 1 tổ Anh văn, 1 tổ Toán, 1 tổ Lý – Tin – Công nghệ Công nghiệp, 1 tổ Hóa – Sinh – Công nghệ Nông nghiệp, 1 tổ Thể dục- Quốc phòng – Nhạc – Họa), mỗi tổ có 1 tổ trưởng và 1 phó tổ trưởng để quản lý tổ.

  • Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL-GV về cơ cấu tổ chuyên môn ở các trường THPT Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Tổ chuyên môn là một bộ phận cấu thành của trường. Các tổ chuyên môn có mối quan hệ hợp tác với nhau, phối hợp các bộ phận nghiệp vụ khác và các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ, và các nhiệm vụ khác trong chiến lược phát triển nhà trường để đưa nhà trường đạt mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, tổ chuyên môn cũng là nơi triển khai các hoạt động của nhà trường, trong đó trọng tâm là hoạt động giáo dục và dạy học; là đầu mối quản lý mà Hiệu trưởng nhất thiết phải tập trung dựa vào đó để quản lý nhà trường trên nhiều phương diện, nhưng cơ bản nhất là hoạt động giáo dục dạy học; Là nơi tập hợp, đoàn kết, tìm hiểu tâm tư, tình cảm và những khó khăn trong đời sống của giáo viên, giúp đỡ GV hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chính vì vậy, xây dựng cơ cấu tổ chuyên môn theo đúng quy định, phù hợp về mặt chuyên môn cũng như phù hợp với điều kiện của nhà trường có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với hoạt động dạy học mà còn tạo điều kiện rất lớn cho công tác quản lý. Hiện nay, do điều kiện thực tế trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, do cơ cấu tổ chức là các trường cấp 2-3 hoặc do số lượng GV ở một số bộ môn ít (đặc biệt là những bộ môn có thời lượng tiết dạy ít như: Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa lý, Tin học…) nên việc cơ cấu tổ chuyên môn còn một vài điểm bất cập. Cụ thể, cả 3 trường THPT tham gia khảo sát đều tồn tại song song cơ cấu tổ chuyên môn đơn môn; tổ chuyên môn hai môn; tổ chuyên môn ba môn trở lên. Điều này gây những khó khăn nhất định cho công tác quản lý của hiệu cũng cũng như công tác quản lý bộ môn của các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn. Điều này được thể hiện cụ thể qua đánh giá của CBQL và GV về cơ cấu tổ chuyên môn mà đơn vị công tác của họ đang thực hiện.

  • Biểu đồ 2.3. Đánh giá về cơ cấu tổ chuyên môn trong trường THPT

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.9 và biểu đồ 2.3 cho thấy, tỷ lệ đánh giá cơ cấu tổ chức chuyên môn hiện tại “hợp lý” chỉ dừng lại ở 57 người, chiếm 27,3%, trong khi đó số CBQL-GV đánh giá cơ cấu tổ chuyên môn hiện tại “chưa hợp lý” lên tới 152 người, chiếm 72,7% (gấp gần 3 lần, chiếm hơn 2/3 mẫu nghiên cứu). Việc cơ cấu tổ chuyên môn liên môn có thể giúp thu gọn lại bộ máy quản lý của nhà trường, nhưng xét ở góc độ chuyên môn, việc dạy học ở THPT đã có tính phân hóa tương đối cao, do đó, mỗi bộ môn có đặc thù riêng, ngay cả khi những bộ môn có tính chất chuyên môn gần nhau thì việc sắp xếp, cơ cấu nhiều bộ môn vào cùng một tổ chuyên môn ít nhiều cũng gây khó khăn cho việc phân công giảng dạy, sinh hoạt chuyên đề hay sinh hoạt chuyên môn. Chính vì vậy, đa số CBQL – GV đánh giá cơ cấu tổ chuyên môn hiện tại là chưa hợp lý. Kết quả phỏng vấn cô N.T.T (Tổ trưởng chuyên môn trường THPT Thường Tân) cũng cho thấy: “Cơ cấu tổ chuyên môn gồm nhiều môn có khá nhiều bất lợi. Nhiều khi ngồi họp với nhau, nói về chuyên môn của môn này thì những người còn lại ở môn kia không hoặc không dám góp ý gì và ngược lại, trong khi vẫn phải ngồi nghe”. Kết quả nghiên cứu này rất đáng được các CBQL giáo dục quan tâm trong công tác tổ chức tổ chuyên môn để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.4.3. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Quản lý hoạt động tổ chuyên môn là một hoạt động quan trọng trong công tác quản lý. Hiệu trưởng quản lý hoạt động tổ chuyên môn là quản lý các hoạt động: quản lý việc tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ; quản lý việc tổ chuyên môn hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên; quản lý việc tổ chuyên môn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho tổ viên; quản lý việc tổ chuyên môn tham gia đánh giá và xếp loại tổ viên; quản lý việc tổ chuyên môn thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định. Trên thực tế, hiệu trưởng của các trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên đã thực hiện công tác quản lý các hoạt động này như thế nào? Theo đánh giá của những CBQL-GV tham gia nghiên cứu, kết quả thực hiện công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT được thể hiện trong bảng 2.10 dưới đây:

