Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về vị trí địa lý, dân cư, Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội của thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

2.1.1. Vị trí địa lý – dân cư, tình hình Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội

Đồng Xoài là một thành phố thuộc tỉnh Bình Phước, được thành lập ngày 01 tháng 12 năm 2018 trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Đồng Xoài, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 110 km, cách đường biên giới Campuchia 110 km. Đồng Xoài được xem là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh Bình Phước, có vị trí thuận lợi, nằm trên giao lộ giữa Quốc lộ 14 và Tỉnh lộ 741, nối liền với các tỉnh như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, … toàn thành phố có hơn 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Thành phố Đồng Xoài có 6 phường và 2 xã với tổng diện tích tự nhiên 167,32 km2 và dân số là 150.052 người. Đồng Xoài là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, địa danh Đồng Xoài đã đi vào lịch sử với mốc son chói lọi “Đồng Xoài rực lửa chiến công” (09/6/1965) – là biểu hiện tinh thần anh dũng, ý chí quyết thắng của nhân dân Đồng Xoài nói riêng và miền Đông Nam Bộ nói chung. Khi mới giải phóng (26/12/1974), dân số của Đồng Xoài mới chỉ có 4.370 người. Theo thời gian, dân cư từ các nơi đến lập nghiệp ở Đồng Xoài ngày càng trở nên đông đúc, trong số đó có cả người dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc đã làm cho số lượng các thành phần dân tộc ở Đồng Xoài tăng lên rõ rệt và tạo nên sự phong phú, đa dạng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ở Đồng Xoài. Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên và quá trình đô thị hóa nên Thành phố Đồng Xoài thu hút ngày càng có nhiều người dân tập trung về đây sinh sống. Kinh tế – Chính trị, Văn hóa – Xã hội có nhiều bước phát triển. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

2.1.2. Tình hình giáo dục địa phương

Hiện trên địa bàn thành phố, ở bậc học phổ thông có 14 trường tiểu học; 08 trường THCS; 06 trường thuộc cấp Trung học phổ thông, trong đó có 01 trường Trung học phổ thông Chuyên. Trường Trung học phổ thông chuyên Quang Trung được thành lập và khai giảng khóa đầu tiên vào năm học 2003-2004, trường thật sự xứng đáng là nơi đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, luôn nằm trong nhóm đầu về chất lượng điểm thi đại học, trong đó có 1 lần đứng hạng nhất, 1 lần hạng nhì toàn quốc, có nhiều giải học sinh giỏi cấp quốc gia và có học sinh tham gia thi chọn đội tuyển học sinh giỏi quốc tế; 01 trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú Tỉnh. Trường nằm trong hệ thống các trường phổ thông công lập của Nhà nước, có trách nhiệm tạo mũi nhọn trong sự nghiệp giáo dục cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số, các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ người dân tộc trên địa bàn tỉnh. Trường có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số; 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên Tỉnh. Nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm Giáo dục thường xuyên Tỉnh là đáp ứng tối đa nhu cầu học tập thường xuyên và đa dạng của mọi người trong cộng đồng nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội ở địa phương; 01 trường Trung học phổ thông chất lượng cao và 02 trường Trung học phổ thông đáp ứng đủ nhu cầu học tập của nhân dân trên địa bàn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông

2.2.1. Mục đích khảo sát

Tổ chức khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài nhằm thu thập số liệu xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật.

2.2.2. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Khảo sát thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài:

  • Nhận thức về tầm quan trọng của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông;
  • Mức độ thực hiện và kết quả đạt được các mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông;
  • Những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài:

  • Nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho HS ở các trường Trung học phổ thông;
  • Lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh;
  • Tổ chức thực hiện tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường Trung học phổ thông;
  • Chỉ đạo, phối kết hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục; Kiểm tra, đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông:

Các yếu tố khách quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh;

Các yếu tố chủ quan và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Những kết quả đạt được, cũng như tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế khi thực hiện quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông. Đề xuất biện pháp quản lý nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu thực trạng

Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính, các phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động và phỏng vấn là các phương pháp bổ trợ.

2.2.3.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

  • Thiết kế 02 mẫu phiếu khảo sát:

Mẫu 1 dành cho  CÁN BỘ QUẢN LÝ và giáo viên gồm hai nhóm câu hỏi cho hai nội dung chính để điều tra thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh và thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông. Nhóm 1 với 09 câu hỏi dành khảo sát về thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Nhóm 2 với 12 câu hỏi dành khảo sát về thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. (Phụ lục 1)

Mẫu 2 dành cho học sinh gồm 12 câu hỏi để điều tra thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông. (Phụ lục 2)

  • Thời gian phát và thu phiếu: 10/9/2019 đến 10/10/2019.
  • Tiến hành khảo sát tại 04 trường Trung học phổ thông; chính xác hóa phiếu điều tra trên các đối tượng khảo sát CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh ở các trường Trung học phổ thông.
  • Thu phiếu về xử lý kết quả và định lượng lập các bảng số, số liệu nghiên cứu. Xử lý bằng cách tính tần số, tần suất, tính điểm trung bình và độ lệch chuẩn. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

2.2.3.2. Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn  CÁN BỘ QUẢN LÝ và một số Giáo viên ở 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn về sự cần thiết, mức độ thực hiện và kết quả đạt được hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu khảo sát và thu thập thêm thông tin thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu mà chưa được trả lời rõ trong phiếu khảo sát. Tìm hiểu sâu hơn về đối tượng nghiên cứu qua một số khách thể điển hình. (Phụ lục 3)

2.2.3.3. Phương pháp nghiên cứu dữ liệu

Sử dụng phần mềm SPSS, các công thức toán thống kê để lập bảng định lượng kết quả nghiên cứu, tổng kết số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu, xác định được kết quả một cách khách quan. Từ đó, rút ra kết luận về các vấn đề nghiên cứu. (Phụ lục 5)

2.2.4. Mẫu khảo sát

2.2.4.1. Cỡ mẫu

Căn cứ vào phần mềm xác định cỡ mẫu trực tuyến.

  • Tổng số thống kê: CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là 274; học sinh là 4056
  • Độ tin cậy: chọn mức 95%
  • Biên độ sai số: chọn mức 5%
  • Cỡ mẫu khảo sát: CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là 160 và học sinh là 351

2.2.4.2. Phương pháp chọn mẫu

Trên địa bàn thành phố Đồng Xoài có 06 trường Trung học phổ thông. Trong đó, có 01 Trung tâm giáo dục thường xuyên của Tỉnh, học sinh rất ít, nhà trường thực hiện công tác phổ cập là chủ yếu và phần lớn các lớp học đặt tại các thôn ấp nên không chọn khảo sát; Có 02 trường Trung học phổ thông có đặc điểm giống nhau nên chọn ngẫu nhiên 01 trường (Trường Trung học phổ thông Nguyễn Du); 01 trường Trung học phổ thông chất lượng cao (trường Trung học phổ thông Hùng Vương); 01 trường Trung học phổ thông chuyên (trường Trung học phổ thông chuyên Quang Trung); 01 trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú (trường Trung học phổ thông DTNT Tỉnh Bình Phước). Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Đối với  CÁN BỘ QUẢN LÝ: khảo sát toàn bộ 15  CÁN BỘ QUẢN LÝ của 04 trường.