  • Bảng 2.10. Thực trạng quản lý của hiệu trưởng về hoạt động của tổ chuyên môn

Căn cứ vào số liệu ở bảng 2.10 cho thấy, với ĐTB trải dài từ 3,70 đến 4,26, đa số các nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng các trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên đều được đánh giá ở mức độ thực hiện “khá” và không có đơn vị nào không thực hiện các nội dung này, chỉ có một nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “tốt”, nhưng ĐTB ở nội dung này cũng gần với mức độ thực hiện khá (ĐTB = 4,26). Cụ thể như sau:

Hai nội dung được xếp ở vị trí đầu tiên với ĐTB cao nhất đều liên quan đến công tác quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn, cụ thể: Quản lý việc tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học (ĐTB = 4,26); Quản lý việc tổ chuyên môn hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ (ĐTB = 4,19). Cả hai nội dung này đều không có CBQL nào được đánh giá là có kết quả thực hiện ở mức “yếu”, “kém”, 100% đều từ mức trung bình trở lên. Kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn là một việc không thể thiếu đối với tổ chuyên môn. Kế hoạch được lập căn cứ vào các văn bản chỉ đạo của cấp trên, vào điều kiện nhà trường, địa phương, vào khả năng, năng lực của giáo viên và học sinh. Kế hoạch của tổ chuyên môn là chương trình hành động cụ thể, thể hiện rõ định mức, sự lượng hóa các nhiệm vụ được giao và hệ thống biện pháp. Trên cơ sở phương hướng nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường, hiệu trưởng hướng dẫn tổ chuyên môn biết cách xác định mục tiêu và nhiệm vụ, đề ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý, giúp họ xác định các điều kiện để đạt được những mục tiêu đề ra. Từ đó, thông qua tổ trưởng chuyên môn, hiệu trưởng tiếp tục hướng dẫn và quản lý quy trình mỗi giáo viên trong tổ chuyên môn tự xây dựng kế hoạch, giúp họ xác định mục tiêu đúng đắn và các biện pháp để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Với quy trình được thiết lập tương đối rõ ràng, hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên trong những năm vừa qua đã thực hiện khá tốt công việc này. Đây là tín hiệu đáng mừng trong công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Hai yếu tố được xếp ở thứ hạng cuối cùng là “Quản lý việc tổ chuyên môn sinh hoạt chuyên đề của tổ” (ĐTB = 3,70) và “Quản lý việc tổ chuyên môn thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định” (ĐTB = 3,73). Quản lý việc tổ chức chuyên môn sinh hoạt chuyên đề của tổ bao gồm tổ: chức chuyên đề trong tổ, tập huấn cho giáo viên, lên kế hoạch thao giảng … Ngoài các chuyên đề chuyên môn, ở tổ chuyên môn cũng cần làm rõ một số các vấn đề về nghiệp vụ sư phạm như lý luận dạy học bộ môn, cách thức đánh giá một giờ dạy, phương hướng giảng dạy đối với các bài khó, bài mới, thực hành, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý hồ sơ sổ sách, triển khai viết và nghiệm thu sáng kiến kinh nghiệm… Chỉ đạo thực hiện quy chế của tổ chuyên môn bao gồm: nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định… của tổ chuyên môn là nội dung quan trọng trong quá trình quản lý giáo dục. Mọi hoạt động của tổ chuyên môn phải được thực hiện theo các chế định của ngành. Quy chế chuyên môn là hệ thống các văn bản pháp quy, các thông tư, hướng dẫn, mang tính chuẩn mực và bắt buộc có tác dụng chỉ đạo các hoạt động giảng dạy và giáo dục. Các văn bản đó được coi là hành lang pháp lý để người quản lý dựa vào đó mà tiến hành các công việc của mình, từ đó cụ thể hóa để xây dựng nên các quy định nội bộ của nhà trường và của tổ cho phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đáng tiếc hai nội dung này mặc dù vẫn được đánh giá là thực hiện ở mức độ khá, nhưng tỉ lệ thực hiện tốt không cao (chỉ 15,3%) và vẫn còn tồn tại tỷ lệ khá lớn (39,2% và 36,9%) thực hiện ở mức yếu đến trung bình. Điều này cho thấy, công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chưa thực sự tập trung vào chiều sâu, đặc biệt là ở công tác bồi dưỡng chuyên môn cho GV- một nhiệm vụ rất quan trọng của tổ chuyên môn.

Kết quả nghiên cứu này khá tương đồng, nhất quán với kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động tổ chuyên môn đã thực hiện ở trên. Điều này một lần nữa khẳng định kết quả quản lý của hiệu trưởng như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của tổ chuyên môn như thế đó. Do đó, để nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chuyên môn ở nhà trường thì việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý tổ chuyên môn của hiệu trưởng có ý nghĩa rất lớn.

  • Bảng 2.11. So sánh ý kiến giữa các nhóm đối tượng khảo sát về thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Để so sánh sự khác biệt về thực trạng quản lý tổ chuyên môn, chúng tôi đã tiến hành kiểm nghiệm T-test và Anova với độ tin cậy 95% (mức xác suất 0,05) giữa các nhóm khách thể xét trên các bình diện khác nhau: độ tuổi, giới tính, thâm niên giảng dạy, trình độ chuyên môn, chức vụ, thâm niên quản lý cho thấy, có 2 nhóm khách thể có sự khác biệt, cụ thể:

Xét theo chức vụ: Kết quả cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn giữa các nhóm khách thể có chức vụ khác nhau ( P = 0,000<0,05, T= 14,208). Trong đó, nhóm khách thể là tổ trưởng, tổ phó chuyên môn (ĐTB = 4,05) có kết quả cao hơn so với hai nhóm khách thể còn lại là hiệu trưởng (ĐTB = 4,00) và phó hiệu trưởng (ĐTB = 3,25). Kết quả này có thể lý giải do tổ trưởng, tổ phó chuyên môn chính là người theo sát công việc, cũng là những người điều hành trực tiếp công việc của tổ chuyên môn, họ là những người nắm rõ nhất thực tế của tổ chuyên môn nơi họ đang quản lý.

Xét theo thâm niên quản lý: Kết quả kiểm nghiệm Anova cho ra trị số P= 0,000<0,05 cho phép kết luận có sự khác biệt ý nghĩa về kết quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở những nhóm khách thể có kinh nghiệm trong công tác quản lý khác nhau. Nhận thức cao nhất (ĐTB = 4,11) thuộc về hai nhóm khách thể có thâm niên quản lý từ 5 đến dưới 10 năm, thấp nhất là nhóm khách thể có thâm niên từ 15 đến dưới 20 năm (ĐTB = 3,00). Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Ở các bình diện còn lại (độ tuổi, thâm niên giảng dạy, trình độ chuyên môn, chức vụ) tất cả trị số P >0,05 (xem phụ lục) chứng tỏ không có sự khác biệt ý nghĩa diễn ra ở đây. Như vậy, CBQL cho dù họ ở độ tuổi nào, trình độ chuyên môn, giới tính ra sao đều không ảnh hưởng đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của họ.