Đối với giáo viên, chọn mẫu theo phương pháp lấy mẫu phân tầng:

Cỡ mẫu khảo sát đối với Giáo viên được xác định là 160 (bao gồm cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ, bằng 58,39% tổng số  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên). Để chọn ra đối tượng khảo sát từng tầng (theo trường) sẽ thực hiện theo nguyên tắc ngẫu nhiên đơn giản trên cơ sở danh sách CB, Giáo viên của các nhà trường.

Cỡ mẫu khảo sát đối với học sinh được xác định là 351 (bằng 8,65% tổng số học sinh). Để chọn đối tượng khảo sát cuối cùng sẽ thực hiện theo nguyên tắc phân tầng thấp hơn (theo khối lớp), sau đó thực hiện chọn ngẫu nhiên lớp tương ứng và cuối cùng là chọn ngẫu nhiên số học sinh tương ứng.

2.2.4.3. Đặc điểm tổng thể điều tra

Bảng 2.1.  Đặc điểm tổng thể điều tra nhóm đối tượng là  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên

Qua khảo sát 160  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tiến hành xử lý kết quả phiếu khảo sát đảm bảo yêu cầu, mẫu điều tra có những đặc điểm:

  • Về giới tính: Số lượng CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên tham gia khảo sát có sự chênh lệch giữa nam và nữ. Có 65 nam, chiếm tỷ lệ 40.6%; trong khi đó số lượng nữ là 95, chiếm tỷ lệ 59,4%. Điều này cũng phù hợp với tỷ lệ nam và nữ trong các trường Trung học phổ thông, nữ thường chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam.
  • Về độ tuổi: Đa số CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên ở độ tuổi từ 30 đến dưới 50: Độ tuổi từ 30 đến dưới 40 có tới 96 CB, Giáo viên, chiếm 60% và Độ tuổi từ 40 đến dưới 50 có 54  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên, chiếm 33,8%; Ngược lại, số  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên trẻ, dưới 30 tuổi chỉ có 6, chiếm 3,8% và ít nhất là số CB, Giáo viên có tuổi từ 50 trở lên chỉ có 4, chiếm 2,5%.
  • Về chức vụ: Số lượng giáo viên chiếm đa số: 102, chiếm tỷ lệ 63,8%; giáo viên quản lý tổ: 35, chiếm 21,9%; giáo viên làm công tác đoàn: 8, chiếm 5%;  CÁN BỘ QUẢN LÝ nhà trường: 15, chiếm 9,4%.
  • Về đơn vị công tác: Trường Trung học phổ thông Nguyễn Du là 47, chiếm 29,4%; trường Trung học phổ thông Hùng Vương là 50, chiếm 31,3%; trường Trung học phổ thông chuyên Quang Trung là 40, chiếm 25,0%; trường Trung học phổ thông DTNT Tỉnh là 23, chiếm 14,4%. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
  • Về thâm niên công tác: Đa số CB, Giáo viên có thời gian công tác từ 10 năm đến dưới 20 năm: 104, chiếm 65%; Tiếp theo là CB, Giáo viên có thời gian công tác từ 5 năm đến dưới 10 năm: 25, chiếm 15,6%; Tiếp theo là CB, Giáo viên có thời gian công tác hơn 20 năm: 21, chiếm 13,1%; Ít nhất là giáo viên trẻ có thời gian công tác dưới 5 năm: 10, chiếm 6,3%.
  • Về thâm niên quản lý: Có 15 CÁN BỘ QUẢN LÝ được khảo sát, chiếm 9,4% tổng số CB, Giáo viên được khảo sát, trong đó, thâm niên quản lý 01 nhiệm kỳ có 02, chiếm 13,3% số  CÁN BỘ QUẢN LÝ và chiếm 1,2% tổng số CB, Giáo viên được khảo sát; Thâm niên quản lý 02 nhiệm kỳ có 07, chiếm 46,7% số  CÁN BỘ QUẢN LÝvà chiếm 4,4% tổng số CB, Giáo viên được khảo sát; Thâm niên quản lý hơn 02 nhiệm kỳ có 06, chiếm 40% số  CÁN BỘ QUẢN LÝ và chiếm 3,8% tổng số CB, Giáo viên được khảo sát.
  • Về trình độ chuyên môn: Toàn bộ CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đều có trình độ đại học trở lên, trong đó cử nhân có 132, chiếm 82,5% và thạc sỹ là 28, chiếm 17,5%.
  • Về bồi dưỡng kiến thức về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh: Có 43 CB QL và Giáo viên được tập huấn về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, chiếm 26,9%; và có 117 CB QL và Giáo viên chưa được tập huấn về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, chiếm 73,1%.

Bảng 2.2. Đặc điểm tổng thể điều tra nhóm đối tượng là học sinh

Qua cuộc khảo sát 351 học sinh tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tiến hành xử lý kết quả phiếu khảo sát đảm bảo yêu cầu, mẫu điều tra có những đặc điểm:

  • Về giới tính: Có sự chênh lệch giữa nam và nữ tham gia khảo sát. Có 150 nam, chiếm tỷ lệ 42,7%; trong khi đó, số lượng nữ là 201, chiếm tỷ lệ 57,3%.
  • Về trường học: trường Trung học phổ thông Nguyễn Du là 114, mỗi khối 38 học sinh, trường Trung học phổ thông Hùng Vương là 132, mỗi khối 44 học sinh, trường Trung học phổ thông chuyên Quang Trung là 72, mỗi khối 24 học sinh, trường Trung học phổ thông DTNT Tỉnh là 33 mỗi khối 11 học sinh.

2.2.5. Cách quy ước, điểm số Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

2.2.5.1. Tiêu chí đánh giá

  • Đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông được đánh giá theo 05 mức độ: không quan trọng, ít quan trọng, bình thường, quan trọng,rất quan trọng.
  • Đánh giá mức độ biểu hiện các hành vi vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật của học sinh trường Trung học phổ thông theo mức biểu hiện với 03 mức độ: biểu hiện ít, biểu hiện rõbiểu hiện rất rõ.
  • Đánh giá mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia tham gia học tập các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật theo 5 mức độ: không hứng thú, ít hứng thú, bình thường, hứng thúrất hứng thú.
  • Đánh giá mức độ thực hiện của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông theo tiêu chí thực hiện với 05 mức độ: không thực hiện, hiếm khi thực hiện, thỉnh thoảng thực hiện, thường xuyên thực hiệnluôn luôn thực hiện; Theo tiêu chí kết quả đạt được cũng với 05 mức độ: kém, yếu, trung bình, khátốt.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh truờng Trung học phổ thông được đánh giá theo tiêu chí ảnh hưởng với 05 mức độ: không ảnh hưởng, ít ảnh hưởng, bình thường, ảnh hưởng rất ảnh hưởng.