2.4.4. Những thuận lợi trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ nhiều yếu tố từ cơ chế quản lý cho đến yếu tố con người. Từ những kết quả nghiên cứu ở trên có thể thấy trong những năm vừa qua, quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên đã đạt được những thành tựu nhất định. Để có được những kết quả tốt đẹp này, công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn đã được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố thuận lợi. Tham khảo ý kiến từ các CBQL và GV trong bảng câu hỏi mở, đề tài đã liệt kê 7 yếu tố thuận lợi được nhiều người lựa chọn nhất để khảo sát xem các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng. Kết quả thu được như sau:

  • Bảng 2.12. Những thuận lợi trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Từ số liệu ở bảng 2.12 có thể thấy, cả 7 yếu tố liệt kê đều được đánh giá ở mức độ tạo điều kiện “thuận lợi” cho công tác quản lý tổ chuyên môn với ĐTB khá gần nhau (từ 4,11 đến 4,20), trong đó đặc biệt phải kể đến các yếu tố: Hiệu trưởng tạo điều kiện tốt để các tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả (ĐTB = 4,20); Có kế hoạch hoạt động cụ thể theo từng giai đoạn trong năm học và thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra (ĐTB = 4,19); Trường có quy chế làm việc, quy chế phối hợp và giáo viên thực hiện đúng theo quy chế đã ban hành; Tổ trưởng chuyên môn có năng lực, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao (ĐTB = 4,18). Như vậy, có thể nói việc xây dựng kế hoạch cụ thể, ban hành các quy chế làm việc, xây dựng, lựa chọn, bồi dưỡng được đội ngũ tổ trưởng chuyên môn có chất lượng bên cạnh việc hiệu trưởng tin tưởng, tạo điều kiện chính là những yếu tố thúc đẩy việc quản lý hoạt động tổ bộ môn diễn ra có hiệu quả. Đây sẽ là những cơ sở quan trọng trong quá trình xây dựng các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bên cạnh đó, số liệu ở bảng 2.13 cũng cho thấy, mặc dù vẫn được đánh giá là tạo điều kiện thuận lợi, ĐTB chênh lệch không nhiều so với các yếu tố còn lại, nhưng hai yếu tố “Các thành viên trong tổ chuyên môn có ý thức xây dựng tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả” (ĐTB = 4,16) và “Đảm bảo thông tin 2 chiều giữa hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn thường xuyên và hiệu quả” (ĐTB = 4,11) vẫn là những yếu tố được xếp ở thứ hạng cuối cùng. Có thể thấy, việc hình thành ý thức xây dựng tổ chuyên môn hiệu quả cho các thành viên trong tổ (chính là các GV) và việc thiết lập được mối liên hệ chặt chẽ, hiệu quả giữa hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn chưa thực sự hiệu quả so với các yếu tố khác. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, hai yếu tố này khá quan trọng đối với công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Chỉ khi mỗi GV đều có ý thức xây dựng tổ chuyên môn hiệu quả thì họ mới tích cực, chủ động trong công tác của mình, khi đó công tác quản lý của hiệu trưởng sẽ “nhẹ nhàng” và hiệu quả hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, hiệu trưởng không thể theo sát từng tổ chuyên môn trong mọi công việc, việc thiết lập được thông tin kịp thời giữa hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn sẽ giúp hiệu trưởng kịp thời nắm bắt được tình hình để đưa ra các quyết định quản lý.

2.4.5. Những khó khăn trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

  • Bảng 2.13. Những khó khăn trong quản lý hoạt động tổ chuyên môn

Tương tự ở các yếu tố thuận lợi, đề tài đã liệt kê 8 yếu tố gây khó khăn cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT và yêu cầu khách thể nghiên cứu đánh giá mức độ khó khăn của những yếu tố này ở đơn vị họ công tác. Kết quả nghiên cứu được xử lý và thể hiện ở bảng 2.11. Căn cứ vào kết quả này cho thấy, có 3/8 yếu tố được đánh giá là “rất khó khăn” đối với công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn (ĐTB từ 4,28 đến 4,32); 5 yếu tố còn lại có ĐTB từ 4,08 đến 4,09 được đánh giá là gây “khó khăn: cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Cụ thể:

Ba yếu tố được đánh giá là gây khó khăn nhiều nhất cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT với ĐTB được xếp ở những thứ hạng đầu tiên là: 1. Chất lượng bộ môn của tổ chưa được nâng cao và thiếu yếu tố bền vững (ĐTB = 4,32); 2. Trường có hai cấp học (ĐTB = 4,30); 3. Có nhiều bộ môn ghép trong cùng một tổ (ĐTB = 4,28). Tuy có thứ hạng khác nhau nhưng ĐTB của ba yếu tố này khá gần nhau cho thấy mức độ gây khó khăn cho công tác quản lý của ba yếu tố này là khá tương đương. Việc quản lý tổ chuyên môn, cho dù tổ chuyên môn đó có những GV giỏi, đạt chuẩn, đồng nhất về trình độ chuyên môn cũng chưa bao giờ là công việc dễ dàng bởi trong tổ chuyên môn ngoài những ràng buộc về công việc còn là những mối quan hệ phức tạp luôn nảy sinh giữa người và người. Mà những mối quan hệ này không thể dùng quy chế, điều lệ để xử lý. Do đó, việc một tổ chuyên môn có chất lượng chưa cao, thiếu bền vững, hay một tổ có nhiều bộ môn ghép vào, trường có hai cấp học … càng khiến cho việc quản lý hoạt động tổ chuyên môn càng trở nên khó khăn hơn. Kết quả nghiên cứu này cũng không quá ngạc nhiên. Những số liệu này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 đánh giá về cơ cấu tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên. Chính sự khó khăn này khiến cho 72,7% CBQL-GV đánh giá thực trạng cơ cấu tổ chuyên môn hiện nay trong trường là chưa hợp lý (xem bảng 2.4).

Hai yếu tố “Công tác kiểm tra chuyên môn, kiểm tra hoạt động sư phạm chưa được chú trọng” “Cơ sở vật chất, trang thiết bị của trường chưa đủ đáp ứng được yêu cầu dạy và học” tuy được xếp ở vị trí cuối cùng nhưng vẫn được đánh giá là hai yếu tố gây “khó khăn” cho công tác quản lý hoạt động chuyên môn với ĐTB = 4,08. Tuy không phải là những yếu tố quyết định nhưng nếu cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, công tác kiểm tra, đánh giá được chú trọng thực hiện một cách khách quan, hiệu quả sẽ tạo điều kiện rất nhiều cho công tác quản lý hoạt động chuyên môn của hiệu trưởng. Đây là những yếu tố cần lưu ý để tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn.

2.4.6. Nhận định chung về quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Qua điều tra thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây: Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

2.4.6.1. Ưu điểm

Cán bộ giáo viên trong các nhà trường đã nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn cũng như công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn, xác định được rõ ràng các nội dung hoạt động tổ chuyên môn.

Các trường đã nghiêm túc thực hiện Điều lệ trường THPT về hoạt động tổ chuyên môn. Tất cả các nội dung trong công tác hoạt động tổ chuyên môn đều được các nhà trường chú trọng thực hiện với kết quả khả quan.

Nền nếp sinh hoạt tổ chuyên môn trong nhà trường được hiệu trưởng quan tâm, nhắc nhở các tổ chuyên môn thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.

Trong quá trình quản lý và chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn, các hiệu trưởng đã nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của mình, từ đó đã có được một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn phù hợp, đem lại hiệu quả cao.

Các nhà trường đã xây dựng được kế hoạch hành động cụ thể trong từng giai đoạn và thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra.

Các trường đã xây dựng được quy chế làm việc riêng, quy chế phối hợp giữa các đơn vị, bộ phận trong nhà trường và nghiêm túc thực hiện quy chế đã ban hành.

Các trường đã thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn đội ngũ tổ trưởng chuyên môn có năng lực, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.