2.2.5.2. Thang đánh giá

  • Thang đánh giá theo điểm:

Không quan trọng. ít biểu hiện, không hứng thú, không thực hiện, thực hiện kém, không ảnh hưởng: 1 điểm Ít quan trọng, biểu hiện rõ, ít hứng thú, hiếm khi thực hiện, thực hiện yếu, ít ảnh hưởng: 2 điểm Bình thường, biểu hiện rất rõ, thỉnh thoảng thực hiện, trung bình: 3 điểm Quan trọng, hứng thú, thường xuyên, thực hiện khá, ảnh hưởng: 4 điểm Rất quan trọng, rất hứng thú, luôn luôn thực hiện, thực hiện tốt, rất ảnh hưởng: 5 điểm

Quy ước điểm trung bình (theo thang đo Likert):

  • Đối với 3 mức: Mức 1:   < 1,68; Mức 2: 1,68 ≤    < 2,34; Mức 3: 2,34 ≤   ≤ 3
  • Đối với 5 mức: Mức 1: < 1,81; Mức 2: 1,81 ≤ < 2,61; Mức 3: 2,61 ≤ < 3,41;
  • Mức 4: 3,41 ≤     < 4,21; Mức 5: 4,21 ≤   ≤ 5

2.3. Thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông

Bảng 2.3. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Ý thức về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được CB, Giáo viên đánh giá ở mức“bình thường” với điểm trung bình = 3,29. Nhiều  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên chưa đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Có 20  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá mức “quan trọng” và 44  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá mức “rất quan trọng”. Trong khi đó, Có 96  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên còn xem nhẹ vai trò của hoạt tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh: đánh giá mức “không quan trọng” là 29, chiếm 18,1% và đánh giá mức “ít quan trọng” là 4, chiếm 2,5%. Với độ lệch chuẩn 1,38, thể hiện độ phân tán cao, có sự đánh giá không giống nhau giữa các mức độ của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên. Có sự chênh lệch trong nhận thức đối với đối tượng điều tra của các trường về “Tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông”. Trường Trung học phổ thông Hùng Vương còn đến 10,6% ý kiến cho rằng vấn đề này là “không quan trọng”.

Bảng 2.4. Ý kiến đánh giá của học sinh về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Ý thức về tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được chính học sinh đánh giá có điểm trung bình = 3,15, mức “bình thường”. học sinh có đánh giá đa dạng ở các mức độ với một tỷ lệ tương đối đều với độ lệch chuẩn là 1,36: mức “không quan trọng” có 54, chiếm 15,4%; mức “ít quan trọng” có 67, chiếm 19,1%; mức “bình thường” có 72, chiếm 20,5%; mức “quan trọng” có 87, chiếm 24,8%; mức “rất quan trọng” có 71, chiếm 20,2%. Tuy nhiên, có sự khác nhau giữa các đơn vị trong đánh giá. học sinh trường Trung học phổ thông chuyên Quang Trung đều đánh giá cao tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Trong khi đó, 3 trường còn lại vẫn còn một số học sinh cho rằng vấn đề này là “không quan trọng” với tỷ lệ từ 1,7% đến 7,4%.

Bảng 2.5. Ý kiến của học sinh về hứng thú của bản thân khi tham gia học tập các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

HS thể hiện sự hứng thú của bản thân khi tham gia học tập các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường được ghi nhận có điểm trung bình = 2,78, mức “bình thường”. học sinh có đánh giá đa dạng ở các mức độ với một tỷ lệ tương đối đều ở 4 mức độ đầu. Tuy nhiên mức độ cao “rất hứng thú” chiếm tỷ lệ ít nhất, điều này thể hiện ở độ lệch chuẩn lên đến 1,25; mức “không hứng thú” có 70, chiếm 19,9%; mức “ít hứng thú” có 79, chiếm 22,5%; mức “bình thường” có 91, chiếm 25,9%; mức “hứng thú” có 81, chiếm 23,1%; mức “rất hứng thú” có 30, chiếm 8,5%. Sự hứng thú của học sinh khi tham gia học tập các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật tại từng trường cũng có sự khác nhau. Như vậy, vẫn còn 240 học sinh, chiếm 68,3% cho rằng chưa “hứng thú khi tham gia học tập các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường”.

Bảng 2.6. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và của học sinh về biểu hiện các hành vi vi phạm pháp luật của học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, vi phạm pháp luật của học sinh Trung học phổ thông với điểm trung bình = 1,63. Trong đó, có 5 hành “biểu hiện rõ” và 3 hành vi “biểu hiện ít”. Các hành vi vi phạm nội quy, pháp luật của học sinh Trung học phổ thông rất đa dạng. Những biểu hiện hành vi vi phạm của học sinh Trung học phổ thông trong nhà trường biểu hiện rõ:“Hút thuốc trong trường” được đánh giá biểu hiện rõ nhất với = 1,87; Tiếp theo là lỗi “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông” với = 1,82. Đây là hai lỗi vi phạm pháp luật nhưng lại được ghi nhận ở mức đầu. “Vi phạm về giữ gìn vệ sinh chung”“vi phạm về chuyên cần như nghỉ học không phép; bỏ giờ học; đi học trễ…” cũng được đánh giá “biểu hiện rõ” với = 1,76 và 1,75. Bốn lỗi vi phạm này đều có độ lệch chuẩn cao từ 0,78 đến 0,91, thể hiện có sự phân tán cao trong đánh giá của cán bộ, giáo viên đối với các mức độ các hành vi này. Hành vi vi phạm tiếp theo là “Vi phạm về ý thức học tập như không chú ý; không học bài và làm bài; gian lận trong kiểm tra và thi cử…” với = 1,68 và độ lệch chuẩn là 0,78 cũng được xếp vào mức “biểu hiện rõ”. Hai hành vi tiếp theo có mức đánh giá gần giống nhau là “Vi phạm về giữ gìn và bảo quản tài sản công”“Vi phạm về bạo lực học đường như có lời nói hoặc thái độ vô lễ đối với thầy cô giáo; gây gổ, đánh nhau…” với = 1,58 và 1,53 và độ lệch chuẩn là 0,68 và 0,61 được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá “biểu hiện ít”. Cuối cùng là hành vi “Sử dụng rượu bia và các chất gây kích thích bị cấm” được cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá rất giống nhau ở mức “biểu hiện ít” với = 1,08 và độ lệch chuẩn là 0,29. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Từ góc nhìn của mình, học sinh đánh giá về các biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, pháp luật của chính học sinh tuy đánh giá có phần khác nhau về thứ bậc nhưng cũng ở mức độ như đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên, với điểm trung bình = 1,62. Với 8 biểu hiện hành vi vi phạm nội quy, pháp luật nhưng học sinh đánh giá hành vi vi phạm biểu hiện rõ nhất là “Vi phạm về ý thức học tập” với = 1,82, tiếp theo là “vi phạm về chuyên cần” với = 1,78. Đây là các lỗi thường ngày, liên quan trực tiếp đến hoạt động học của học sinh. Tiếp theo là “Vi phạm các quy định về an toàn giao thông”, “Vi phạm về bạo lực học đường”“Hút thuốc trong trường” với = 1,74, 1,69 và 1,68. “Vi phạm về giữ gìn vệ sinh chung”“Vi phạm về giữ gìn và bảo quản tài sản công” được học sinh đánh giá ở mức “biểu hiện ít”,với = 1,58 và 1,44. Độ lệch chuẩn của hai hành vi này từ 0,69 đến 0,83 thể hiện có sự đánh giá có phần tập trung ở hai mức đầu. Cũng như cán bộ quản lý và giáo viên, học sinh cũng cho rằng “Sử dụng rượu bia và các chất gây kích thích bị cấm” biểu hiện ít với = 1,26 nhưng độ lệch chuẩn là 0,56 thể hiện có sự phân tán hơn trong đánh giá so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

Qua phỏng vấn một giáo viên chủ nhiệm, công tác tại trường Trung học phổ thông Nguyễn Du, cô có nhận định rằng: “Mặt dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác giáo dục đạo đức, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong nhà trường, tuy nhiên, vẫn còn học sinh vi phạm nề nếp, nội quy của nhà trường, đặc biệt là các lỗi thuộc về vi phạm pháp luật như hút thuốc, vi phạm luật giao thông, sử dụng pháo nổ . . . Tôi cho rằng trước hết là do đặc điểm tâm sinh lý của độ tuổi này, nhưng một phần cũng có thể là do công tác tuyên tuyền phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chưa thật hiệu quả, chưa có sự phối hợp tốt giữa các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường . . .”

2.3.1. Thực trạng mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh THPT Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Bảng 2.7. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về thực trạng mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Nhận thức về mức độ đạt được các mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá đạt được ở mức độ “khá”. Các hoạt động giáo dục cho học sinh đã đạt được mục tiêu xác định, thể hiện điểm trung bình = 4,09 và 4,03. Mục tiêu của tích hợp Giáo dục pháp luật bao gồm nhiều mục tiêu và các mục tiêu được nhận thức ở mức độ khá đồng đều nhau. Cụ thể thứ bậc đạt được của các mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá giống nhau: Mục tiêu “Nâng cao kiến thức pháp luật. Nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui định pháp luật phù hợp với học sinh” được đánh giá đạt được cao nhất với = 4,17 và 4,05; Mục tiêu “Hình thành và nâng cao thái độ, tình cảm, tôn trọng pháp luật và niềm tin vào pháp luật của học sinh” ở mức độ thứ hai với = 4,09 và 4,03; và cuối cùng là mục tiêu “Xây dựng cho học sinh thói quen, xử sự và thực hiện các hành vi đúng pháp luật, theo pháp luật.” với = 4,02 và 4,01. Độ lệch chuẩn giao động từ mức 0,72 đến 1,08 thể hiện có sự phân tán trong đánh giá các mức độ từng mục tiêu, cũng như phân tán trong đánh giá các mục tiêu. Nhìn chung, giáo viên đánh giá mức độ đạt được về các mục tiêu có cao hơn một ít so với học sinh đánh giá, tuy nhiên về thứ bậc là như nhau.

2.3.2. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các yêu cầu của tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.8. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về thực trạng mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá về mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp Giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá ở mức “thường xuyên”, với điểm trung bình = 3,52 và 3,45. Yêu cầu của tích hợp Giáo dục pháp luật đưa ra ba nội dung và mức độ thực hiện các yêu cầu được đánh giá ở mức độ tương đối đồng đều nhau. Yêu cầu về “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật” được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức cao nhất với = 3,62. Tiếp theo là yêu cầu “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với = 3,56. Ngược lại, đối với học sinh thì vị trí thứ nhất thuộc yêu cầu “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với = 3,69 và xếp thứ hai là yêu cầu “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật”. Yêu cầu “thời lượng giành cho tích hợp Giáo dục pháp luật” được cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá mức độ thực hiện thấp nhất với = 3,38 và 3,08. Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,85 đến 1,03. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các yêu cầu tích hợp Giáo dục pháp luật, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Bảng 2.9. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về thực trạng kết quả đạt được các yêu cầu tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá về kết quả đạt được các yêu cầu tích hợp Giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá đạt được ở mức độ “khá”, với điểm trung bình = 3,81 và 3,91. Yêu cầu của tích hợp Giáo dục pháp luật đưa ra ba nội dung và kết quả đạt được các yêu cầu được đánh giá mức độ tương đối đồng đều nhau và đánh giá thứ bậc cũng giống nhau. Kết quả đạt được đồng thứ bậc cao nhất là hai yêu cầu về “trang bị kiến thức, hiểu biết về pháp luật” và yêu cầu về “sự phối kết hợp giữa các lực lượng xã hội hóa giáo dục: nhà trường – gia đình – xã hội” với = 3,84 và 4,02. Và cuối cùng là yêu cầu về “thời lượng giành cho tích hợp Giáo dục pháp luật” được cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá kết quả đạt được thấp nhất với = 3,74 và 3,70.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,8 đến 0,99. Điều này thể hiện sự phân tán khá cao trong đánh giá các kết quả đạt được các yêu cầu, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn ở các mức độ so với cán bộ quản lý, giáo viên.