2.4.6.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm đã nêu trên, trong công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương còn bộc lộ một số điểm hạn chế sau: Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

  • Vẫn còn có trường, tổ trưởng chuyên môn chưa coi trọng việc xây dựng nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn hàng tuần một cách thiết thực và bổ ích cho công tác dạy học nên nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn còn nghèo nàn, nặng về thủ tục hành chính.
  • Có trường, chất lượng bộ môn của tổ chưa được nâng cao và còn thiếu yếu tố bền vững.
  • Cơ cấu của tổ chuyên môn ở các trường còn chưa hợp lý: nhiều bộ môn ghép vào trong cùng một tổ, trường có nhiều cấp học gây khó khăn cho công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn.
  • Có trường vẫn còn tồn tại tình trạng chưa nghiêm túc thực hiện đầy đủ nền nếp sinh hoạt, họp tổ chuyên môn theo quy định. Trong quá trình sinh hoạt tổ chuyên môn, chưa chú trọng công tác đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn, tổ chức các chuyên đề nâng cao bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ.
  • Trong công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn, một số hiệu trưởng chưa thực sự tập trung quản lý chiều sâu, chưa chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, đặc biệt trong công tác quản lý tổ chuyên môn sinh hoạt chuyên đề cũng như quản lý tổ chuyên môn thực hiện nền nếp sinh hoạt theo quy định.
  • Có trường công tác kiểm tra chuyên môn, kiểm tra hoạt động sư phạm chưa được chú trọng, cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường cũng chưa đủ đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học gây khó khăn cho hoạt động tổ chuyên môn.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến việc hiệu trưởng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT tham gia khảo sát. Kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát được trình bày ở bảng 2.14 sau đây:

Bảng 2.14. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc hiệu trưởng quản lý hoạt động tổ chuyên môn

  • Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Trong số 6 yếu tố chủ quan mà đề tài liệt kê, có thể nhận thấy cả 6 yếu tố đều có ĐTB khá gần nhau (từ 4,21 đến 4,26) và rơi vào mức ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác quản lý tổ chuyên môn của hiệu trưởng. Yếu tố xếp đầu tiên trong nhóm các yếu tố chủ quan và đứng thứ 2 trong tổng số tất cả các yếu tố là “Năng lực quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động tổ chuyên môn” (ĐTB = 4,26). Hiệu trưởng trường THPT là người đứng đầu cơ sở giáo dục, là người chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm trước cấp trên về mọi sự quản lý đó. Hiệu trưởng là người dẫn dắt thực hiện sứ mệnh cao cả của nhà trường. Do vậy để quản lý được nhà trường, người hiệu trưởng cần có những yêu cầu cơ bản về trình độ, năng lực, được đào tạo quản lý và có nghiệp vụ quản lý nhà trường. Có trình độ quản lý thì mới thực hiện được một cách có chất lượng công tác quản lý của mình và thể hiện được những việc đã làm được thông qua hồ sơ, sổ sách và kế hoạch quản lý, mới tạo được niềm tin, uy tín trước cán bộ, GV nhà trường, từ đó dẫn dắt, động viên họ thực hiện một cách tốt nhất các công việc của nhà trường. Chính vì vậy, yếu tố này được đánh giá ở thứ hạng cao là điều dễ hiểu.

Hai yếu tố cùng có ĐTB = 4,24, xếp thứ hạng 2 trong nhóm các yếu tố chủ quan và thứ hạng 3 trong tổng số các yếu tố là “Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn” và “Năng lực chuyên môn, quản lý điều hành của tổ trưởng về hoạt động tổ chuyên môn”. Tổ trưởng chuyên môn là cấp trung gian triển khai thực hiện các nội dung mà hiệu trưởng yêu cầu đến giáo viên trong tổ. Tổ trưởng vừa thực hiện nhiệm vụ như là một giáo viên vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý theo Điều lệ trường trung học quy định và thực hiện một số nhiệm vụ khác do hiệu trưởng ủy quyền. Bởi vậy tổ trưởng cần nhận thức một cách sâu sắc về vai trò, nhiệm vụ của tổ chuyên môn, cần có năng lực chuyên môn vững, có năng lực thực tiễn giảng dạy và có kiến thức sâu về bộ môn giảng dạy mới có thể thực hiện được hết vai trò, nhiệm vụ của người tổ trưởng chuyên môn. Thực tế trong trường THPT cũng thấy rõ, người tổ trưởng chuyên môn không có chuyên môn sâu, không có khả năng quản lý sẽ không đủ sức để dẫn dắt, bồi dưỡng GV về chuyên môn, không biết cách phân công công việc hợp lý giữa các thành viên dễ gây ra những bức xúc, nghi kị, thậm chí là chống đối giữa các GV với nhau và giữa các GV với tổ trưởng chuyên môn. Đây là điều hết sức lưu ý trong công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn.