2.3.3. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.10. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về thực trạng mức độ thực hiện các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông rất đa dạng và mức độ thực hiện các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật nhìn tổng thể được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” và tương đối ngang nhau giữa hai nhóm đối tượng khảo sát với điểm trung bình = 3,61 và 3,57. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Mức độ thực hiện các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên tham gia khảo sát đánh giá không đồng đều nhau. Nội dung “Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn” được đánh giá thực hiện thường xuyên nhất với = 3,76, xếp bậc 1/5. Tiếp theo là nội dung “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông” được đánh giá thực hiện thường xuyên thứ hai với = 3,72. Ngược lại, đối với học sinh thì vị trí thứ nhất thuộc nội dung “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông” với = 3,89 và xếp thứ hai là nội dung“Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn” với = 3,72. Ba nội dung tiếp theo tuy điểm đánh giá có phần lệch nhau nhưng cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên lẫn học sinh đều đánh giá thứ bậc như nhau: nội dung Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” xếp thứ ba với = 3,68 và 3,70; xếp thứ tư là nội dung “Giáo dục về những hiểu biết ban đầu về chính trị thường gặp” với = 3,53 và 3,38; cuối cùng là nội dung “Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông về một số những hiểu biết ban đầu về kinh doanh thường gặp” được đánh giá “thỉnh thoảng thực hiện” với = 3,38 và 3,17.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là từ 0,87 đến 0,96; nhóm học sinh là từ 0,97 đến 1,24. Điều này thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các nội dung, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

Bảng 2.11. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về kết quả đạt được các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá kết quả đạt được các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh ghi nhận ở mức “khá” và gần như ngang nhau với điểm trung bình = 3,94 và 3,97.

Kết quả đạt được các nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được hai nhóm đối tượng khảo sát đánh giá không đồng đều nhau. Kết quả các nội dung “Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn”, “Giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông”Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” được cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên lẫn học sinh đánh giá cao và được xếp ba thứ bậc đầu dù trật tự thứ bậc có khác nhau. Kết quả đạt được thấp hơn, xếp thứ tư là “Giáo dục về những hiểu biết ban đầu về chính trị thường gặp” với = 3,89 và 3,72; cuối cùng là nội dung“Giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông về một số những hiểu biết ban đầu về kinh doanh thường gặp” với   = 3,79 và 3,69.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là từ 0,80 đến 0,89; nhóm học sinh là từ 0,97 đến 1,16. Điều này thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các kết quả đạt được các nội dung, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

2.3.4. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.12. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về mức độ thực hiện các hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được diễn ra theo hai hình thức: thông qua dạy học trên lớp – tích hợp thông qua dạy học các môn học; Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, trải nghiệm sáng tạo cho học sinh. Nhìn một cách khái quát, các hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với = 3,72 và 3,65. Tuy điểm trung bình đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh có khác nhau nhưng trật tự thứ bậc các hình thức thực hiện thì được đánh giá như nhau.

Hình thức “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh” được cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên lẫn học sinh ghi nhận ở thứ bậc cao nhất, điểm trung bình = 3,95 và 3,90, không ghi ghi nhận trường hợp nào là “không thực hiện”. Hình thức tiếp theo là “Tích hợp Giáo dục pháp luật các hoạt động ngoại khóa” với = 3,65 và = 3,62. Thứ ba là hình thức “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua tích hợp qua các môn học” với = 3,64 và = 3,55. Xếp thứ bậc thấp nhất là hình thức “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội” với = 3,63 và = 3,54.

Phỏng vấn một Hiệu trưởng về hình thức Giáo dục pháp luật được ưu tiên lựa chọn tại nhà trường: “Nhìn chung, đối với hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua dạy học trên lớp thì dạy học tích hợp thông qua môn học Giáo dục công dân được đánh giá cao hơn so với tích hợp thông qua dạy học các môn học khác. Đối với hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua tổ chức hoạt động thì tích hợp thông qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa của nhà trường được đánh giá cao hơn các hoạt động trải nghiệm phối hợp với các lực lượng khác.”

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là từ 0,89 đến 1,01; đối với nhóm học sinh là từ 0,96 đến 1,15, thể hiện sự phân tán rất cao trong đánh giá các mức độ thực hiện của hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh, trong đó đánh giá của học sinh có phần cao hơn một ít so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Bảng 2.13. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về kết quả đạt được các hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá kết quả đạt được các hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau nhất định với điểm trung bình = 3,96 và 4,10. Tuy nhiên, thứ bậc đánh giá của hai nhóm lại tương đồng nhau. Xếp thứ nhất “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh” được cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên lẫn học sinh đánh giá với điểm trung bình = 4,10 và 4,35. Tiếp theo là kết quả đạt được của hình thức “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua tích hợp qua các môn học”“Tích hợp Giáo dục pháp luật các hoạt động ngoại khóa” được xếp ngang nhau cùng điểm trung bình = 3,93 và 4,05. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của hình thức “Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội” với điểm trung bình = 3,86 và 3,97.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là từ 0,79 đến 0,89; nhóm học sinh là từ 0,86 đến 1,05. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được các hình thức của tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn nhiều ở các mức độ so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

2.3.5. Thực trạng mức độ thực hiện và kết quả đạt được các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.14. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về mức độ đạt được các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Đánh giá về mức độ thực hiện các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá đạt được ở mức độ “thường xuyên”, với điểm trung bình = 3,66 và 3,59. Có ba phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật được đưa ra lấy ý kiến, mức độ thực hiện các phương pháp được đánh giá khác nhau.“Phương pháp kích thích hành vi (thi đua, khen thưởng, trách phạt…)” được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá ở mức cao nhất với = 3,76 và 3,95. Tuy nhiên, đối với thứ bậc thứ hai và thứ ba thì có sự khác nhau trong đánh giá giữa hai nhóm đối tượng: Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá “Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)” ở thứ bậc số hai, với = 3,66 và cuối cùng là “Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)”, với = 3,57. Ngược lại, đối với học sinh thì vị trí thứ hai thuộc“Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)”, với = 3,48. Xếp cuối lại là “Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)”, với = 3,36.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao, từ 0,88 đến 1,11. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các mức độ thực hiện các phương pháp, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn ở các mức độ thực hiện so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

Bảng 2.15. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh về kết quả đạt được các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá kết quả đạt được các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình = 3,94 và 4,0. Đồng thời, cả  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh cũng có đánh giá thứ bậc tương đồng nhau. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của “Phương pháp kích thích hành vi (thi đua, khen thưởng, trách phạt…)” với = 4,01 và 4,23. Tiếp theo là kết quả đạt được của“Phương pháp thuyết phục (đàm thoại, tranh luận, nêu gương…)” được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá ngang nhau với = 3,9. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của “Phương pháp tổ chức hoạt động (giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục…)” cũng được  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đánh giá ngang nhau với = 3,89.

Độ lệch chuẩn của hai nhóm đối tượng đều cao. Nhóm  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên là từ 0,79 đến 0,85; nhóm học sinh là từ 1,05 đến 1,1, thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh, trong đó đánh giá của học sinh có phần đa dạng hơn ở các mức độ so với đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên.

2.3.6. Thuận lợi và khó khăn trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Qua khảo sát và phỏng vấn thêm một số cán bộ quản lý và giáo viên tại các trường: Có nhiều ý kiến nhận định thuận lợi của các nhà trường trong thực hiện công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông. Trong đó, các nội dung được nhiều  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh nêu ra như: 40/40  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và 9/72 học sinh trường chuyên Quang Trung được khảo sát cho rằng học sinh trường chuyên ngoan, lễ phép hiểu pháp luật; 124/160  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên được khảo sát cho rằng có sự chỉ đạo của cấp trên và sự phối hợp các lực lượng giáo dục; 63/160  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và 68/351 học sinh được khảo sát cho rằng thuận lợi là học sinh ở tập trung ký túc xá; 76/160  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên cho rằng: học sinh giỏi, đạo đức tốt, lãnh đạo nhà trường quan tâm; 172/511  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh cho rằng: học sinh tích cực hoạt động, hợp tác tốt; 183/511  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và HS ý kiến cho rằng: có sự phối hợp với công an…

Bên cạnh các thuận lợi được đề cập thì  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh cũng đã nêu ra không ít khó khăn trong thực hiện công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông, trong đó, các nội dung được đề cập nhiều như: thiếu tài liệu thiết thực: 214 ý kiến; thời gian dành cho tích hợp Giáo dục pháp luật các môn học còn ít: 197 ý kiến; Giáo viên chưa được tập huấn: 117 ý kiến; chưa có cơ chế khuyến khích, động viên: 47 ý kiến; hình thức chưa đa dạng, thu hút: 269 ý kiến; học sinh chưa thật hứng thú: 65 ý kiến; kiến thức bộ môn nhiều, không đủ thời lượng để tích hợp Giáo dục pháp luật: 42 ý kiến . . .

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông

2.4.1. Thực trạng nhận thức về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho HS ở các trường Trung học phổ thông

Bảng 2.16. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức “bình thường” với điểm trung bình = 3,3. Phần nhiều  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên chưa đánh giá cao tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Chỉ có 53  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá từ mức “quan trọng” đến“rất quan trọng”, chiếm 33,2%. Cụ thể, có 26  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức “quan trọng”, chiếm 16,3%; 27  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức “rất quan trọng”, chiếm 16,9%. Độ lệch chuẩn trong đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông là 1,04, thể hiện có sự phân tán cao trong đánh giá các mức, cho thấy ý thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên còn khác nhau.

2.4.2. Lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.17. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về mức độ thực hiện việc lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Công tác lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, thể hiện điểm trung bình chung = 3,4 và điểm trung bình của các biện pháp lập kế hoạch thực hiện dao động: 3,32 ≤ 3,46. Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã thực hiện các biện pháp lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật, mức độ thực hiện các biện pháp được đánh giá không đồng đều nhau. Thực hiện thường xuyên, tốt nhất là các biện pháp“Xác định mục tiêu hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh”, xếp bậc 1/7, với = 3,46 ; biện pháp “Xây dựng các nội dung hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” xếp hạng 2/7, với = 3,45. Đồng xếp hạng thứ ba là các biện pháp “Nghiên cứu các văn bản nghị quyết về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” và “Lập kế hoạch thực hiện các nội dung hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, với = 3,41. Các biện pháp lập kế hoạch được đánh giá thực hiện thấp hơn, chỉ được đánh giá “thỉnh thoảng thực hiện” lần lượt là biện pháp “Xác định các biện pháp để thực hiện kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, xếp thứ 5/7 với = 3,39; biện pháp “Đánh giá thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật hiện nay (những mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ và thách thức…)”, xếp hạng 6/7 với = 3,37 và biện pháp “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật.” xếp hạng 7/7, với = 3,32.

Bảng 2.18. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về kết quả đạt được việc lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Đánh giá kết quả đạt được về lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình = 3,82. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung lập kế hoạch là “Xác định mục tiêu hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” với = 3,87. Tiếp theo lần lượt là kết quả đạt được của các nội dung “Xây dựng các nội dung hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”“Nghiên cứu các văn bản nghị quyết về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá gần ngang nhau, với = 3,86 và 3,85. Nhóm các nội dung “Đánh giá thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật hiện nay (những mặt mạnh, mặt yếu, thời cơ và thách thức…)”, “Lập kế hoạch thực hiện các nội dung hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” “Xác định các biện pháp để thực hiện kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” cũng được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá gần ngang nhau, với = 3,81 và 3,79. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của nội dung “Lập kế hoạch về thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật.”, với = 3,74. Với 7 nội dung về “Đánh giá kết quả đạt được việc lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” chưa có nội dung nào được xếp mức “tốt”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,88 đến 0,97. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung của lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh nhưng lại giống nhau trong cách đánh giá kết quả đạt được của các nội dung.

Qua quan sát và phỏng vấn  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật cho HS Trung học phổ thông có thể giải thích:

Xác định mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật được đánh giá thực hiện tốt nhất vì đây là khâu đầu tiên của lập kế hoạch. Xác định mục tiêu rõ ràng thì mới lập được kế hoạch chính xác và bản thân mục tiêu cũng được quán triệt rõ ràng trong các tài liệu, văn bản chỉ thị về tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

Lập kế hoạch tài chính cơ sở vật chất được đánh giá thấp hơn là vì trong nhà trường Trung học phổ thông hoạt động chuyên môn là hoạt động chính chiếm nhiều thời gian được chú ý nhiều hơn, còn hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật thường được xem là hoạt động giáo dục lồng ghép. Vì vậy, thời gian, tài chính dành cho hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật không được rõ ràng bằng hoạt động chuyên môn.

2.4.3. Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Bảng 2.19. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về mức độ thực hiện việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường thuộc về cơ cấu tổ chức với nội dung cơ bản là xác định các bộ phận tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường. Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên”, thể hiện điểm trung bình chung =3,45 và điểm trung bình của các nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường dao động: 3,37 ≤ ≤ 3,52.

Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã thực hiện nhiều nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, mức độ thực hiện các nội dung được đánh giá không đều nhau. Thực hiện tốt nhất là các biện pháp “Xây dựng cơ cấu tổ chức cho hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường” xếp bậc 1/4 với = 3,52; biện pháp “Xác định nhiệm vụ của từng lực lượng trong nhà trường tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” xếp hạng 2/4 với = 3,51. Các biện pháp tổ chức được đánh giá thực hiện thấp hơn là “Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật giữa các lực lượng trong nhà trường” xếp hạng 3/4 với = 3,42 và “Tập huấn cho các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” xếp hạng 4/4 với = 3,37. Với 4 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” chưa có nội dung nào được xếp mức “rất thường xuyên”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,84 đến 0,98. Điều này thể hiện sự phân tán cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung trong tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường.