“Tinh thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn của giáo viên đối với hoạt động tổ chuyên môn” là yếu tố được xếp ở thứ hạng cuối cùng trong nhóm các yếu tố chủ quan và cũng là thứ hạng cuối cùng trong tổng số các yếu tố. Tuy vậy, với ĐTB = 4,21, yếu tố này vẫn được đánh giá là ảnh hưởng “nhiều” đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn. Tinh thần trách nhiệm và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên đóng vai trò quyết định đến chất lượng của mọi hoạt động chuyên môn của nhà trường. Khi mỗi giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt thì nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu cũng sẽ thực hiện thành công. Tuy vậy, tinh thần trách nhiệm, sự đoàn kết nội bộ và cả năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên đều có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tinh thần, năng lực của hiệu trưởng cũng như của tổ trưởng chuyên môn. Một người quản lý tốt cần khơi gợi, thúc đẩy được tinh thần trách nhiệm, cầu tiến của đội ngũ GV cũng như xây dựng được bầu không khí tâm lý đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau trong nội bộ đơn vị của mình. Chính vì vậy, mặc dù yếu tố này được đánh giá là ảnh hưởng nhiều nhưng vẫn xếp thứ hạng cuối trong các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng.

  • Các yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Tương tự như ở các yếu tố chủ quan, trong số 5 yếu tố khách quan mà đề tài liệt kê, cả 5 yếu tố này đều có ĐTB khá gần nhau, từ 4,22 đến 4,48, rơi vào mức đánh giá ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng. Yếu tố được xếp ở thứ hạng đầu tiên trong nhóm các yếu tố chủ quan và cũng là thứ hạng đầu tiên trong nhóm các yếu tố khách quan là “Các văn bản, kế hoạch về chỉ đạo hoạt động của tổ chuyên môn (của Bộ GDĐT, Sở GDĐT)” (ĐTB = 4,48). Công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn của các nhà trường được thể hiện bằng các văn bản chỉ đạo thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình giảng dạy các bộ môn; các văn bản chỉ đạo quy định về hồ sơ, giáo án, hồ sơ quản lý hoạt động tổ chuyên môn; chỉ đạo các hoạt động chuyên đề từ cấp trường; tham gia các chuyên đề cấp tỉnh; định hướng nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn, chỉ đạo đổi mới hình thức và nền nếp sinh hoạt tổ chuyên môn. Có thể nói các văn bản chỉ đạo này chính là kim chỉ nam cho hoạt động của hiệu trưởng và tổ chuyên môn. Văn bản chỉ đạo càng rõ ràng, kịp thời bao nhiêu thì công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn càng diễn ra hiệu quả, thống nhất bấy nhiêu.

Các yếu tố còn lại như: Sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo; Sự phối hợp các đoàn thể trong nhà trường tạo điều kiện cho hoạt động tổ chuyên môn; Điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị trường học phục vụ cho hoạt động tổ chuyên môn; Kinh phí phục vụ cho hoạt động tổ chuyên môn tuy có thứ hạng khác nhau nhưng ĐTB chênh lệch không đáng kể (4,22 và 4,23) và đều được đánh giá là ảnh hưởng “rất nhiều” đến công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng.

Nhìn một cách tổng quát, cả 11 yếu tố thuộc về nhóm chủ quan và khách quan đều có ĐTB từ 4,21 đến 4,48, như vậy có thể kết luận, công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên chịu ảnh hưởng bởi cả các yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt là một số yếu tố như: Năng lực quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động tổ chuyên môn, Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn; Năng lực chuyên môn, quản lý điều hành của tổ trưởng về hoạt động tổ chuyên môn; Các văn bản, kế hoạch về chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn (của Bộ GDĐT, Sở GDĐT)… Mặc dù có nhiều yếu tố được xếp ở thứ hạng cao hơn so với nhóm các yếu tố khách quan nhưng xét một cách tổng thể, nhóm các yếu tố khách quan (ĐTBC = 4,48) vẫn có mức ảnh hưởng nhiều hơn so với nhóm các yếu tố chủ quan (ĐTB = 4,30). Đây là kết quả cần quan tâm trong quá trình xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cho thấy:

Các nội dung của hoạt động tổ chuyên môn đã được các CBQL-GV nhận thức được đầy đủ, rõ ràng, đặc biệt là các nội dung: Tổ chuyên môn tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên trong tổ trong năm học; Tổ chuyên môn xây dựng, thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học; Tổ chuyên môn thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định; Tổ chuyên môn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên trong tổ. Tất cả các nội dung liệt kê trong công tác sinh hoạt tổ chuyên môn đều được các trường thực hiện đầy đủ và kết quả thực hiện rơi vào mức độ “tốt” và “khá”, đặc biệt là các nội dung: Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học và Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ. Hai nội dung được thực hiện ít hiệu quả hơn là “Hoạt động chuyên đề của tổ” và “Thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định”. Có sự khác biệt ý nghĩa về thực trạng hoạt động tổ chuyên môn giữa các nhóm khách thể khác nhau về chức vụ, thâm niên quản lý và thâm niên giảng dạy.

Cơ cấu tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương hiện nay tồn tại song song tổ chuyên môn đơn môn; tổ chuyên môn hai môn; tổ chuyên môn ba môn trở lên. Với cơ cấu tổ chuyên môn này, 72,7% CBQL-GV đánh giá là chưa hợp lý. CBQL-GV “hoàn toàn đồng ý” rằng vai trò của hoạt động tổ chuyên môn góp phần đảm bảo chất lượng giảng dạy của giáo viên và góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục của nhà trường. Tất cả các nội dung quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên đều được đánh giá ở mức độ thực hiện “tốt” và “khá”, không có đơn vị nào không thực hiện các nội dung này. Các nội dung được thực hiện tốt nhất là: Quản lý việc tổ chuyên môn xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ trong năm học; Quản lý việc tổ chuyên môn hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của giáo viên trong tổ. Các nội dung thực hiện ít hiệu quả hơn gồm: “Quản lý việc tổ chuyên môn sinh hoạt chuyên đề của tổ” và “Quản lý việc tổ chuyên môn thực hiện nền nếp sinh hoạt, họp theo quy định”. Có sự khác biệt ý nghĩa về thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn giữa các nhóm khách thể khác nhau về chức vụ và thâm niên quản lý.

Cả 7 yếu tố liệt kê đều được đánh giá ở mức độ tạo điều kiện “thuận lợi” cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn, trong đó đặc biệt phải kể đến các yếu tố: Hiệu trưởng tạo điều kiện tốt để các tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả; Có kế hoạch hoạt động cụ thể theo từng giai đoạn trong năm học và thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra; Trường có quy chế làm việc, quy chế phối hợp và giáo viên thực hiện đúng theo quy chế đã ban hành; Tổ trưởng chuyên môn có năng lực, nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao.

Cả 8 yếu tố được liệt kê đều được đánh giá là “rất khó khăn” và “khó khăn” đối với công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn, trong đó ba yếu tố được đánh giá là gây khó khăn nhiều nhất cho công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT với ĐTB được xếp ở những thứ hạng đầu tiên là: Chất lượng bộ môn của tổ chưa được nâng cao và thiếu yếu tố bền vững; Trường có hai cấp học; Có nhiều bộ môn ghép trong cùng một tổ.

Công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn của hiệu trưởng trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên chịu ảnh hưởng bởi cả các yếu tố chủ quan và khách quan, đặc biệt là một số yếu tố như: Năng lực quản lý của Hiệu trưởng về hoạt động tổ chuyên môn; Nhận thức của tổ trưởng chuyên môn, nhóm trưởng về tầm quan trọng của hoạt động tổ chuyên môn; Năng lực chuyên môn, quản lý điều hành của tổ trưởng về hoạt động tổ chuyên môn; Các văn bản, kế hoạch về chỉ đạo hoạt động tổ chuyên môn (của Bộ GDĐT, Sở GDĐT)… Luận văn: Thực trạng quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý tổ chuyên môn trong trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537