Bảng 2.20. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về kết quả đạt được việc tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Đánh giá kết quả đạt được về tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên ghi nhận ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau, điểm trung bình = 3,86. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung tổ chức triển khai là “Xây dựng cơ cấu tổ chức cho hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường” với = 3,9. Tiếp theo lần lượt là kết quả đạt được của các nội dung “Xác định nhiệm vụ của từng lực lượng trong nhà trường tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá với = 3,88. Thứ ba là nội dung “Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức điều hành hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật giữa các lực lượng trong nhà trường” với = 3,85. Xếp cuối cùng là kết quả đạt được của nội dung tổ chức triển khai là “Tập huấn cho các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” với = 3,8.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,82 đến 0,83. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao nhưng lại giống nhau trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

2.4.4. Chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.21. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về mức độ thực hiện việc chỉ đạo công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Công tác chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thường xuyên”, thể hiện điểm trung bình chung = 3,53 và điểm trung bình của các biện pháp chỉ đạo công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật dao động: 3,47 ≤ ≤ 3,6.

Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã thực hiện nhiều biện pháp chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông, mức độ thực hiện các nội dung chỉ đạo được đánh giá khác nhau. Thực hiện tốt nhất là nội dung“Chỉ đạo và điều hành các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân và các môn học khác”, xếp bậc 1/4 với = 3,6; Nội dung“Chỉ đạo thực hiện các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động trải nghiệm” xếp hạng 2/4 với = 3,57. Tiếp theo là nội dung“Chỉ đạo xây dựng và triển khai các chủ đề hoạt động tích hợp, liên môn gắn với tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh”, xếp hạng 3/4 với = 3,49; Nội dung đạt được xếp thấp nhất với = 3,47 là “Chỉ đạo tổ chức các cuộc thi: tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật thực tiễn xảy ra”. Với 4 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện việc chỉ đạo công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” chưa có nội dung nào được xếp mức“luôn luôn thực hiện”.

Bảng 2.22. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về kết quả đạt được việc chỉ đạo công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Đánh giá kết quả đạt được về chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau không đáng kể với điểm trung bình = 3,90 và dao động từ 3,89 ≤ ≤ 3,90 . Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật là “Chỉ đạo và điều hành các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh thông qua dạy học môn Giáo dục công dân và các môn học khác”, với = 3,92. Ba nội dung còn lại về chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá kết quả đạt được như nhau với = 3,89. Đó là “Chỉ đạo tổ chức các cuộc thi: tìm hiểu về pháp luật; vận dụng các kiến thức vào giải quyết các tình huống pháp luật thực tiễn xảy ra”, “Chỉ đạo thực hiện các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, qua các hoạt động trải nghiệm”“Chỉ đạo xây dựng và triển khai các chủ đề hoạt động tích hợp, liên môn gắn với tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,85 đến 0,9. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh nhưng lại có phần giống nhau trong cách đánh giá kết quả đạt được của các nội dung.

2.4.5. Kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.23. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về mức độ thực hiện của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Công tác kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được khách thể khảo sát đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, thể hiện điểm trung bình chung = 3,34 và điểm trung bình của các biện pháp kiểm tra đánh giá dao động: 3,31 ≤ ≤ 3,36. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã thực hiện nhiều biện pháp kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật, mức độ thực hiện các biện pháp được đánh giá có độ lệch nhau. Thực hiện tốt nhất là các biện pháp “Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, xếp bậc 1/6 với = 3,36; Biện pháp “Kiểm tra việc thực hiện hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật đã xác định” xếp bậc 2/6, với = 3,35. Tiếp theo là biện pháp “Đo đạc, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật theo kế hoạch”, xếp bậc 3/6 với = 3,34. Hai biện pháp “Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”“Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động tích hợp GDPL” có điểm số đánh giá trung bình ngang nhau, với = 3,33. Xếp thứ tự thấp nhất trong sáu bậc là biện pháp “Phát hiện điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, với = 3,31. Với 6 nội dung về “Đánh giá mức độ thực hiện của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” chưa có nội dung nào được xếp từ mức “thường xuyên” trở lên.

Bảng 2.24. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về kết quả đạt được của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Đánh giá kết quả đạt được về kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá ở mức độ “khá” và có độ lệch nhau tương đối, với điểm trung bình = 3,81. Xếp thứ nhất là kết quả đạt được của nội dung kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật là “Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, với = 3,84. Hai nội dung còn lại về kiểm tra đánh các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá kết quả đạt được như nhau với = 3,83, đó là “Kiểm tra việc thực hiện hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật đã xác định”“Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ các lực lượng tham gia hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”. Xếp bậc tiếp theo là “Đo đạc, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật theo kế hoạch”, với = 3,81. Đồng thứ bậc cuối là hai nội dung “Phát hiện điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”“Tổng kết rút kinh nghiệm hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”, với = 3,77. Tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm và điều chỉnh vẫn là khâu còn yếu, chưa được các nhà quản lý quan tâm đúng mức trong công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật. Với 6 nội dung về “Đánh giá kết quả đạt được của kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” chưa có nội dung nào được xếp mức “Tốt”.

Độ lệch chuẩn trong đánh giá cao, từ 0,82 đến 0,91. Điều này thể hiện sự phân tán tương đối cao trong đánh giá các kết quả đạt được từng nội dung kiểm tra đánh giá các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

Bảng 2.25. Tổng hợp ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về thực trạng các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Nhìn một cách khái quát các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên đánh giá kết quả đạt được ở mức độ “khá” với = 3,85.

Các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được đánh giá thực hiện không đồng đều nhau. Đầu tiên là biện pháp“Chỉ đạo các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông”, với = 3,9. Thứ hai là biện pháp“Tổ chức triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông”, với = 3,86. Thứ ba là biện pháp “Lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh”, với = 3,82. Cuối cùng là biện pháp “Kiểm tra và đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” với = 3,81. Như vậy, kết quả “Bảng tổng hợp thực trạng các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông” với 4 nội dung quản lý chưa có nội dung nào được đánh giá ở kết quả “Tốt”.

Thực trạng mức độ thực hiện các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật là cơ để đề xuất các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông có hiệu quả hơn.

2.5. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho học sinh Trung học phổ thông

2.5.1. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.26. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được khách thể khảo sát đánh giá mức độ “có ảnh hưởng”, thể hiện điểm trung bình chung = 3,48 và điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng dao động: 3,39 ≤ ≤ 3,6. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Các yếu tố khách quan ảnh hướng đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đánh giá không như nhau đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh: Những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Thái độ từ phía gia đình đối với việc tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh” với = 3,6 xếp hạng thứ nhất. Yếu tố “Sự phát triển của khoa học công nghệ và mạng xã hội”, với = 3,59 xếp hạng thứ hai. Xếp hạng thứ ba là yếu tố “Sự thống nhất chỉ đạo của các cơ quan đối với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh”. Tiếp theo, yếu tố “Tác động của tệ nạn xã hội”, “Môi trường kinh tế, văn hóa xã hội đối với tích hợp Giáo dục pháp luật”“Ảnh hưởng của các cơ quan chức năng có liên quan đến tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh (công an, tòa án…)” được đánh giá có ảnh hưởng gần như nhau đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh với = 3.41 và 3,42. Cuối cùng, có ảnh hưởng thấp nhất là yếu tố “Văn bản chỉ đạo từ cấp trên đối với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật” với = 3,39.

2.5.2. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp GDPL cho học sinh Trung học phổ thông

Bảng 2.27. Ý kiến đánh giá của  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được khách thể khảo sát đánh giá ở mức “có ảnh hưởng” thể hiện điểm trung bình chung = 3,7 và điểm trung bình của các yếu tố ảnh hưởng dao động: 3,47 ≤ ≤ 3,8.

Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm nhiều yếu tố, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đánh giá không đồng đều nhau: Những yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất là “Trình độ và năng lực quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của hiệu trưởng”, với = 3,8, xếp hạng 1/6. Yếu tố “Sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường đối với hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” với = 3,79, xếp hạng 2/7. Những yếu tố ảnh hưởng ít hơn lần lượt là “Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị trong nhà trường”, “Trình độ và nhận thức của giáo viên với việc thực hiện hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật”“nhận thức, ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông” với mức trung bình lần lượt = 3,76, 3,7 và 3,68. Cuối cùng là yếu tố “Cơ sở vật chất cho việc hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật” với = 3,47.

2.6. Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông

2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Thành phố Đồng Xoài là trung tâm hành chính của tỉnh, có nhiều thuận lợi hơn so với các địa phương khác về nhiều mặt. Công tác giáo dục nói chung và công tác tuyên truyền phổ biến, Giáo dục pháp luật nói riêng luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Bình Phước, của cấp uỷ, chính quyền địa phương.

Công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật ở trường Trung học phổ thông được các nhà trường quan tâm.  CÁN BỘ QUẢN LÝ và Giáo viên có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Đặc biệt là trong những năm gần đây khi mà môn Giáo dục công dân là một trong các môn thi Trung học phổ thông quốc gia, và là môn có cơ hội đạt điểm cao hơn các môn khác.

Việc phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường cũng đã được triển khai và bước đầu thu được những kết quả nhất định. Nhà trường cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp và biện pháp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đơn vị, các tổ chức chính trị xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm từng bước nâng cao chất lượng tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của học sinh góp phần ổn định xã hội và môi trường giáo dục.

HS nhận thức về tầm quan trọng của tích hợp Giáo dục pháp luật và cũng có hứng thú trong học tập và tìm hiểu về pháp luật.

2.6.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm, những mặt mạnh của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật trong các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố, qua kết quả thăm dò, khảo sát thực trạng về tích hợp Giáo dục pháp luật ở các nhà trường, công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của trường Trung học phổ thông còn những hạn chế, tồn tại nhất định:

Công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của nhà trường đã được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, công tác tổ chức chưa thật sự “bài bản”, dẫn đến thiếu trọng tâm, trọng điểm, chưa thường xuyên, còn mang tính hình thức, vụ việc. Sự phối hợp với các lực lượng ngoài nhà trường trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật chưa đi vào nề nếp, chưa thường xuyên; thiếu sự chỉ đạo thường xuyên, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống dưới.

  • Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận không nhỏ CB, Giáo viên, học sinh về tích hợp Giáo dục pháp luật còn hạn chế, chưa đúng mực. Việc đầu tư các nguồn lực và thời gian cho hoạt động này chưa thỏa đáng.
  • Nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật còn rập khuôn, nặng về phổ biến các quy định của pháp luật, chưa chú trọng đến việc hướng học sinh rèn luyện kỹ năng ứng xử, kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật để giải quyết các vấn đề của thực tiễn cuộc sống. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

2.6.3. Nguyên nhân của các hạn chế

  • Thể chế cho công tác phổ biến, tích hợp Giáo dục pháp luật chưa đủ mạnh; chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ, ràng buộc, hay chính sách xã hội cụ thể về việc phối hợp Giáo dục pháp luật. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa thật quan tâm, phối hợp với nhà trường trong xã hội hóa công tác tích hợp Giáo dục pháp luật.
  • Khả năng tập hợp và khai thác thế mạnh các lực lượng giáo dục của nhà trường có phần hạn chế, chưa thu hút nhiều sự quan tâm nhiệt tình của các lực lượng giáo dục bên ngoài nhà trường, nhất là các lực lượng xã hội.
  • Nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường còn có khoảng cách khá xa so với nhiệm vụ chuyên môn của ngành Giáo dục. Do áp lực thi cử còn nặng nên việc “dạy chữ” còn đề cao hơn “dạy người”.
  • Việc kiểm tra đánh giá công tác tích hợp Giáo dục pháp luật chưa có chuẩn cụ thể và chưa được đề cập trong các hình thức kiểm tra đánh giá.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

Qua kết quả khảo sát về công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài đối với 160  CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và 351 học sinh trường Trung học phổ thông cho thấy:

 CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh ý thức được tầm quan trọng của hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cũng như quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông. Các nhà trường bằng các phương thức khác nhau đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Các nhà trường đã phát huy những thuận lợi, khắc phục hạn chế và sử dụng các nguồn lực hiện có để tổ chức thực hiện và đã thu được kết quả nhất định. Đa số các nội dung khảo sát đều được đánh giá đạt được ở mức “trung bình” đến “khá”. Mức độ này cũng đã phản ảnh sự cố gắng, nỗ lực của các nhà trường trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như:

  • Còn một bộ phận không nhỏ CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của Giáo dục pháp luật.
  • Các lực lượng tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường chưa được tham gia tập huấn về công tác tuyên truyền phổ biến và Giáo dục pháp luật còn nhiều.
  • Công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông ở các mặt: Mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, các phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật được đánh giá mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được ở mức “khá”. Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông đã sử dụng nhiều biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh như lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện tích hợp Giáo dục pháp luật, kiểm tra đánh giá công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Mức độ thực hiện cũng như kết quả đạt được các biện pháp quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật được đánh giá từ mức “trung bình” đến “khá”, trong đó, công tác “lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật”“kiểm tra đánh giá công tác tích hợp Giáo dục pháp luật” còn được đánh giá thực hiện ở mức “trung bình”.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh bao gồm các yếu tố khách quan và chủ quan. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật“có ảnh hưởng” và yếu tố chủ quan có phần ảnh hưởng nhiều hơn yếu tố khách quan.

Đây cũng chính là những cơ sở đề xuất những giải pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, đối với các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm mạnh để trong thời gian tới chất lượng Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông trên địa bàn được tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục. Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *